Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng Giới tới năm 2020 (Dự thảo, Phần 1)

Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng Giới tới năm 2020 (Dự thảo, Phần 1)  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Bình đẳng giới là chủ trương lớn của Đảng và Nhà  
nước, là nhiệm vụ trọng tâm của chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội. Bình  
đẳng giới vừa là mục tiêu vừa là cơ sở thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xây dựng xã hội  
ổn định và đồng thuận, phát triển bền vững đất nước.  
Trong những năm qua, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về bình  
đẳng giới. Vị trí xếp hạng của chỉ số phát triển giới (GDI) tăng trong vòng 15 năm  
qua, từ mức trung bình thấp năm 1995 (đạt giá trị 0,537, đứng vị trí thứ 72/130 nước)  
lên mức trung bình cao năm 2009 (đạt giá trị 0,723, đứng vị trí 94/155 nước được xếp  
hạng); hiện nay chỉ số quyền năng giới (GEM) của Việt Nam đạt 0,554, đứng ở vị trí  
thứ 62/109 nước, thuộc nhóm nước có sự phát triển trung bình về giới. Việt Nam  
được đánh giá là quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm  
qua. Tuy nhiên, khoảng cách giới vẫn còn tồn tại khá lớn trong một số lĩnh vực quan  
trọng như: chính trị, kinh tế, lao động và việc làm, giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa,  
gia đình. Phụ nữ vẫn là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi hơn so với nam giới. Định kiến  
giới, tư tưởng “trọng nam coi thường nữ” vẫn còn tồn tại, đặc biệt là ở khu vực nông  
thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số. Đây cũng là một trong  
những nguyên nhân chính gây nên tình trạng bất bình đẳng giới nói chung và đặc biệt  
là mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam. Tình trạng bạo lực đối với phụ nữ vẫn  
diễn ra khá phổ biến.v.v.  
Việc xây dựng Chiến lược Bình đẳng giới có ý nghĩa quan trọng bởi bình đẳng  
giới không chỉ là mục tiêu của phát triển mà còn là cách thức để xóa đói, giảm nghèo  
bền vững và thúc đẩy tăng trưởng của quốc gia. Bình đẳng giới tạo điều kiện quản lý  
nhà nước có hiệu quả khi nguồn lực con người (bao gồm cả nam và nữ) được phát  
huy và sử dụng một cách hợp lý. Chiến lược cũng là công cụ để đưa Luật Bình đẳng  
giới vào cuộc sống và để hiện thực hoá các cam kết của Việt Nam đối với công đồng  
quốc tế trong việc thực hiện Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biêt đối xử đối với  
phụ nữ (CEDAW) và Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ (MDG).  
Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 là một bộ phận  
cấu thành của Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 của Việt  
Nam, nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bình đẳng  
giới trong giai đoạn 10 năm tới, đồng thời là sự tiếp tục thực hiện các mục tiêu của  
Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010. Trong bối  
cảnh kinh tế-xã hội mới của giai đoạn 2011-2020 và những tồn tại về bất bình đẳng  
giới hiện nay, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới cần cung cấp những quan điểm,  
định hướng phù hợp, làm cơ sở để xây dựng và thực hiện các chương trình, chính  
sách thúc đẩy bình đẳng giới ở nước ta trong 10 năm tới. Chính phủ đã giao Bộ Lao  
động - Thương binh và Xã hội chủ trì xây dựng Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới  
giai đoạn 2011-2020 (theo Nghị quyết số 57/NQ-CP ngày 1/12/2009). Chiến lược này  
đề ra các mục tiêu, chỉ tiêu, giải pháp cho việc thực hiện bình đẳng giới trên 8 lĩnh  
vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin, thể thao và gia đình  
ở Việt Nam cho giai đoạn 10 năm (2011-2020).  
PHẦN I. THỰC TRẠNG BÌNH ĐẲNG GIỚI GIAI ĐOẠN 2001-2010  
1. Đánh giá tổng quát vấn đề thể chế, năng lực của bộ máy quốc gia về bình  
đẳng giới  
a. Thành tựu  
- Đến nay, Việt Nam được đánh giá là đã cơ bản hoàn thiện khung chính sách,  
pháp luật về bình đẳng giới.  
+ Để cụ thể hoá các quan điểm, mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta về bình  
đẳng giới, đồng thời luật hóa các quy định liên quan trong các công ước quốc tế mà  
Việt Nam là thành viên (tiêu biểu là CEDAW), trong 10 năm qua, hệ thống chính  
sách, pháp luật về bình đẳng giới của Nhà nước ta đã từng bước được hoàn thiện.  
Trong hầu hết các văn bản pháp luật mới được soạn thảo hoặc sửa đổi, bổ sung đều  
quán triệt tinh thần “cấm phân biệt đối xử với phụ nữ” và phù hợp với các nguyên tắc  
bình đẳng giới. Tiêu biểu như: Luật Cán bộ, công chức, Luật Ban hành văn bản quy  
phạm pháp luật, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân  
dân,…Luật Bình đẳng giới được Quốc hội thông qua năm 2006 đánh dấu bước ngoặt  
và có tính đột phá trong sự nghiệp bình đẳng giới ở Việt Nam. Đây là văn bản luật  
quy định tập trung nhất các nội dung về bình đẳng giới và bảo đảm quyền của phụ nữ.  
Điểm nổi bật của Luật này là: lần đầu tiên hình thành nên cơ quan quản lý nhà nước  
về bình đẳng giới ở Việt Nam; quy định bắt buộc quy trình lồng ghép vấn đề bình  
đẳng giới trong văn bản quy phạm pháp luật và yêu cầu các cơ quan chức năng xây  
dựng các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới…  
+ Thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, Chính phủ đã xây dựng và triển khai  
thực hiện các chiến lược, kế hoạch đặc thù riêng cho phụ nữ như: Chiến lược quốc gia  
vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam giai đoạn 2001-2010; thực hiện lồng ghép vấn đề  
bình đẳng giới vào chiến lược, kế hoạch, các chương trình chung của quốc gia như:  
chiến lược toàn diện tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo, kế hoạch phát triển kinh tế-  
xã hội 5 năm 2006- 2010...  
- Bộ máy tổ chức thực thi bình đẳng giới ngày càng được hoàn thiện, phát  
triển. Nếu cách đây 10 năm, Việt Nam mới chỉ có một tổ chức phối hợp liên ngành vì  
sự tiến bộ của phụ nữ được thành lập từ TW tới địa phương, thì đến nay, sau khi Luật  
Bình đẳng giới được ban hành và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2007, hệ thống  
cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới đã được hình thành và đi vào hoạt động.  
Hiện nay, bộ máy quốc gia về bình đẳng giới ở Việt Nam gồm có: Bộ Lao động -  
Thương binh và Xã hội, Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam. Ngoài  
ra, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam và Nhóm nữ nghị sĩ Việt Nam cũng tích cực tham  
gia thực hiện công tác này.  
- Các văn bản hướng dẫn quản lý, sử dụng kinh phí cho công tác bình đẳng  
giới và tiến bộ của phụ nữ được ban hành từ năm 1997 và đã được điều chỉnh, bổ  
sung đáp ứng yêu cầu của từng thời kỳ. Nguồn kinh phí cho công tác bình đẳng giới  
đã được bố trí trong ngân sách nhà nước hàng năm và huy động từ nhiều nguồn khác.  
b. Tồn tại  
- Việc triển khai luật pháp, chính sách về bình đẳng giới chậm và thiếu tập  
trung chỉ đạo, các văn bản hướng dẫn Luật Bình đẳng giới chưa hoàn chỉnh và đồng  
bộ làm hạn chế khả năng thực hiện bình đẳng giới. Luật Bình đẳng giới quy định trách  
nhiệm của các cơ quan chủ trì soạn thảo trong việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới  
trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, nhiều cơ quan chủ trì soạn  
thảo còn gặp khó khăn trong việc thực hiện quy trình, thủ tục lồng ghép giới. Cho đến  
này chưa có đánh giá chính thức về mức độ thực hiện quy đinh này kể từ khi Luật  
Bình đẳng giới có hiệu lực. Vì vậy, những nguyên nhân vướng mắc liên quan đến như  
sự phối hợp của các cơ quan, bộ ngành về quy trình thẩm định hay vấn đề kỹ  
năng…chưa được xác định một cách thấu đáo để có cơ sở khắc phục.  
- Số liệu tách biệt theo giới phục vụ cho công tác nghiên cứu, xây dựng kế  
hoạch, lập ngân sách chưa được quan tâm đúng mức để xây dựng ở từng bộ, ngành  
cũng như trong cả nước.  
- Một số chính sách, pháp luật chuyên ngành được ban hành mới hoặc sửa đổi,  
bổ sung còn chưa tính đến yếu tố giới hoặc có một số quy định chưa phù hợp với  
chuẩn mực quốc tế (tuổi về hưu, …); một số quy định khó thực hiện trên thực tế (các  
quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của lao động nữ vô hình chung trở thành rào cản  
khiến phụ nữ khó/mất cơ hội có việc làm).  
- Chưa có chế tài đủ mạnh đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng  
giới.  
- Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam giai đoạn 2001-2010  
mới tập trung đề xuất các giải pháp nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, chưa xem xét  
giải quyết trong mối quan hệ với bảo đảm quyền lợi của nam giới. Nhiều giải pháp  
được đặt ra trong Chiến lược và Kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt  
Nam các giai đoạn chưa được các cơ quan chức năng quan tâm thực hiện.  
- Việc truyền thông rộng rãi về Luật bình đẳng giới hầu như chưa được quan  
tâm. Vì thế mà người dân cũng như các cơ quan ban ngành còn hiểu biết hạn chế về  
luật này.  
- Năng lực của bộ máy quốc gia về bình đẳng giới còn nhiều hạn chế. Cơ quan  
quản lý nhà nước về bình đẳng giới mới được hình thành ở cấp trung ương là Bộ Lao  
động – Thương binh và Xã hội (Vụ bình đẳng giới), tại các tỉnh là Sở Lao động –  
Thương binh và Xã hội. Đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ  
của phụ nữ đang trong quá trình ổn định, tại các tỉnh đa phần chưa có cán bộ chuyên  
trách; đội ngũ cán bộ vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về kiến thức, hạn chế trong kỹ  
năng hoạt động.  
- Kinh phí chi cho công tác bình đẳng giới còn quá ít và phụ thuộc vào “sự  
quan tâm” của từng địa phương. Hầu hết mới chỉ tính toán được ở khoản ngân sách  
cấp cho một số hoạt động “bề nổi” của các Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ và một số ít  
cho cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới (sau khi Luật Bình đẳng giới năm  
2006 ra đời).  
2. Thực trạng bình đẳng giới trên các lĩnh vực  
2.1. Trong lĩnh vực chính trị  
a. Thành tựu:  
Trong những năm qua, bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị đã được cải  
thiện tích cực, thể hiện rõ rệt nhất ở tỷ lệ cao hơn của phụ nữ tham gia vị trí lãnh đạo  
ở các cấp.  
- Trong hơn thập kỷ qua, vị trí Phó Chủ tịch nước luôn là nữ. Nhiệm kỳ 2004-  
2009, lần đầu tiên Quốc hội có một Phó Chủ tịch Quốc hội là nữ. Trong Quốc hội,  
Việt Nam là một trong số ít nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương có tỷ lệ  
nữ đại biểu Quốc hội đạt trên 25%. Số đại biểu nữ giữ các trọng trách quan trọng  
trong các cơ quan của Quốc hội đã tăng lên. Trong khối cơ quan Đảng, Ở cấp TW,  
nhiệm kỳ 2005-2011, tỷ lệ nữ tham gia Ban Chấp hành TW Đảng (kể cả ủy viên dự  
khuyết) là 10%, tăng so với nhiệm kỳ 2001-2005 (8,6%), tỷ lệ cán bộ nữ tham gia  
Ban Bí thư TW Đảng là 20% (2/10 đồng chí).  
- Ở địa phương, tỷ lệ nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh nhiệm kỳ 2004-2011 đạt  
23,9%, cấp huyện là 23,01% và cấp xã là 19,5%. Tỷ lệ nữ tham gia cấp uỷ Đảng tăng  
nhẹ: Ở cấp tỉnh, tỷ lệ nữ ủy viên chiếm 11,75% so với tỷ lệ 11,3% của nhiệm kỳ  
trước, nữ Uỷ viên Ban thường vụ chiếm 7%, có 5 nữ bí thư Tỉnh uỷ. Ở cấp huyện và  
xã, tỷ lệ này lần lượt đạt 14,7% (so với 12,9%) và đạt 15,1% (so với 11,9%).  
- Trong khối cơ quan hành chính nhà nước, đội ngũ cán bộ, công chức nữ tăng  
cả về số lượng và chất lượng. Trong nhiệm kỳ 2007-2011, tỷ lệ nữ Bộ trưởng và  
tương đương là 4,5%, Thứ trưởng và tương đương là 8,4%  
Số lượng cán bộ, công chức nữ trong các cơ quan hành chính nhà nước từ cấp  
huyện tới trung ương chiếm khoảng 31%, trong đó, nữ lãnh đạo chiếm khoảng 18,4%.  
Ở cấp xã, nữ chiếm 16,3% trong tổng số cán bộ chuyên trách.  
Ngoài ra, phụ nữ luôn bình đẳng với nam giới trong việc thực thi quyền tham  
gia bầu ra cơ quan lãnh đạo các cấp, tham gia xây dựng và thực hiện quy định, quy  
chế của cơ quan, tổ chức.  
b. Tồn tại:  
- Tỷ lệ cán bộ quản lý, lãnh đạo nữ còn thấp so đội ngũ lao động nữ và so với  
yêu cầu. Cán bộ nữ là lãnh đạo đầu ngành, địa phương còn rất ít. Tỷ lệ nữ đại biểu  
Quốc hội tăng không bền vững (Khóa X đạt 26,2%, khóa XI đạt 27,3% và khóa XII  
đạt 25,7%) và chưa đạt chỉ tiêu của Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ đến  
2010 (phấn đấu đạt từ 33% trở lên).  
- Trong khối cơ quan hành chính nhà nước, tỷ lệ cán bộ nữ trong nhiệm kỳ  
2005-2010 giảm so với nhiệm kỳ 1999-2004, cụ thể: Ở TW, chỉ có 9/30 Bộ, cơ quan  
ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có nữ trong ban lãnh đạo. Duy nhất có 1 nữ trong  
số 30 Bộ trưởng và tương đương (4,5% so với 12% ở khóa 2002-2007). Có 9 nữ trong  
số khoảng 100 Thứ trưởng và tương đương (8,4% so với 9% khóa 2002-2007). Vụ  
trưởng và tương đương từ 6% giảm xuống 5,5%. Năm 2008, Việt Nam xếp thứ 89  
trên tổng số 93 nước xếp hạng về có các chức danh bộ trưởng là nữ. Ở cấp địa  
phương, cả nước hiện chỉ có duy nhất một nữ trong số 63 Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân  
cấp tỉnh và còn khoảng 19 tỉnh/thành không có nữ lãnh đạo chủ chốt ở cấp này. Trong  
nhiều năm nay chưa có sự tham gia của phụ nữ vào các chức danh như Thủ tướng,  
Phó Thủ tướng Chính phủ và trong Bộ Chính trị. Đặc biệt, tỷ lệ cán bộ lãnh đạo nữ ở  
cấp xã, thôn là rất thấp. Nếu thiếu lực lượng này thì nguồn cán bộ nữ cho những vị trí  
cấp cao hơn trong những năm tới sẽ gặp khó khăn.  
Các nghiên cứu của Bộ Nội vụ (2005), Bộ Lao động –Thương Binh- Xã hội  
(2009) và những cuộc đối thoại chính sách, diễn đàn, hội thảo diễn ra trong những  
năm vừa qua đã cho rằng, chế độ nghỉ hưu sớm hơn 5 năm đã là một trong những  
nguyên nhân làm cho phụ nữ ít có cơ hội được đề bạt ở những vị trí cao hơn so với  
nam giới. Đây là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để có giải pháp thích hợp.  
Việc thiếu nguồn cán bộ nữ ở cấp cơ sở là một trong những hệ quả của cả một  
quá trình khi phụ nữ ít có điều kiện tham gia đào tạo, bồi dưỡng, do gánh nặng công  
việc gia đình và do những định kiến về năng lực quản lý của phụ nữ. Sự tham gia của  
phụ nữ vào các cơ quan dân cử bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác như cách hiểu chưa  
đúng về tỷ lệ cơ cấu đại biểu Hội đồng nhân dân theo giới tính và quan niêm về tiêu  
chuẩn đối với ứng cử viên  
2.2. Trong lĩnh vực kinh tế và lao động  
a. Thành tựu:  
Trong một thập kỷ qua, Việt Nam đã có những tiến bộ trong việc phát triển thị  
trường lao động, mở rộng cơ hội việc làm cho phụ nữ và nam giới. Khoảng cách giới  
trong lĩnh vực kinh tế - lao động đã được cải thiện, phụ nữ ngày càng khẳng định  
được vai trò, vị trí của mình trong gia đình và xã hội. Trên toàn quốc, tỷ lệ nữ tham  
gia lực lượng lao động đạt 78,2% so với nam giới là 86%. Lao động nữ đóng vai trò  
quan trọng trong các ngành chế biến, xuất khẩu. Tỷ lệ lao động nữ cao hơn rõ rệt so  
với nam ở ngành dệt, may (trên 70%), , ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản (53,7%)  
Nữ chủ doanh nghiệp tăng nhanh. Tỷ lệ lao động nữ đi lao động và làm việc có thời  
hạn ở nước ngoài hàng năm chiếm 33%. Phụ nữ tham gia tích cực vào tẩt cả các hoạt  
động sản xuất, kinh doanh, hàng ngày tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho gia đình  
và xã hội.  
b. Tồn tại: Lao động nữ chiếm số đông trong những ngành nghề không đòi hỏi  
chuyên môn kỹ thuật cao, có thu nhập thấp, điều kiện lao động nghèo nàn, thời gian  
lao động kéo dài và việc làm bấp bênh, độ rủi ro cao. Nông nghiệp hiện là nghề  
nghiệp chính của khoảng 1/2 lao động nam và khoảng 2/3 lao động nữ. Tỷ lệ nữ làm  
lao động giản đơn chiếm 53,6%, và làm trong khu vực phi nông nghiệp là 47,3%,  
trong khi chỉ có 20,2% là lãnh đạo ở các cấp, các ngành, Nữ chiếm một tỷ lệ lớn trong  
khu vực kinh tế không chính thức, trong các cơ sở kinh doanh nhỏ, lao động tại nhà,  
lao động làm thuê cho gia đình, lao đông di cư, làm việc trong các lĩnh vực thường  
chưa được pháp luật lao động điều chỉnh, không thuộc phạm vi điều tiết hệ thống bảo  
trợ xã hội chính thức. Tỷ lệ lao động nữ chưa qua đào tạo, đặc biệt là khu vực nông  
thôn, còn ở mức cao. Mặc dù không có sự phân biệt về giới trong chính sách tiền  
lương, song thu nhập thực tế của lao động nữ chỉ bằng 74,5% so với thu nhập của lao  
động nam. Phụ nữ ít được tiếp cận, kiểm soát các nguồn lực tài chính và kinh tế ở gia  
đình và cộng đồng. Tỷ lệ tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo do nữ làm chủ hộ đạt  
33,9% trong khi tỷ lệ này ở hộ nghèo do nam làm chủ hộ đạt 41,8%. Tác động của  
khủng hoảng kinh tế đã làm cho nhiều lao động nữ bị mất việc làm. Do trình độ  
chuyên môn, kỹ thuật thấp, phụ nữ thường ở thế bất lợi hơn so với nam giới trong tiếp  
cận việc làm có thu nhập cao hoặc chuyển đổi nghề nghiệp. Làm việc trong khu vực  
phi chính thức, lao động nữ đang găp nhiều rủi ro liên quan đến việc làm thiếu ổn  
định, thu nhập bấp bênh và không được hưởng bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội và các  
nguồn hỗ trợ chính thức. Do chủ yếu làm nông nghiệp, phụ nữ sẽ đối diện với nhiều  
nguy cơ giảm thu nhập và mất nguồn sống trước ảnh hưởng của biến đổi khí hậu,  
nước biển dâng và thời tiết nóng lạnh quá bất thường.  
Những định kiến giới trong phân công lao động xã hội, gánh nặng công việc  
gia đình tiếp tục ảnh hưởng đến cơ hội việc làm và phát triển nghề nghiệp của phụ nữ.  
Trong khi phụ nữ đã có đóng góp quan trọng cho kinh tế gia đình thì nam giới vẫn bị  
trông chờ là người có trách nhiệm chính kiếm tiền nuôi gia đình.  
2.3. Trong lĩnh vực giáo dục- đào tạo và khoa học công nghệ  
a. Thành tựu: khoảng cách giới được thu hẹp đáng kể ở từng cấp học, bậc học.  
Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tỷ lệ đi học cấp tiểu học của cả nước hiện  
nay đạt rất cao, năm học 2007 - 2008, tỷ lệ này đạt 100%. Tỷ lệ nữ trí thức ngày càng  
tăng và đạt tỷ lệ cao nhất ở trình độ cao đẳng. Theo số liệu được công bố tại Hội thảo  
Khoa học nữ trí thức Việt Nam đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất  
nước, tỷ lệ nữ trúng tuyển vào các trường Đại học, cao đẳng trên cả nước tăng từ  
45,5% năm 2004 lên 53,9% năm 2008. Trong số hơn 130 thủ khoa tốt nghiệp năm  
2009 tại các trường Đại học trên địa bàn Hà Nội, có 60% thủ khoa là nữ. Trong 3 năm  
từ 2004 – 2007, tỷ lệ nữ giáo sư tăng từ 4,3% lên 5,1%; tỷ lệ nữ Phó Giáo sư tăng cao  
hơn, từ 7% lên 11,7%. Tỷ lệ nữ tiến sĩ, thạc sĩ đạt lần lượt là 17,1% và 30,5%.  
b. Tồn tại: Khoảng cách giới về giáo dục-đào tạo vẫn còn đáng kể tại các vùng  
sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn: Phụ nữ và trẻ em gái thuộc gia đình nghèo gặp  
nhiều khó khăn và trở ngại hơn so với các em trai và nam giới trong việc tiếp cận với  
học tập; phụ nữ và trẻ em gái vẫn chiếm số đông trong số người ở độ tuổi 15 trở lên  
cho đến 40 trong dân số không biết đọc, biết viết. Trình độ học vấn của phụ nữ so với  
nam giới ở bậc sau đại học có sự chênh lệch lớn: Tỷ lệ nữ trong tổng số tiến sĩ, thạc sĩ  
tăng nhưng không bền vững, năm 2000 tỷ lệ này lần lượt là 14,9% và 29,1%; năm  
2004 tỷ lệ này tương ứng là 17,5% và 39,1% nhưng đến năm 2007 giảm còn 17,1% và  
30,53%. Tỷ lệ nữ trí thức làm khoa học có tăng tuy nhiên chưa tương xứng với lực  
lượng và tiềm năng lao động nữ của nước ta.  
Một trong những tồn tại trong lĩnh vực giáo dục-đào tạo là định kiến giới trong  
hệ thống sách giáo khoa hiện nay. Các nghiên cứu của Ngân Hàng thế giới (2006) và  
Nghiên cứu của UNESCO (2009) về sách giáo khoa cấp tiểu học ở một số môn học  
như Tiếng Việt, Đạo đức, Khoa học và Xã hội, Toán học, Lịch sử và Địa lý cho thấy  
khuôn mẫu giới thể hiện rất rõ, đặc biệt là các nghề nghiệp và đặc điểm hoạt động  
thường gắn với nam và nữ. Điều này đã có ảnh hưởng rất lớn đến quan niệm về vai  
trò của phụ nữ/trẻ em gái và nam giới/trẻ em trai đối với cả đội ngũ giáo viên và học  
sinh.  
2.4. Trong lĩnh vực y tế  
a. Thành tựu: Bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe nhân dân luôn là một  
trong những trọng tâm đặc biệt của Chính phủ. Sức khỏe của bà mẹ không ngừng  
được cải thiện, tỷ suất chết mẹ có liên quan đến thai sản đã giảm dần qua các năm.  
Theo số liệu công bố của Tổng cục Thống kê, tuổi thọ bình quân của người Việt Nam  
hiện nay đã vượt trên 72 tuổi. Tỷ lệ phụ nữ mang thai được khám thai trên 3 lần (năm  
2006) đạt 86,2%, tăng 1,9% so với năm 2005 (là 84,3%). Tỷ suất chết của các bà mẹ  
có liên quan đến thai sản giảm từ 85/100.000 trẻ đẻ sống năm 2004 xuống còn  
75/100.000 trẻ đẻ sống năm 2009. Theo báo cáo chưa đầy đủ của các địa phương, tỷ  
lệ phụ nữ được tiếp cận với dịch vụ y tế tăng từ 83,5% năm 2005 lên 85,3% năm  
2008. Đến năm 2006, tỷ lệ các ca sinh được hỗ trợ của cán bộ y tế có tay nghề đạt  
khoảng 93% và tỷ lệ các bà mẹ được khám thai trong thời kỳ thai sản từ 3 lần trở lên  
đạt 84,5%. Nâng cao năng lực khám, chữa bệnh cho nhân dân là một trong những  
mục tiêu quan trọng, trong đó có mục tiêu đến năm 2010 đảm bảo 100% các trạm y tế  
có nữ hộ sinh; trạm y tế xã, phường có bác sĩ đạt 80%...  
b. Tồn tại:  
Vấn đề tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ vùng nông thôn,  
vùng dân tộc thiểu số còn hạn chế; thiếu hệ thống chăm sóc sức khỏe cho nam giới;  
nhận thức của cả nam và nữ về chăm sóc sức khỏe sinh sản còn bất cập là ba vấn đề  
tồn tại cơ bản.  
Thư nhất, tỷ suất tử vong mẹ còn cao, gấp 2 lần so với một số nước trong khu vực  
như Thái Lan, Singapore, Malayxia, gấp 4 lần so với Hàn Quốc. Mức giảm tỷ suất  
chết mẹ trong 10 năm gần đây còn chậm và chưa nhiều, nhất là ở vùng sâu, vùng xa  
và vùng dân tộc thiểu số. Việc tuyên truyền về chăm sóc sức khỏe sinh sản đã có  
nhiều tiến bộ song vẫn còn một bộ phận nhỏ các bà mẹ vùng dân tộc thiểu số không đi  
khám thai, tự đẻ tại nhà hoặc trong rừng. Rất nhiều địa phương đã không đánh giá  
được tỷ suất chết mẹ liên quan đến thai sản. Thực tế thống kê y tế cho thấy số phụ nữ  
mắc và chết do 5 bệnh tai biến sản khoa vẫn có xu hướng gia tăng trong những năm  
gần đây, gây khó khăn trong việc giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ. Tỷ lệ nữ trong số nhiễm  
HIV thấp hơn nam giới nhưng lại có xu thế tăng dần. Tỷ lệ nạo phá thai ở nước ta ở  
mức cao, trong đó nạo phá thai ở tuổi vị thành niên chiếm một tỷ lệ đáng kể và có xu  
hướng tăng lên.  
Thứ hai, còn thiếu các trung tâm chăm sóc sức khỏe cho nam giới. Tỷ lệ nam giới  
thực hiện các biện pháp tránh thai an toàn còn chưa cao. Năng lực thực hiện công tác  
chăm sóc sức khỏe sinh sản hoặc kế hoạch hóa gia đinhg như đội ngũ bác sỹ có  
chuyên môn về sức khỏe sinh sản hoặc kế hoạch hóa gia đinhg từ Trung ương tới cơ  
sở; mạng lưới tư vấn về giới và chăm sóc sức khỏe sinh sản cũng như đội ngũ bác sỹ  
chăm sóc sức khỏe nam giới còn hạn chế.  
Thứ ba, nhận thức, hành vi của cả nam giới và nữ giới về chăm sóc sức khỏe sinh  
sản, kế hoạch hóa gia đình còn chưa đầy đủ. Điều này đang tạo nên tình trạng mất cân  
bằng giới tính (khi sinh). Tại các cơ sở y tế cũng chưa có hệ thống sàng lọc nạn nhân  
của bạo lực giới và các nguyên nhân của nó theo quy định của Bộ Y tế, nhằm giúp  
xác định tác động của bạo lực giới đến sức khỏe phụ nữ.  
2.5. Trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể thao, gia đình và bạo lực trên cơ sở  
giới đối với phụ nữ và trẻ em gái  
a. Thành tựu: Trong văn hóa, thông tin, thể thao: Các hoạt động văn hóa, nghệ  
thuật đã có những đổi mới, cải tiến về nội dung, chất lượng nhằm đáp ứng tốt hơn nhu  
cầu thưởng thức của mỗi giới, đặc biệt bên cạnh nhiều chương trình truyền hình dành  
riêng cho phụ nữ như “Sức sống mới”, “Phụ nữ và cuộc sống”, cũng đã xuất hiện  
những chương trình giành cho nam giới như chương trình “Dành cho đàn ông” của  
O2 TV. Định kiến giới về vai trò truyền thống của phụ nữ và nam giới trong gia đình  
và xã hội đã có sự thay đổi tích cực so với trước đây. Trên các phương tiện thông tin  
đại chúng, hình ảnh người phụ nữ tự tin vươn lên, khẳng định mình trong công việc  
xuất hiện ngày càng nhiều; nhiều bài viết, hình ảnh quảng cáo đã thể hiện vai trò của  
nam giới trong chia sẻ việc nhà. Phụ nữ đã tham gia hầu hết các bộ môn thi đấu trong  
nền thể thao nước nhà và đạt nhiều thành tích nổi bật, trong đó phải kể tới bộ môn  
bóng đá.  
Trong gia đình, vị trí, vai trò của phụ nữ đã được cải thiện so với trước đây, đặc  
biệt là phụ nữ ở thành thị. Người phụ nữ được tôn trọng và được tham gia nhiều hơn  
vào các quyết định quan trọng trong gia đình. Tỷ lệ phụ nữ thực hiện các hoạt động  
văn hóa, thể thao, vui chơi, giải trí trong thời gian rỗi ngày càng cao và ở một số loại  
hình như xem tivi, nghe đài là tương đương với nam giới. Những người phụ nữ ngày  
càng nhận thức rõ hơn và tham gia tích cực vào việc phòng chống bạo lực gia đình  
trên cơ sở giới.  
b. Tồn tại: Tư tưởng và quan niệm của một bộ phận không nhỏ nhân dân còn bị ràng  
buộc khá nặng nề bởi những khuôn mẫu về giới: Phụ nữ vẫn được coi là người đảm  
nhận chính các công việc nội trợ, chăm sóc gia đình, nam giới được gia đình và xã hội  
kỳ vọng phải trở thành người thành đạt, bảo đảm kinh tế của gia đình và thường bị kỳ  
thị khi làm những công việc được cho là chỉ dành cho phụ nữ (nội trợ, giáo viên mầm  
non và cấp tiểu học, y tá...).. Đặc biệt, định kiến giới còn tồn tại rõ nét trong một số  
phong tục, tập quán của các dân tộc thiểu số. Các sản phẩm truyền thông có định kiến  
giới còn được đăng tải và phát sóng rộng rãi. Vai trò định hướng cộng đồng chuyển  
đổi những định kiến giới không phù hợp chưa được các cơ quan thông tin đại chúng  
chú ý phát huy. Tâm lý thích con trai còn tồn tại nặng nề là nguyên nhân chủ yếu dẫn  
đến tỷ số giới tính khi sinh trên toàn quốc đang vượt mức cho phép là 110,5 nam/100  
nữ. Tỷ lệ này đặc biệt cao ở một số tỉnh thuộc Đồng bằng sông Hồng như: Hưng Yên  
130,7 nam/100 nữ, Hải Dương 120,2 nam/100 nữ, Bắc Ninh 119,4 nam/100 nữ… Sự  
quan tâm, ủng hộ của gia đình và xã hội đối với phụ nữ trong các hoạt động thể thao  
còn hạn chế.  
Trong cuộc sống gia đình, mặc dù người vợ đã tham gia ngày càng nhiều hơn  
vào hoạt động lao động, sản xuất tạo thu nhập, nhưng nhiều người chồng chưa sẵn  
sàng chia sẻ công việc nhà, trong khi đó các dịch vụ hỗ trợ công việc gia đình còn  
thiếu và chưa phù hợp với số đông phụ nữ. Phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn vào  
các quyết định trong gia đình, song nam giới vẫn là người ra các quyết định chính.  
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ vẫn diễn ra khá phổ biến, đặc biệt ở khu vực nông  
thôn.. Bạo lực gia đình đang trực tiếp gây ra những tổn thất khôn lường cả về vật chất  
và tinh thần cho nạn nhân, gia đình họ và cộng đồng. Bạo lực gia đình cũng gây ảnh  
hưởng xấu tới sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương và đất nước (như tăng tình  
trạng bệnh tật và tự tử, mất khả năng tham gia sản xuất, ảnh hưởng đến đạo đức xã  
hội...). Tình trạng buôn bán phụ nữ còn diễn biến phức tạp ở một số địa bàn trọng  
điểm gần khu vực biên giới. Tình trạng quấy rối, lạm dụng tình dục, bạo lực tình dục  
đối với trẻ em gái cũng ngày càng đa dạng, phức tạp và gây nhiều mối lo âu cho xã  
hội.  
Nhìn chung, trong 10 năm qua, chúng ta đã vượt qua những khó khăn, thách  
thức để đạt được những kết quả quan trọng đối với mục tiêu bình đẳng giới. Đây sẽ là  
tiền đề quan trọng để chúng ta tiếp tục thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam trong 10  
năm tới, giai đoạn 2011-2020. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đó, bất bình đẳng  
giới trên các lĩnh vực vẫn còn tồn tại mà sự thiệt thòi chủ yếu thuộc về phụ nữ; hệ  
thống luật pháp, chính sách về bình đẳng giới được coi là khá hoàn chỉnh nhưng chưa  
được thực hiện hiệu quả trên thực tế; bộ máy các cấp về bình đẳng giới và tiến bộ phụ  
nữ đã được hình thành nhưng chưa ổn định và hiệu quả hoạt động còn thấp....  
3. Nguyên nhân của những tồn tại  
- Những định kiến và chuẩn mực cũ xuất phát từ tư tưởng “trọng nam khinh  
nữ”, tồn tại lâu dài trong ý thức và quan niệm xã hội, là trở ngại đối với việc thay đổi  
thái độ và hành vi của cán bộ và người dân, của phụ nữ và nam giới.  
- Một bộ phận phụ nữ chưa vượt qua được những trở ngại do quan niệm và  
chuẩn mực xã hội đặt ra, chưa hoàn toàn tự tin, chủ động tham gia vào việc ra quyết  
định ở gia đình và cộng đồng.  
- Không ít nam giới chưa sẵn sàng khuyến khích và tạo điều kiện cho những  
người phụ nữ trong gia đình học tập, tiến bộ, nam giới còn ngần ngại, chưa chủ động  
tham gia, chia sẻ việc gia đình.  
- Những hạn chế về hệ thống chính sách, pháp luật và tổ chức, bộ máy hoạt  
động trong lĩnh vực bình đẳng giới như đã nêu ở các phần trên. Sự cam kết chính trị  
của nhiều tổ chức Đảng, cơ quan chính quyền và đoàn thể xã hội đối với vấn đề bình  
đẳng giới chưa cao. Cơ chế phối hợp liên ngành trong thực hiện bình đẳng giới còn  
nhiều hạn chế. Công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá của các cơ quan chức năng trong  
công tác này còn chưa thực sự hiệu quả.  
- Về cơ bản nước ta vẫn dựa vào sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, nhiều vùng  
còn chậm phát triển, cuộc sống khó khăn khiến người dân chưa coi vấn đề bình đẳng  
giới là quan trọng. Thiếu các dịch vụ cơ bản và dịch vụ hỗ trợ gia đình;  
- Truyền thông chưa thực sự phát huy thế mạnh của mình trong việc làm thay  
đổi nhận thức và hành vi của người dân đối với vấn đề bình đẳng giới. Một bộ phận  
các sản phẩm truyền thông còn tiếp tục góp phần bảo lưu các định kiến giới.  
4. Bài học kinh nghiệm  
Từ thực tiễn triển khai công tác bình đẳng giới trong 10 năm qua, cụ thể là  
việc thực hiện Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ phụ nữ giai đoạn 2001-2010 và việc  
thực hiện Luật Bình đẳng giới từ năm 2007, có thể rút ra một số bài học chủ yếu sau:  
- Một là, nhận thức đúng đắn và sự cam kết mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị  
trong thực hiện bình đẳng giới là yếu tố quyết định. Thực hiện hiệu quả việc lồng  
ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật; xây  
dựng và thực hiện chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới là  
yếu tố then chốt.  
- Hai là, thái độ tích cực và trách nhiệm cao của cán bộ lãnh đạo các ngành, các  
cấp là tiền đề cơ bản thúc đẩy chất lượng, hiệu quả công tác bình đẳng giới. Công tác  
tuyên truyền nâng cao nhận thức về bình đẳng giới có ý nghĩa rất quan trọng và cần  
được tiếp tục tăng cường.  
- Ba là, tăng cường năng lực của tổ chức, bộ máy và cán bộ quản lý nhà nước  
về bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ là yếu tố nền tảng; nhất là, xây dựng đội  
ngũ cán bộ chuyên nghiệp vừa có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, vừa tâm huyết  
với công tác bình đẳng giới. Cơ chế phối hợp liên ngành có hiệu quả có ý nghĩa quan  
trọng bảo đảm công tác bình đẳng giới đạt kết quả tốt. Tăng cường năng lực cho bộ  
máy quốc gia về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ và lập ngân sách có tính  
đến các quan hệ giới là điều kiện thiết yếu để thực hiện nhiệm vụ bình đẳng giới.  
- Bốn là, hoạt động bình đẳng giới cần được thực hiện có trọng tâm, trọng điểm,  
quan tâm nhiều hơn cho địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số -  
nơi tồn tại rõ nét nhất tình trạng bất bình đẳng giới.  
- Năm là, Chất lượng hệ thống cơ sở dữ liệu về bình đẳng giới và tiến bộ phụ nữ  
là yếu tố quan trọng cung cấp luận cứ đáng tin cậy cho công tác hoạch định và thực  
thi chính sách bình đẳng giới.  
- Sáu là, công tác tham mưu, chỉ đạo, đôn đốc và kiểm tra công tác bình đẳng  
giới một cách thường xuyên giúp cho việc nắm bắt tình hình tốt hơn và kịp thời đề  
xuất các giải pháp giải quyết những vấn đề giới nổi cộm, qua đó nâng cao trách nhiệm  
của các ngành, các cấp trong việc thúc đẩy bình đẳng giới.  
- Bảy là, tăng cường hợp tác quốc tế về bình đẳng giới và tranh thủ sự hỗ trợ về  
kỹ thuật, thông tin, tài chính là cần thiết nhằm thực hiện hiệu quả mục tiêu bình đẳng  
giới.  
Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng Giới tới năm 2020 (Dự thảo, Phần 2)  
PHẦN II. NỘI DUNG CỦA CHIẾN LƯỢC QUỐC  
GIA  
VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI GIAI ĐOẠN 2011 - 2020  
1. Bối cảnh quốc tế và trong nước  
1.1. Thuận lợi  
Thế giới và khu vực:  
- Các văn bản quốc tế với các nguyên tắc pháp lý về bình đẳng giới và tiến bộ phụ nữ  
ngày càng được nhiều quốc gia thừa nhận và triển khai thực hiện. Công ước về xóa bỏ  
mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) của Liên hợp quốc đã được 186  
quốc gia tham gia ký kết, phê chuẩn rộng rãi. Mục tiêu thiên niên kỷ, Tuyên bố và  
Cương lĩnh hành động Bắc Kinh đến 2015 được hầu hết các quốc gia thành viên Liên  
hợp quốc đã cam kết thực hiện. Khung luật pháp, chính sách về bình đẳng giới ở  
nhiều nước được xây dựng, hoàn thiện. Hiện nay, có 120 quốc gia đã và đang xây  
dựng, thực hiện chiến lược, chương trình, kế hoạch hành động vì sự tiến bộ phụ nữ  
hoặc bình đẳng giới.  
- Trên phạm vi toàn cầu, bình đẳng giới đã đạt được những thành tựu đáng kể. Tỷ lệ  
phụ nữ tham gia vào lĩnh vực ra quyết định ngày càng tăng. Năm 2009, trên thế giới,  
phụ nữ chiếm 18,8% tổng số nghị sĩ so với 11,3% năm 1999. Hiện có 24 quốc gia có  
tỷ lệ nữ nghị sĩ trên 30%. Cơ chế quy định số lượng các vị trí lãnh đạo dành cho nữ đã  
được xây dựng và áp dụng ở nhiều quốc gia. Hệ thống an sinh xã hội được cải thiện  
trong đó quy định chế độ nghỉ ốm và nghỉ thai sản được hưởng nguyên lương. Việc  
tiếp cận giáo dục của trẻ em gái toàn cầu ở các cấp học đã tăng lên, đặc biệt là ở cấp  
tiểu học.  
- Cơ quan làm về bình đẳng giới của Liên hợp quốc mới được củng cố và phát triển.  
Bộ máy quốc gia về bình đẳng giới và phụ nữ được thành lập ở 165 quốc gia thành  
viên Liên hợp quốc.  
- Trong khu vực Châu Á - Thái Bình dương, công tác bình đẳng giới cũng được nhiều  
quốc gia quan tâm. Trong khu vực ASEAN, thừa nhận sự cần thiết của việc bảo vệ  
quyền của phụ nữ và trẻ em, tháng 4/2010, tại Việt Nam, Ủy ban về bảo vệ và thúc  
đẩy quyền của phụ nữ đã chính thức được công bố thành lập. Điều này cho thấy việc  
thực hiện các điều ước quốc về bình đẳng giới và bảo đảm quyền của phụ nữ sẽ được  
thúc đẩy mạnh hơn.  
- Các tổ chức quốc tế mong muốn song hành cùng Chính phủ Việt Nam trong xây  
dựng và triển khai các hoạt động về bình đẳng giới trong giai đoạn 10 năm tới.  
Trong nước:  
- Nhận thức của cả hệ thống chính trị về bình đẳng giới ngày càng được tăng  
cường. Bình đẳng giới được nhận thức không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực của  
công cuộc đổi mới.  
- Hệ thống chính sách, tổ chức bộ máy thực hiện bình đẳng giới ngày càng  
được hoàn thiện.  
- Việc thực hiện thành công chiến lược toàn diện về tăng trưởng và giảm  
nghèo, chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội làm cho vấn đề xã hội được  
giải quyết tốt hơn. Sự tham gia của cộng đồng vào các vấn đề xã hội theo tinh thần xã  
hội hóa được mở rộng hơn. Tăng trưởng kinh tế giúp việc bảo đảm bình đẳng giới  
được thực hiện thuận lợi hơn.  
- Các sáng kiến về thực hiện bình đẳng giới ngày càng phong phú, được tổng  
kết, đúc rút và vận dụng trong thực tế.  
1.2 Khó khăn  
Quốc tế và khu vực:  
- Biến động về tăng trưởng kinh tế cùng với những tác động tiêu cực của suy  
thoái kinh tế thế giới ít nhiều ảnh hưởng đến công tác bình đẳng giới và tiến bộ của  
phụ nữ ở các nước, trong đó có Việt Nam.  
- Khủng hoảng kinh tế và tài chính toàn cầu, khủng hoảng lương thực và dầu  
lửa đã và đang làm trầm trọng thêm những thách thức đối với phụ nữ.  
- Biến đổi khí hậu, đại dịch HIV và các dịch bệnh khác đã có những tác động  
tiêu cực tới cuộc sống của người dân nói chung và tới phụ nữ, trẻ em gái nói riêng.  
Nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em, bạo lực gia đình đối với phụ nữ ngày càng diễn biến  
phức tạp.  
Trong nước  
- Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và hội  
nhập quốc tế, những rủi ro xã hội do cải cách thể chế, những bất cập của nền kinh tế  
thị trường có thể ảnh hưởng đến mọi người song phần lớn những tác động tiêu cực  
này rơi vào những nhóm yếu thế trong xã hội, trong đó có phụ nữ.  
- Kết quả thực hiện bình đẳng giới chưa đồng đều giữa các vùng, đặc biệt là  
bất bình đẳng giới tồn tại khá rõ nét ở các vùng nông thôn, vùng miền núi, vùng sâu,  
vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.  
- Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi nhóm các nước chậm phát triển, những yếu  
kém của nền kinh tế chậm được khắc phục, nhiều vấn đề xã hội chưa được giải quyết  
triệt để.  
- Nhận thức của một số bộ phận cán bộ, nhân dân về bình đẳng giới còn hạn  
chế. Thiếu sự phối hợp chặt chẽ của các bộ phận trong hệ thống chính trị đấu tranh  
cho bình đẳng giới.  
2. Quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ chiến lược về bình đẳng giới giai  
đoạn 2011 - 2020  
2.1. Quan điểm thực hiện bình đẳng giới  
- Bình đẳng giới là chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, là một  
trong những nhiệm vụ trọng tâm của chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội,  
phát triển nguồn nhân lực. Thực hiện tốt chiến lược quốc gia về bình đẳng giới, tạo cơ  
hội, điều kiện cho cả nam giới và phụ nữ tiếp cận bình đẳng các nguồn lực phát triển  
sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xây dựng xã hội ổn định và đồng  
thuận, phát triển bền vững đất nước.  
- Từng bước đảm bảo trên thực tế bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực của đời  
sống xã hội, xóa bỏ định kiến giới; giải phóng và phát huy tối đa tiềm năng của con  
người trên cơ sở tạo cơ hội như nhau giữa nam và nữ tham gia vào quá trình phát  
triển; thực hiện công bằng xã hội giữa nam và nữ trong hưởng thụ các thành quả phát  
triển, nhất là trong phân phối thu nhập lần đầu và phân phối lại thông qua chính sách  
xã hội, phúc lợi xã hội, an sinh xã hội...  
- Tập trung nguồn lực và sự chỉ đạo thực hiện bình đẳng giới trong những  
ngành, vùng, khu vực có hoặc có nguy cơ bất bình đẳng giới cao; giải quyết những  
vấn đề cấp bách về bất bình đẳng giới, nhất là trong quan hệ lao động, quan hệ gia  
đình, ở vùng nông thôn, vùng nghèo, vùng miền núi còn nhiều tập tục lạc hậu, vùng  
có đông đồng bào dân tộc thiểu số.  
- Thực hiện bình đẳng giới là cam kết và trách nhiệm cao của Đảng, Nhà nước  
và cả hệ thống chính trị. Trong đó, cần tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng;  
vai trò điều hành của chính quyền các cấp, đồng thời mở rộng sự tham gia của các tổ  
chức xã hội, phát huy vai trò và trách nhiệm của cá nhân, hộ gia đình, người lao động,  
doanh nghiệp và cộng đồng trong việc tổ chức thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới.  
- Mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bình đẳng giới, nhất là đổi mới cách  
tiếp cận bình đẳng giới phù hợp với nền kinh tế thị trường và thông lệ quốc tế; thực  
hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về bình đẳng giới; tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế đa  
phương, song phương và phi chính phủ về kỹ thuật, đào tạo cán bộ, tài chính để có  
thêm nguồn lực cho công tác bình đẳng giới.  
2.2 Những vấn đề ưu tiên trong Chiến lược  
Những phân tích ở trên cho thấy, khoảng cách giới còn tồn tại trong mọi lĩnh  
vực của đời sống xã hội, ở tất cả các cấp, các ngành. Đồng thời, cũng dễ nhận thấy,  
bất bình đẳng giới vẫn nghiêng chủ yếu về phụ nữ. Đây chính là lý do giải thích vì sao  
mặc dù Chiến lược được xây dựng từ góc độ tiếp cận giới và phát triển, song nhiều  
vấn đề cấp bách cần giải quyết trong Chiến lược vẫn đặt trọng tâm vào phụ nữ.  
Việc xác định các vấn đề ưu tiên trong Chiến lược có ý nghĩa hết sức quan  
trọng để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả thực hiện Chiến lược, nhất là trong bối cảnh  
hạn chế về nguồn lực. Những vấn đề ưu tiên phải thể hiện khoảng cách giới lớn hơn,  
đồng thời phản ánh các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội theo quy định của Luật  
Bình đẳng giới. Chiến lược đặt trọng tâm ưu tiên vào các vấn đề cụ thể sau đây:  
Thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị: Bình đẳng giới trong chính  
trị là thước đo quan trọng và cao nhất về mức độ bình đẳng giới. Đây chính là lĩnh  
vực có khoảng cách giới rất lớn so với các lĩnh vực khác. Chiến lược nhằm thu hút sự  
tham gia nhiều hơn của phụ nữ trong chính trị, trong hoach định và thực thi chính  
sách nhằm đảm bảo rằng các chính sách được ban hành có tính đến quan điểm, kinh  
nghiệm của cả phụ nữ và nam giới, do vậy, chính sách sẽ đáp ứng tốt hơn nhu cầu của  
phụ nữ và nam giới. Sự tham gia bình đẳng của cả hai giới trong chính trị cũng sẽ tạo  
đà tốt hơn cho việc lồng ghép giới trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách.  
Giảm khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế, việc làm, tập trung vào nhóm  
phụ nữ nghèo nông thôn và dân tộc thiểu số. Khoảng cách về giới trong lĩnh vực kinh  
tế là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến vị thế không bình đẳng giữa  
phụ nữ và nam giới. Tạo việc làm, có thu nhập ổn định là tiền đề quan trọng để xác  
lập sự độc lập về kinh tế. Trong khi ở khu vực công, việc làm và thu nhập của phụ nữ  
đã có những cải thiện đáng kể thì phụ nữ nông thôn và phụ nữ dân tộc thiểu số vẫn  
đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong tìm kiếm việc làm mới và việc làm có  
thu nhập ổn định.  
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và từng bước xóa bỏ khoảng cách giới  
trong giáo dục: Các nghiên cứu đã chỉ ra khoảng cách giới trong giáo dục được thể  
hiện rõ nhất trong nhóm dân tộc thiểu số, và đối với nhóm người có trình độ sau đại  
học. Giải quyết vấn đề này sẽ tạo động lực quan trọng trọng việc thúc đẩy xóa đói  
giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số; góp phần thực hiện Mục tiêu 2 về giáo dục trong  
Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ. Đồng thời, nâng cao tỷ lệ phụ nữ có trình độ sau đại  
học sẽ cải thiện nguồn nhân lực có chất lượng cao.  
Bảo đảm bình đẳng giới trong tiếp cận các dịch vụ y tế: Mặc dù đã có những  
cải thiện, nhưng vấn đề tiếp cận với các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức  
khỏe bà mẹ, trẻ em ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số luôn là thách thức  
trong nhiều năm qua. Đây cũng là lĩnh vực có khoảng cách rất lớn so với vùng đông  
bằng và đô thị. Việc giải quyết tốt vấn đề này sẽ góp phần quan trọng vào việc thực  
hiện Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ (Mục tiêu 5 về tăng cường sức khỏe bà mẹ).  
Bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể thao: Đây là  
một lĩnh vực từ trước đến nay chưa được chú trọng một cách thỏa đáng. Một trong  
những vấn đề nổi cộm từ góc nhìn của văn hóa và thông tin là các sản phẩm truyền  
thống mang định kiến giới có tác động mạnh đến nhận thức của công chúng về vai trò  
của phụ nữ và nam giới. Hầu hết các nghiên cứu giới đã chỉ ra rằng, nguyên nhân đầu  
tiên dẫn đến những khoảng cách giới có nguồn gốc từ nhận thức và quan niệm của  
người dân. Do vậy, nâng cao nhận thức, thay đổi quan niệm truyền thống mang định  
kiến giới sẽ là điểm khởi đầu quan trọng trong việc giải quyết vấn đề bất bình đẳng  
trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.  
Bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực gia đình, từng bước xóa bỏ bạo lực  
trên cơ sở giới: Bất bình đẳng giới trong gia đình có mối liên quan chặt chẽ với vấn  
đề văn hóa. Thúc đẩy bình đẳng giới trong gia đình là tiền đề, điều kiện quan trọng để  
thúc đẩy bình đẳng giới trong toàn xã hội. Bạo lực gia đình, trong đó đặc biệt là bạo  
lực trên cơ sở giới trong gia đình là vấn đề gây nhiều bức xúc trong dư luận xã hội  
trong những năm gần đây, mà bằng chứng là sự ra đời của Luật Phòng chống bạo lực  
trong gia đình năm 2007. Do vậy, Chiến lược xác định đây là một trong những ưu tiên  
cần được giải quyết trong thời gian tới  
Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bình đẳng giới: Như đã được đề cập ở  
trên, hiện nay Cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới vừa thiếu, vừa hạn chế về  
năng lực do bộ máy mới được hình thành. Việc nâng cao năng lực cho bộ máy và thể  
chế đóng vai trò thiết yếu trong việc thực hiện Chiến lược.  
2.2. Mục tiêu  
a. Mục tiêu tổng quát  
Đến năm 2020 về cơ bản đảm bảo cơ hội tham gia và hưởng lợi một cách bình  
đẳng cho phụ nữ và nam giới vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó tâp trung  
phấn đấu thu hẹp khoảng cách giới trong một số lĩnh vực chủ yếu và giải quyết các  
vấn đề giới nổi cộm trong từng thời kỳ.  
b. Mục tiêu cụ thể  
1. Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo nhằm  
từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị  
Chỉ tiêu 1: Tỷ lệ cán bộ nữ tham gia cấp uỷ đảng các cấp đạt từ 25% trở lên; tỷ  
lệ nữ đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp đạt từ 35% trở lên.  
Chỉ tiêu 2: 100% Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban  
nhân dân các cấp có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ.  
Chỉ tiêu 3: Các cơ quan, đơn vị thuộc tổ chức đảng, chính quyền, tổ chức  
chính trị xã hội có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ.  
2. Giảm khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động. Tăng cường sự tiếp  
cận của PN nghèo nông thôn và phụ nữ dân tộc thiểu số với các nguồn lực kinh tế và  
thị trường lao động  
Chỉ tiêu 1: Đảm bảo cân bằng nam-nữ trong tổng số người được tạo việc làm  
mới hàng năm.  
Chỉ tiêu 2: Đảm bảo 50% lực lượng lao động nữ nông thôn dưới 45 tuổi được  
đào tạo nghề và chuyên môn kỹ thuật. Tăng tỷ lệ phụ nữ dân tộc thiểu số được hỗ trợ  
đào tạo nghề theo chính sách của nhà nước.  
Chỉ tiêu 3: Tăng tỷ lệ phụ nữ nghèo nông thôn, phụ nữ dân tộc thiểu số thực sự  
là người quyết định thực hiện các kế hoạch vay vốn ưu đãi từ các chương trình, chính  
sách việc làm và giảm nghèo.  
3. Đảm bảo sự tham gia bình đẳng của phụ nữ với nam giới trong lĩnh vực giáo  
dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ  
Chỉ tiêu 1: Phổ cập biết chữ cho 100% nam giới và phụ nữ ở độ tuổi từ 15 đến 40  
tuổi ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn.  
Chỉ tiêu 2: Giảm 90% khoảng cách giới so với năm 2010 về tỷ lệ học vấn cấp  
trung học cơ sở ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng đặc biệt khó khăn.  
Chỉ tiêu 3: Tỷ lệ nữ thạc sỹ đạt 50%, tỷ lệ nữ tiến sỹ đạt 25% trong tổng số những  
người có các học vị này.  
Chỉ tiêu 4: Không còn các hình ảnh và thông điệp mang tính định kiến giới trong  
sách giáo khoa.  
4. Bảo đảm bình đẳng giới trong tiếp cận các dịch vụ y tế  
Chỉ tiêu 1: Tỷ suất tử vong bà mẹ liên quan đến thai sản dưới 55/100.000 trẻ đẻ  
sống.  
Chỉ tiêu 2: Tỷ lệ phụ nữ được khám thai trong thời kỳ thai sản từ 3 lần trở lên đạt  
hơn 95%.  
Chỉ tiêu 3: Tỷ lệ phụ nữ mang thai trong toàn quốc bị nhiễm HIV/AIDS thấp hơn  
0,2%.  
Chỉ tiêu 4: Tỷ lệ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên ít hơn 5% trong tông số ca nạo  
thai.  
Chỉ tiêu 5: Mức độ chênh lệch giới tính khi sinh khoảng 107/100, đặc biệt là ở các  
vùng có chênh lệch cao.??????  
Chỉ tiêu 6: Bệnh viện đa khoa cấp cấp tỉnh trở lên có bác sỹ chuyên khoa nam  
học.  
5. Bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể thao  
Chỉ tiêu 1: Bảo đảm việc tiếp cận và hưởng thụ bình đẳng nhu cầu thưởng thức  
văn hóa, tiếp nhận thông tin giữa nam và nữ.  
Chỉ tiêu 2: Tăng cường sự hỗ trợ xã hội đối với sự tham gia và đóng góp của phụ  
nữ vào các lĩnh vực thể thao.  
Chỉ tiêu 3: Giảm 80% các sản phẩm truyền thông mang tính định kiến giới so với  
năm 2010 và tăng thời lượng các sản phẩm truyền thông cổ vũ cho quan niệm bình  
đẳng giới.  
6. Bảo đảm bình đẳng giới trong đời sống gia đình, từng bước xóa bỏ bạo lực trên  
cơ sở giới  
Chỉ tiêu 1: Tăng 50% tỷ lệ phụ nữ tham gia các quyết định quan trọng trong gia  
đình.  
Chỉ tiêu 2: Giảm 50% tỷ lệ phụ nữ bị bạo lực gia đình đối với một số hành vi bạo  
lực gia đình cơ bản như đánh, mắng chửi và ép buộc quan hệ tình dục.  
Chỉ tiêu 3: 50% số nạn nhân bạo lực gia đình được tư vấn về pháp lý, sức khỏe,  
được hỗ trợ và chăm sóc tại các cơ sở mở rộng, 85% số người gây bạo lực gia đình  
được tư vấn tại các cơ sở tư vấn về phòng chống bạo lực gia đình.  
Chỉ tiêu 4: Giảm 50% tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em trên phạm vi toàn  
quốc, giảm 20% tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em tại địa bàn trọng điểm; 60% phụ  
nữ và trẻ em gái bị buôn bán đã phát hiện được chữa trị và dạy nghề.  
7. Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bình đẳng giới  
Chỉ tiêu 1: Các văn bản quy phạm pháp luật ban hành mới thực hiện đúng quy  
trình lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, trong đó có việc phân tích tác động của các văn  
bản này đối với phụ nữ và nam giới.  
Chỉ tiêu 2: Bộ chỉ số giám sát, đánh giá thực hiện Luật Bình đẳng giới được áp  
dụng.  
Chỉ tiêu 3: 100% cán bộ làm công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ ở  
các cấp, ngành được đào tạo về nghiệp vụ.  
Chỉ tiêu 4: 100% cán bộ làm chính sách ở các Bộ ngành, địa phương được tập  
huấn kiến thức giới, kỹ năng phân tích giới và lồng ghép giới.  
2.3 Các đột phá chiến lược  
- Tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức bình đẳng giới trong đội ngũ cán  
bộ, công chức và nhân dân. Đề cao trách nhiệm của cấp ủy và người đứng đầu cơ  
quan, tổ chức về công tác bình đẳng giới.  
- Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới vào các chính sách, pháp luật, chiến lược,  
chương trình của các ngành, địa phương.  
- Đào tạo nguồn nhân lực nữ có chất lượng cao.  
- Bố trí ngân sách giới một cách tương xứng.  
- Hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về bình đẳng giới, khuyến khích  
xã hội hóa các dịch vụ hỗ trợ, thúc đẩy bình đẳng giới.  
3. Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu  
3.1. Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bình đẳng giới, thực hiện lồng  
ghép vấn đề bình đẳng giới trong các chính sách, pháp luật, chương trình, chiến lược  
- Rà soát, đánh giá, điều chỉnh, bổ sung việc bảo đảm bình đẳng giới trong hệ  
thống văn bản quy phạm pháp luật và các chính sách của Nhà nước.  
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về công tác bình đẳng giới ở các Bộ  
ngành, địa phương; kịp thời phát hiện và xử lý những vi phạm pháp luật về bình đẳng  
giới.  
- Tập trung xây dựng và thực hiện các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trên các lĩnh  
vực còn tồn tại bất bình đẳng giới sâu sắc đối với phụ nữ.  
- Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới vào quá trình hoạch định, thực thi và giám sát,  
đánh giá các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các ngành, các cấp.  
3.2. Đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nâng cao nhận thức về  
bình đẳng giới trong đội ngũ cán bộ, công chức và nhân dân  
- Xây dựng và thực hiện các chương trình truyền thông về bình đẳng giới có nội  
dung và hình thức tuyên truyền phù hợp với từng nhóm đối tượng trong xã hội (phụ  
nữ, nam giới, lãnh đạo, công chức, viên chức, đội ngũ giáo viên và cơ quan thông tấn  
báo chí, người dân,…) và từng khu vực (nông thôn, thành thị...), đặc biệt lưu ý đến  
các nhóm dân cư ở vùng sâu, vùng xa. Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về bình đẳng  
giới.  
- Xây dựng chuyên trang, chuyên mục bình đẳng giới trong các tờ báo, chương  
trình truyền thông của các cơ quan thông tấn, báo chí trên cả nước.  
- Nâng cao nhận thức về giới, bình đẳng giới cho cán bộ, phóng viên báo chí để  
góp phần giám sát việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới và tuyên truyền những kiến  
thức, kinh nghiệm, điển hình tiến tiến về bình đẳng giới, đảm bảo các sản phẩm  
truyền thông không bị định kiến giới.  
- Xây dựng và đào tạo mạng lưới phóng viên. Có quy chế ngăn chặn các sản  
phẩm truyền thông mang tính định kiến giới.  
- Đưa nội dung giáo dục về bình đẳng giới vào giảng dạy trong hệ thống giáo  
dục quốc dân.  
- Xây dựng và phát triển đội ngũ tuyên truyền viên và báo cáo viên về bình đẳng giới  
tại cộng đồng.  
3.3. Xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới nhằm hỗ trợ các  
Bộ ngành, địa phương giải quyết những vấn đề giới cấp bách.  
Chương trình mục tiêu quốc gia bao gồm các dự án sau:  
- Dự án truyền thông nâng cao nhận thức về bình đẳng giới.  
- Dự án đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới và vì sự  
tiến bộ của phụ nữ.  
- Dự án hỗ trợ xúc tiến việc lồng ghép giới trong quá trình xây dựng và tổ chức  
thực hiện chính sách, pháp luật và các chiến lược, chương trình quốc gia.  
- Dự án nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ nữ trong diện quy hoạch vào các vị  
trí lãnh đạo, quản lý các cấp  
- Dự án hỗ trợ thực hiện bình đẳng giới ở những lĩnh vực, ngành và vùng, địa  
phương có bất bình đẳng giới hoặc có nguy cơ bất bình đẳng giới cao  
- Dự án hỗ trợ tạo lập sinh kế bền vững cho phụ nữ nghèo  
- Dự án hỗ trợ phòng ngừa và khắc phục hậu quả của bạo lực trên cơ sở giới  
- Dự án hỗ trợ xây dựng, phát triển các cơ sở cung cấp dịch vụ tư vấn, hỗ trợ về  
bình đẳng giới  
- Dự án hỗ trợ xây dựng và triển khai hệ thống theo dõi, giám sát, đánh giá việc  
thực hiện bình đẳng giới  
3.4. Phát triển các hệ thống dịch vụ có chất lượng nhằm hỗ trợ phụ nữ và nam  
giới được tham gia bình đẳng trong các lĩnh vực  
- Phát triển các dịch vụ hỗ trợ các công việc gia đình nhằm giúp phụ nữ và nam  
giới được tham gia nhiều hơn vào hoạt động xã hội (dịch vụ nhà trẻ, dịch vụ cung cấp  
người giúp việc gia đình, dịch vụ cung cấp thức ăn tận nhà, giặt là thuê…).  
- Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ y tế về sức khỏe sinh sản, bao gồm cả ngành  
nam học  
- Mở rộng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của các thành viên trong gia đình. Tăng  
cường các dịch vụ chăm sóc sức khỏe trước, trong và sau khi sinh cho phụ nữ.  
- Tăng cường các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh  
sản cho mọi người.  
- Phát triển mạnh dịch vụ khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo, văn hóa,  
thông tin, thể thao, dịch vụ việc làm và an sinh xã hội.  
3.5. Có cơ chế huy động nguồn lực và đầu tư ngân sách có hiệu quả cho hoạt  
động bình đẳng giới  
- Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính cho công tác bình  
đẳng giới. Bảo đảm tỷ lệ hợp lý ngân sách đầu tư cho công tác bình đẳng giới.  
- Tập trung nguồn lực thực hiện bình đẳng giới trong những ngành, vùng, lĩnh  
vực có sự bất bình đẳng hoặc có nguy cơ bất bình đẳng giới cao.  
3.6. Tăng cường các nghiên cứu liên quan tới bình đẳng giới nhằm cung cấp  
những cơ sở khoa học vững chắc cho việc hoạch định và thực thi chính sách, pháp  
luật. Phát triển khoa học công nghệ hướng tới bảo đảm bình đẳng giới.  
- Hàng năm, tổ chức các nghiên cứu về bình đẳng giới trên các lĩnh vực, trong đó  
có xem xét vấn đề bình đẳng giới dưới góc độ văn hóa.  
- Các công trình khoa học công nghệ được ứng dụng vào cuộc sống nhằm bảo  
đảm bình đẳng giới.  
- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về bình đẳng giới, phục vụ công tác nghiên  
cứu và hoạch định chính sách về bình đẳng giới.  
3.7. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế đa phương, song phương và phi chính phủ, nâng  
cao hiệu quả hội nhập trong thực hiện bình đẳng giới  
- Tăng cường hội nhập khu vực và quốc tế về bình đẳng giới thông qua các  
chương trình, dự án đa phương và song phương.  
- Thực hiện nghiêm túc các cam kết quốc tế về bình đẳng giới như: CEDAW,  
Tuyên bố và Cương lĩnh hành động Bắc Kinh, Các mục tiêu phát triển thiên niên  
kỷ,…Ký kết, phê chuẩn các cam kết quốc tế mới về bình đẳng giới.  
- Tham gia tích cực vào các diễn đàn khu vực, thế giới về bình đẳng giới, bao  
gồm các hoạt động trao đổi thông tin, trao đổi kinh nghiệm, tổ chức hội thảo, hợp tác  
khác về bình đẳng giới.  
3.8. Nâng cao năng lực thể chế phục vụ công tác bình đẳng giới. Tăng cường sự  
chỉ đạo và kiểm tra của các cấp ủy đảng, chính quyền đối với công tác bình đẳng giới  
nhằm tạo sự thống nhất cả về nhận thức và hành động trong triển khai thực hiện các  
mục tiêu, chỉ tiêu của Chiến lược.  
- Hình thành đội ngũ cán bộ chuyên trách về bình đẳng giới có chất lượng từ  
trung ương đến các tỉnh, huyện  
- Nâng cao năng lực của các cơ sở đào tạo chuyên ngành về công tác bình đẳng  
giới.  
- Bồi dưỡng kỹ năng phân tích, đánh giá về bình đẳng giới cho các cán bộ làm  
chính sách, cán bộ trực tiếp xây dựng các kế hoạch kinh tế-xã hội.  
- Xây dựng mạng lưới chuyên gia giới giúp cơ quan quản lý nhà nước về bình  
đẳng giới các cấp, ngành thực hiện tốt việc lồng ghép giới trong các chính sách, kế  
hoạch của ngành, địa phương.  
- Có hệ thống giám sát, đánh giá về công tác bình đẳng giới trên phạm vi toàn  
quốc. Tổ chức giám sát đánh giá liên ngành, có thông tin hệ thống, có điều tra mẫu và  
điều tra định kỳ, giám sát đánh giá cuối kỳ; thực hiện giám sát, đánh giá dựa vào cộng  
đồng.  
- Có cơ chế phối hợp hiệu quả các ngành các cấp thực hiện mục tiêu bình đẳng  
giới.  
- Cấp ủy đảng và lãnh đạo chính quyền thường xuyên đưa vấn đề bình đẳng giới  
vào trong chương trình nghị sự để tăng cường kiểm tra và chỉ đạo. Có lộ trình cụ thể  
thực hiện các giải pháp bình đẳng giới, đặc biệt là trong công tác quy hoạch cán bộ.  
PHẦN III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC  
1. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm:  
- Tổ chức, chỉ đạo thực hiện các nội dung của Chiến lược; hướng dẫn, đôn đốc  
các Bộ, ngành, địa phương căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao xây dựng và tổ  
chức thực hiện các chương trình, kế hoạch bảo đảm phù hợp với các mục tiêu, nội  
dung, giải pháp của Chiến lược này.  
- Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương và các cơ quan chức năng có  
liên quan thanh tra, kiểm tra việc thực hiện Chiến lược này; định kỳ hàng năm, 5 năm  
sơ kết, tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện Chiến lược; trình Thủ tướng  
Chính phủ quyết định điều chỉnh mục tiêu, nội dung Chiến lược trong trường hợp cần  
thiết.  
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động –  
Thương binh và Xã hội và các Bộ, ngành liên quan cân đối, bố trí vốn đầu tư hàng  
năm theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước để thực hiện có hiệu quả các nội  
dung của Chiến lược.  
3. Các Bộ, ngành, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao có trách  
nhiệm tổ chức thực hiện các nội dung, mục tiêu, giải pháp của Chiến lược có liên  
quan đến Bộ, ngành, địa phương mình; tổ chức quán triệt, phổ biến rộng rãi Chiến  
lược trong cán bộ, công chức và nhân dân; chỉ đạo, tổ chức thực hiện Chiến lược ở Bộ  
ngành, địa phương, ban hành Kế hoạch theo từng giai đoạn 5 năm và hàng năm thực  
hiện Chiến lược và kiểm tra việc thực hiện Chiến lược, Chương trình hành động ở Bộ  
ngành, địa phương mình; hàng năm tiến hành đánh giá việc thực hiện Chiến lược.  
BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI  
doc 17 trang myanh 27100 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng Giới tới năm 2020 (Dự thảo, Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docchien_luoc_quoc_gia_ve_binh_dang_gioi_toi_nam_2020_du_thao_p.doc