Tài liệu Những biến đổi gần đây về tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam

NHỮNG BIẾN ĐỔI GẦN ĐÂY  
VỀ TỶ SỐ GIỚI TÍNH KHI SINH  
Ở Vieät Nam  
TOÅNG QUAN CAÙC BAÈNG CHÖÙNG  
Hà Nội, tháng 8 năm 2009  
1
Những biến đổi gần đây về tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam:
T
ổ
ng quan các bằng chứng  
Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam  
Tầng 1, Khu nhà Liên Hiệp Quốc,  
2E Vạn Phúc, Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam  
ĐT: +84 - 4 - 3823 6632  
Fax: +84 - 4 - 3823 2822  
Website://vietnam.unfpa.org  
Thiết kế và In ấn tại công ty LUCK HOUSE GRAPHICS  
In 2000 cuốn khổ 210x297 (mm)  
Giấy phép xuất bản số: 25-112/LĐ ngày 04/8/2009  
MỤC LỤC  
DANH MỤC VIẾT TẮT  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ  
LỜI MỞ ĐẦU  
4
5
6
7
9
TÓM TẮT  
1. Kinh nghiệm của châu Á  
1.1 Gia tăng tỷ số giới tính khi sinh: mức độ và xu hướng  
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng và hệ lụy  
11  
11  
11  
2. Các nguồn số liệu nghiên cứu mất cân bằng giới tại Việt Nam 13  
2.1 Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999  
2.2 Điều tra Nhân khẩu học và Sức khoẻ năm 2002  
2.3 Điều tra biến động dân số hàng năm  
2.4 Điều tra số sinh tại các cơ sở y tế năm 2007  
2.5 Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ (MICS)  
13  
14  
16  
17  
18  
3. Xu hướng của tỷ số giới tính khi sinh gần đây  
19  
19  
21  
22  
3.1 Tỷ số giới tính khi sinh hàng năm  
3.2 Tỷ số giới tính khi sinh và lựa chọn giới tính trước sinh  
3.3 Kết luận: Tỷ số giới tính khi sinh tăng nhanh nhưng diễn ra muộn  
4. Tác động của thứ tự lần sinh và cơ cấu giới tính  
4.1 Tỷ số gia tăng số lần sinh và các lần sinh trước  
4.2 Tỷ số giới tính khi sinh của “lần sinh cuối cùng”  
4.3 Tỷ số giới tính khi sinh theo thứ tự sinh  
25  
25  
26  
29  
4.4 Tỷ số giới tính khi sinh và những lần sinh trước  
32  
5. Sự khác biệt về tỷ số giới tính khi sinh  
33  
33  
37  
38  
5.1 Phân tích sự khác biệt về tỷ số giới tính khi sinh theo vùng địa lý  
5.2 Biết trước giới tính thai nhi  
5.3 Mối tương quan giữa dân số, xã hội và kinh tế với tỷ số giới tính khi sinh  
6. Dự báo xu hướng tỷ số giới tính khi sinh  
42  
42  
44  
45  
6.1 Các giả thuyết dự báo cho giai đoạn 1999-2050  
6.2 Tổng dân số  
6.3 Hệ lụy đối với xã hội  
7. Kết luận và kiến nghị  
48  
7.1 Tỷ số giới tính khi sinh hiện tại và tương lai: xu hướng hiện tại và  
những lựa chọn chính sách  
7.2 Kiến nghị  
48  
49  
Tài liệu tham khảo  
53  
DANH MỤC VIẾT TẮT  
BPTT  
DHS  
Biện pháp tránh thai  
Điều tra nhân khẩu học và sức khỏe  
Viện nghiên cứu phát triển xã hội  
ISDS  
MICS  
Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ  
PPR  
Tỷ số gia tăng số lần sinh  
Biết giới tính thai nhi trước sinh  
Tỷ số giới tính khi sinh  
Sức khoẻ sinh sản  
PKS  
SRB  
SKSS  
TCTK  
TĐTDS  
TFR  
Tổng cục Thống kê  
Tổng điều tra dân số và nhà ở  
Tổng tỷ suất sinh  
TSGT  
UNFPA  
UNICEF  
Tỷ số giới tính  
Quỹ Dân Số Liên Hiệp Quốc  
Quỹ Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc  
4
Những biến đổi gần đây về tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam:
T
ổ
ng quan các bằng chứng  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
Bảng 1:  
Khác biệt về giới tính trong tỷ lệ chết trẻ em (DHS 2002) ...................................15  
Bảng 2:  
SRB theo thứ tự sinh (DHS 2002) ....................................................................16  
Bảng 3:  
SRB ở Việt Nam, 1999-2007 (Điều tra biến động dân số hàng năm) .....................20  
Bảng 4:  
SRB, 1988-1997 theo thứ tự sinh ngược (Điều tra biến động dân số 2007)............28  
Bảng 5:  
SRB của lần sinh thứ ba theo số con trai đã sinh trước, 2000-2006  
(Điều tra biến động dân số 2006) ...................................................................32  
Bảng 6:  
Biết giới tính trước khi sinh và SRB liên quan với các chỉ số kinh tế và xã hội  
(Điều tra biến động dân số 2006) ....................................................................40  
Bảng 7:  
Các giả thuyết dự báo dân số, 1999-2050.........................................................42  
5
Những biến đổi gần đây về tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam:
T
ổ
ng quan các bằng chứng  
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ  
Biểu đồ 1:  
Các yếu tố ảnh hưởng tới sự lựa chọn giới tính trước sinh tại châu Á....................12  
Biểu đồ 2:  
Tỷ số giới tính theo nhóm tuổi ( Tổng điều tra biến động dân số 1999) .................14  
Biểu đồ 3:  
SRB theo lịch sử sinh sản, điều tra biến động dân số năm 2006 và 2007,  
1985 - 2007 ................................................................................................21  
Biểu đồ 4:  
SRB theo lịch sử sinh sản điều tra biến động dân số năm 2006 và 2007,  
2000 - 2007 .................................................................................................22  
Biểu đồ 5:  
Tỷ số gia tăng số lần sinh theo thứ tự sinh và cấu trúc giới tính của gia đình  
(Điều tra biến động dân số 2006) ....................................................................26  
Biểu đồ 6:  
Tỷ số giới tính của “lần sinh cuối cùng” và của nhóm dân số trẻ em theo năm sinh  
(Tổng điều tra biến động dân số 1999).............................................................27  
Biểu đồ 7:  
SRB của “lần sinh cuối cùng” theo năm (Điều tra biến động dân số 2007) .............28  
Biểu đồ 8:  
SRB theo thứ tự sinh (Điều tra biến động dân số 2007) .....................................30  
Biểu đồ 9:  
SRB theo số lần sinh, lịch sử sinh sản và “lần sinh cuối cùng”  
(Điều tra biến động dân số 2007) ....................................................................31  
Biểu đồ 10:  
Số trường hợp sinh được đăng ký và SRB tại các tỉnh  
(Điều tra số ca sinh trong năm 2006)...............................................................35  
Biểu đồ 11:  
SRB theo tỉnh khu vực phía Bắc và phía Nam  
(Điều tra số ca sinh trong năm 2006)...............................................................36  
Biểu đồ 12:  
Biết giới tính trước sinh và SRB theo nhóm tuổi  
(Điều tra biến động dân số 2006) ....................................................................38  
Biểu đồ 13:  
Hai phương án dự báo biến đổi SRB tại Việt Nam đến năm 2050..........................43  
Biểu đồ 14:  
Dự báo tỷ số giới tính chung của dân số ở Việt Nam, 1999-2050..........................45  
Biểu đồ 15:  
Dự báo tỷ số giới tính ở dân số trưởng thành ở Việt Nam, 1999-2050 ...................46  
6
Những biến đổi gần đây về tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam:
T
ổ
ng quan các bằng chứng  
Tổng cục Thống kê (TCTK) với sự giúp  
đỡ về kỹ thuật của Quỹ Dân Số Liên  
Hợp Quốc (UNFPA) đã thu thập những  
số liệu quan trọng và công bố SRB của  
Việt Nam ở mức 110/100 theo kết quả  
cuộc Điều tra biến động dân số năm  
2006 do cơ quan này tiến hành.  
LỜI MỞ ĐẦU  
Tỷ số giới tính là một chỉ số nhân khẩu  
học phản ánh cơ cấu giới tính của một  
quần thể dân số, trong đó tỷ số giới tính  
khi sinh (SRB) thường được các nhà  
nhân khẩu học quan tâm nhất. SRB được  
xác định bằng số trẻ em trai được sinh  
ra trên một trăm trẻ em gái. Tỷ số này  
thông thường là 104-106/100. Một điểm  
lưu ý là giá trị của tỷ số này rất ổn định  
qua thời gian và không gian, giữa các  
châu lục, quốc gia, khu vực và chủng  
tộc người. Bất kỳ một sự thay đổi đáng  
kể nào của tỷ số này chệch khỏi mức  
sinh học bình thường này đều phản ánh  
những can thiệp có chủ định, ở các mức  
độ khác nhau đến sự cân bằng tự nhiên  
này. Điều đó cũng có nghĩa là để đưa ra  
một ước lượng chính xác về SRB cần có  
một số lượng mẫu nghiên cứu đủ lớn và  
hơn hết là một phương pháp nghiên cứu  
phù hợp.  
Từ đó đến nay, UNFPA trong khuôn khổ  
của Chương trình Quốc gia VII, đã hỗ  
trợ Chương trình Dân số và Sức khỏe  
sinh sản của Việt Nam triển khai nhiều  
nghiên cứu ở các quy mô khác nhau,  
nhằm giám sát biến động của tỷ số  
này trên phạm vi cả nước và các vùng.  
Những kết quả thu được ban đầu đã  
được các cơ quan hữu quan công bố và  
bước đầu tạo ra sự chú ý của công luận  
và các nhà lãnh đạo các cấp.  
Bản báo cáo này, với tựa đề “Những  
biến đổi gần đây về tỷ số giới tính  
khi sinh ở Việt Nam: Tổng quan các  
bằng chứng” sẽ cung cấp cho độc giả  
một bức tranh toàn cảnh về tình trạng  
mất cân bằng giới tính đang diễn ra ở  
ViệtNam.TiếnsỹChristopheZ.Guilmo-  
to - Tiến sỹ nhân khẩu học có nhiều  
kinh nghiệm trong nghiên cứu về SRB ở  
Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước  
châu Á, đã hỗ trợ kỹ thuật cho UNFPA  
Việt Nam trong việc phân tích số liệu  
và chuẩn bị báo cáo này. Bản báo cáo  
đã đưa ra những kết luận cụ thể và các  
khuyến nghị có giá trị cho Việt Nam  
cho những năm tiếp theo.  
Những phân tích về SRB cho chúng ta  
hiểu rõ hơn các khía cạnh khác nhau  
của xã hội như truyền thống văn hóa,  
trình độ phát triển kinh tế, phúc lợi xã  
hội, thực thi pháp luật, dịch vụ y tế, đặc  
biệt là mức độ nhận thức và thực hành  
của người dân về bình đẳng giới.  
Những nghiên cứu trong lĩnh vực này đã  
chỉ ra một xu hướng biến động dân số  
không mong muốn, bắt đầu diễn ra từ  
những năm 1980 của thế kỷ trước. Đó  
là tình trạng gia tăng liên tục SRB ở một  
số quốc gia châu Á, nơi có quy mô và  
mật độ dân số cao hơn hầu hết các nước  
trên thế giới. Cùng với quá trình giảm  
sinh, xu hướng này có nguy cơ ngày  
càng lan rộng ở châu Á, đe dọa đến sự  
ổn định dân số toàn cầu.  
UNFPA trân trọng cảm ơn Tiến sỹ  
Christophe Z. Guilmoto đã xây dựng  
báo cáo này. Chúng tôi cũng bày tỏ  
lời cảm ơn chân thành đối với TCTK đã  
cung cấp số liệu và có những đóng góp  
kỹ thuật có giá trị trong quá trình xây  
dựng báo cáo. Xin cảm ơn Viện Nghiên  
cứu Phát triển Xã hội đã chia sẻ những  
kinh nghiệm trong nghiên cứu về mất  
cân bằng SRB ở Việt Nam. Cảm ơn các  
chuyên gia trong nước và quốc tế, các  
cán bộ Văn phòng UNFPA tại Hà Nội đã  
làm việc cùng với tiến sỹ Christophe  
Z. Guilmoto và có những góp ý sâu sắc  
trong quá trình biên soạn và hoàn thiện  
báo cáo.  
Những quan ngại về khả năng Việt Nam  
cũng sẽ đối mặt với nguy cơ gia tăng SRB  
đã được đề cập lần đầu tiên trong những  
năm đầu của thế kỷ 21, sau khi kết quả  
của cuộc Tổng điều tra dân số năm 1999  
được công bố. Tuy nhiên, những tranh  
cãi xung quanh câu chuyện này dường  
như bị lãng quên cho đến năm 2006 khi  
7
Những biến đổi gần đây về tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam:
T
ổ
ng quan các bằng chứng  
UNFPA trân trọng giới thiệu tài liệu quý  
báu này đến các nhà lãnh đạo, các nhà  
lập chính sách, các nhà quản lý, các nhà  
chuyên môn, các nhà nghiên cứu và  
những ai quan tâm đến lĩnh vực dân số  
và sức khỏe sinh sản ở Việt Nam. Đây là  
nguồn tài liệu tham khảo đặc biệt quan  
trọng, khi mà Việt Nam đang chuẩn bị  
những văn bản pháp lý và xây dựng  
chiến lược và chính sách dân số cho thập  
kỷ tiếp theo.  
Bruce Campbell  
Trưởng Đại diện Quỹ Dân Số  
Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam  
8
Những biến đổi gần đây về tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam:
T
ổ
ng quan các bằng chứng  
dường như chưa ảnh hưởng nhiều đến  
phân bố giới tính và cấu trúc tuổi của  
dân số Việt Nam trước năm 2025. Sau  
thời điểm này, tình trạng dư thừa nam  
giới do mất cân bằng giới tính khi sinh  
là khó tránh khỏi và sẽ ảnh hưởng mạnh  
mẽ đến nhóm dân số trẻ trong độ tuổi  
kết hôn.  
TÓM TẮT  
Báo cáo tổng quan thực trạng tỷ số giới  
tính khi sinh (sau đây viết tắt là SRB)  
với mục tiêu:  
● Phân tích các số liệu hiện có nhằm mô  
tả sự thay đổi SRB ở Việt Nam.  
SRB thay đổi nhanh chóng có thể do  
sự chậm trễ triển khai các nghiên cứu  
về tình trạng mất cân bằng SRB, so  
sánh với các quốc gia láng giềng như  
Trung Quốc. Khả năng tiếp cận với kỹ  
thuật xác định giới tính trước sinh hiện  
nay cho phép các cặp vợ chồng điều  
chỉnh hành vi sinh sản nhằm thoả mãn  
nhu cầu có con trai làm chỗ dựa khi về  
già. Hai yếu tố chính ảnh hưởng đến sự  
lựa chọn này là: xu hướng giảm sinh  
và tâm lý ưa thích con trai. Chính điều  
này khiến phá thai chọn lọc giới tính trở  
thành một lựa chọn hợp lý, thỏa mãn  
cả hai yếu tố trên. Tuy nhiên, cũng cần  
nhấn mạnh rằng đa số các bậc cha mẹ  
vẫn giữ quan điểm không phân biệt giới  
tính thai nhi khi quyết định sinh con.  
● Xem xét mối liên quan giữa SRB và  
các yếu tố kinh tế - xã hội thông qua  
phương pháp bản đồ và thống kê.  
● Dự báo dân số tương lai dựa trên các  
phương pháp nhân khẩu học.  
Báo cáo nghiên cứu các tài liệu hiện  
có về SRB, phân tích số liệu gốc  
của các cuộc điều tra dân số và số  
liệu thống kê, kết hợp trao đổi với  
chuyên gia các ngành khác nhau  
trong chuyến làm việc 8 ngày vào  
tháng 12 năm 2007 ở Việt Nam. Báo  
cáo cũng dựa trên các kết quả thu  
được từ chuyến đi thực địa tại tỉnh  
Thái Nguyên và Hội thảo về SRB do  
TCTK và UNFPA tổ chức vào tháng 12  
năm 2007.  
Những phân tích sâu hơn đã đưa ra một  
bức tranh chi tiết về thực trạng lựa chọn  
giới tính trước sinh, xác định được vai trò  
của một số yếu tố xã hội liên quan tới sự  
gia tăng SRB như: nhóm phụ nữ có trình  
độ học vấn, thuộc tầng lớp kinh tế xã hội  
cao, cư trú tại các khu vực nông thôn  
giàu có, các khu đô thị của Hà Nội hoặc  
thành phố Hồ Chí Minh và các vùng lân  
cận, nơi có mức sinh thấp, và có khả  
năng tiếp cận với kỹ thuật xác định giới  
tính trước sinh.  
Các phân tích đã cung cấp bằng chứng  
về xu hướng mới có ảnh hưởng lớn tới  
những biến động dân số Việt Nam: sự  
gia tăng tỷ lệ trẻ em trai trong tổng  
số trẻ được sinh ra. Năm 2006, SRB  
là 110/100, cao hơn nhiều so với  
mức chuẩn sinh học bình thường là  
105/100.  
SRB của Việt Nam bắt đầu tăng từ đầu  
thập kỷ này và tăng ở mức một điểm/  
năm. Hiện tại tỷ số này của Việt Nam  
vẫn thấp hơn một số nước châu Á,  
nhưng với tốc độ gia tăng như hiện nay,  
tỷ số này sẽ vượt ngưỡng 115/100 trong  
vài năm tới. Các mô hình dự báo nhân  
khẩu học dựa vào hai phương án biến  
đổi SRB khác nhau cho thấy: SRB  
Trong phần cuối, báo cáo tóm tắt các  
phát hiện chính và đề xuất các khuyến  
nghị chung nhằm nâng cao nhận thức về  
mất cân bằng SRB ở Việt Nam.  
9
Những biến đổi gần đây về tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam:
T
ổ
ng quan các bằng chứng  
Những biến đổi gần đây về tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam:
T
ổ
ng quan các bằng chứng  
khu vực Đông Á do ảnh hưởng của  
Trung Quốc. Tại Trung - Nam Á, xu  
hướng này bị chi phối chủ yếu bởi Ấn Độ,  
ở mức 107/100. Trong gian đoạn 2000-  
2005, năm nước ở châu Á có tình trạng  
mất cân bằng giới tính khi sinh. Trầm  
trọng nhất gồm ba nước khu vực Cap-  
ca-dơ: Azerbaijan, Armenia và Georgia.  
Trung Quốc và Hàn Quốc có SRB trên  
110/100. Ấn Độ cũng rơi vào tình trạng  
tương tự, với tỷ số ước tính là 108/100  
trong giai đoạn này, mặc dù tại một số  
bang như bang Punjab tỷ số này cao hơn  
rất nhiều. Theo ước tính của Liên hợp  
quốc (United Nations 2007), Việt Nam  
chưa nằm trong các nước châu Á có tình  
trạng mất cân bằng tỷ số giới tính trẻ  
em, nhưng hiện nay SRB đã có xu hướng  
tăng lên.  
1. Kinh nghiệm  
của châu Á  
1.1Giatăngtỷsốgiớitínhkhi  
sinh: mức độ và xu hướng  
Hiện tượng nam hóa trong dân số châu Á  
lần đầu tiên được biết đến thông qua sự  
gia tăng tỷ số giới tính trong các quần  
thể trẻ em. Là chỉ báo về sự mất cân  
bằng giới tính, tỷ số giới tính ở trẻ em là  
kết quả của sự phân biệt đối xử về giới  
trước và sau khi sinh. Khi không có sự  
phân biệt về giới, tỷ số giới tính ở trẻ em  
thấp hơn tỷ số giới tính khi sinh (SRB)  
chuẩn trung bình ở mức 105/100 do tỷ  
lệ tử vong ở trẻ em trai cao hơn trẻ em  
gái. Nhưng khi xem xét dân số châu Á  
một cách tổng thể, tỷ số giới tính ở trẻ  
em tăng lên trong nửa thế kỷ trở lại đây,  
từ 105/100 vào giữa những năm 1950  
lên đến 108/100 vào năm 2005. Tỷ số  
giới tính ở trẻ em của năm 2005 rõ ràng  
cao hơn mức chuẩn được ghi nhận tại  
bất kỳ nơi nào trên thế giới (Guilmoto  
2007b).  
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng  
và hệ lụy  
Nguồn gốc của sự gia tăng SRB liên quan  
đến hiện tượng phá thai chọn lọc giới  
tính, hiện đang phổ biến ở nhiều quốc  
gia châu Á. Ở các nước công nghiệp,  
cũng có những phương pháp khác làm  
thay đổi SRB (chẳng hạn: kỹ thuật thụ  
tinh trong ống nghiệm) nhưng tình trạng  
phá thai gái cho đến nay vẫn là phổ biến  
nhất và là nguyên nhân chính gây ra sự  
mất cân bằng giới tính ở châu Á (Attané  
và Guilmoto 2007; Arnold et al. 2002;  
Guilmoto 2007a, 2007b; Kim 2004;  
Li 2007; Chu 2003). Khởi đầu của tình  
trạng này là sự xuất hiện của siêu âm  
và kỹ thuật chọc ối từ cuối những năm  
1970, kỹ thuật này giúp cho các cặp vợ  
chồng biết trước giới tính của thai nhi.  
Siêu âm là kỹ thuật đầu tiên được sử  
dụng để xác định giới tính thai nhi và đã  
trở nên thông dụng: kỹ thuật này được  
sử dụng phổ biến ở các bệnh viện công  
và các cơ sở y tế tư nhân do giá thành  
lắp đặt và sử dụng của thiết bị này giảm  
đi nhanh chóng. Kết hợp với những đạo  
luật cho phép phá thai theo yêu cầu,  
các kỹ thuật xác định giới tính thai nhi  
đã cho phép các bậc cha mẹ tránh sinh  
ra những trẻ có giới tính không mong  
muốn, và ngay lập tức việc thay đổi hành  
vi này đã được phản ánh qua những con  
số thống kê về SRB.  
Số liệu chi tiết hơn cho thấy sự gia tăng  
của tỷ lệ trẻ em trai trong tổng số trẻ ở  
châu Á chủ yếu là do sự gia tăng tỷ số  
giới tính ở trẻ em tại khu vực Đông Á,  
trong khi đó tỷ số này tại khu vực  
Đông Nam Á và Tây Á lại hầu như bình  
thường. Xu hướng này ở khu vực  
Đông Á bị chi phối chủ yếu bởi Trung  
Quốc và mức độ ít hơn là Hàn Quốc.  
Trong khi đó khu vực Trung Nam Á bị  
ảnh hưởng nhiều bởi Ấn Độ.  
Mặc dù có sự khác biệt về tỷ lệ tử vong  
theo giới ở châu Á, tỷ số giới tính ở trẻ  
em hiện nay vẫn cao hơn giá trị chuẩn,  
và có sự gia tăng song hành với SRB.  
SRB được giả định nằm trong khoảng  
104-106/100, tùy thuộc sự khác biệt  
sinh học ở các vùng khác nhau. Bắt  
đầu từ những năm 1980, Trung Quốc  
và một số nước châu Á khác đã ghi  
nhận sự gia tăng tỷ lệ trẻ em trai trong  
tổng số trẻ được sinh ra. Đến những  
năm 1990 tình trạng trở nên xấu đi  
một cách rõ rệt. Trong giai đoạn 2000-  
2005, SRB đã lên tới 114/100 tại  
11  
Những biến đổi gần đây về tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam:
T
ổ
ng quan các bằng chứng  
Các yếu tố cung cấp dịch vụ như áp  
dụng một kỹ thuật mới, chỉ nói lên một  
phần của câu chuyện. Đằng sau tất cả  
là sự khao khát có con trai của các cặp  
vợ chồng vẫn còn tồn tại ở nhiều khu  
vực châu Á. Điều này thôi thúc họ sử  
dụng tất cả các biện pháp như: bỏ rơi trẻ  
sơ sinh, nhận con nuôi, thậm chí là giết  
trẻ sơ sinh gái, để chắc chắn có con trai  
(Croll, 2000).  
Các giá trị truyền thống đã từ lâu coi  
trọng con trai hơn con gái trong hầu hết  
các gia đình thuộc hệ thống ngoại hôn.  
Các giá trị này được củng cố dưới tác  
động của quá trình phát triển kinh tế và  
giảm sinh, những thay đổi xã hội mà qua  
đó lợi ích kinh tế và chi phí nuôi dạy con  
cái trở thành mối quan tâm hàng đầu của  
các bậc cha mẹ.  
Sự tồn tại các cơ sở siêu âm và phá thai,  
thậm chí là bất hợp pháp1, tâm lý ưa thích  
con trai và mức sinh thấp đã dẫn tới có  
nhiều ca phá thai lựa chọn giới tính. Tuy  
nhiên, cũng chính ngay tại các quốc gia  
đang bị ảnh hưởng như Trung Quốc,  
Ấn Độ, vẫn có những nơi dường như  
không bị tác động bởi xu hướng nam  
hóa này. Tại các khu vực này, nữ giới  
thường được ưa thích hơn và không có  
con trai không được xem như là một  
thảm họa với gia đình.  
Biểu đồ 1 (Guilmoto, 2007b) đã tổng  
kết một số yếu tố chính đã được xác  
định trong các phân tích trước đây về  
lựa chọn giới tính ở châu Á. Những lý lẽ  
cho rằng tâm lý ưa thích con trai dường  
như xuất phát từ những đặc trưng về  
văn hóa-xã hội và kinh tế của các nước  
châu Á. Nhìn chung, việc đầu tư cho  
con trai mang lại nhiều lợi ích hơn là  
đầu tư cho con gái, vì con trai thường  
trợ giúp cha mẹ, kể cả khi đã lập gia  
đình, là chỗ dựa của cha mẹ khi về  
già và thường được thừa kế tài sản.  
Lựa chọn giới tính trước khi sinh: Tại sao và như thế nào  
Các phương  
pháp cũ  
Công nghệ mới, nạo phá thai  
và cơ sở y tế  
Khả năng  
Thực thi chính sách /luật pháp  
Đạo đức  
Lựa chọn  
giới tính  
trước sinh  
Đặc điểm kinh tế  
của sự ưa thích  
Đặc điểm  
con trai  
kinh tế,  
văn hóa  
xã hội  
Sẵn sàng  
Giảm sinh  
Biểu tượng  
của con trai  
Thay đổi xã hội  
và công bằng giới  
Biểu đồ 1: Các yếu tố ảnh hưởng tới sự lựa chọn giới tính  
trước sinh tại châu Á  
1
Pháp lệnh Dân số 2003 và Luật bình đẳng giới đã  
được thông qua tháng 12 năm 2006 nghiêm cấm nạo  
thai với mục đích lựa chọn giới tính ở Việt Nam.  
12  
Những biến đổi gần đây về tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam:
T
ổ
ng quan các bằng chứng  
2.1 Tổng điều tra dân số và  
nhà ở năm 1999  
2. Các nguồn số liệu  
nghiên cứu mất cân  
bằng giới tại Việt Nam  
Tổng điều tra dân số (TĐTDS) năm 1999  
là một công cụ hữu ích để xác định sự  
biến thiên của tỷ số giới tính ở trẻ em,  
đặc biệt là tại các quốc gia như Việt Nam  
là nơi có chất lượng số liệu theo độ tuổi  
khá tốt. Thứ nhất, TĐTDS 1999 cung cấp  
thông tin về toàn bộ dân số, dựa trên cỡ  
mẫu rất lớn. Thứ hai, số liệu được thu  
thập một cách có hệ thống và được tổng  
hợp ở cấp hành chính (như cấp tỉnh, khu  
vực) và cho các nhóm dân số khác (như  
nhóm dân tộc thiểu số). Sự biến đổi nhỏ  
về số liệu tại các địa phương cũng có  
thể xác định được thậm chí khi sự biến  
đổi này không quan sát được trên phạm  
vi lớn.  
Trong phần này, sẽ xem xét các nguồn  
số liệu hiện có để nghiên cứu sự biến  
động của SRB và mất cân bằng giới  
tính. Cần lưu ý rằng các nguồn số liệu  
liên quan đến hành vi chọn lọc giới tính  
rất hạn chế, chủ yếu do số liệu của hệ  
thống đăng ký khai sinh ở Việt Nam  
không đầy đủ. Điều này xuất phát từ  
thực tế do SRB là một chỉ báo thống  
kê có độ nhạy tương đối với cỡ mẫu và  
cần được tính toán trên số lượng lớn  
các ca sinh, ví dụ: cỡ mẫu có thể là  
10.000 ca sinh hoặc lớn hơn. SRB thực  
tế là một tỷ số, chứ không phải là một  
tỷ lệ phần trăm, khoảng biến thiên của  
SRB khá lớn2. Một minh chứng đơn giản  
là khoảng tin cậy 5% của SRB ở mức  
105/100 (mức sinh học bình thường)  
tính cho 10.000 ca sinh sẽ dao động từ  
101 đến 109/100. Với cỡ mẫu bằng một  
nửa, 5.000 ca sinh, khoảng tin cậy sẽ  
dao động rộng hơn từ 99 đến 111/100.  
Với cỡ mẫu lớn hơn nhiều, 100.000 ca  
sinh, khoảng biến thiên sẽ hẹp từ 103,7  
đến 106,3/100. Thực tế, SRB tại các  
quốc gia lớn với hệ thống đăng ký khai  
sinh có chất lượng, sự biến động SRB  
hàng năm là rất nhỏ, một phần do các  
yếu tố ngẫu nhiên.  
TĐTDS gần đây nhất được tiến hành vào  
năm 1999 đã cung cấp khối lượng thông  
tin lớn về điều kiện kinh tế và xã hội  
của cả nước và các vùng. Khi số liệu của  
TĐTDS năm 2009 chưa được công bố,  
thì TĐTDS năm 1999 vẫn là nguồn thông  
tin nhân khẩu học quan trọng nhất ở Việt  
Nam.  
TĐTDS năm 1999 có hai nhóm thông tin  
liên quan trực tiếp đến nghiên cứu này.  
Thứ nhất, phân bố dân cư theo tuổi và  
giới tính cho phép kiểm tra tỷ số giới tính  
ở trẻ em như là sự phản ánh SRB trong  
những năm trước khi tiến hành cuộc điều  
tra. Thứ hai, câu hỏi về “lần sinh cuối  
cùng” của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.  
Đây có thể là nguồn thông tin để phân  
tích những thay đổi của SRB.  
Một hạn chế nữa là việc thiếu số liệu  
thống kê tin cậy về phá thai ở Việt Nam.  
Lựa chọn giới tính trước sinh phụ thuộc  
vào phá thai lựa chọn giới tính, thiếu số  
liệu trong lĩnh vực này (số lượng, tuổi,  
thứ tự sinh của phụ nữ...) cũng là một  
khó khăn lớn cho việc tính toán SRB3.  
Tuy nhiên, số liệu của TĐTDS cũng có  
một số hạn chế. Ngoài mất cân bằng  
giới tính khi sinh, số liệu về độ tuổi cũng  
phản ánh những khác biệt của tỷ lệ chết  
sơ sinh và trẻ em dưới 5 tuổi theo giới  
tính. Như vậy, không thể thiết lập được  
ảnh hưởng tương ứng của các yếu tố  
này. Một trở ngại khác liên quan đến sử  
dụng thông tin “lần sinh cuối cùng” làm  
chỉ báo về mất cân bằng giới tính khi  
sinh. Phân tích dưới đây sẽ chứng minh  
cho điều này, số liệu trong “lần sinh  
cuối cùng” thu thập được từ cha mẹ có  
2
Khoảng tin cậy 5% cho tỷ lệ p các ca sinh con trai được  
tính trên số quan sát n là 1.96. Sqroot (p.(1-p)/n),  
là giá trị gần với 1/sqroot (n).  
3
Tuy nhiên, có những ước lượng cho biết tỷ lệ nạo  
phá thai cao ở Việt Nam. Theo một số nghiên cứu,  
46% các ca thai nghén bị phá trong năm 2002. Số  
lần nạo phá thai trung bình của 1 phụ nữ đã có gia  
đình là 1,5 (là 1,7 ở vùng thành thị). Tuy nhiên, báo  
cáo này không có ý định kiểm chứng chất lượng của  
các ước lượng này hay sử dụng nhiều những kết  
quả này.  
13  
Những biến đổi gần đây về tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam:
T
ổ
ng quan các bằng chứng  
độ sai chệch rất lớn đối với các trường  
hợp sinh xảy ra vài năm trước TĐTDS.  
Một hạn chế nữa là TĐTDS được tiến  
hành 10 năm một lần đã hạn chế hoạt  
động giám sát về xu hướng biến động  
của tỷ số giới tính. Trong báo cáo này,  
TĐTDS 1999 phản ánh thực trạng trong  
những năm trước khi thực hiện cuộc  
điều tra. Trên thực tế, các phân tích chỉ  
ra rằng không có sự chủ động lựa chọn  
giới tính trước sinh trên phạm vi lớn  
trước năm 2000. Biểu đồ 2 trình bày tỷ  
số giới tính theo nhóm tuổi của toàn bộ  
dân số cho thấy: ở cấp độ quốc gia tỷ  
số giới tính khá ổn định trong khoảng  
105-106/100 đối với nhóm dân cư dưới  
15 tuổi4. Phân tích sâu hơn theo khu  
vực (biểu đồ 11) cho thấy không có bất  
kỳ sự mất cân bằng giới tính nào theo  
vùng địa lý.  
2.2 Điều tra Nhân khẩu học  
và Sức khoẻ năm 2002  
Điều tra Nhân khẩu học và Sức khoẻ  
(DHS) thường được sử dụng để khẳng  
định sự ưa thích con trai và hành vi phân  
biệt đối xử giữa con trai với con gái. Các  
điều tra này cũng có vai trò rất quan  
trọng trong việc cung cấp các ước lượng  
tin cậy về tỷ lệ chết ở trẻ em.  
Điều tra DSH gần đây nhất của Việt Nam  
được tiến hành vào năm 2002 đã cung  
cấp một số thông tin có giá trị cho phân  
tích. Bảng 1 (trích từ bảng 7.3 trong báo  
cáo DHS) cho thấy sự khác biệt giữa  
tỷ lệ chết trẻ em trai và trẻ em gái là  
không nhiều. Trong thời kỳ thơ ấu, chết  
ở trẻ trai dự tính cao hơn trẻ gái và chết  
ở trẻ trai dưới 5 tuổi (34,2‰) cao hơn  
không đáng kể so với trẻ gái (31,4‰).  
Điểm bất thường duy nhất là tỷ lệ chết  
trẻ em dưới một tuổi (từ tháng thứ nhất  
đến tháng thứ 12) ở trẻ em gái cao hơn  
một chút so với trẻ em trai (7,8‰ so  
với 7,0‰). Khác biệt nhỏ này có thể bắt  
nguồn từ sai số ngẫu nhiên do cỡ  
mẫu nhỏ.  
Cuộc TĐTDS năm 2009 sẽ cung cấp  
thêm nhiều thông tin hơn nữa để  
so sánh khi mà SRB đang gia tăng  
nhanh. Điều tra này sẽ là công cụ  
chính để chứng minh cụ thể hơn quá  
trình tăng tỷ trọng nam giới hiện nay  
ở Việt Nam mà các nguồn thông tin  
sẵn có khác không cho phép làm được.  
110  
105  
100  
95  
90  
85  
45-49 40-44 35-39 30-34 25-29 20-24 18-19 15-17 10-14  
5-9  
1-4  
0
Nhóm tuổi  
Biểu đồ 2: Tỷ số giới tính theo nhóm tuổi (Tổng điều tra dân số năm 1999)  
4
Chú ý rằng sự chênh lệch tỷ số giới tính ở nhóm  
người cao tuổi (trên 40 tuổi) phần nào đó bị ảnh  
hưởng bởi nhập cư và hậu quả chiến tranh.  
14  
Những biến đổi gần đây về tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam:
T
ổ
ng quan các bằng chứng  
Một chỉ số hữu dụng khác của điều tra  
DHS là số con mong muốn của phụ nữ. Khi  
được hỏi về quy mô gia đình mong muốn,  
số liệu năm 2002 cho biết trên 60% phụ  
nữ được hỏi mong muốn gia đình hai con,  
và 38% muốn gia đình có nhiều hơn hai  
con. Kết quả này hàm ý rằng phụ nữ mong  
muốn có ít nhất một con trai và một con  
gái. Trong khi 30% phụ nữ muốn có  
hơn một con trai thì chỉ có 23% mong  
muốn có hơn một con gái5. Sự khác biệt  
này gần như không đáng kể. Phân tích  
tương tự được thực hiện để ước lượng tỷ  
lệ phụ nữ có ít nhất hai con muốn sinh  
thêm con thứ ba. Kết quả thu được cho  
thấy có sự khác biệt vừa phải giữa phụ  
nữ đã có một con trai với phụ nữ chưa có  
con trai: 2% phụ nữ đã có một con trai  
muốn có thêm con so với 15% của người  
chưa có con trai. Nhìn chung, điều tra  
DHS năm 2002 không chỉ ra được khác  
biệt cơ bản để giải thích cho tình trạng  
mất cân bằng giới tính.  
Việt Nam với số lượng trẻ sinh ra được  
nghiên cứu là 13.586 (xem bảng C.3 của  
báo cáo chính). Có chưa đến 2.100 ca  
sinh trong vòng suốt 5 năm trước khi  
tiến hành điều tra. Cũng cần lưu ý tỷ số  
giới khi sinh của những lần sinh này là  
105,5/100 và xấp xỉ với phân bố chuẩn.  
Mặc dù gặp khó khăn do cỡ mẫu nhỏ,  
chúng ta vẫn tính được tỷ số giới khi sinh  
theo thứ tự sinh6. Quá trình tính toán  
được áp dụng cho tất cả các trường hợp  
sinh trong điều tra cũng như những  
trường hợp sinh gần đây hơn, từ sau  
1995. Bảng 2 cho thấy SRB cho các lần  
sinh từ thứ ba trở lên là 113,5/100 và có  
xu hướng cao hơn giá trị bình thường.  
Điều này có nghĩa là phụ nữ có nhiều  
con trai hơn so với mong muốn ở các  
lần sinh sau và điều này có quan hệ  
với nỗ lực nhằm sinh được một đứa con  
trai. Tuy nhiên, do cỡ mẫu quá nhỏ để  
có thể kiểm định tính xác thực của kết  
quả: phân tích đã sử dụng phép kiểm  
định khi bình phương (χ2) cho bảng phân  
tích 2 biến số (bảng 2x2) và mô hình  
xác suất lôgit về khả năng sinh con trai.  
Hai kiểm định này không cho thấy tương  
quan có ý nghĩa thống kê giữa số lần sinh  
và khả năng sinh con trai. Hơn thế nữa, ở  
các quốc gia có tình trạng mất cân bằng  
giới tính nghiêm trọng như Trung Quốc và  
Ấn Độ, tỷ số giới khi sinh của các lần sinh  
sau thường rất cao, trên mức 120/100.  
Bảng 1: Khác biệt về giới tính trong  
tỷ lệ chết trẻ em (DHS 2002)  
Giới tính  
Tỷ lệ chết  
Nam  
17,5  
7,0  
Nữ  
17,4  
7,8  
Sơ sinh  
Trẻ từ 1 tháng - 1 năm  
Trẻ < 1 tuổi  
24,5  
9,9  
25,1  
6,5  
Trong nghiên cứu này, số liệu DHS được sử  
dụng để tính toán khả năng sinh con trai  
của những phụ nữ chỉ có con gái. Thông  
thường, phụ nữ chưa sinh con trai có SRB  
là cao nhất. Để phân tích, mẫu các ca sinh  
sau năm 1995 và có thứ tự sinh lớn hơn  
một đã được sử dụng để so sánh nhóm  
phụ nữ chưa có con trai với nhóm phụ nữ  
còn lại. Kết quả cho thấy không xác định  
được sự vượt trội đáng kể nào về số ca  
sinh con trai của những người mẹ chưa có  
con trai. Tuy nhiên kết quả này có thể bị  
ảnh hưởng do cỡ mẫu nhỏ được sử dụng  
trong phân tích này (2004 ca sinh).  
Trẻ từ 1 đến 4 tuổi  
Trẻ < 5 tuổi  
34,2  
31,4  
Sử dụng số liệu các cuộc điều tra DHS để  
phân tích tỷ số giới khi sinh có nhiều  
hạn chế chủ yếu do cỡ mẫu nhỏ. Điều  
này dẫn đến không chỉ giá trị SRB thu  
được không đáng tin cậy mà những  
khoảng biến thiên nhỏ (như trong trường  
hợp Việt Nam những năm trước 2002)  
không thể phát hiện được. Điều này đặc  
biệt đúng với điều tra năm 2002 của  
5
6
Giá trị được tính toán từ số liệu DHS.  
Bảng được tính toán dựa trên số liệu DHS.  
15  
Những biến đổi gần đây về tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam:
T
ổ
ng quan các bằng chứng  
Bảng 2: SRB theo thứ tự sinh (DHS 2002)  
Thứ tự sinh  
Tỷ số giới tính khi sinh  
1
2
3 hoặc hơn  
107,5  
SRB tính trên tất cả trẻ được sinh ra  
Số trẻ sinh ra  
106,2  
5390  
109,9  
1228  
104,7  
4273  
105,7  
1088  
2325  
SRB tính trên số trẻ sinh sau năm 1995  
Số trẻ sinh ra  
113,5  
475  
Số liệu của điều tra biến động dân  
số hàng năm có một số hạn chế: thứ  
nhất, cỡ mẫu có thể không đủ lớn để  
tiến hành các ước lượng và là quá nhỏ  
đối với một số phân tích sâu về sự khác  
biệt SRB theo khu vực/vùng. Thứ hai,  
mẫu điều tra không được thiết kế lại  
hoặc cập nhật mới trong nhiều năm.  
Ở Việt Nam, di chuyển dân cư diễn ra  
2.3 Điều tra biến động  
dân số hàng năm  
Do chưa đủ các chứng cứ khoa học từ  
các nguồn số liệu nói trên, ước lượng  
SRB gần đây chủ yếu dựa vào các cuộc  
điều tra biến động dân số hàng năm  
do TCTK thực hiện. Các điều tra này  
được tiến hành hàng năm, kể từ sau  
TĐTDS 19997. Các cuộc điều tra này có  
cỡ mẫu 3% rút ra từ khung mẫu của  
TĐTDS. Thông tin thu thập liên quan  
đến dân số chung, hộ gia đình, và số  
phụ nữ trong độ tuổi sinh sản 15-49.  
Điều tra biến động dân số là cơ sở đáng  
tin cậy để cập nhật các thông tin nhân  
khẩu học cho toàn quốc và nghiên cứu  
một số xu hướng nhân khẩu học quan  
trọng như: di cư trên phạm vi khu vực,  
tình hình hôn nhân, sinh đẻ, kế hoạch  
hóa gia đình và tử vong. Mẫu điều tra có  
quy mô khá lớn so với các điều tra khác  
(ví dụ như DHS). Trong điều tra biến  
động dân số năm 2007, trên 461.000  
phụ nữ trong độ tuổi từ 15 đến 49 đã  
được phỏng vấn.  
mạnh mẽ và  
thường xuyên, không  
những dẫn tới sự thay đổi phân bố dân cư  
của các địa phương và các khu vực, mà  
còn thúc đẩy quá trình đô thị hóa nhanh/  
hình thành các khu định cư mới tại các  
thị xã, thành phố, cũng như tại một số  
khu vực nông thôn. Do vậy, khung mẫu  
hiện tại không phản ánh đúng đặc trưng  
của dân số Việt Nam như ở năm 1999.  
Thứ ba, việc thu thập số liệu hàng năm  
theo thông lệ của các cán bộ địa phương  
trên cùng một địa bàn điều tra có thể làm  
ảnh hưởng đến chất lượng của số liệu và  
điều đó có thể dẫn đến sự thiếu nhất  
quán của số liệu thu thập trong điều tra.  
Thứ tư, cuộc điều tra biến động dân số  
hàng năm không thể có đầy đủ thông tin  
bằng cuộc TĐTDS. Một vài biến số quan  
trọng bị thiếu và do vậy đã ảnh hưởng  
tới việc xác định các yếu tố chính liên  
quan đến mất cân bằng SRB. Cụ thể,  
các chỉ số kinh tế - xã hội cơ bản không  
được thu thập như: mức thu nhập hoặc  
tài sản của hộ gia đình. Một số biến số  
khác cũng không được thu thập nhưng  
lại rất cần trong phân tích của báo cáo  
này bao gồm dân tộc, ngôn ngữ, quy mô  
đô thị hoặc nghề nghiệp.  
Ngoài việc mô tả thông tin nhân khẩu học -  
xã hội cơ bản, một số thông tin quan  
trọng về số sinh và xác định giới tính của  
thai nhi đã được bổ sung thêm vào điều  
tra biến động dân số năm 2006 và được  
sử dụng trong phân tích của báo cáo  
này. Các thông tin này bao gồm chăm  
sóc trước sinh, nơi sinh, biết về giới tính  
thai nhi trước khi sinh của bà mẹ.  
7
Ngày tiến hành điều tra là 1 tháng 4 hàng năm và  
ghi chép các sự kiện nhân khẩu học của trong 12  
tháng trước thời điểm điều tra. Nghiên cứu được  
thực hiện trong năm n sẽ mô tả xu hướng nhân  
khẩu học của năm n-1.  
16  
Những biến đổi gần đây về tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam:
T
ổ
ng quan các bằng chứng  
chỉnh là khá lớn. Lý do chính của sự khác  
biệt này liên quan đến việc áp dụng hệ  
số hiệu chỉnh - hệ số này chỉ đơn giản  
là tỷ số của số xã được điều tra so với  
tổng số tất cả các xã. Phương pháp này  
dựa trên giả định rằng: số ca sinh được  
phân bố đều trên tất cả các xã, và cụ  
thể là các xã không được điều tra cũng  
có số ca sinh tương tương các xã được  
điều tra10.  
2.4 Điều tra số sinh tại  
các cơ sở y tế năm 2007  
Để bổ sung cho điều tra biến động dân  
số hàng năm, TCTK với sự hỗ trợ của  
UNFPA đã tiến hành một cuộc điều tra  
đặc biệt trong năm 2007 về số ca sinh  
tại cơ sở y tế công trên cả nước trong  
năm 20068. Nghiên cứu này là nguồn  
thông tin tốt nhất để đánh giá SRB khi  
dựa trên số mẫu của gần 1,1 triệu ca  
sinh. Con số này xấp xỉ 76% tổng số ca  
sinh của năm 2007. Số ca sinh được thu  
thập từ sổ đẻ lưu tại các trạm y tế xã  
và các cơ sở y tế tuyến trên bao gồm  
bệnh viện huyện, tỉnh và trung ương.  
Năm 2006 SRB thô được tính cho tất cả  
các ca sinh là 109,4/100.  
Một nguồn sai số nữa mà không thể hiệu  
chỉnh được, đó là số sinh bị ghi trùng lặp,  
nghĩa là một số ca sinh có thể được đăng  
ký đồng thời cả ở bệnh viện - nơi ca sinh  
diễn ra - và sổ đẻ của cơ sở y tế tại địa  
phương, nơi mà người mẹ đăng ký.  
Kết quả phân tích chỉ ra rằng: hệ số hiệu  
chỉnh rất khác nhau giữa các tỉnh: hệ số  
này có thể thấp ở mức 1,2 ở một tỉnh  
của khu vực châu thổ sông Mekong, nơi  
chỉ có khoảng 20% số xã không được  
điều tra, nhưng lại tăng lên trên 5 tại  
một số tỉnh ở miền Bắc, nơi mà chưa đến  
20% số xã được điều tra.  
Tuy nhiên, tỷ số này cũng có thể bị sai  
chệch khi một số lượng lớn cơ sở y tế  
tuyến xã không được điều tra. Trên thực  
tế, chỉ có 3420 xã (trong tổng số hơn  
9080 xã của năm 2006) được điều tra.  
Hơn nữa, SRB rất khác nhau theo phân  
cấp các cơ sở y tế, với cơ sở y tế lớn như  
bệnh viện thành phố thì SRB cao. Điều  
này có liên quan trực tiếp đến các yếu tố  
của người cung cấp dịch vụ (các cơ sở y  
tế này có khả năng cung cấp dịch vụ xác  
định giới tính) hoặc các yếu tố của người  
sử dụng dịch vụ (ảnh hưởng của giảm  
sinh hoặc tình trạng kinh tế gia đình).  
Do thiếu tính đại diện cho các cơ sở y tế  
nhỏ ở vùng nông thôn không được điều  
tra, ước lượng SRB có xu hướng tăng.  
Một kỹ thuật được áp dụng để khắc  
phục hạn chế này là sử dụng hệ số đầy  
đủ (hệ số hiệu chỉnh bao trùm) cho số  
ca sinh được ghi tại các xã9. Kết quả,  
năm 2006 tỷ số giới khi sinh sau điều  
chỉnh là 108,6/100 (UNFPA 2007).  
Ước lượng SRB đã hiệu chỉnh của các tỉnh  
thường xấp xỉ với SRB thô với khác biệt  
dưới 2 trên 100. Nhưng ở một số tỉnh  
khác biệt trước và sau khi hiệu chỉnh là  
khá lớn, ví dụ: ở Nghệ An tỷ số giới khi  
sinh thô là 113/100 và sau khi hiệu chỉnh  
là 107/100. Điều này có thể kết luận  
rằng mặc dù ước lượng này tốt hơn các  
nguồn số liệu khác xét trên phương diện  
quy mô mẫu số ca sinh của năm 2006,  
nhưng ước lượng này vẫn chưa phải là  
hoàn chỉnh. Vấn đề ở đây là khi phân  
tích các kết quả, (cần phải cân nhắc đến  
việc nhiều xã đã không được điều tra và  
điều đó đã dẫn đến sự khác nhau về SRB  
của tuyến tỉnh được ước lượng trước và  
sau hiệu chỉnh).  
Hệ số hiệu chỉnh ảnh hưởng đáng kể  
đến kết quả nghiên cứu. Tại một số tỉnh,  
khác biệt giữa SRB thô và sau khi điều  
8
Điều tra được mô tả trong xuất bản của UNFPA  
2007. Phân tích này sử dụng các thông tin chưa  
được công bố của UNFPA và TCTK.  
10  
Một báo cáo gần đây của Plan International năm  
9
Phương pháp này khá dài dòng nhưng chính xác có  
2006 cho thấy đăng ký khai sinh trong nước tăng  
lên đáng kể từ năm 2001: từ 72% của năm 2000  
đến 95% của năm 2005, kết quả này cao hơn so  
với công bố của MICS.  
thể điều chỉnh cho cả xã được điều tra và xã không  
được điều tra theo quy mô dân số chứ không theo  
số xã  
17  
Những biến đổi gần đây về tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam:
T
ổ
ng quan các bằng chứng  
Chất lượng đăng ký khai sinh được ghi  
nhận là không tốt tại các khu vực miền  
núi, nơi đồng bào dân tộc thiểu số sinh  
sống, đặc biệt là những người không  
biết tiếng Kinh là ngôn ngữ chính thống.  
Các trường hợp sinh vi phạm chính sách  
kế hoạch hóa gia đình của địa phương  
và trẻ sinh ngoài giá thú cũng có thể  
không được đăng ký đầy đủ. Phạt tiền  
cha mẹ có thể là nguyên nhân của việc  
đăng ký muộn hoặc không đăng ký khai  
sinh cho con.  
2.5 Điều tra đánh giá các  
mục tiêu trẻ em và phụ nữ  
(MICS)  
Hiện có nhiều nguồn thông tin khác nhau  
để nghiên cứu hành vi sinh sản và phân  
biệt đối xử trên cơ sở giới ở Việt Nam. Một  
trong những nguồn thông tin này là Điều  
tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ  
nữ (MICS) do TCTK và Quỹ Nhi Đồng Liên  
Hiệp Quốc (UNICEF) tiến hành năm 2006  
tại Việt Nam đã được công bố vào tháng  
11 năm 2007.  
Phân tích từ Điều tra MICS năm 2006 đã  
khẳng định kết quả thu được từ DHS hoặc  
điều tra biến động dân số hàng năm. Ví  
dụ, không có sự vượt trội nào về tỷ lệ tử  
vong trẻ em gái ở trẻ dưới một tuổi và  
trẻ em nói chung ở Việt Nam hiện nay.  
Một vài chỉ số khác của điều tra này cho  
thấy sự phân biệt giới nói chung là thấp  
tại Việt Nam. Ví dụ như tình trạng suy  
dinh dưỡng ít xảy ra hơn đối với các bé  
gái. Tỷ lệ trẻ em gái được tiêm chủng  
các loại vắc-xin cơ bản và có sổ khám  
sức khoẻ cao hơn anh em trai của mình.  
Tương tự, kỷ luật trong gia đình – bao  
gồm cả trừng phạt thân thể - thường ít  
xảy ra hơn đối với các bé gái. Đối trẻ  
dưới 10 tuổi, tỷ lệ đi học tiểu học là 99%  
cho cả hai giới. Trên thực tế, số lượng  
học sinh nữ cao hơn một chút so với nam  
học sinh ở trung học cơ sở.  
Điều tra này cung cấp thông tin chi tiết  
về đăng ký khai sinh, theo đó 88% các ca  
sinh được đăng ký khai sinh trên phạm vi  
cả nước11. Một điều rất thú vị là, không có  
sự khác biệt về đăng ký khai sinh theo  
giới tính của trẻ. Ở các vùng kém phát  
triển, tỷ lệ đăng ký khai sinh khá thấp  
ví dụ: Tây Bắc (75%) hoặc Tây Nguyên  
(78%). Tỷ lệ này chưa đến 75% đối với  
trẻ là con của các bà mẹ mù chữ, các  
dân tộc thiểu số và nhóm dân cư nghèo  
nhất. Trong khi con số trung bình (88%)  
là khá cao, thực tế chỉ có khoảng 75%  
trẻ được khai sinh trong năm đầu tiên.  
Khoảng 20% số trẻ được đăng ký một  
năm sau khi sinh, điều này cho thấy chưa  
có sự quan tâm đúng mức của các bậc  
cha mẹ, đồng thời các quy định hiện nay  
cũng cho phép đăng ký khai sinh muộn  
sau khi sinh. Lý do chính cho việc chậm  
trễ đăng ký khai sinh được giải thích là  
“không có thời gian đi đăng ký”. Điều  
này cũng hàm ý rằng quy trình đăng ký  
khai sinh quá rườm rà, làm nản lòng các  
bậc cha mẹ. Một số lý do khác được đưa  
ra là “phải đi quá xa” hoặc “không biết  
trẻ phải đăng ký khai sinh” cũng cho thấy  
cần phải thông tin rộng rãi hơn và quản  
lý hành chính chặt chẽ hơn việc đăng ký  
khai sinh.  
Chỉ có một khía cạnh duy nhất mà trẻ  
em gái thiệt thòi hơn trẻ em trai là lao  
động trẻ em dưới 15 tuổi, nhưng điều  
này chủ yếu bắt nguồn từ truyền thống  
con gái tham gia vào công việc nội trợ  
nhiều hơn. Trên 15 tuổi, rất nhiều trẻ  
em gái vị thành niên kết hôn sớm và bức  
tranh toàn cảnh trở nên ít tươi đẹp hơn  
với phụ nữ trẻ. Trong nhiều khía cạnh  
của phân biệt đối xử trên cơ sở giới thì  
mang thai sớm, thiếu cơ hội tiếp cận  
giáo dục cao hơn, phân đoạn thị trường  
lao động theo giới và cơ hội làm việc hạn  
chế, cũng như nguy cơ của bạo hành  
trong gia đình là các vấn đề mà phụ nữ  
phải đối mặt. Khi xem xét vai trò của  
phụ nữ trong đời sống xã hội như nắm  
giữ các vị trí lãnh đạo trong chính phủ,  
tỷ lệ nữ giới còn rất thấp.  
11  
Sai lệch về thứ tự sinh cho câu hỏi về “lần sinh cuối  
cùng” là khi các bà mẹ nhiều tuổi được hỏi, thì câu  
hỏi về “lần sinh cuối cùng” thường liên quan đến  
trẻ sinh cuối cùng mà thường là nam hơn là nữ. Cơ  
chế đằng sau sự lựa chọn theo xu hướng này sẽ  
được đề cập cụ thể hơn dưới đây.  
18  
Những biến đổi gần đây về tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam:
T
ổ
ng quan các bằng chứng  
năm 2004, SRB biến động không theo xu  
hướng rõ ràng và dường như dao động  
ngẫu nhiên trong khoảng 106-109/100.  
Trong khi khoảng dao động này cao hơn  
giá trị kỳ vọng của SRB thông thường  
(105-106/100), sự khác này biệt không  
có ý nghĩa thống kê, vì cỡ mẫu nghiên  
cứu nhỏ (khoảng 22.000 ca sinh mỗi  
năm) có thể gây ra những biến thiên  
ngẫu nhiên: khoảng tin cậy 5% của SRB  
trên thực tế là 2,9 trên 100 ca sinh gái.  
Với cỡ mẫu nghiên cứu này, điều đó có  
nghĩa là các giá trị của SRB của các cuộc  
điều tra này có thể tương đương với mức  
SRB bình thường là 105-106/100.  
3. Xu hướng của  
tỷ số giới tính  
khi sinh gần đây  
Phân tích trên cho thấy nguồn thông tin  
để đánh giá SRB gần đây tương đối hạn  
chế. Do chỉ có số liệu của điều tra về số  
sinh tại cơ sở y tế được tiến hành năm  
2007, nên nghiên cứu này sử dụng số  
liệu điều tra biến động dân số hàng năm  
trước năm 2006 để đánh giá SRB. Một  
nguồn thông tin hữu ích nữa là TĐTDS  
1999, mặc dù số liệu này cũng hạn chế.  
Ước lượng sự dao động SRB hàng năm  
được tiến hành trên số sinh thu thập từ  
các cuộc điều tra biến động dân số được  
tiến hành từ năm 2000.  
Tuy nhiên, SRB được tính toán dựa vào  
số ca sinh trong thời gian 12 tháng trước  
khi điều tra dường như tăng lên dần từ  
năm 2004 và đạt ngưỡng 110/100 trong  
năm 2005 (theo điều tra năm 2006).  
SRB gần đây nhất của năm 2006 (theo  
điều tra năm 2007) là 110/100, cao hơn  
đáng kể so với mức chuẩn sinh học. Con  
số 110/100 của năm 2006 trên thực tế  
nằm trong khoảng giữa giá trị 108,6/100  
– được ước lượng từ số ca sinh thu được  
của năm 2006 (đã mô tả ở trên) - và giá  
trị 111,4/100 được rút ra từ số liệu về  
lịch sử sinh sản thu thập từ các cuộc điều  
tra hàng năm (sẽ mô tả dưới đây).  
3.1 Tỷ số giới tính khi sinh  
hàng năm  
Mỗi cuộc điều tra biến động dân số đều  
phỏng vấn số lần sinh của phụ nữ từ 15  
đến 49 tuổi. Câu hỏi lần đầu tiên được sử  
dụng là về lần sinh cuối cùng của phụ nữ  
(về giới tính và ngày sinh). Những cuộc  
điều tra hàng năm gần đây nhất có thu  
thập thêm thông tin về các ca sinh trong  
khoảng thời gian ba năm trước khi tiến  
hành điều tra. Thông tin này cung cấp  
ước lượng đầu tiên của SRB trong suốt  
thời gian trước khi điều tra. Cũng có thể  
sử dụng kết quả của TĐTDS 1999 với cỡ  
mẫu 3% của toàn bộ dân số vì TĐTDS  
cung cấp thông tin về giới tính và ngày  
sinh của lần sinh cuối cùng của các phụ  
nữ trong độ tuổi 15-49. Trong báo cáo  
này, số liệu của 3 năm trước bao gồm  
cả năm điều tra sẽ được sử dụng để tính  
toán nhằm tránh sai số liên quan đến  
“lần sinh cuối” thường gặp cho những trẻ  
sinh ra đã lâu.  
Từ sau năm 2006 trở đi, các cuộc điều  
tra đã tách biệt số liệu về giới tính và  
ngày sinh cho 5 lần sinh cuối của phụ nữ  
trong độ tuổi 15-49. Trong số phụ nữ từ  
40 tuổi trở lên, lần sinh cuối có thể đã  
diễn ra 20 năm trước cuộc điều tra. Trong  
một chừng mực nào đó, câu hỏi về 5 lần  
sinh cuối cùng là một biến số tổng hợp  
nhất để nghiên cứu lịch sử sinh sản cho  
khoảng thời gian dài trong quá khứ: do  
không có giới hạn thời gian (như là “lần  
sinh trong 3 năm trước”) hoặc là sai số  
về thứ tự sinh (như đối với “lần sinh cuối  
cùng”) như trong câu hỏi của các điều  
tra trước năm 200612. Tất nhiên, lịch sử  
Bảng 3 trình bày ước lượng SRB từ các  
cuộc điều tra khác nhau, bắt đầu từ cuộc  
TĐTDS 1999. Thời kỳ 12 tháng trước  
thời điểm điều tra không trùng với năm  
trước điều tra do các cuộc điều tra được  
tiến hành vào tháng 4 hoặc tháng 7. Trừ  
điều tra các năm 2000 và 2007, kết quả  
của điều tra biến động dân số năm 2006  
đã được xuất bản (TCTK, 2007). Trước  
12  
Ngoài sai số do các bà mẹ nhiều tuổi, còn có sai  
số liên quan đến câu hỏi về 5 trẻ được sinh ra cuối  
cùng bao gồm 2 loại sinh: 1) trẻ sinh cuối cùng của  
các bà mẹ tuổi trên 50 tại thời điểm điều tra và 2)  
trẻ sinh ra đầu tiên của các bà mẹ có trên 5 con.  
Cả 2 loại sinh này có thể tác động nhưng ít bởi vì  
tương đối ít số sinh tiếp theo trong các loại sinh  
này trong 15 năm trước đây.  
19  
Những biến đổi gần đây về tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam:
T
ổ
ng quan các bằng chứng  
Bảng 3: SRB ở Việt Nam, 1999-2007  
(Điều tra biến động dân số hàng năm)  
Thời gian  
Năm điều tra  
Nguồn  
SRB  
điều tra*  
1/4/1999  
1/7/2000  
1/4/2001  
1/4/2002  
1/4/2003  
1/4/2004  
1/4/2005  
1/4/2006  
1/4/2007  
1999  
2000  
2001  
2002  
2003  
2004  
2005  
2006  
2007  
Tổng điều tra dân số và nhà ở  
Điều tra biến động dân số hàng năm  
Điều tra biến động dân số hàng năm  
Điều tra biến động dân số hàng năm  
Điều tra biến động dân số hàng năm  
Điều tra biến động dân số hàng năm  
Điều tra biến động dân số hàng năm  
Điều tra biến động dân số hàng năm  
Điều tra biến động dân số hàng năm  
107,0  
106,2**  
109,0  
107,0  
104,0  
108,0  
106,0  
110,0  
111,6**  
* SRB được tính cho các trường hợp sinh trước thời điểm điều tra 1 năm.  
** Ước lượng của chuyên gia  
sinh sản của bà mẹ được ghi lại trong  
quá trình điều tra có xu hướng trùng lặp  
với thông tin về “lần sinh cuối cùng”. Tuy  
nhiên, thống kê về lịch sử sinh sản cung  
cấp các thông tin khác như ước lượng  
không chệch cho một thời gian dài trong  
quá khứ và cho phép thống kê theo thứ  
tự các lần sinh13.  
Nhìn chung, bức tranh chi tiết về SRB  
giống như những kết quả thu được từ  
phân tích số liệu về “lần sinh cuối cùng”  
tronggiaiđoạn1999-2006(xembảng3).  
Tuy nhiên, các chuỗi lịch sử sinh sản cho  
thấy quá trình biến động của SRB trong  
20 năm qua tương đối phức tạp: từ năm  
1985 đến cuối những năm 1990, SRB dao  
độngkhálớntrongkhoảng104-111/100.  
Sự dao động này xoay xung quanh giá  
trị trung bình của thời kỳ 1985-2000 là  
107,4/100 và cao hơn không đáng kể so  
với mức chuẩn sinh học, phản ánh một  
phần nào đó mức độ mất cân bằng giới  
tính khi sinh là không đáng kể. Hơn nữa,  
khả năng các bà mẹ báo cáo thiếu số ca  
sinh gái (hoặc trẻ em gái) không hoàn  
toàn được loại trừ - điều này giải thích  
tại sao SRB cao hơn một chút trong quá  
khứ. Một điểm lưu ý của chuỗi số liệu  
đến năm 2000 và có thể vẫn còn là một  
câu hỏi, chính là các giá trị cực đại và cực  
tiểu của SRB như 104/100 hoặc 111/100,  
hoàn toàn nằm ngoài khoảng tin cậy của  
SRB trung bình (107,4/100). Rất tiếc là  
tại thời điểm hiện nay không có thông  
tin để phân tích các đặc điểm này của  
thời kỳ trước năm 2000.  
Số liệu của hai cuộc điều tra dân số năm  
2006 và 2007 đã được sử dụng để xây  
dựng lại lịch sử sinh sản của phụ nữ bắt  
đầu từ năm 1990. Biểu đồ đầu tiên (biểu  
đồ 3) chỉ ra rằng cả 2 nguồn số liệu này  
tương đối nhất quán và phù hợp với sự  
kỳ vọng khi tiến hành điều tra vì số liệu  
năm 2006 và 2007 được thu thập gần  
như trên cùng đối tượng. Tuy nhiên, sự  
khác biệt đôi khi có thể nhận ra được,  
ví dụ cho các năm 1991 và 2002. Do đó,  
nghiên cứu này đã ghép 2 chuỗi dữ liệu  
vào thành một chuỗi duy nhất bằng việc  
lấy trung bình SRB đến năm 2005 và sử  
dụng chuỗi này cho phân tích sâu.  
13  
Mặt hạn chế của phương pháp này liên quan đến  
các bà mẹ đã sinh 5 lần: trong trường hợp này, thứ  
tự sinh không được tính đến nhiều.  
20  
Những biến đổi gần đây về tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam:
T
ổ
ng quan các bằng chứng  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 56 trang myanh 30300 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Những biến đổi gần đây về tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_nhung_bien_doi_gan_day_ve_ty_so_gioi_tinh_khi_sinh.pdf