Sự ảnh hưởng của ác cảm của người tiêu dùng đến xu hướng hành vi của họ đối với hàng hóa của một quốc gia

Sự ảnh hưởng của ác cảm...  
SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA ÁC CẢM CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐẾN  
XU HƯỚNG HÀNH VI CỦA HỌ ĐỐI VỚI HÀNG HÓA CỦA MỘT  
QUỐC GIA  
Dương Nguyễn Cẩm Thanh*, Trịnh Hoàng Anh**  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu đánh giá sự tác động của ác cảm của người tiêu dùng đến  
xu hướng hành vi của họ đối với hàng hóa của Trung Quốc. Các phương pháp trong nghiên cứu bao  
gồm: Phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá, phân tích hồi quy tuyến  
tính bội. Mẫu được chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện với cỡ mẫu là 200. Kết quả nghiên cứu  
cho thấy, ác cảm kinh tế và ác cảm chính trị có tác động tiêu cực đến xu hướng hành vi của người tiêu  
dùng. Ác cảm chiến tranh không có ảnh hưởng đến xu hướng hành vi của người tiêu dùng.  
Từ khóa: ác cảm của người tiêu dùng, ác cảm kinh tế, ác cảm chính trị, ác cảm chiến tranh, xu  
hướng hành vi người tiêu dùng.  
INFLUENCE OF THE CONSUMPTION OF THE CONSUMER TO THE TREND  
OF THEIR BEHAVIOR FOR THE GOODS A COUNTRY  
ABSTRACT  
This study aims to assess the impact of consumer animosity on their behavioral trends on Chinese  
goods. Cronbach’s alpha, exploratory factor analysis, multiple linear regression were employed for  
data analysis. A sample of 200 was collected by convenience sampling. Results show that economic  
and political animosity negatively influences consumer behavior trends. War animosity has no impact  
on consumer behavior trends.  
Keywords: Consumer animosity, economic animosity, political animosity, war animosity,  
consumer behavior trends.  
1. GIỚI THIỆU  
Khi một quốc gia có những ảnh hưởng  
Trung Quốc đạt gần 445 tỷ USD, trong đó nhập  
khẩu hàng hóa từ Trung Quốc vào Việt Nam đạt  
khoảng 312 tỷ USD, chiếm trên 70% tổng kim  
ngạch xuất nhập khẩu. Trong đó xuất khẩu sang  
thị trường này chỉ chiếm gần 30% kim ngạch  
song phương hai nước với tổng giá trị khoảng  
133 tỷ USD. Nhập khẩu từ Trung Quốc gấp 2,35  
lần so với xuất khẩu sang thị trường này. Chỉ  
riêng trong năm 2017 Trung Quốc là thị trường  
xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam sau Hoa Kỳ  
với giá trị xuất khẩu khoảng 35.463 triệu USD,  
tăng 61,42% so với năm 2016. Về nhập khẩu,  
đây là thị trường mà Việt Nam nhập khẩu nhiều  
nhất với tổng giá trị nhập khẩu lên đến 58.229  
triệu USD, tăng 16,62% so với năm 2016 (Tổng  
hay tác động tiêu cực đến một quốc gia khác  
thì người dân tại quốc gia bị ảnh hưởng sẽ có  
những cảm nhận, suy nghĩ dưới nhiều góc độ  
nhìn nhận khác nhau. Mỗi cách nhìn nhận, đánh  
giá sẽ mang đến những cảm xúc cá nhân khác  
nhau và đồng thời sẽ có ảnh hưởng đến cả xu  
hướng hành vi tiêu dùng của họ đối với quốc gia  
gây ra những ảnh hưởng đó (Võ Thị Quý & Cao  
Quốc Việt, 2015).  
Trung Quốc là một trong những đối tác  
lớn nhất của Việt Nam trong những năm qua.  
Nhìn chung từ năm 2010 đến hết năm 2017, tổng  
kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và  
* GV. Trường Đại học An Giang ĐT: 0782 8960 52, email: [email protected]  
** GV. Trường Đại học An Giang. ĐT: 0986 860 109, email: [email protected];  
29  
Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật  
của Anh và Ý, M. Rose, G.M. Rose và Shoham  
(2009) cũng chỉ ra rằng sự ác cảm này sẽ dẫn  
đến việc đánh giá sản phẩm và sự không sẵn  
lòng mua hàng của người tiêu dùng. Nghiên cứu  
của Zhang (2013) về sự ác cảm của người tiêu  
dùng và ý định mua hàng cũng đã chỉ rõ ác cảm  
tiêu dùng ảnh hưởng tiêu cực đến hành vi mua  
hàng của người tiêu dùng đối với hàng hóa nước  
ngoài, hậu quả mà tác giả chỉ ra bao gồm tẩy  
chay và miễn cưỡng mua hàng.  
Như vậy, tại Việt Nam, vấn đề ác cảm của  
người tiêu dùng có biểu hiện như thế nào? Sự  
ác cảm này có ảnh hưởng đến xu hướng hành  
vi của người tiêu dùng đối với hàng hóa của  
một quốc gia - cụ thể là hàng hóa có xuất xứ từ  
Trung Quốc - hay không và ảnh hưởng như thế  
nào? Do đó, nghiên cứu “Sự ảnh hưởng của ác  
cảm của người tiêu dùng đến xu hướng hành vi  
của họ về hàng hóa của một quốc gia” hướng  
đến việc tìm hiểu, đánh giá những tác động của  
ác cảm của người tiêu dùng Việt Nam ở ba khía  
cạnh là kinh tế, chính trị và chiến tranh đến xu  
hướng hành vi của họ đối với hàng hóa Trung  
Quốc nhằm giúp cho nhà quản trị, nhà kinh  
doanh có thể hiểu rõ hơn xu hướng hành vi của  
người tiêu dùng Việt Nam đối với hàng hóa  
Trung Quốc để họ có thể đưa ra những chiến  
lược kinh doanh phù hợp.  
cục thống kê). Tuy nhiên hiện nay, việc hàng  
hóa Trung Quốc được làm nhái tinh vi và bán  
tràn lan trên thị trường Việt Nam hay hàng hóa  
chứa chất độc hại có xuất xứ từ Trung Quốc đã  
tạo ra những phản ứng tiêu cực, gây hoang mang  
cho người tiêu dùng. Cụ thể có thể kể đến việc  
nông sản Trung Quốc nhái hàng Đà Lạt, trộn tỏi  
Trung Quốc với tỏi Việt Nam để bán được giá  
cao (Thành Đồng, Lê Phong & Đình Thi, 2018).  
Bên cạnh đó là rất nhiều loại hàng hóa như đồ  
chơi trẻ em chứa chất độc hại, hay vụ việc gạo  
giả làm từ một loại nhựa công nghiệp từng gây  
chấn động dư luận. Tất cả những sự kiện này đã  
gây ra ác cảm cho người tiêu dùng Việt Nam đối  
với hàng hóa có xuất xứ Trung Quốc.  
Bên cạnh đó yếu tố về chính trị và quân  
sự hay chiến tranh cũng là nguyên nhân gây ra  
sự ác cảm cho người Việt Nam. Cụ thể, gần đây  
Trung Quốc đã có những hành động gây ra sự  
phản đối mạnh mẽ của người dân Việt Nam như  
tuyên bố đường lưỡi bò, tranh chấp chủ quyền  
trên Biển Đông, hạ đặt giàn khoan Hải Dương  
981 tại khu vực Biển Đông gần quần đảo Hoàng  
Sa, hay những vụ bắn tàu cá của ngư dân Việt  
Nam do Trung Quốc gây ra,… Những sự kiện  
này đã gây ra cảm xúc tiêu cực cho người dân  
Việt Nam dẫn đến những hành động mang tính  
tiêu cực như biểu tình, đập phá nhà máy của các  
doanh nghiệp Trung Quốc hay tẩy chay cá mặt  
hàng xuất xứ Trung Quốc.  
2. NỘI DUNG  
2.1. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu  
Sự ác cảm của người tiêu dùng  
Ác cảm của người tiêu dùng là một vấn đề  
mới và đang được quan tâm trong nghiên cứu  
kinh tế. Trên thế giới đã có nhiều công trình  
nghiên cứu về vấn đề này như: nghiên cứu của  
Klein, Ettenson và Morris (1998) về sự ác cảm  
của người Trung Quốc đối với Nhật Bản và các  
sản phẩm, hàng hóa của Nhật Bản. Nghiên cứu  
cho thấy sự ác cảm của người tiêu dùng có ảnh  
hưởng đáng kể đến quyết định mua hàng của  
một quốc gia, cụ thể là hành vi sẵn lòng tẩy  
chay hàng hóa từ quốc gia đó. Nghiên cứu về  
tác động của ác cảm tiêu dùng đối với thái độ  
của người Do Thái và Arab Israelis về hàng hóa  
Klein và cs. (1998) định nghĩa rằng sự ác  
cảm là tàn dư của cảm xúc ghét bỏ sâu sắc có liên  
quan đến các sự kiện quân sự, chính trị và kinh  
tế trước đó hoặc đang diễn ra. Hoặc là sự đối  
kháng cảm xúc với một thực thể cụ thể (Leong,  
Cote, Ang, Tan, Jung, Kau & Pornpitakpan,  
2008). Tương tự, Averill (1983) cho rằng ác  
cảm là những cảm xúc mạnh mẽ về sự không  
thích hay thù hằn dựa trên niềm tin phát sinh từ  
sự thù địch về chính trị, quân sự và kinh tế trước  
đây hoặc đang diễn ra giữa các quốc gia và dân  
tộc. Như vậy các vấn đề tạo ra sự ác cảm của  
30  
Sự ảnh hưởng của ác cảm...  
tranh đã làm giảm sự sẵn lòng mua hàng hóa  
Đức của người tiêu dùng Hà Lan.  
người tiêu dùng bao gồm các cảm kinh tế, ác  
cảm chính trị và ác cảm về chiến tranh.  
Ác cảm chính trị cũng là một trong những  
Ác cảm kinh tế có ảnh hưởng tiêu cực  
yếu tố có tác động tiêu cực đến xu hướng hành  
vi của người tiêu dùng. Nghiên cứu của Yoon  
và Park (2017) thể hiện ác cảm chính trị cùng  
với ác cảm chiến tranh và ác cảm kinh tế đã có  
tác động tiêu cực đến ý định mua của người Hàn  
Quốc đối với hàng hóa Nhật Bản. Nghiên cứu  
của Witkowski (2000) chỉ ra rằng sự ác cảm  
kinh tế và tranh chấp về chính trị đã làm giảm  
sự sẵn lòng mua của người tiêu dùng Mỹ khi  
mua hàng hóa có xuất xứ Trung Quốc.  
đến xu hướng hành vi đã được chứng minh bởi  
nhiều nghiên cứu trước đây. Klein và cs. (1998)  
cho thấy ác cảm kinh tế cùng với ác cảm chiến  
tranh đã có tác động tiêu cực đến sự sẵn lòng  
mua hàng hóa Nhật Bản của người Trung Quốc.  
Yoon và Park (2017) cho thấy, sự ác cảm kinh  
tế nói riêng, ác cảm người tiêu dùng nói chung  
có tác động tiêu cực đến ý định mua của người  
tiêu dùng Hàn Quốc. Rose và cs. (2009) chỉ ra  
rằng ác cảm kinh tế cùng với ác cảm chiến tranh  
đã có tác động tiêu cực với sự không sẵn lòng  
mua hàng hóa. Khác với các nghiên cứu kể trên,  
nghiên cứu của Võ Thị Quý và Cao Quốc Việt  
(2015) thực hiện tại thị trường Việt Nam lại  
nghiên cứu theo hướng định tính bằng phương  
pháp Netnography và phỏng vấn sâu. Kết quả  
nghiên cứu của Võ Thị Quý và Cao Quốc Việt  
(2015) chỉ ra rằng từ ác cảm kinh tế sẽ dẫn đến  
cảm xúc ghét, tức giận và lo lắng cho người tiêu  
dùng. Từ đó dẫn đến xu hướng hành vi như đánh  
giá sản phẩm, tẩy chay và kêu gọi tẩy chay.  
Ác cảm chiến tranh cũng được quan tâm  
Xu hướng hành vi của người tiêu dùng  
Xu hướng hành vi là một trong ba thành  
phần trong mô hình ba thành phần thái độ của  
Schiffman và Kanuk (2000). Xu hướng hành vi  
của người tiêu dùng thể hiện xu hướng người  
tiêu dùng sẽ thực hiện một hành động nào đó  
(Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang,  
2007). Trong các nghiên cứu về sự ác cảm của  
người tiêu dùng, xu hướng hành vi được các nhà  
nghiên cứu đề cập đến gồm có:  
(1) Đánh giá sản phẩm (Klein và cs., 1998;  
Leong và cs., 2008; Rose và cs., 2009; Ishii,  
2009; Smith & Li, 2010; Maher & Mady, 2010;  
Lee và Tae Lee, 2013; Abosag & Farah, 2014;  
Harmeling và cs., 2015; Võ Thị Quý & Cao  
Quốc Việt, 2015). Khi nghiên cứu về sự ác cảm  
của người tiêu dùng, đánh giá sản phẩm là một  
vấn đề đang gây tranh cãi giữa các nhà nghiên  
cứu. Những nghiên cứu ủng hộ cho việc sự ác  
cảm của người tiêu dùng không có tác động đến  
đánh giá sản phẩm gồm có nghiên cứu của Klein  
và cs. (1998), Rose và cs. (2009), Maher và  
Mady (2010), Lee và Tae Lee (2013), Abosag và  
Farah (2014). Nhóm nhà nghiên cứu ủng hộ cho  
việc ác cảm của người tiêu dùng có tác động đến  
đánh giá sản phẩm gồm có nghiên cứu của Ishii  
(2009), Leong và cs. (2008), Harmeling và cs.  
(2015). Tại Việt Nam, nghiên cứu về sự ác cảm  
của người tiêu dùng có nghiên cứu của Võ Thị  
Quý và Cao Quốc Việt (2015) cũng đã đưa thành  
đến trong nhiều nghiên cứu trước đây. Kết quả  
nghiên cứu của Klein và cs. (1998) cho thấy ác  
cảm quân sự có tác động tiêu cực đến sự sẵn lòng  
mua của người tiêu dùng Trung Quốc đối với  
hàng hóa Nhật Bản. Nghiên cứu của Ettenson  
và Klein (2005) cho ra kết quả là ác cảm chiến  
tranh có tác động tiêu cực đến hành vi tẩy chay  
của người tiêu dùng Úc đối với các sản phẩm của  
pháp. Nghiên cứu của Harmeling Magnusson và  
Singh (2015) cũng cho thấy rằng ác cảm chiến  
tranh có tác động tiêu cực đến hành vi của khách  
hàng như truyền miệng tiêu cực, đánh giá sản  
phẩm hay lảng tránh sản phẩm. Yoon và Park  
(2017) cho thấy ác cảm chiến tranh có tác động  
tiêu cực đến ý định mua của người tiêu dùng  
Hàn Quốc đối với hàng hóa Nhật Bản. Bên cạnh  
đó, nghiên cứu của Nijssen và Douglas (2004)  
cũng cho thấy ác cảm kinh tế và ác cảm chiến  
31  
Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật  
phần đánh giá sản phẩm vào mô hình nghiên cứu.  
Kết quả nghiên cứu định tính bằng phương pháp  
Netnography và phỏng vấn sâu trong nghiên cứu  
của Võ Thị Quý và Cao Quốc Việt (2015) cũng  
chỉ ra rằng sự ác cảm của người tiêu dùng có tác  
động đến đánh giá sản phẩm.  
(2) Sự sẵn sàng hoặc không sẵn sàng  
mua sản phẩm (Klein và cs., 1998; Nijssen &  
Douglas, 2004; Ettenson & Klein, 2005; Leong  
và cs., 2008; Rose và cs., 2009; Lee & Tae Lee,  
2013). Mối quan hệ giữa ác cảm của người tiêu  
dùng và sự sẵn sàng/không sẵn sàng mua sản  
phẩm được khởi xướng bởi Klein và cs. (1998)  
và dần trở thành nền tảng cho các nghiên cứu về  
sự ác cảm sau này. Klein và cs. (1998) cho rằng,  
sự ác cảm của người tiêu dùng có tác động tiêu  
cực đến sự sẵn sàng mua hàng hóa của nước gây  
ra thù địch.  
(3) Tẩy chay hoặc hạn chế mua hàng hóa  
(Abosag & Farah, 2014; Harmeling và cs., 2015;  
Võ Thị Quý & Cao Quốc Việt, 2015), tẩy chay  
hàng hóa liên quan đến các vấn đề như người  
tiêu dùng tuyệt đối không mua hay không sử  
dụng bất cứ sản phẩm nào từ quốc gia gây ra ác  
cảm cho họ, đồng thời hành động tẩy chay còn  
kéo theo việc kêu gọi người khác tẩy chay như  
trong nghiên cứu của Võ Thị Quý và Cao Quốc  
Việt (2015).  
Mô hình nghiên cứu  
Dựa trên cơ sở lý thuyết và những nghiên  
cứu có liên quan đến ác cảm của người tiêu  
dùng, mô hình nghiên cứu về sự ảnh hưởng của  
ác cảm của người tiêu dùng đến xu hướng hành  
vi của họ đối với hàng hóa của một quốc gia  
được đề xuất như hình 1.  
Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất  
Giả thuyết nghiên cứu của mô hình đề  
xuất bao gồm:  
vấn sâu bằng bảng câu hỏi. Mục đích sử dụng  
phương pháp Netnography để thu thập dữ  
liệu nhằm mục đích tham khảo để xây dựng  
mô hình nghiên cứu và bảng câu hỏi khảo sát.  
Netnography trong nghiên cứu này được thực  
hiện bằng cách chọn lọc và tổng hợp những bình  
luận của người sử dụng mạng. Có tổng cộng 105  
bình luận được chọn lọc và tổng hợp từ trang  
báo dantri.com.vn với chủ đề «Tẩy chay hàng  
hóa Trung Quốc là yêu nước tiêu cực», «Đường  
lưỡi bò của Trung Quốc đe dọa 70% đặc quyền  
kinh tế của Việt Nam», «Thích hay không, hàng  
Trung Quốc cũng tràn ngập thị trường», «Điểm  
lại những thiết bị công nghệ Trung Quốc cài sẵn  
mã độc khi xuất xưởng». Đối với phương pháp  
Netnography thì người nghiên cứu chỉ có thể thu  
thập thông tin mà người sử dụng mạng thể hiện  
H1: Ác cảm kinh tế có tác động tiêu cực  
đến xu hướng hành vi của người tiêu dùng đối  
với hàng hóa có xuất xứ Trung Quốc.  
H2: Ác cảm chính trị có tác động tiêu cực  
đến xu hướng hành vi của người tiêu dùng đối  
với hàng hóa có xuất xứ Trung Quốc.  
H3: Ác cảm chiến tranh có tác động tiêu  
cực đến xu hướng hành vi của người tiêu dùng  
đối với hàng hóa có xuất xứ Trung Quốc.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu được thực hiện qua hai giai  
đoạn: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định  
lượng.  
Nghiên cứu định tính được thực hiện  
thông qua phương pháp Netnography và phỏng  
32  
Sự ảnh hưởng của ác cảm...  
cho sự biến thiên của dữ liệu là 54,3%. Cụ thể  
các nhân tố và biến quan sát còn lại như sau:  
Nhân tố ác cảm kinh tế, gồm 05 biến quan  
sát: (X1) Việc hàng hóa của Trung Quốc được  
làm giả, làm nhái khiến tôi có ấn tượng không tốt  
đối với hàng hóa Trung Quốc, (X2) Những tin  
tức liên quan đến việc hàng hóa Trung Quốc chứa  
chất độc hại khiến tôi không có thiện cảm đối với  
hàng hóa Trung Quốc, (X3) Trung Quốc không  
phải là một đối tác thương mại đáng tin cậy, (X4)  
Trung Quốc có quá nhiều ảnh hưởng đối với kinh  
tế Việt Nam, (X5) Các công ty Trung Quốc đang  
lợi dụng người tiêu dùng Việt Nam.  
Nhân tố ác cảm chính trị, gồm 05 biến  
quan sát: (X6) Tôi không có thiện cảm về những  
hành động chính trị của Trung Quốc hiện nay,  
(X7) Chính phủ Trung Quốc đang bóp méo lịch  
sử để chứng tỏ Trung Quốc đúng Việt Nam sai,  
(X8) Tôi cảm thấy không thích Trung Quốc vì  
những việc làm mà quốc gia này gây ra cho Việt  
Nam, (X9) Tôi không thể chấp nhận những hành  
động chính trị sai trái của Trung Quốc, (X10)  
Chính phủ Trung Quốc nên thừa nhận những  
hành động sai trái đối với Việt Nam.  
qua các bình luận mà không biết được thông tin  
cá nhân của họ. Ngược lại phỏng vấn sẽ giúp nhà  
nghiên cứu biết được thông tin cá nhân, quan sát  
được những cử chỉ, nét mặt của đáp viên. Thông  
qua đó việc thu thập thông tin sẽ hiệu quả hơn  
và khai thác được nhiều thông tin hơn. Phỏng  
vấn được thực hiện trên 20 người tham gia trả  
lời với phương pháp chọn mẫu thuận tiện, làm  
nhiều công việc khác nhau như giáo viên, sinh  
viên, cán bộ công chức, nhân viên văn phòng,  
kinh doanh buôn bán. Kết quả phỏng vấn sẽ  
giúp hoàn thiện hơn mô hình nghiên cứu và để  
xây dựng bảng câu hỏi khảo sát hợp lý hơn.  
Nghiên cứu định lượng, được thực hiện  
thông qua kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp người  
tiêu dùng tại thành phố Long Xuyên thông qua  
bảng câu hỏi khảo sát. Mẫu được chọn theo  
phương pháp thuận tiện với cỡ mẫu n = 200.  
Dữ liệu định lượng sẽ được phân tích thông qua  
các phương pháp như thống kê mô tả, phân tích  
Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá  
và phân tích hồi quy tuyến tính bội.  
2.3. Kết quả nghiên cứu  
2.3.1. Thông tin về mẫu nghiên cứu  
Nhân tố ác cảm chiến tranh, gồm 04 biến  
quan sát: (X11) Những tranh chấp quân sự gần  
đây giữa Trung Quốc và Việt Nam khiến tôi  
cảm thấy tức giận, (X12) Những hành động xâm  
phạm lãnh thổ Việt Nam của Trung Quốc là vô  
căn cứ và tạo ra nguy cơ chiến tranh giữa hai  
quốc gia, (X13) Trung Quốc là mối đe dọa đối  
với an ninh quốc gia của Việt Nam, (X14) Tôi  
cảm thấy tức giận đối với Trung Quốc vì những  
cuộc chiến trong quá khứ.  
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 200  
phiếu trả lời, tất cả các phiếu trả lời đều hợp lệ.  
Dữ liệu nghiên cứu có sự đa dạng về giới tính,  
độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp và thu  
nhập. Sự đa dạng này cho thấy dữ liệu thu được  
có thể đại diện cho mẫu nghiên cứu.  
2.3.2. Đánh giá thang đo  
Kết quả kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s  
Alpha của thang đo thành phần ác cảm kinh  
tế, ác cảm chính trị, ác cảm chiến tranh và xu  
hướng hành vi người tiêu dùng đều đạt yêu cầu.  
Vì vậy, các thang đo được giữ nguyên cho phân  
tích tiếp theo.  
2.3.3. Kết quả phân tích nhân tố  
Phân tích nhân tố các thành phần ác  
cảm của người tiêu dùng  
Phân tích nhân tố thành phần xu hướng  
hành vi người tiêu dùng  
Kết quả phân tích cho thấy có 01 nhóm  
nhân tố với tổng phương sai trích là 74,8%, với  
04 biến quan sát. Cụ thể, (X15) Tôi sẽ đánh giá  
sản phẩm Trung Quốc thật cẩn thận trước khi  
mua, (X16) Tôi sẽ giữ khoảng cách đối với hàng  
hóa Trung Quốc, (X17) Tôi sẽ hạn chế tối đa  
việc lựa chọn mua hàng hóa Trung Quốc, (X18)  
Kết quả phân tích cho thấy có 03 nhóm  
nhân tố với tổng phương sai trích là 54,3%, nghĩa  
là khả năng giải thích của 03 nhóm nhân tố này  
33  
Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật  
Tôi sẽ kêu gọi bạn bè, người thân hạn chế mua  
hàng hóa Trung Quốc.  
2.3.4. Mô hình nghiên cứu và các giả  
thuyết sau khi kiểm định thang đo và phân tích  
nhân tố khám phá  
Sau khi đánh giá thang đo bằng Cronbach’s  
Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA, mô  
hình nghiên cứu “Sự ảnh hưởng của ác cảm của  
người tiêu dùng đến xu hướng hành vi của họ về  
hàng hóa của một quốc gia” vẫn giữ nguyên 4  
thành phần với 18 biến quan sát ban đầu, trong  
đó có 14 biến quan sát cho thang đo sự ác cảm  
của người tiêu dùng và 04 biến quan sát cho  
thang đo xu hướng hành vi của người tiêu dùng.  
Do đó mô hình nghiên cứu và các giả thuyết  
nghiên cứu vẫn được giữ nguyên như ban đầu.  
2.3.5. Phân tích hồi quy tuyến tính  
Trong mô hình hồi quy, các biến độc lập và  
phụ thuộc được hình thành từ phân tích nhân tố  
nêu trên. Các biến độc lập bao gồm: ác cảm kinh  
tế, ác cảm chính trị và ác cảm chiến tranh; biến  
phụ thuộc là xu hướng hành vi người tiêu dùng.  
Bảng 1: Kết quả phân tích hồi quy  
Mô hinh tꢀng quat  
R2 điều chꢂnh  
0,533  
Mô hình  
R
0,735a  
R2  
Sai số chuẩn  
1
0,540  
ANOVA  
0,47212  
VIF  
Giá trị kiểm định F = 76,659  
Mức y nghꢃa 0,000  
Mô hinh hꢁi quy  
Hệ số Hệ số chuẩn  
chưa chuẩn hoa  
Mức y  
nghꢃa  
hoa  
Mô hình  
Hằng số  
t
B
Sai số chuẩn  
Beta  
- 0,512  
0,676  
0,411  
0,069  
0,360  
0,064  
0,069  
0,067  
- 1,423  
0,156  
0,000  
0,000  
0,307  
Ác cảm kinh tế  
0,552 10,551  
1,164  
1,158  
1,070  
Ác cảm chính trị  
Ác cảm chiến tranh  
0,310  
0,051  
5,949  
1,024  
Biến phụ thuộc: Xu hướng hành vi của người tiêu dùng  
Kết quả trong Bảng 1 cho thấy giá trị R2  
điều chỉnh bằng 53,3%, có nghĩa là các biến độc  
lập được đưa vào mô hình (ác cảm kinh tế, ác cảm  
chính trị, ngoại trừ biến ác cảm về chiến tranh do  
biến này không có tác động có ý nghĩa về mặt  
thống kê) giải thích được 53,3% sự biến thiên  
của biến phụ thuộc là xu hướng hành vi người  
tiêu dùng, còn lại là do tác động của các yếu tố  
khác chưa được đưa vào mô hình. Bên cạnh đó,  
kết quả cũng cho thấy 02 nhân tố ác cảm kinh tế  
và ác cảm chính trị có mối quan hệ có ý nghĩa  
thống kê với xu hướng hành vi người tiêu dùng.  
Vì vậy, các giả thuyết H1 và H2 trong mô hình  
nghiên cứu được chấp nhận, ngoại trừ giả thuyết  
H3, nghĩa là ác cảm chiến tranh không có ảnh  
hưởng đến xu hướng hành vi của người tiêu dùng.  
2.3.6. Phân tích thống kê mô tả  
Các thành phân ác cảm kinh tế, ác cảm  
chính trị và xu hướng hành vi của người tiêu  
dùng được đo lường bằng thang đo Liker 5 điểm.  
Thang đo này có điểm thấp nhất là 1 và cao nhất  
là 5, được chia thành 5 khoảng với mỗi khoảng  
là 0,8 đơn vị. Do đó, để thuận tiện cho việc đánh  
giá, thang điểm được quy ước như sau:  
1,00 – 1,80  
1,81 – 2,60  
Mức thấp  
2,61 – 3,40  
3,41 – 4,20  
Mức cao  
4,21 – 5,00  
Mức rất cao  
Mức rất thấp  
Mức trung bình  
34  
Sự ảnh hưởng của ác cảm...  
Bảng 2: Điểm trung bình của các thành phần sự ác cảm và xu hướng hành vi người tiêu dùng  
N
Trung bình  
Độ lệch chuẩn  
200  
200  
200  
Ác cảm kinh tế  
3,8880  
4,0990  
4,0787  
0,56342  
0,52169  
0,69074  
Ác cảm chính trị  
Xu hướng hành vi  
Từ kết quả bảng 2 cho thấy, các thành phần  
ác cảm kinh tế và ác cảm chính trị được người tiêu  
dùng đánh giá ở mức cao. Điều này cho thấy người  
tiêu dùng thành phố Long Xuyên có ác cảm cao  
đối với hàng hóa Trung Quốc cũng như những  
hành động chính trị của Trung Quốc đối với Việt  
Nam trong thời gian qua. Bên cạnh đó, điểm trung  
bình thành phần xu hướng hành vi cũng ở mức  
cao, Từ đó có thể thấy rằng, người tiêu dùng sẽ  
đánh giá sản phẩm có xuất xứ Trung Quốc thật  
cẩn thận và khắt khe hơn trước khi quyết định mua  
cũng như giữ khoảng cách, hạn chế việc mua và sử  
dụng hàng hóa của quốc gia này.  
Yoon và Park (2017). Qua đó cho thấy, ác cảm  
chính trị càng lớn càng làm cho xu hướng hành  
vi của người tiêu dùng chuyển biến theo chiều  
xấu đi, cụ thể như người tiêu dùng sẽ đánh giá  
sản phẩm khắt khe hơn, họ sẽ giữ khoảng cách,  
hạn chế cũng như kêu gọi mọi người hạn chế  
mua và sử dụng hàng hóa có xuất xứ từ quốc gia  
gây ra ác cảm.  
Thành phần ác cảm chiến tranh không có  
tác động đến xu hướng hành vi của người tiêu  
dùng. Cụ thể, kết quả này là không nhất quán  
với các nghiên cứu của Klein và cs. (1998),  
Harmeling và cs. (2015), Yoon và Park (2017),  
Lee và Tae Lee (2013), Nijssen và Douglas  
(2004). Tuy nhiên, ác cảm chiến tranh không có  
tác động đến việc đánh giá sản phẩm của người  
tiêu dùng là kết quả trùng khớp với các nghiên  
cứu của Rose và cs. (2009), Maher và Mady  
(2010). Nguyên nhân có thể là do bối cảnh chiến  
tranh ở Việt Nam không quá rõ ràng và sâu sắc  
như bối cảnh chiến tranh của các nghiên cứu  
đã lược khảo. Đối với nghiên cứu ác cảm chiến  
tranh của Yoon và Park (2017) đề cập đến việc  
người Nhật Bản đã bắt ép phụ nữ Hàn Quốc làm  
nô lệ tình dục hay ép buộc đàn ông Hàn Quốc  
làm nghĩa vụ quân sự cho Nhật Bản. Những sự  
kiện chiến tranh trong quá khứ này đã để lại ấn  
tượng rất tiêu cực cho người Hàn Quốc nên có  
thể ác cảm chiến tranh của người Hàn Quốc là rất  
lớn và đã tác động tiêu cực đến ý định mua hàng  
hóa Nhật của người Hàn Quốc. Nghiên cứu sự ác  
cảm chiến tranh của Klein và cs. (1998) lấy bối  
cảnh tranh chấp đảo Senkaku giữa Trung Quốc  
và Nhật Bản, đây là một sự kiện quân sự gây rất  
nhiều sự chú ý không chỉ người dân của hai nước  
mà còn người dân trên thế giới. Đồng thời trong  
các biến quan sát đo lường cho thang đo ác cảm  
2.4. Thảo luận  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, chỉ có 2  
thành phần có mối quan hệ với xu hướng hành  
vi của người tiêu dùng là thành phần ác cảm  
kinh tế và ác cảm chính trị, thành phần ác cảm  
chiến tranh không có ảnh hưởng đến xu hướng  
hành vi của người tiêu dùng.  
Thành phần ác cảm kinh tế có tác động tiêu  
cực đến xu hướng hành vi của người tiêu dùng.  
Kết quả này trùng khớp với các nghiên cứu trước  
như: Klein và cs. (1998), Nijssen và Douglas  
(2004), Leong và cs. (2008), Ishii (2009), Rose  
và cs. (2009), Lee và Tae Lee (2013), Abosag và  
Farah (2014), Harmeling và cs. (2015), Võ Thị  
Quý và Cao Quốc Việt (2015). Qua đó cho thấy  
ác cảm kinh tế càng lớn càng khiến cho người  
tiêu dùng có xu hướng hạn chế và giữ khoảng  
cách đối với hàng hóa, sản phẩm của quốc gia  
gây ra ác cảm, đồng thời khuyến khích họ kêu  
gọi người khác hạn chế sử dụng những sản phẩm,  
hàng hóa này.  
Thành phần ác cảm chính trị có tác động  
tiêu cực đến xu hướng hành vi của người tiêu  
dùng, kết quả này là giống với nghiên cứu của  
35  
Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật  
chiến tranh, Klein và cs. (1998) cũng đã đề cập  
đến vụ thảm sát Nam Kinh – một sự kiện để lại  
nhiều cảm xúc tiêu cực cho người Trung Quốc.  
Do đó ác cảm chiến tranh của người Trung Quốc  
cũng sẽ rõ ràng và sâu sắc hơn. Đồng thời, do đa  
số người tiêu dùng được khảo sát có độ tuổi trẻ  
từ 18 đến 28 tuổi nên ác cảm của họ đối với các  
cuộc chiến tranh trong quá khứ là không quá sâu  
sắc, những sự kiện chiến tranh trong lịch sử đa  
phần là do họ được truyền thụ lại từ sách vở nên  
những hình dung về ác cảm chiến tranh của họ  
còn mơ hồ, không rõ ràng.  
xu hướng hành vi người tiêu dùng) và mười tám  
biến quan sát.  
Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, chỉ có  
hai thành phần (1) ác cảm kinh tế và (2) ác cảm  
chính trị có tác động tiêu cực đến xu hướng hành  
vi của người tiêu dùng. Riêng thành phần ác cảm  
chiến tranh là không có tác động đến xu hướng  
hành vi của người tiêu dùng. Nguyên nhân có thể  
là do bối cảnh chiến tranh ở Việt Nam không quá  
rõ ràng và sâu sắc như bối cảnh chiến tranh của  
các quốc gia trong các nghiên cứu trước và đa số  
người tham gia khảo sát có độ tuổi trẻ.  
3.2. Kiến nghị  
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ  
Trong thành phần ác cảm kinh tế, nguyên nhân  
khiến cho người tiêu dùng có ác cảm đối với hàng  
hóa của Trung Quốc chủ yếu là do hàng hóa của quốc  
gia này chứa nhiều chất độc hại gây ảnh hưởng xấu  
đến sức khỏe hay hàng hóa được làm giả, làm nhái,  
có chất lượng kém. Vì vậy nhà quản trị, người kinh  
doanh cần có giải pháp hạn chế và khắc phục tình  
trạng hàng hóa độc hại, kém chất lượng này. Nghiên  
cứu đề ra một số giải pháp như sau:  
Thứ nhất, nhà quản trị, nhà kinh doanh cần  
phải lựa chọn một đối tác đáng tin cậy, những  
nhà sản xuất, cung ứng đảm bảo được chất lượng  
cũng như độ an toàn cho các hàng hóa mà họ  
cung cấp. Có như vậy thì các doanh nghiệp kinh  
doanh trong nước mới đảm bảo chất lượng hàng  
hóa đến tay người tiêu dùng, đồng thời làm tăng  
sự tin tưởng của khách hàng đối với hàng hóa,  
sản phẩm mà mình cung cấp.  
Thứ hai, các ban ngành cần phải siết chặt  
hơn trong việc kiểm tra, rà soát các loại hàng hóa  
nhập khẩu nhằm phát hiện và ngăn chặn những  
hàng hóa được làm giả, làm nhái, hàng hóa kém  
chất lượng đi vào Việt Nam.  
Thứ ba, các nhà nhập khẩu hàng hóa Trung  
Quốc cũng cần phối hợp với các cơ quan kiểm  
định chất lượng sản phẩm, hàng hóa để có thể  
kiểm định kỹ càng hàng hóa mà mình nhập khẩu,  
nhằm đảm bảo độ an toàn cho người tiêu dùng  
khi sử dụng các loại hàng hóa đó, đồng thời làm  
tăng uy tín của doanh nghiệp hơn.  
3.1. Kết luận  
Nghiên cứu “Sự ảnh hưởng của ác cảm  
của người tiêu dùng đến xu hướng hành vi của  
họ về hàng hóa của một quốc gia” được thực  
hiện dựa trên bối cảnh tình hình kinh tế, chính trị  
và chiến tranh giữa hai quốc gia là Việt Nam và  
Trung Quốc. Nghiên cứu được thực hiện thông  
qua nghiên cứu định tính và nghiên cứu định  
lượng. Đối với nghiên cứu định tính, gồm hai  
phương pháp là Netnography và phỏng vấn sâu.  
Phương pháp Netnography được thực hiện bằng  
cách chọn lọc các bình luận có sẵn của người  
dùng mạng trên một số bài báo có liên quan đến  
đề tài nghiên cứu, tổng cộng có 105 bình luận đã  
được chọn lọc, tham khảo và sử dụng cho nghiên  
cứu này. Phương pháp phỏng vấn sâu được thực  
hiện trên 20 người tham gia trả lời với phương  
pháp thuận tiện nhằm hoàn thiện hơn mô hình  
nghiên cứu cũng như phác thảo bảng câu hỏi  
khảo sát. Nghiên cứu định lượng được thực hiện  
thông qua việc khảo sát chính thức 200 người  
tiêu dùng với phương pháp chọn mẫu thuận tiện.  
Kết quả phân tích nhân tố khám phá cho  
thấy, thang đo sự ác cảm của người tiêu dùng  
và thang đo xu hướng hành vi đều đạt yêu cầu  
và không có biến nào bị loại. Do đó mô hình  
nghiên cứu và các giả thuyết ban đầu đều được  
giữ nguyên với bốn thành phần (3 thành phần  
độc lập là ác cảm kinh tế, ác cảm chính trị, ác  
cảm chiến tranh và 1 thành phần phụ thuộc là  
36  
Sự ảnh hưởng của ác cảm...  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang  
(2007). Nguyên lý Marketing. Hồ Chí Minh: Nhà  
xuất bản Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.  
Nijssen, E.J., & Douglas, S.P. (2004). Examining  
the animosity model in a country with a high  
level of foreign trade. International Journal of  
Research in Marketing, 21(1), 23–38.  
Rose, M., Rose, G.M., & Shoham, A. (2009).  
The impact of consumer animosity on attitudes  
towards foreign goods: A study of Jewish and  
Arab Israelis. Journal of Consumer Marketing,  
26(5), 330-339.  
Schiffman, L.G., & Kanuk, L.L. (2000).  
Consumer behavior (7th ed.). International.  
Inc.: PrenticeHall  
Smith, M., & Li, Q. (2010). The boycott model  
of foreign product purchase: An empirical test  
in China. Asian Review of Accounting, 18(2),  
106-130.  
Abosag, I., & F. Farah, M. (2014). The  
influence of religiously motivated consumer  
boycotts on brand image, loyalty and  
product judgment. European Journal of  
Marketing, 48(11/12), 2262-2283.  
Averill, J. R. (1983). Studies on anger and  
aggression: Implications for theories of  
emotion. American Psychologist, 38(11),  
1145–1160.  
Ettenson, R., & Klein, J.G. (2005). The fallout  
from French nuclear testing in the South  
Pacific. Inetnational Marketing Review, 22(2),  
199-224.  
Harmeling, C.M., Magnusson, P., & Singh,  
N. (2015). Beyond anger: A deeper look at  
consumer animosity. Journal of International  
Business Studies, 46(6), 676-693.  
Ishii, K. (2009). Nationalistic Sentiments  
of Chinese Consumer: The Effects and  
Determinants of Animosity and Consumer  
Ethnocentrism. Journal of International  
Consumer Marketing, 21(4), 299-308.  
Klein, J. G., Ettenson, R., & Morris, M. D.  
(1998). The animosity model of foreign  
product purchase: An empirical test in the  
People’s Republic of China. Journal of  
marketing, 62(1), 89-100.  
Lee, R., & Tae Lee, K. (2013). The longitudinal  
effects of a two-dimensional consumer  
animosity. Journal of Consumer Marketing,  
30(3), 273-282.  
Leong, S. M., Cote, J. A., Ang, S. H., Tan, S.  
J., Jung, K., Kau, A. K., & Pornpitakpan, C.  
(2008). Understanding consumer animosity  
in an international crisis: nature, antecedents,  
and consequences. Journal of International  
Business Studies, 39(6), 996–1009.  
Thành Đồng, Lê Phong & Đinh Thi (Ngày 20  
tháng 8, 2018). “Lật mặt” nông sản Trung  
Quốc nhái hàng Đà Lạt. Người lao động. Truy  
Võ Thị Quý & Cao Quốc Việt (2015). Kết hợp  
phương pháp Netnography và Lý thuyết nền  
(Grounded Theory) trong nghiên cứu định  
tính để khám phá mô hình hành vi tẩy chay  
của người tiêu dùng. Tạp chí Phát triển  
Khoa học và Công nghệ, 18(4), 16-24.  
Witkowski, T. (2000). Effects of animosity  
toward China on willingness to buy  
Chinese products. Managing in a turbulent  
international business environment, 18,  
470-7.  
Yoon, S.J., & Park, J.E. (2017).Antecedents  
of consumer animosity and the role of  
product involvement on purchase intentions.  
American Journal of Business, 32(1), 42–57.  
Zhang, C. (2013). Consumer animosity and  
purchase behavior: the role of corporate  
ln.edu.hk/mkt_etd/16  
Maher, A.A., & Mady, S. (2010). Animosity,  
subjective norms and anticipated emotions  
during an international crisis. International  
Marketing Review, 27(6), 630-651.  
37  
pdf 9 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 15220 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sự ảnh hưởng của ác cảm của người tiêu dùng đến xu hướng hành vi của họ đối với hàng hóa của một quốc gia", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsu_anh_huong_cua_ac_cam_cua_nguoi_tieu_dung_den_xu_huong_han.pdf