Tài liệu Những biến đổi gần đây về tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam
NHỮNG BIẾN ĐỔI GẦN ĐÂY
VỀ TỶ SỐ GIỚI TÍNH KHI SINH
Ở Vieät Nam
TOÅNG QUAN CAÙC BAÈNG CHÖÙNG
Hà Nội, tháng 8 năm 2009
Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam
Tầng 1, Khu nhà Liên Hiệp Quốc,
2E Vạn Phúc, Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam
ĐT: +84 - 4 - 3823 6632
Fax: +84 - 4 - 3823 2822
Email: [email protected]
Website://vietnam.unfpa.org
Thiết kế và In ấn tại công ty LUCK HOUSE GRAPHICS
In 2000 cuốn khổ 210x297 (mm)
Giấy phép xuất bản số: 25-112/LĐ ngày 04/8/2009
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU
4
5
6
7
9
TÓM TẮT
1. Kinh nghiệm của châu Á
1.1 Gia tăng tỷ số giới tính khi sinh: mức độ và xu hướng
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng và hệ lụy
11
11
11
2. Các nguồn số liệu nghiên cứu mất cân bằng giới tại Việt Nam 13
2.1 Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999
2.2 Điều tra Nhân khẩu học và Sức khoẻ năm 2002
2.3 Điều tra biến động dân số hàng năm
2.4 Điều tra số sinh tại các cơ sở y tế năm 2007
2.5 Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ (MICS)
13
14
16
17
18
3. Xu hướng của tỷ số giới tính khi sinh gần đây
19
19
21
22
3.1 Tỷ số giới tính khi sinh hàng năm
3.2 Tỷ số giới tính khi sinh và lựa chọn giới tính trước sinh
3.3 Kết luận: Tỷ số giới tính khi sinh tăng nhanh nhưng diễn ra muộn
4. Tác động của thứ tự lần sinh và cơ cấu giới tính
4.1 Tỷ số gia tăng số lần sinh và các lần sinh trước
4.2 Tỷ số giới tính khi sinh của “lần sinh cuối cùng”
4.3 Tỷ số giới tính khi sinh theo thứ tự sinh
25
25
26
29
4.4 Tỷ số giới tính khi sinh và những lần sinh trước
32
5. Sự khác biệt về tỷ số giới tính khi sinh
33
33
37
38
5.1 Phân tích sự khác biệt về tỷ số giới tính khi sinh theo vùng địa lý
5.2 Biết trước giới tính thai nhi
5.3 Mối tương quan giữa dân số, xã hội và kinh tế với tỷ số giới tính khi sinh
6. Dự báo xu hướng tỷ số giới tính khi sinh
42
42
44
45
6.1 Các giả thuyết dự báo cho giai đoạn 1999-2050
6.2 Tổng dân số
6.3 Hệ lụy đối với xã hội
7. Kết luận và kiến nghị
48
7.1 Tỷ số giới tính khi sinh hiện tại và tương lai: xu hướng hiện tại và
những lựa chọn chính sách
7.2 Kiến nghị
48
49
Tài liệu tham khảo
53
DANH MỤC VIẾT TẮT
BPTT
DHS
Biện pháp tránh thai
Điều tra nhân khẩu học và sức khỏe
Viện nghiên cứu phát triển xã hội
ISDS
MICS
Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ
PPR
Tỷ số gia tăng số lần sinh
Biết giới tính thai nhi trước sinh
Tỷ số giới tính khi sinh
Sức khoẻ sinh sản
PKS
SRB
SKSS
TCTK
TĐTDS
TFR
Tổng cục Thống kê
Tổng điều tra dân số và nhà ở
Tổng tỷ suất sinh
TSGT
UNFPA
UNICEF
Tỷ số giới tính
Quỹ Dân Số Liên Hiệp Quốc
Quỹ Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc
4
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1:
Khác biệt về giới tính trong tỷ lệ chết trẻ em (DHS 2002) ...................................15
Bảng 2:
SRB theo thứ tự sinh (DHS 2002) ....................................................................16
Bảng 3:
SRB ở Việt Nam, 1999-2007 (Điều tra biến động dân số hàng năm) .....................20
Bảng 4:
SRB, 1988-1997 theo thứ tự sinh ngược (Điều tra biến động dân số 2007)............28
Bảng 5:
SRB của lần sinh thứ ba theo số con trai đã sinh trước, 2000-2006
(Điều tra biến động dân số 2006) ...................................................................32
Bảng 6:
Biết giới tính trước khi sinh và SRB liên quan với các chỉ số kinh tế và xã hội
(Điều tra biến động dân số 2006) ....................................................................40
Bảng 7:
Các giả thuyết dự báo dân số, 1999-2050.........................................................42
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1:
Các yếu tố ảnh hưởng tới sự lựa chọn giới tính trước sinh tại châu Á....................12
Biểu đồ 2:
Tỷ số giới tính theo nhóm tuổi ( Tổng điều tra biến động dân số 1999) .................14
Biểu đồ 3:
SRB theo lịch sử sinh sản, điều tra biến động dân số năm 2006 và 2007,
1985 - 2007 ................................................................................................21
Biểu đồ 4:
SRB theo lịch sử sinh sản điều tra biến động dân số năm 2006 và 2007,
2000 - 2007 .................................................................................................22
Biểu đồ 5:
Tỷ số gia tăng số lần sinh theo thứ tự sinh và cấu trúc giới tính của gia đình
(Điều tra biến động dân số 2006) ....................................................................26
Biểu đồ 6:
Tỷ số giới tính của “lần sinh cuối cùng” và của nhóm dân số trẻ em theo năm sinh
(Tổng điều tra biến động dân số 1999).............................................................27
Biểu đồ 7:
SRB của “lần sinh cuối cùng” theo năm (Điều tra biến động dân số 2007) .............28
Biểu đồ 8:
SRB theo thứ tự sinh (Điều tra biến động dân số 2007) .....................................30
Biểu đồ 9:
SRB theo số lần sinh, lịch sử sinh sản và “lần sinh cuối cùng”
(Điều tra biến động dân số 2007) ....................................................................31
Biểu đồ 10:
Số trường hợp sinh được đăng ký và SRB tại các tỉnh
(Điều tra số ca sinh trong năm 2006)...............................................................35
Biểu đồ 11:
SRB theo tỉnh khu vực phía Bắc và phía Nam
(Điều tra số ca sinh trong năm 2006)...............................................................36
Biểu đồ 12:
Biết giới tính trước sinh và SRB theo nhóm tuổi
(Điều tra biến động dân số 2006) ....................................................................38
Biểu đồ 13:
Hai phương án dự báo biến đổi SRB tại Việt Nam đến năm 2050..........................43
Biểu đồ 14:
Dự báo tỷ số giới tính chung của dân số ở Việt Nam, 1999-2050..........................45
Biểu đồ 15:
Dự báo tỷ số giới tính ở dân số trưởng thành ở Việt Nam, 1999-2050 ...................46
6
Tổng cục Thống kê (TCTK) với sự giúp
đỡ về kỹ thuật của Quỹ Dân Số Liên
Hợp Quốc (UNFPA) đã thu thập những
số liệu quan trọng và công bố SRB của
Việt Nam ở mức 110/100 theo kết quả
cuộc Điều tra biến động dân số năm
2006 do cơ quan này tiến hành.
LỜI MỞ ĐẦU
Tỷ số giới tính là một chỉ số nhân khẩu
học phản ánh cơ cấu giới tính của một
quần thể dân số, trong đó tỷ số giới tính
khi sinh (SRB) thường được các nhà
nhân khẩu học quan tâm nhất. SRB được
xác định bằng số trẻ em trai được sinh
ra trên một trăm trẻ em gái. Tỷ số này
thông thường là 104-106/100. Một điểm
lưu ý là giá trị của tỷ số này rất ổn định
qua thời gian và không gian, giữa các
châu lục, quốc gia, khu vực và chủng
tộc người. Bất kỳ một sự thay đổi đáng
kể nào của tỷ số này chệch khỏi mức
sinh học bình thường này đều phản ánh
những can thiệp có chủ định, ở các mức
độ khác nhau đến sự cân bằng tự nhiên
này. Điều đó cũng có nghĩa là để đưa ra
một ước lượng chính xác về SRB cần có
một số lượng mẫu nghiên cứu đủ lớn và
hơn hết là một phương pháp nghiên cứu
phù hợp.
Từ đó đến nay, UNFPA trong khuôn khổ
của Chương trình Quốc gia VII, đã hỗ
trợ Chương trình Dân số và Sức khỏe
sinh sản của Việt Nam triển khai nhiều
nghiên cứu ở các quy mô khác nhau,
nhằm giám sát biến động của tỷ số
này trên phạm vi cả nước và các vùng.
Những kết quả thu được ban đầu đã
được các cơ quan hữu quan công bố và
bước đầu tạo ra sự chú ý của công luận
và các nhà lãnh đạo các cấp.
Bản báo cáo này, với tựa đề “Những
biến đổi gần đây về tỷ số giới tính
khi sinh ở Việt Nam: Tổng quan các
bằng chứng” sẽ cung cấp cho độc giả
một bức tranh toàn cảnh về tình trạng
mất cân bằng giới tính đang diễn ra ở
ViệtNam.TiếnsỹChristopheZ.Guilmo-
to - Tiến sỹ nhân khẩu học có nhiều
kinh nghiệm trong nghiên cứu về SRB ở
Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước
châu Á, đã hỗ trợ kỹ thuật cho UNFPA
Việt Nam trong việc phân tích số liệu
và chuẩn bị báo cáo này. Bản báo cáo
đã đưa ra những kết luận cụ thể và các
khuyến nghị có giá trị cho Việt Nam
cho những năm tiếp theo.
Những phân tích về SRB cho chúng ta
hiểu rõ hơn các khía cạnh khác nhau
của xã hội như truyền thống văn hóa,
trình độ phát triển kinh tế, phúc lợi xã
hội, thực thi pháp luật, dịch vụ y tế, đặc
biệt là mức độ nhận thức và thực hành
của người dân về bình đẳng giới.
Những nghiên cứu trong lĩnh vực này đã
chỉ ra một xu hướng biến động dân số
không mong muốn, bắt đầu diễn ra từ
những năm 1980 của thế kỷ trước. Đó
là tình trạng gia tăng liên tục SRB ở một
số quốc gia châu Á, nơi có quy mô và
mật độ dân số cao hơn hầu hết các nước
trên thế giới. Cùng với quá trình giảm
sinh, xu hướng này có nguy cơ ngày
càng lan rộng ở châu Á, đe dọa đến sự
ổn định dân số toàn cầu.
UNFPA trân trọng cảm ơn Tiến sỹ
Christophe Z. Guilmoto đã xây dựng
báo cáo này. Chúng tôi cũng bày tỏ
lời cảm ơn chân thành đối với TCTK đã
cung cấp số liệu và có những đóng góp
kỹ thuật có giá trị trong quá trình xây
dựng báo cáo. Xin cảm ơn Viện Nghiên
cứu Phát triển Xã hội đã chia sẻ những
kinh nghiệm trong nghiên cứu về mất
cân bằng SRB ở Việt Nam. Cảm ơn các
chuyên gia trong nước và quốc tế, các
cán bộ Văn phòng UNFPA tại Hà Nội đã
làm việc cùng với tiến sỹ Christophe
Z. Guilmoto và có những góp ý sâu sắc
trong quá trình biên soạn và hoàn thiện
báo cáo.
Những quan ngại về khả năng Việt Nam
cũng sẽ đối mặt với nguy cơ gia tăng SRB
đã được đề cập lần đầu tiên trong những
năm đầu của thế kỷ 21, sau khi kết quả
của cuộc Tổng điều tra dân số năm 1999
được công bố. Tuy nhiên, những tranh
cãi xung quanh câu chuyện này dường
như bị lãng quên cho đến năm 2006 khi
UNFPA trân trọng giới thiệu tài liệu quý
báu này đến các nhà lãnh đạo, các nhà
lập chính sách, các nhà quản lý, các nhà
chuyên môn, các nhà nghiên cứu và
những ai quan tâm đến lĩnh vực dân số
và sức khỏe sinh sản ở Việt Nam. Đây là
nguồn tài liệu tham khảo đặc biệt quan
trọng, khi mà Việt Nam đang chuẩn bị
những văn bản pháp lý và xây dựng
chiến lược và chính sách dân số cho thập
kỷ tiếp theo.
Bruce Campbell
Trưởng Đại diện Quỹ Dân Số
Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam
8
dường như chưa ảnh hưởng nhiều đến
phân bố giới tính và cấu trúc tuổi của
dân số Việt Nam trước năm 2025. Sau
thời điểm này, tình trạng dư thừa nam
giới do mất cân bằng giới tính khi sinh
là khó tránh khỏi và sẽ ảnh hưởng mạnh
mẽ đến nhóm dân số trẻ trong độ tuổi
kết hôn.
TÓM TẮT
Báo cáo tổng quan thực trạng tỷ số giới
tính khi sinh (sau đây viết tắt là SRB)
với mục tiêu:
● Phân tích các số liệu hiện có nhằm mô
tả sự thay đổi SRB ở Việt Nam.
SRB thay đổi nhanh chóng có thể do
sự chậm trễ triển khai các nghiên cứu
về tình trạng mất cân bằng SRB, so
sánh với các quốc gia láng giềng như
Trung Quốc. Khả năng tiếp cận với kỹ
thuật xác định giới tính trước sinh hiện
nay cho phép các cặp vợ chồng điều
chỉnh hành vi sinh sản nhằm thoả mãn
nhu cầu có con trai làm chỗ dựa khi về
già. Hai yếu tố chính ảnh hưởng đến sự
lựa chọn này là: xu hướng giảm sinh
và tâm lý ưa thích con trai. Chính điều
này khiến phá thai chọn lọc giới tính trở
thành một lựa chọn hợp lý, thỏa mãn
cả hai yếu tố trên. Tuy nhiên, cũng cần
nhấn mạnh rằng đa số các bậc cha mẹ
vẫn giữ quan điểm không phân biệt giới
tính thai nhi khi quyết định sinh con.
● Xem xét mối liên quan giữa SRB và
các yếu tố kinh tế - xã hội thông qua
phương pháp bản đồ và thống kê.
● Dự báo dân số tương lai dựa trên các
phương pháp nhân khẩu học.
Báo cáo nghiên cứu các tài liệu hiện
có về SRB, phân tích số liệu gốc
của các cuộc điều tra dân số và số
liệu thống kê, kết hợp trao đổi với
chuyên gia các ngành khác nhau
trong chuyến làm việc 8 ngày vào
tháng 12 năm 2007 ở Việt Nam. Báo
cáo cũng dựa trên các kết quả thu
được từ chuyến đi thực địa tại tỉnh
Thái Nguyên và Hội thảo về SRB do
TCTK và UNFPA tổ chức vào tháng 12
năm 2007.
Những phân tích sâu hơn đã đưa ra một
bức tranh chi tiết về thực trạng lựa chọn
giới tính trước sinh, xác định được vai trò
của một số yếu tố xã hội liên quan tới sự
gia tăng SRB như: nhóm phụ nữ có trình
độ học vấn, thuộc tầng lớp kinh tế xã hội
cao, cư trú tại các khu vực nông thôn
giàu có, các khu đô thị của Hà Nội hoặc
thành phố Hồ Chí Minh và các vùng lân
cận, nơi có mức sinh thấp, và có khả
năng tiếp cận với kỹ thuật xác định giới
tính trước sinh.
Các phân tích đã cung cấp bằng chứng
về xu hướng mới có ảnh hưởng lớn tới
những biến động dân số Việt Nam: sự
gia tăng tỷ lệ trẻ em trai trong tổng
số trẻ được sinh ra. Năm 2006, SRB
là 110/100, cao hơn nhiều so với
mức chuẩn sinh học bình thường là
105/100.
SRB của Việt Nam bắt đầu tăng từ đầu
thập kỷ này và tăng ở mức một điểm/
năm. Hiện tại tỷ số này của Việt Nam
vẫn thấp hơn một số nước châu Á,
nhưng với tốc độ gia tăng như hiện nay,
tỷ số này sẽ vượt ngưỡng 115/100 trong
vài năm tới. Các mô hình dự báo nhân
khẩu học dựa vào hai phương án biến
đổi SRB khác nhau cho thấy: SRB
Trong phần cuối, báo cáo tóm tắt các
phát hiện chính và đề xuất các khuyến
nghị chung nhằm nâng cao nhận thức về
mất cân bằng SRB ở Việt Nam.
khu vực Đông Á do ảnh hưởng của
Trung Quốc. Tại Trung - Nam Á, xu
hướng này bị chi phối chủ yếu bởi Ấn Độ,
ở mức 107/100. Trong gian đoạn 2000-
2005, năm nước ở châu Á có tình trạng
mất cân bằng giới tính khi sinh. Trầm
trọng nhất gồm ba nước khu vực Cap-
ca-dơ: Azerbaijan, Armenia và Georgia.
Trung Quốc và Hàn Quốc có SRB trên
110/100. Ấn Độ cũng rơi vào tình trạng
tương tự, với tỷ số ước tính là 108/100
trong giai đoạn này, mặc dù tại một số
bang như bang Punjab tỷ số này cao hơn
rất nhiều. Theo ước tính của Liên hợp
quốc (United Nations 2007), Việt Nam
chưa nằm trong các nước châu Á có tình
trạng mất cân bằng tỷ số giới tính trẻ
em, nhưng hiện nay SRB đã có xu hướng
tăng lên.
1. Kinh nghiệm
của châu Á
1.1Giatăngtỷsốgiớitínhkhi
sinh: mức độ và xu hướng
Hiện tượng nam hóa trong dân số châu Á
lần đầu tiên được biết đến thông qua sự
gia tăng tỷ số giới tính trong các quần
thể trẻ em. Là chỉ báo về sự mất cân
bằng giới tính, tỷ số giới tính ở trẻ em là
kết quả của sự phân biệt đối xử về giới
trước và sau khi sinh. Khi không có sự
phân biệt về giới, tỷ số giới tính ở trẻ em
thấp hơn tỷ số giới tính khi sinh (SRB)
chuẩn trung bình ở mức 105/100 do tỷ
lệ tử vong ở trẻ em trai cao hơn trẻ em
gái. Nhưng khi xem xét dân số châu Á
một cách tổng thể, tỷ số giới tính ở trẻ
em tăng lên trong nửa thế kỷ trở lại đây,
từ 105/100 vào giữa những năm 1950
lên đến 108/100 vào năm 2005. Tỷ số
giới tính ở trẻ em của năm 2005 rõ ràng
cao hơn mức chuẩn được ghi nhận tại
bất kỳ nơi nào trên thế giới (Guilmoto
2007b).
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng
và hệ lụy
Nguồn gốc của sự gia tăng SRB liên quan
đến hiện tượng phá thai chọn lọc giới
tính, hiện đang phổ biến ở nhiều quốc
gia châu Á. Ở các nước công nghiệp,
cũng có những phương pháp khác làm
thay đổi SRB (chẳng hạn: kỹ thuật thụ
tinh trong ống nghiệm) nhưng tình trạng
phá thai gái cho đến nay vẫn là phổ biến
nhất và là nguyên nhân chính gây ra sự
mất cân bằng giới tính ở châu Á (Attané
và Guilmoto 2007; Arnold et al. 2002;
Guilmoto 2007a, 2007b; Kim 2004;
Li 2007; Chu 2003). Khởi đầu của tình
trạng này là sự xuất hiện của siêu âm
và kỹ thuật chọc ối từ cuối những năm
1970, kỹ thuật này giúp cho các cặp vợ
chồng biết trước giới tính của thai nhi.
Siêu âm là kỹ thuật đầu tiên được sử
dụng để xác định giới tính thai nhi và đã
trở nên thông dụng: kỹ thuật này được
sử dụng phổ biến ở các bệnh viện công
và các cơ sở y tế tư nhân do giá thành
lắp đặt và sử dụng của thiết bị này giảm
đi nhanh chóng. Kết hợp với những đạo
luật cho phép phá thai theo yêu cầu,
các kỹ thuật xác định giới tính thai nhi
đã cho phép các bậc cha mẹ tránh sinh
ra những trẻ có giới tính không mong
muốn, và ngay lập tức việc thay đổi hành
vi này đã được phản ánh qua những con
số thống kê về SRB.
Số liệu chi tiết hơn cho thấy sự gia tăng
của tỷ lệ trẻ em trai trong tổng số trẻ ở
châu Á chủ yếu là do sự gia tăng tỷ số
giới tính ở trẻ em tại khu vực Đông Á,
trong khi đó tỷ số này tại khu vực
Đông Nam Á và Tây Á lại hầu như bình
thường. Xu hướng này ở khu vực
Đông Á bị chi phối chủ yếu bởi Trung
Quốc và mức độ ít hơn là Hàn Quốc.
Trong khi đó khu vực Trung Nam Á bị
ảnh hưởng nhiều bởi Ấn Độ.
Mặc dù có sự khác biệt về tỷ lệ tử vong
theo giới ở châu Á, tỷ số giới tính ở trẻ
em hiện nay vẫn cao hơn giá trị chuẩn,
và có sự gia tăng song hành với SRB.
SRB được giả định nằm trong khoảng
104-106/100, tùy thuộc sự khác biệt
sinh học ở các vùng khác nhau. Bắt
đầu từ những năm 1980, Trung Quốc
và một số nước châu Á khác đã ghi
nhận sự gia tăng tỷ lệ trẻ em trai trong
tổng số trẻ được sinh ra. Đến những
năm 1990 tình trạng trở nên xấu đi
một cách rõ rệt. Trong giai đoạn 2000-
2005, SRB đã lên tới 114/100 tại
Các yếu tố cung cấp dịch vụ như áp
dụng một kỹ thuật mới, chỉ nói lên một
phần của câu chuyện. Đằng sau tất cả
là sự khao khát có con trai của các cặp
vợ chồng vẫn còn tồn tại ở nhiều khu
vực châu Á. Điều này thôi thúc họ sử
dụng tất cả các biện pháp như: bỏ rơi trẻ
sơ sinh, nhận con nuôi, thậm chí là giết
trẻ sơ sinh gái, để chắc chắn có con trai
(Croll, 2000).
Các giá trị truyền thống đã từ lâu coi
trọng con trai hơn con gái trong hầu hết
các gia đình thuộc hệ thống ngoại hôn.
Các giá trị này được củng cố dưới tác
động của quá trình phát triển kinh tế và
giảm sinh, những thay đổi xã hội mà qua
đó lợi ích kinh tế và chi phí nuôi dạy con
cái trở thành mối quan tâm hàng đầu của
các bậc cha mẹ.
Sự tồn tại các cơ sở siêu âm và phá thai,
thậm chí là bất hợp pháp1, tâm lý ưa thích
con trai và mức sinh thấp đã dẫn tới có
nhiều ca phá thai lựa chọn giới tính. Tuy
nhiên, cũng chính ngay tại các quốc gia
đang bị ảnh hưởng như Trung Quốc,
Ấn Độ, vẫn có những nơi dường như
không bị tác động bởi xu hướng nam
hóa này. Tại các khu vực này, nữ giới
thường được ưa thích hơn và không có
con trai không được xem như là một
thảm họa với gia đình.
Biểu đồ 1 (Guilmoto, 2007b) đã tổng
kết một số yếu tố chính đã được xác
định trong các phân tích trước đây về
lựa chọn giới tính ở châu Á. Những lý lẽ
cho rằng tâm lý ưa thích con trai dường
như xuất phát từ những đặc trưng về
văn hóa-xã hội và kinh tế của các nước
châu Á. Nhìn chung, việc đầu tư cho
con trai mang lại nhiều lợi ích hơn là
đầu tư cho con gái, vì con trai thường
trợ giúp cha mẹ, kể cả khi đã lập gia
đình, là chỗ dựa của cha mẹ khi về
già và thường được thừa kế tài sản.
Lựa chọn giới tính trước khi sinh: Tại sao và như thế nào
Các phương
pháp cũ
Công nghệ mới, nạo phá thai
và cơ sở y tế
Khả năng
Thực thi chính sách /luật pháp
Đạo đức
Lựa chọn
giới tính
trước sinh
Đặc điểm kinh tế
của sự ưa thích
Đặc điểm
con trai
kinh tế,
văn hóa
xã hội
Sẵn sàng
Giảm sinh
Biểu tượng
của con trai
Thay đổi xã hội
và công bằng giới
Biểu đồ 1: Các yếu tố ảnh hưởng tới sự lựa chọn giới tính
trước sinh tại châu Á
1
Pháp lệnh Dân số 2003 và Luật bình đẳng giới đã
được thông qua tháng 12 năm 2006 nghiêm cấm nạo
thai với mục đích lựa chọn giới tính ở Việt Nam.
12
2.1 Tổng điều tra dân số và
nhà ở năm 1999
2. Các nguồn số liệu
nghiên cứu mất cân
bằng giới tại Việt Nam
Tổng điều tra dân số (TĐTDS) năm 1999
là một công cụ hữu ích để xác định sự
biến thiên của tỷ số giới tính ở trẻ em,
đặc biệt là tại các quốc gia như Việt Nam
là nơi có chất lượng số liệu theo độ tuổi
khá tốt. Thứ nhất, TĐTDS 1999 cung cấp
thông tin về toàn bộ dân số, dựa trên cỡ
mẫu rất lớn. Thứ hai, số liệu được thu
thập một cách có hệ thống và được tổng
hợp ở cấp hành chính (như cấp tỉnh, khu
vực) và cho các nhóm dân số khác (như
nhóm dân tộc thiểu số). Sự biến đổi nhỏ
về số liệu tại các địa phương cũng có
thể xác định được thậm chí khi sự biến
đổi này không quan sát được trên phạm
vi lớn.
Trong phần này, sẽ xem xét các nguồn
số liệu hiện có để nghiên cứu sự biến
động của SRB và mất cân bằng giới
tính. Cần lưu ý rằng các nguồn số liệu
liên quan đến hành vi chọn lọc giới tính
rất hạn chế, chủ yếu do số liệu của hệ
thống đăng ký khai sinh ở Việt Nam
không đầy đủ. Điều này xuất phát từ
thực tế do SRB là một chỉ báo thống
kê có độ nhạy tương đối với cỡ mẫu và
cần được tính toán trên số lượng lớn
các ca sinh, ví dụ: cỡ mẫu có thể là
10.000 ca sinh hoặc lớn hơn. SRB thực
tế là một tỷ số, chứ không phải là một
tỷ lệ phần trăm, khoảng biến thiên của
SRB khá lớn2. Một minh chứng đơn giản
là khoảng tin cậy 5% của SRB ở mức
105/100 (mức sinh học bình thường)
tính cho 10.000 ca sinh sẽ dao động từ
101 đến 109/100. Với cỡ mẫu bằng một
nửa, 5.000 ca sinh, khoảng tin cậy sẽ
dao động rộng hơn từ 99 đến 111/100.
Với cỡ mẫu lớn hơn nhiều, 100.000 ca
sinh, khoảng biến thiên sẽ hẹp từ 103,7
đến 106,3/100. Thực tế, SRB tại các
quốc gia lớn với hệ thống đăng ký khai
sinh có chất lượng, sự biến động SRB
hàng năm là rất nhỏ, một phần do các
yếu tố ngẫu nhiên.
TĐTDS gần đây nhất được tiến hành vào
năm 1999 đã cung cấp khối lượng thông
tin lớn về điều kiện kinh tế và xã hội
của cả nước và các vùng. Khi số liệu của
TĐTDS năm 2009 chưa được công bố,
thì TĐTDS năm 1999 vẫn là nguồn thông
tin nhân khẩu học quan trọng nhất ở Việt
Nam.
TĐTDS năm 1999 có hai nhóm thông tin
liên quan trực tiếp đến nghiên cứu này.
Thứ nhất, phân bố dân cư theo tuổi và
giới tính cho phép kiểm tra tỷ số giới tính
ở trẻ em như là sự phản ánh SRB trong
những năm trước khi tiến hành cuộc điều
tra. Thứ hai, câu hỏi về “lần sinh cuối
cùng” của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.
Đây có thể là nguồn thông tin để phân
tích những thay đổi của SRB.
Một hạn chế nữa là việc thiếu số liệu
thống kê tin cậy về phá thai ở Việt Nam.
Lựa chọn giới tính trước sinh phụ thuộc
vào phá thai lựa chọn giới tính, thiếu số
liệu trong lĩnh vực này (số lượng, tuổi,
thứ tự sinh của phụ nữ...) cũng là một
khó khăn lớn cho việc tính toán SRB3.
Tuy nhiên, số liệu của TĐTDS cũng có
một số hạn chế. Ngoài mất cân bằng
giới tính khi sinh, số liệu về độ tuổi cũng
phản ánh những khác biệt của tỷ lệ chết
sơ sinh và trẻ em dưới 5 tuổi theo giới
tính. Như vậy, không thể thiết lập được
ảnh hưởng tương ứng của các yếu tố
này. Một trở ngại khác liên quan đến sử
dụng thông tin “lần sinh cuối cùng” làm
chỉ báo về mất cân bằng giới tính khi
sinh. Phân tích dưới đây sẽ chứng minh
cho điều này, số liệu trong “lần sinh
cuối cùng” thu thập được từ cha mẹ có
2
Khoảng tin cậy 5% cho tỷ lệ p các ca sinh con trai được
tính trên số quan sát n là 1.96. Sqroot (p.(1-p)/n),
là giá trị gần với 1/sqroot (n).
3
Tuy nhiên, có những ước lượng cho biết tỷ lệ nạo
phá thai cao ở Việt Nam. Theo một số nghiên cứu,
46% các ca thai nghén bị phá trong năm 2002. Số
lần nạo phá thai trung bình của 1 phụ nữ đã có gia
đình là 1,5 (là 1,7 ở vùng thành thị). Tuy nhiên, báo
cáo này không có ý định kiểm chứng chất lượng của
các ước lượng này hay sử dụng nhiều những kết
quả này.
độ sai chệch rất lớn đối với các trường
hợp sinh xảy ra vài năm trước TĐTDS.
Một hạn chế nữa là TĐTDS được tiến
hành 10 năm một lần đã hạn chế hoạt
động giám sát về xu hướng biến động
của tỷ số giới tính. Trong báo cáo này,
TĐTDS 1999 phản ánh thực trạng trong
những năm trước khi thực hiện cuộc
điều tra. Trên thực tế, các phân tích chỉ
ra rằng không có sự chủ động lựa chọn
giới tính trước sinh trên phạm vi lớn
trước năm 2000. Biểu đồ 2 trình bày tỷ
số giới tính theo nhóm tuổi của toàn bộ
dân số cho thấy: ở cấp độ quốc gia tỷ
số giới tính khá ổn định trong khoảng
105-106/100 đối với nhóm dân cư dưới
15 tuổi4. Phân tích sâu hơn theo khu
vực (biểu đồ 11) cho thấy không có bất
kỳ sự mất cân bằng giới tính nào theo
vùng địa lý.
2.2 Điều tra Nhân khẩu học
và Sức khoẻ năm 2002
Điều tra Nhân khẩu học và Sức khoẻ
(DHS) thường được sử dụng để khẳng
định sự ưa thích con trai và hành vi phân
biệt đối xử giữa con trai với con gái. Các
điều tra này cũng có vai trò rất quan
trọng trong việc cung cấp các ước lượng
tin cậy về tỷ lệ chết ở trẻ em.
Điều tra DSH gần đây nhất của Việt Nam
được tiến hành vào năm 2002 đã cung
cấp một số thông tin có giá trị cho phân
tích. Bảng 1 (trích từ bảng 7.3 trong báo
cáo DHS) cho thấy sự khác biệt giữa
tỷ lệ chết trẻ em trai và trẻ em gái là
không nhiều. Trong thời kỳ thơ ấu, chết
ở trẻ trai dự tính cao hơn trẻ gái và chết
ở trẻ trai dưới 5 tuổi (34,2‰) cao hơn
không đáng kể so với trẻ gái (31,4‰).
Điểm bất thường duy nhất là tỷ lệ chết
trẻ em dưới một tuổi (từ tháng thứ nhất
đến tháng thứ 12) ở trẻ em gái cao hơn
một chút so với trẻ em trai (7,8‰ so
với 7,0‰). Khác biệt nhỏ này có thể bắt
nguồn từ sai số ngẫu nhiên do cỡ
mẫu nhỏ.
Cuộc TĐTDS năm 2009 sẽ cung cấp
thêm nhiều thông tin hơn nữa để
so sánh khi mà SRB đang gia tăng
nhanh. Điều tra này sẽ là công cụ
chính để chứng minh cụ thể hơn quá
trình tăng tỷ trọng nam giới hiện nay
ở Việt Nam mà các nguồn thông tin
sẵn có khác không cho phép làm được.
110
105
100
95
90
85
45-49 40-44 35-39 30-34 25-29 20-24 18-19 15-17 10-14
5-9
1-4
0
Nhóm tuổi
Biểu đồ 2: Tỷ số giới tính theo nhóm tuổi (Tổng điều tra dân số năm 1999)
4
Chú ý rằng sự chênh lệch tỷ số giới tính ở nhóm
người cao tuổi (trên 40 tuổi) phần nào đó bị ảnh
hưởng bởi nhập cư và hậu quả chiến tranh.
14
Một chỉ số hữu dụng khác của điều tra
DHS là số con mong muốn của phụ nữ. Khi
được hỏi về quy mô gia đình mong muốn,
số liệu năm 2002 cho biết trên 60% phụ
nữ được hỏi mong muốn gia đình hai con,
và 38% muốn gia đình có nhiều hơn hai
con. Kết quả này hàm ý rằng phụ nữ mong
muốn có ít nhất một con trai và một con
gái. Trong khi 30% phụ nữ muốn có
hơn một con trai thì chỉ có 23% mong
muốn có hơn một con gái5. Sự khác biệt
này gần như không đáng kể. Phân tích
tương tự được thực hiện để ước lượng tỷ
lệ phụ nữ có ít nhất hai con muốn sinh
thêm con thứ ba. Kết quả thu được cho
thấy có sự khác biệt vừa phải giữa phụ
nữ đã có một con trai với phụ nữ chưa có
con trai: 2% phụ nữ đã có một con trai
muốn có thêm con so với 15% của người
chưa có con trai. Nhìn chung, điều tra
DHS năm 2002 không chỉ ra được khác
biệt cơ bản để giải thích cho tình trạng
mất cân bằng giới tính.
Việt Nam với số lượng trẻ sinh ra được
nghiên cứu là 13.586 (xem bảng C.3 của
báo cáo chính). Có chưa đến 2.100 ca
sinh trong vòng suốt 5 năm trước khi
tiến hành điều tra. Cũng cần lưu ý tỷ số
giới khi sinh của những lần sinh này là
105,5/100 và xấp xỉ với phân bố chuẩn.
Mặc dù gặp khó khăn do cỡ mẫu nhỏ,
chúng ta vẫn tính được tỷ số giới khi sinh
theo thứ tự sinh6. Quá trình tính toán
được áp dụng cho tất cả các trường hợp
sinh trong điều tra cũng như những
trường hợp sinh gần đây hơn, từ sau
1995. Bảng 2 cho thấy SRB cho các lần
sinh từ thứ ba trở lên là 113,5/100 và có
xu hướng cao hơn giá trị bình thường.
Điều này có nghĩa là phụ nữ có nhiều
con trai hơn so với mong muốn ở các
lần sinh sau và điều này có quan hệ
với nỗ lực nhằm sinh được một đứa con
trai. Tuy nhiên, do cỡ mẫu quá nhỏ để
có thể kiểm định tính xác thực của kết
quả: phân tích đã sử dụng phép kiểm
định khi bình phương (χ2) cho bảng phân
tích 2 biến số (bảng 2x2) và mô hình
xác suất lôgit về khả năng sinh con trai.
Hai kiểm định này không cho thấy tương
quan có ý nghĩa thống kê giữa số lần sinh
và khả năng sinh con trai. Hơn thế nữa, ở
các quốc gia có tình trạng mất cân bằng
giới tính nghiêm trọng như Trung Quốc và
Ấn Độ, tỷ số giới khi sinh của các lần sinh
sau thường rất cao, trên mức 120/100.
Bảng 1: Khác biệt về giới tính trong
tỷ lệ chết trẻ em (DHS 2002)
Giới tính
Tỷ lệ chết
Nam
17,5
7,0
Nữ
17,4
7,8
Sơ sinh
Trẻ từ 1 tháng - 1 năm
Trẻ < 1 tuổi
24,5
9,9
25,1
6,5
Trong nghiên cứu này, số liệu DHS được sử
dụng để tính toán khả năng sinh con trai
của những phụ nữ chỉ có con gái. Thông
thường, phụ nữ chưa sinh con trai có SRB
là cao nhất. Để phân tích, mẫu các ca sinh
sau năm 1995 và có thứ tự sinh lớn hơn
một đã được sử dụng để so sánh nhóm
phụ nữ chưa có con trai với nhóm phụ nữ
còn lại. Kết quả cho thấy không xác định
được sự vượt trội đáng kể nào về số ca
sinh con trai của những người mẹ chưa có
con trai. Tuy nhiên kết quả này có thể bị
ảnh hưởng do cỡ mẫu nhỏ được sử dụng
trong phân tích này (2004 ca sinh).
Trẻ từ 1 đến 4 tuổi
Trẻ < 5 tuổi
34,2
31,4
Sử dụng số liệu các cuộc điều tra DHS để
phân tích tỷ số giới khi sinh có nhiều
hạn chế chủ yếu do cỡ mẫu nhỏ. Điều
này dẫn đến không chỉ giá trị SRB thu
được không đáng tin cậy mà những
khoảng biến thiên nhỏ (như trong trường
hợp Việt Nam những năm trước 2002)
không thể phát hiện được. Điều này đặc
biệt đúng với điều tra năm 2002 của
5
6
Giá trị được tính toán từ số liệu DHS.
Bảng được tính toán dựa trên số liệu DHS.
Bảng 2: SRB theo thứ tự sinh (DHS 2002)
Thứ tự sinh
Tỷ số giới tính khi sinh
1
2
3 hoặc hơn
107,5
SRB tính trên tất cả trẻ được sinh ra
Số trẻ sinh ra
106,2
5390
109,9
1228
104,7
4273
105,7
1088
2325
SRB tính trên số trẻ sinh sau năm 1995
Số trẻ sinh ra
113,5
475
Số liệu của điều tra biến động dân
số hàng năm có một số hạn chế: thứ
nhất, cỡ mẫu có thể không đủ lớn để
tiến hành các ước lượng và là quá nhỏ
đối với một số phân tích sâu về sự khác
biệt SRB theo khu vực/vùng. Thứ hai,
mẫu điều tra không được thiết kế lại
hoặc cập nhật mới trong nhiều năm.
Ở Việt Nam, di chuyển dân cư diễn ra
2.3 Điều tra biến động
dân số hàng năm
Do chưa đủ các chứng cứ khoa học từ
các nguồn số liệu nói trên, ước lượng
SRB gần đây chủ yếu dựa vào các cuộc
điều tra biến động dân số hàng năm
do TCTK thực hiện. Các điều tra này
được tiến hành hàng năm, kể từ sau
TĐTDS 19997. Các cuộc điều tra này có
cỡ mẫu 3% rút ra từ khung mẫu của
TĐTDS. Thông tin thu thập liên quan
đến dân số chung, hộ gia đình, và số
phụ nữ trong độ tuổi sinh sản 15-49.
Điều tra biến động dân số là cơ sở đáng
tin cậy để cập nhật các thông tin nhân
khẩu học cho toàn quốc và nghiên cứu
một số xu hướng nhân khẩu học quan
trọng như: di cư trên phạm vi khu vực,
tình hình hôn nhân, sinh đẻ, kế hoạch
hóa gia đình và tử vong. Mẫu điều tra có
quy mô khá lớn so với các điều tra khác
(ví dụ như DHS). Trong điều tra biến
động dân số năm 2007, trên 461.000
phụ nữ trong độ tuổi từ 15 đến 49 đã
được phỏng vấn.
mạnh mẽ và
thường xuyên, không
những dẫn tới sự thay đổi phân bố dân cư
của các địa phương và các khu vực, mà
còn thúc đẩy quá trình đô thị hóa nhanh/
hình thành các khu định cư mới tại các
thị xã, thành phố, cũng như tại một số
khu vực nông thôn. Do vậy, khung mẫu
hiện tại không phản ánh đúng đặc trưng
của dân số Việt Nam như ở năm 1999.
Thứ ba, việc thu thập số liệu hàng năm
theo thông lệ của các cán bộ địa phương
trên cùng một địa bàn điều tra có thể làm
ảnh hưởng đến chất lượng của số liệu và
điều đó có thể dẫn đến sự thiếu nhất
quán của số liệu thu thập trong điều tra.
Thứ tư, cuộc điều tra biến động dân số
hàng năm không thể có đầy đủ thông tin
bằng cuộc TĐTDS. Một vài biến số quan
trọng bị thiếu và do vậy đã ảnh hưởng
tới việc xác định các yếu tố chính liên
quan đến mất cân bằng SRB. Cụ thể,
các chỉ số kinh tế - xã hội cơ bản không
được thu thập như: mức thu nhập hoặc
tài sản của hộ gia đình. Một số biến số
khác cũng không được thu thập nhưng
lại rất cần trong phân tích của báo cáo
này bao gồm dân tộc, ngôn ngữ, quy mô
đô thị hoặc nghề nghiệp.
Ngoài việc mô tả thông tin nhân khẩu học -
xã hội cơ bản, một số thông tin quan
trọng về số sinh và xác định giới tính của
thai nhi đã được bổ sung thêm vào điều
tra biến động dân số năm 2006 và được
sử dụng trong phân tích của báo cáo
này. Các thông tin này bao gồm chăm
sóc trước sinh, nơi sinh, biết về giới tính
thai nhi trước khi sinh của bà mẹ.
7
Ngày tiến hành điều tra là 1 tháng 4 hàng năm và
ghi chép các sự kiện nhân khẩu học của trong 12
tháng trước thời điểm điều tra. Nghiên cứu được
thực hiện trong năm n sẽ mô tả xu hướng nhân
khẩu học của năm n-1.
16
chỉnh là khá lớn. Lý do chính của sự khác
biệt này liên quan đến việc áp dụng hệ
số hiệu chỉnh - hệ số này chỉ đơn giản
là tỷ số của số xã được điều tra so với
tổng số tất cả các xã. Phương pháp này
dựa trên giả định rằng: số ca sinh được
phân bố đều trên tất cả các xã, và cụ
thể là các xã không được điều tra cũng
có số ca sinh tương tương các xã được
điều tra10.
2.4 Điều tra số sinh tại
các cơ sở y tế năm 2007
Để bổ sung cho điều tra biến động dân
số hàng năm, TCTK với sự hỗ trợ của
UNFPA đã tiến hành một cuộc điều tra
đặc biệt trong năm 2007 về số ca sinh
tại cơ sở y tế công trên cả nước trong
năm 20068. Nghiên cứu này là nguồn
thông tin tốt nhất để đánh giá SRB khi
dựa trên số mẫu của gần 1,1 triệu ca
sinh. Con số này xấp xỉ 76% tổng số ca
sinh của năm 2007. Số ca sinh được thu
thập từ sổ đẻ lưu tại các trạm y tế xã
và các cơ sở y tế tuyến trên bao gồm
bệnh viện huyện, tỉnh và trung ương.
Năm 2006 SRB thô được tính cho tất cả
các ca sinh là 109,4/100.
Một nguồn sai số nữa mà không thể hiệu
chỉnh được, đó là số sinh bị ghi trùng lặp,
nghĩa là một số ca sinh có thể được đăng
ký đồng thời cả ở bệnh viện - nơi ca sinh
diễn ra - và sổ đẻ của cơ sở y tế tại địa
phương, nơi mà người mẹ đăng ký.
Kết quả phân tích chỉ ra rằng: hệ số hiệu
chỉnh rất khác nhau giữa các tỉnh: hệ số
này có thể thấp ở mức 1,2 ở một tỉnh
của khu vực châu thổ sông Mekong, nơi
chỉ có khoảng 20% số xã không được
điều tra, nhưng lại tăng lên trên 5 tại
một số tỉnh ở miền Bắc, nơi mà chưa đến
20% số xã được điều tra.
Tuy nhiên, tỷ số này cũng có thể bị sai
chệch khi một số lượng lớn cơ sở y tế
tuyến xã không được điều tra. Trên thực
tế, chỉ có 3420 xã (trong tổng số hơn
9080 xã của năm 2006) được điều tra.
Hơn nữa, SRB rất khác nhau theo phân
cấp các cơ sở y tế, với cơ sở y tế lớn như
bệnh viện thành phố thì SRB cao. Điều
này có liên quan trực tiếp đến các yếu tố
của người cung cấp dịch vụ (các cơ sở y
tế này có khả năng cung cấp dịch vụ xác
định giới tính) hoặc các yếu tố của người
sử dụng dịch vụ (ảnh hưởng của giảm
sinh hoặc tình trạng kinh tế gia đình).
Do thiếu tính đại diện cho các cơ sở y tế
nhỏ ở vùng nông thôn không được điều
tra, ước lượng SRB có xu hướng tăng.
Một kỹ thuật được áp dụng để khắc
phục hạn chế này là sử dụng hệ số đầy
đủ (hệ số hiệu chỉnh bao trùm) cho số
ca sinh được ghi tại các xã9. Kết quả,
năm 2006 tỷ số giới khi sinh sau điều
chỉnh là 108,6/100 (UNFPA 2007).
Ước lượng SRB đã hiệu chỉnh của các tỉnh
thường xấp xỉ với SRB thô với khác biệt
dưới 2 trên 100. Nhưng ở một số tỉnh
khác biệt trước và sau khi hiệu chỉnh là
khá lớn, ví dụ: ở Nghệ An tỷ số giới khi
sinh thô là 113/100 và sau khi hiệu chỉnh
là 107/100. Điều này có thể kết luận
rằng mặc dù ước lượng này tốt hơn các
nguồn số liệu khác xét trên phương diện
quy mô mẫu số ca sinh của năm 2006,
nhưng ước lượng này vẫn chưa phải là
hoàn chỉnh. Vấn đề ở đây là khi phân
tích các kết quả, (cần phải cân nhắc đến
việc nhiều xã đã không được điều tra và
điều đó đã dẫn đến sự khác nhau về SRB
của tuyến tỉnh được ước lượng trước và
sau hiệu chỉnh).
Hệ số hiệu chỉnh ảnh hưởng đáng kể
đến kết quả nghiên cứu. Tại một số tỉnh,
khác biệt giữa SRB thô và sau khi điều
8
Điều tra được mô tả trong xuất bản của UNFPA
2007. Phân tích này sử dụng các thông tin chưa
được công bố của UNFPA và TCTK.
10
Một báo cáo gần đây của Plan International năm
9
Phương pháp này khá dài dòng nhưng chính xác có
2006 cho thấy đăng ký khai sinh trong nước tăng
lên đáng kể từ năm 2001: từ 72% của năm 2000
đến 95% của năm 2005, kết quả này cao hơn so
với công bố của MICS.
thể điều chỉnh cho cả xã được điều tra và xã không
được điều tra theo quy mô dân số chứ không theo
số xã
Chất lượng đăng ký khai sinh được ghi
nhận là không tốt tại các khu vực miền
núi, nơi đồng bào dân tộc thiểu số sinh
sống, đặc biệt là những người không
biết tiếng Kinh là ngôn ngữ chính thống.
Các trường hợp sinh vi phạm chính sách
kế hoạch hóa gia đình của địa phương
và trẻ sinh ngoài giá thú cũng có thể
không được đăng ký đầy đủ. Phạt tiền
cha mẹ có thể là nguyên nhân của việc
đăng ký muộn hoặc không đăng ký khai
sinh cho con.
2.5 Điều tra đánh giá các
mục tiêu trẻ em và phụ nữ
(MICS)
Hiện có nhiều nguồn thông tin khác nhau
để nghiên cứu hành vi sinh sản và phân
biệt đối xử trên cơ sở giới ở Việt Nam. Một
trong những nguồn thông tin này là Điều
tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ
nữ (MICS) do TCTK và Quỹ Nhi Đồng Liên
Hiệp Quốc (UNICEF) tiến hành năm 2006
tại Việt Nam đã được công bố vào tháng
11 năm 2007.
Phân tích từ Điều tra MICS năm 2006 đã
khẳng định kết quả thu được từ DHS hoặc
điều tra biến động dân số hàng năm. Ví
dụ, không có sự vượt trội nào về tỷ lệ tử
vong trẻ em gái ở trẻ dưới một tuổi và
trẻ em nói chung ở Việt Nam hiện nay.
Một vài chỉ số khác của điều tra này cho
thấy sự phân biệt giới nói chung là thấp
tại Việt Nam. Ví dụ như tình trạng suy
dinh dưỡng ít xảy ra hơn đối với các bé
gái. Tỷ lệ trẻ em gái được tiêm chủng
các loại vắc-xin cơ bản và có sổ khám
sức khoẻ cao hơn anh em trai của mình.
Tương tự, kỷ luật trong gia đình – bao
gồm cả trừng phạt thân thể - thường ít
xảy ra hơn đối với các bé gái. Đối trẻ
dưới 10 tuổi, tỷ lệ đi học tiểu học là 99%
cho cả hai giới. Trên thực tế, số lượng
học sinh nữ cao hơn một chút so với nam
học sinh ở trung học cơ sở.
Điều tra này cung cấp thông tin chi tiết
về đăng ký khai sinh, theo đó 88% các ca
sinh được đăng ký khai sinh trên phạm vi
cả nước11. Một điều rất thú vị là, không có
sự khác biệt về đăng ký khai sinh theo
giới tính của trẻ. Ở các vùng kém phát
triển, tỷ lệ đăng ký khai sinh khá thấp
ví dụ: Tây Bắc (75%) hoặc Tây Nguyên
(78%). Tỷ lệ này chưa đến 75% đối với
trẻ là con của các bà mẹ mù chữ, các
dân tộc thiểu số và nhóm dân cư nghèo
nhất. Trong khi con số trung bình (88%)
là khá cao, thực tế chỉ có khoảng 75%
trẻ được khai sinh trong năm đầu tiên.
Khoảng 20% số trẻ được đăng ký một
năm sau khi sinh, điều này cho thấy chưa
có sự quan tâm đúng mức của các bậc
cha mẹ, đồng thời các quy định hiện nay
cũng cho phép đăng ký khai sinh muộn
sau khi sinh. Lý do chính cho việc chậm
trễ đăng ký khai sinh được giải thích là
“không có thời gian đi đăng ký”. Điều
này cũng hàm ý rằng quy trình đăng ký
khai sinh quá rườm rà, làm nản lòng các
bậc cha mẹ. Một số lý do khác được đưa
ra là “phải đi quá xa” hoặc “không biết
trẻ phải đăng ký khai sinh” cũng cho thấy
cần phải thông tin rộng rãi hơn và quản
lý hành chính chặt chẽ hơn việc đăng ký
khai sinh.
Chỉ có một khía cạnh duy nhất mà trẻ
em gái thiệt thòi hơn trẻ em trai là lao
động trẻ em dưới 15 tuổi, nhưng điều
này chủ yếu bắt nguồn từ truyền thống
con gái tham gia vào công việc nội trợ
nhiều hơn. Trên 15 tuổi, rất nhiều trẻ
em gái vị thành niên kết hôn sớm và bức
tranh toàn cảnh trở nên ít tươi đẹp hơn
với phụ nữ trẻ. Trong nhiều khía cạnh
của phân biệt đối xử trên cơ sở giới thì
mang thai sớm, thiếu cơ hội tiếp cận
giáo dục cao hơn, phân đoạn thị trường
lao động theo giới và cơ hội làm việc hạn
chế, cũng như nguy cơ của bạo hành
trong gia đình là các vấn đề mà phụ nữ
phải đối mặt. Khi xem xét vai trò của
phụ nữ trong đời sống xã hội như nắm
giữ các vị trí lãnh đạo trong chính phủ,
tỷ lệ nữ giới còn rất thấp.
11
Sai lệch về thứ tự sinh cho câu hỏi về “lần sinh cuối
cùng” là khi các bà mẹ nhiều tuổi được hỏi, thì câu
hỏi về “lần sinh cuối cùng” thường liên quan đến
trẻ sinh cuối cùng mà thường là nam hơn là nữ. Cơ
chế đằng sau sự lựa chọn theo xu hướng này sẽ
được đề cập cụ thể hơn dưới đây.
18
năm 2004, SRB biến động không theo xu
hướng rõ ràng và dường như dao động
ngẫu nhiên trong khoảng 106-109/100.
Trong khi khoảng dao động này cao hơn
giá trị kỳ vọng của SRB thông thường
(105-106/100), sự khác này biệt không
có ý nghĩa thống kê, vì cỡ mẫu nghiên
cứu nhỏ (khoảng 22.000 ca sinh mỗi
năm) có thể gây ra những biến thiên
ngẫu nhiên: khoảng tin cậy 5% của SRB
trên thực tế là 2,9 trên 100 ca sinh gái.
Với cỡ mẫu nghiên cứu này, điều đó có
nghĩa là các giá trị của SRB của các cuộc
điều tra này có thể tương đương với mức
SRB bình thường là 105-106/100.
3. Xu hướng của
tỷ số giới tính
khi sinh gần đây
Phân tích trên cho thấy nguồn thông tin
để đánh giá SRB gần đây tương đối hạn
chế. Do chỉ có số liệu của điều tra về số
sinh tại cơ sở y tế được tiến hành năm
2007, nên nghiên cứu này sử dụng số
liệu điều tra biến động dân số hàng năm
trước năm 2006 để đánh giá SRB. Một
nguồn thông tin hữu ích nữa là TĐTDS
1999, mặc dù số liệu này cũng hạn chế.
Ước lượng sự dao động SRB hàng năm
được tiến hành trên số sinh thu thập từ
các cuộc điều tra biến động dân số được
tiến hành từ năm 2000.
Tuy nhiên, SRB được tính toán dựa vào
số ca sinh trong thời gian 12 tháng trước
khi điều tra dường như tăng lên dần từ
năm 2004 và đạt ngưỡng 110/100 trong
năm 2005 (theo điều tra năm 2006).
SRB gần đây nhất của năm 2006 (theo
điều tra năm 2007) là 110/100, cao hơn
đáng kể so với mức chuẩn sinh học. Con
số 110/100 của năm 2006 trên thực tế
nằm trong khoảng giữa giá trị 108,6/100
– được ước lượng từ số ca sinh thu được
của năm 2006 (đã mô tả ở trên) - và giá
trị 111,4/100 được rút ra từ số liệu về
lịch sử sinh sản thu thập từ các cuộc điều
tra hàng năm (sẽ mô tả dưới đây).
3.1 Tỷ số giới tính khi sinh
hàng năm
Mỗi cuộc điều tra biến động dân số đều
phỏng vấn số lần sinh của phụ nữ từ 15
đến 49 tuổi. Câu hỏi lần đầu tiên được sử
dụng là về lần sinh cuối cùng của phụ nữ
(về giới tính và ngày sinh). Những cuộc
điều tra hàng năm gần đây nhất có thu
thập thêm thông tin về các ca sinh trong
khoảng thời gian ba năm trước khi tiến
hành điều tra. Thông tin này cung cấp
ước lượng đầu tiên của SRB trong suốt
thời gian trước khi điều tra. Cũng có thể
sử dụng kết quả của TĐTDS 1999 với cỡ
mẫu 3% của toàn bộ dân số vì TĐTDS
cung cấp thông tin về giới tính và ngày
sinh của lần sinh cuối cùng của các phụ
nữ trong độ tuổi 15-49. Trong báo cáo
này, số liệu của 3 năm trước bao gồm
cả năm điều tra sẽ được sử dụng để tính
toán nhằm tránh sai số liên quan đến
“lần sinh cuối” thường gặp cho những trẻ
sinh ra đã lâu.
Từ sau năm 2006 trở đi, các cuộc điều
tra đã tách biệt số liệu về giới tính và
ngày sinh cho 5 lần sinh cuối của phụ nữ
trong độ tuổi 15-49. Trong số phụ nữ từ
40 tuổi trở lên, lần sinh cuối có thể đã
diễn ra 20 năm trước cuộc điều tra. Trong
một chừng mực nào đó, câu hỏi về 5 lần
sinh cuối cùng là một biến số tổng hợp
nhất để nghiên cứu lịch sử sinh sản cho
khoảng thời gian dài trong quá khứ: do
không có giới hạn thời gian (như là “lần
sinh trong 3 năm trước”) hoặc là sai số
về thứ tự sinh (như đối với “lần sinh cuối
cùng”) như trong câu hỏi của các điều
tra trước năm 200612. Tất nhiên, lịch sử
Bảng 3 trình bày ước lượng SRB từ các
cuộc điều tra khác nhau, bắt đầu từ cuộc
TĐTDS 1999. Thời kỳ 12 tháng trước
thời điểm điều tra không trùng với năm
trước điều tra do các cuộc điều tra được
tiến hành vào tháng 4 hoặc tháng 7. Trừ
điều tra các năm 2000 và 2007, kết quả
của điều tra biến động dân số năm 2006
đã được xuất bản (TCTK, 2007). Trước
12
Ngoài sai số do các bà mẹ nhiều tuổi, còn có sai
số liên quan đến câu hỏi về 5 trẻ được sinh ra cuối
cùng bao gồm 2 loại sinh: 1) trẻ sinh cuối cùng của
các bà mẹ tuổi trên 50 tại thời điểm điều tra và 2)
trẻ sinh ra đầu tiên của các bà mẹ có trên 5 con.
Cả 2 loại sinh này có thể tác động nhưng ít bởi vì
tương đối ít số sinh tiếp theo trong các loại sinh
này trong 15 năm trước đây.
Bảng 3: SRB ở Việt Nam, 1999-2007
(Điều tra biến động dân số hàng năm)
Thời gian
Năm điều tra
Nguồn
SRB
điều tra*
1/4/1999
1/7/2000
1/4/2001
1/4/2002
1/4/2003
1/4/2004
1/4/2005
1/4/2006
1/4/2007
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
Tổng điều tra dân số và nhà ở
Điều tra biến động dân số hàng năm
Điều tra biến động dân số hàng năm
Điều tra biến động dân số hàng năm
Điều tra biến động dân số hàng năm
Điều tra biến động dân số hàng năm
Điều tra biến động dân số hàng năm
Điều tra biến động dân số hàng năm
Điều tra biến động dân số hàng năm
107,0
106,2**
109,0
107,0
104,0
108,0
106,0
110,0
111,6**
* SRB được tính cho các trường hợp sinh trước thời điểm điều tra 1 năm.
** Ước lượng của chuyên gia
sinh sản của bà mẹ được ghi lại trong
quá trình điều tra có xu hướng trùng lặp
với thông tin về “lần sinh cuối cùng”. Tuy
nhiên, thống kê về lịch sử sinh sản cung
cấp các thông tin khác như ước lượng
không chệch cho một thời gian dài trong
quá khứ và cho phép thống kê theo thứ
tự các lần sinh13.
Nhìn chung, bức tranh chi tiết về SRB
giống như những kết quả thu được từ
phân tích số liệu về “lần sinh cuối cùng”
tronggiaiđoạn1999-2006(xembảng3).
Tuy nhiên, các chuỗi lịch sử sinh sản cho
thấy quá trình biến động của SRB trong
20 năm qua tương đối phức tạp: từ năm
1985 đến cuối những năm 1990, SRB dao
độngkhálớntrongkhoảng104-111/100.
Sự dao động này xoay xung quanh giá
trị trung bình của thời kỳ 1985-2000 là
107,4/100 và cao hơn không đáng kể so
với mức chuẩn sinh học, phản ánh một
phần nào đó mức độ mất cân bằng giới
tính khi sinh là không đáng kể. Hơn nữa,
khả năng các bà mẹ báo cáo thiếu số ca
sinh gái (hoặc trẻ em gái) không hoàn
toàn được loại trừ - điều này giải thích
tại sao SRB cao hơn một chút trong quá
khứ. Một điểm lưu ý của chuỗi số liệu
đến năm 2000 và có thể vẫn còn là một
câu hỏi, chính là các giá trị cực đại và cực
tiểu của SRB như 104/100 hoặc 111/100,
hoàn toàn nằm ngoài khoảng tin cậy của
SRB trung bình (107,4/100). Rất tiếc là
tại thời điểm hiện nay không có thông
tin để phân tích các đặc điểm này của
thời kỳ trước năm 2000.
Số liệu của hai cuộc điều tra dân số năm
2006 và 2007 đã được sử dụng để xây
dựng lại lịch sử sinh sản của phụ nữ bắt
đầu từ năm 1990. Biểu đồ đầu tiên (biểu
đồ 3) chỉ ra rằng cả 2 nguồn số liệu này
tương đối nhất quán và phù hợp với sự
kỳ vọng khi tiến hành điều tra vì số liệu
năm 2006 và 2007 được thu thập gần
như trên cùng đối tượng. Tuy nhiên, sự
khác biệt đôi khi có thể nhận ra được,
ví dụ cho các năm 1991 và 2002. Do đó,
nghiên cứu này đã ghép 2 chuỗi dữ liệu
vào thành một chuỗi duy nhất bằng việc
lấy trung bình SRB đến năm 2005 và sử
dụng chuỗi này cho phân tích sâu.
13
Mặt hạn chế của phương pháp này liên quan đến
các bà mẹ đã sinh 5 lần: trong trường hợp này, thứ
tự sinh không được tính đến nhiều.
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Những biến đổi gần đây về tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tai_lieu_nhung_bien_doi_gan_day_ve_ty_so_gioi_tinh_khi_sinh.pdf

