Khủng hoảng của thời hiện đại - Vấn đề về con người và của con người

Khủng hoảng của thời . . .  
Nghiên cứu - trao đổi  
KHỦNG HOẢNG CỦA THỜI HIỆN ĐẠI -  
VẤN ĐỀ VỀ CON NGƯỜI VÀ CỦA CON NGƯỜI  
Nguyễn Thanh(*)  
TÓM TẮT  
Càng ngày chúng ta càng nhận thấy rõ hơn rằng, thế kỷ XXI là cái mốc quan trọng bậc nhất  
trong lịch sử nhân loại. Cái mốc này đánh dấu thời đại con người chinh phục tự nhiên đã chấm dứt.  
Nền văn minh do con người tạo dựng nên và những khả năng tác động của nó đến sinh quyển lớn  
tới mức đe dọa môi sinh của Homo Sapiens và bản thân sự tồn tại của loài người như một trong  
các hệ thống của sinh quyển. Thực chất của vấn đề là ở chỗ, quan hệ qua lại giữa con người và tự  
nhiên không thể được tổ chức như trước kia, dựa trên cơ sở sử dụng vô hạn tài nguyên thiên nhiên  
và thường xuyên làm phương hại nó; loài người đang đứng trước sự khủng hoảng của thời hiện đại.  
Đã đến lúc cần phải ý thức đầy đủ sự lệ thuộc của mình vào khả năng duy trì tính ổn định của sinh  
quyển và tổ chức cuộc sống theo nguyên tắc đồng tiến hóa (coevolution) như là nội dung cơ bản của  
thời đại này. Và, vị trí con người trong xã hội ấy sẽ phải nổi lên hàng đầu.  
1. Nội dung  
- tự nhiên”. Lời răn “Không được sát sinh” là  
có lý trong những quan hệ ấy, bởi những quan  
hệ này, khi bối cảnh hình thành bất lợi, có thể  
dẫn đến sự tự huỷ diệt của loài người trên trái  
Đất theo đúng nghĩa của từ này.  
Có thể nói, cơ hội khắc phục khủng hoảng  
toàn cầu của loài người, trước hết, phụ thuộc  
không hẳn vào khả năng tổ chức - công nghệ  
của nền văn minh nhân loại, mà chủ yếu là  
vào diện mạo tinh thần, đạo đức của bản thân  
con người. Và, dường như mọi cái đều phụ  
thuộc vào trình độ phát triển đạo đức của con  
người - trình độ mà con người ý thức được  
thực chất của mệnh lệnh sinh thái đó với tư  
cách một thành tố của hệ thống đạo đức chung  
- “mệnh lệnh tuyệt đối”, như I.Kant đã từng  
nói. Nếu lĩnh vực đạo đức trước kia chỉ bao  
quát những quan hệ ở bên trong hệ thống “xã  
hội loài người”, thì hiện nay, nó đã được mở  
rộng ra cả những quan hệ “xã hội loài người  
Điều nói trên đã trở thành tâm điểm trong  
công trình nghiên cứu của N.I.Moiseev như  
là một thử nghiệm thú vị nhằm phác họa lịch  
sử sinh quyển(1). N.I.Moiseev đặt niềm tin vào  
con người và ông hy vọng rằng, con người có  
khả năng né tránh được thảm họa. Theo ông,  
“để nhận thức sâu sắc hơn về tương lai của  
loài người, chúng ta cần phải chuyển từ những  
vấn đề sinh thái học và chính trị học sang vấn  
đề tiến hóa trong thế giới nội tâm của con  
người. Đây chính là chiếc chìa khóa để mở  
*
PGS. TS. Phó Hiệu trưởng, Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Bình Dương  
1
N.I.Moiseev. Vươn lên lý tính. Những bài giảng về thuyết tiến hóa phổ quát và những ứng dụng của nó. Moscow, 1993.  
63  
Taïp chí Kinh te - Ky thuat  
ra điều quan trọng nhất - bảo tồn loài Homo  
Sapiens trên hành tinh”(2). Điều đó thực sự là  
như vậy, bởi chúng ta đang phải trả lời cho  
một vấn đề nan giải là: xét về phương diện  
đạo đức, con người ở đầu thế kỷ XXI là gì,  
con người đó có khả năng nhận thức được sự  
bắt đầu của khủng hoảng toàn cầu và tính cấp  
bách của mệnh lệnh sinh thái ở chừng mực  
nào? Đến lượt mình, nhiệm vụ này lại đòi hỏi  
phải làm sáng tỏ bối cảnh đạo đức cụ thể với  
tư cách phương diện quan trọng bậc nhất của  
tồn tại người hiện đại. Nói cách khác, chúng  
ta cần phải xác định những nhân tố cản trở  
con người làm Người hay, nói chính xác hơn,  
cản trở con người tự hoàn thiện mình với tư  
cách Người, cũng như cản trở con người đánh  
giá những khả năng khắc phục các nhân tố ấy.  
Để giải quyết những vấn đề này, cần phải  
xây dựng một phương pháp thích hợp. Do việc  
khảo cứu thế giới đương đại và con người với  
tư cách một thực thể tinh thần - xã hội phức tạp  
được thực hiện trong thể thống nhất hữu cơ,  
nên chúng ta cần phải nhận thức được phức hệ  
toàn vẹn “tinh thần - văn hóa - văn minh”. Thế  
nhưng, chúng ta lại không thể nhận thức được  
phức hệ thống nhất này nhờ áp dụng phương  
pháp luận của khoa học cổ điển, - phương  
pháp luận quy quá trình nhận thức và cải biến  
thế giới về tác động đến thế giới từ phía chủ  
thể bằng cách đối lập nghiêm ngặt khách thể  
với chủ thể. Phương pháp mà chúng ta cần  
phải có là một phương pháp giả định thứ nhất:  
có tác động lẫn nhau giữa khách thể và chủ  
thể và, giả định thứ hai: chủ thể là một thực  
thể tinh thần. Với những giả định này, có thể  
coi bản chất xã hội của con người là một tạo  
phẩm của chính con người. Những tri thức có  
được về con người nhờ phân tích các dữ liệu  
kinh nghiệm tinh thần đã được khách quan hóa  
là bổ sung cần thiết cho các khoa học cổ điển.  
Những dữ liệu này, về thực chất, phản ánh một  
phương diện khác của tồn tại người - phương  
diện mà chúng ta không thể đạt được bằng tư  
duy duy lý thuần tuý, nhưng việc bỏ qua nó sẽ  
làm mất bản thân mục đích, nội dung của lịch  
sử - tinh thần xã hội.  
Con người sống ở thời đại nào cũng đều  
có thiên hướng phóng đại ý nghĩa của thời đại  
đó. Trên thực tế, họ đi đến thiên hướng đó một  
cách vô tình chứ không phải hữu ý. Chúng ta  
cũng đi đến thiên hướng ấy khi quan niệm  
thời hiện đại là kết quả của toàn bộ tiến trình  
phát triển lịch sử nhân loại. Đương nhiên, khi  
đó, chúng ta đã không nhìn nhận thời hiện đại  
bằng nhãn quan của các thế hệ tương lai, bởi  
chúng ta thường coi cách nhìn nhận của bản  
thân chúng ta đó là chuẩn xác.  
Mặc dù vậy, bên cạnh những nhân tố mà  
chúng ta đã biết tới, trong lịch sử nhân loại.  
vẫn có những nhân tố buộc chúng ta phải tách  
biệt thời đại thay thế cho thời Trung đại ở  
châu Âu và nhận được tên gọi là “modern”  
(thời Hiện đại) hay thời đại Công nghiệp, tức  
là giai đoạn đang đi đến hồi kết ở trước mắt  
chúng ta. Vấn đề là ở chỗ, đây chính là thời  
đại đầu tiên có đặc điểm mang tính chất quyết  
định là việc giải phóng con người khỏi thế  
giới quan tôn giáo từng thống trị, là việc từ bỏ  
chủ nghĩa thần là trung tâm (theocentrisme)  
để chuyển sang chủ nghĩa con người là trung  
tâm (anthropocentrisme) và kết quả tất yếu  
của nó là việc thế tục hóa (secularisation) xã  
hội. Khủng hoảng xã hội bắt đầu bộc lộ rõ ở  
thời đại này và đó chính là khủng hoảng của  
lối sống coi con người là trung tâm (vô thần  
theo nghĩa này). Đến lượt mình, chính khủng  
hoảng này đã quyết định bối cảnh đạo đức  
của con người hiện đại.  
2
N.I.Moiseev. Sự phát sinh loài người hiện đại và những bước ngoặt của nền văn minh. Phân tích chính sách sinh thái. “Những vấn đề  
triết học”, 1995, N%5, tr. 30.  
64  
Khủng hoảng của thời . . .  
Từ giữa thế kỷ XX, người ta đã bắt đầu  
nói tới khởi điểm của thời đại Hậu công  
nghiệp. Những thuật ngữ, như “thời đại cách  
mạng khoa học - kỹ thuật” hay “xã hội thông  
tin”, đã xuất hiện. Nhưng, nhìn chung, những  
đánh giá ngược lại - postmodern - vẫn chiếm  
ưu thế. Điều này chứng tỏ rằng, nội dung của  
thời hiện đại vẫn chưa được khảo cứu một  
cách ít nhiều thỏa đáng; rằng thời hiện đại  
cùng với tất cả mọi cách tân của mình vẫn là  
sự kế tục hợp lôgíc của lịch sử Cận hiện đại.  
Trên thực tế, nhiều lĩnh vực của đời sống xã  
hội Hiện đại đang chia tay với quá khứ theo  
những mức độ khác nhau. Chẳng hạn, nếu  
các lĩnh vực kinh tế, chính trị - xã hội biến đổi  
đã ít nhiều cho thấy sự xuất hiện của một chất  
lượng mới, thì quan niệm phi tôn giáo về thế  
giới vẫn đang chứng tỏ mức độ khủng hoảng  
sâu sắc của thời Cận hiện đại. Khủng hoảng  
này được thể hiện ra như thế nào?  
đại. Và K.Marx đã đưa ra tư tưởng về sự tha  
hóa của con người đối với bản chất xã hội  
của nó mà theo đó, con người đứng đối lập  
với lực lượng thù địch - kết quả hoạt động  
lao động của bản thân nó (tư bản). Nhà triết  
học người Đức, F.Nietzsche (1844-1900) đã  
nói một cách khinh miệt về sự “hèn hạ” trên  
phương diện tinh thần của con người hiện đại  
và kêu gọi khắc phục tình trạng này. Vào đầu  
thế kỷ XX, xã hội Công nghiệp hậu kỳ đã bị  
phê phán một cách toàn diện. Về sự phê phán  
này, chúng ta có thể kể đến sự phê phán của  
các nhà triết học lớn, như Ortega y Gasset,  
Nietzsche, Spengler, v.v..  
Chẳng hạn, Ortega y Gasset đã chỉ ra xu  
hướng man rợ hóa xã hội như là kết quả của  
quá trình “nổi dậy của đại chúng” và như là  
kết quả thống trị của con người đại chúng  
trong xã hội(3)  
.
Gvardini vạch ra sự đối lập giữa các kết  
quả hoạt động của con người hiện đại với  
những mục đích thực sự nhân văn của nó.  
Theo ông, nền văn minh nhân loại (cụ thể là  
quyền lực) đã “nổi loạn” chống lại con người  
và dẫn đến nền “văn hóa phi - văn hóa”(4).  
Berdyaev nhận thấy “sự bi đát” của toàn  
bộ thời Cận hiện đại là ở sự “chối bỏ Kitô  
giáo”. Với thời hiện đại, theo ông, điều quan  
ngại nhất là niềm tin thái quá vào kỹ thuật,  
tức quyền lực vô hạn đối với tự nhiên và con  
người từ phía các lực lượng xã hội vô danh  
tính, duy lý hóa một cách bất cẩn ý thức con  
người và do vậy, làm tiêu tan mục đích của  
tồn tại người. Ông cho rằng, đại bộ phận  
người phương Tây đã từng là những người đa  
thần giáo, họ được sinh ra từ nền một văn hóa  
thấm đượm tư duy Kitô giáo. Họ đi đến giai  
đoạn được gọi là “trưởng thành”, “độc lập”,  
song về thực chất, đã đánh mất quá khứ của  
Người ta cho rằng, khủng hoảng của  
thời Cận hiện đại đầu tiên xuất hiện ở cuối  
thời Phục hưng. Nhà triết học người Pháp,  
B.Pascal (1623-1662) đã đưa ra lời cảnh báo  
về các mối nguy hiểm của việc đề cao con  
người một cách quá mức. Muộn hơn, nhà  
triết học người Đức, I.Kant (1724-1804) đã  
chĩa mũi nhọn của chủ nghĩa phê phán của  
ông vào việc chống lại sự tự hoài nghi của  
lý tính. Vào thế kỷ XIX, nhà triết học người  
Đan Mạch, S.Kierkegaard (1813-1855) đã lên  
tiếng chống lại lôgíc học mang tính phi nhân  
cách hóa trong học thuyết Hegel. Còn nhà  
văn, nhà triết học người Nga, M.Dostoesky  
(1821-1882) đã đưa ra tư tưởng về mâu thuẫn  
của bản tính người, về những miền sâu bí ẩn  
của nhân cách. Tư tưởng này của ông được  
coi là thù địch sâu sắc với quan niệm thế tục  
về con người vốn đặc trưng cho thời Cận hiện  
3
4
H.Ortega y Gasset. Sự nổi dậy của đại chúng. London, 1995, tr. 55.  
R.Gvardini. Sự cáo chung của thời Cận đại. Maiz, 1990, tr. 18.  
65  
Taïp chí Kinh te - Ky thuat  
mình mà lại chưa đạt tới hiện tại, tức một nền  
văn hóa khác. Họ đánh mất cội nguồn Kitô  
giáo, song lại chưa sống một nếp sống mới  
theo Phúc âm. Do vậy, theo ông, điều lo ngại  
nhất là sự thống trị hoàn toàn của văn minh  
đối với văn hóa(5).  
Từ những quan niệm đó, người ta cho  
rằng, đặc trưng cho nền văn minh đang “nổi  
loạn” chống lại văn hóa là những hệ quả xã  
hội và tinh thần sau đây: khi bị chuyển hóa  
thành một thành tố của hệ thống tổ chức phức  
tạp, “con người đại chúng” tự thấy mình  
bất lực và cô độc. Con người đó hướng đến  
những giải pháp đơn giản và thái quá, đến  
bạo lực và “thói tôn thờ thần tượng”, khi mà  
những giá trị đích thực của nó (nhân văn) bị  
thay thế bằng những hiện tượng xã hội, như  
nhà nước, dân tộc, kỹ thuật và thậm chí là  
thần thoại (về chủng tộc, dòng họ, v.v.).  
Với tư cách là cái trực tiếp thù địch với  
bản nguyên tinh thần trong con người, “văn  
hóa đại chúng” đã khuôn mẫu hóa ý thức  
của con người đại chúng, khuôn mẫu hóa lối  
sống, những nhu cầu và lối ứng xử của con  
người này.  
Sorokin cho rằng, nền văn hóa duy cảm  
của thời đại Công nghiệp tất yếu phải bị diệt  
vong bởi chủ nghĩa tương đối về giá trị đang  
chuyển hóa thành chủ nghĩa hư vô(6).  
Fromm và Vycheslavsev lưu ý rằng, trong  
xã hội Công nghiệp hậu kỳ, con người đứng  
đối lập với một hệ thống tổ chức khổng lồ - nhà  
nước cùng với nền công nghiệp hiện đại mà,  
khi hoạt động vì những lợi ích riêng của mình,  
thường trở nên rất xa lạ đối với con người,  
thậm chí còn thù địch với con người và biến  
con người hoàn toàn thành khách thể, - “vật  
hóa” con người. Theo Fromm, “con người bị  
xâm chiếm bởi tâm trạng bất an và mong muốn  
cống hiến toàn bộ tự do của mình cho mọi kẻ  
độc tài đủ loại; hay con người đánh mất tự do,  
biến mình thành cái đinh vít của cỗ máy: không  
phải là con người tự do, mà là người máy được  
nuôi dưỡng tốt, được ăn mặc đẹp”(7).  
Theo Ortega y Gasset, quá trình “chuyên  
môn hóa một cách thái quá” đã diễn ra: người  
lao động buộc phải trở thành chuyên gia  
trong một lĩnh vực rất hẹp, xu hướng này tất  
yếu dẫn đến sự hạn chế về trình độ phát triển  
trí tuệ và tinh thần của con người, đồng thời  
làm tăng sự phụ thuộc của họ vào những tổ  
chức phức tạp. Xu hướng này lại càng tăng  
lên trong thời đại mà quyền thống trị thuộc về  
các lực lượng sản xuất vô hình. Nét đặc trưng  
của khoa học hiện đại là hiểu biết ngày một  
nhiều hơn về những cái ngày một nhỏ hơn. Từ  
đó, theo Sorrokin, con người thường hướng  
đến tri thức kinh nghiệm, phản lý thuyết - thứ  
chủ nghĩa thực chứng đê tiện nhất(9).  
Tillich nhận xét rằng, “những bảo đảm  
được đem lại nhờ các cơ chế giám sát kỹ  
thuật một cách có hiệu quả đối với tự nhiên,  
những phương pháp giám sát tâm lý đối với  
cá nhân và việc giám sát phát triển nhanh về  
mặt tổ chức đối với xã hội, tất cả những bảo  
đảm như vậy đều phải trả bằng một giá đắt:  
bản thân con người mà tất cả những bảo đảm  
đó được tạo ra như là những phương tiện lại  
trở thành phương tiện bổ trợ cho những bảo  
đảm ấy”(8).  
Tiến bộ khoa học - kỹ thuật đem lại một  
sức mạnh chưa từng thấy cho những con  
5
6
7
N.Berdyaev. Trạng thái tinh thần của thế giới hiện đại. Moscow,1994, tr. 485. (Trích theo: J.-L.Segundo. Berdiaeff. Cambrigie, 2001).  
P.Sorokin. Khủng hoảng của thời đại chúng ta. Con người, văn minh, xã hội. N.Y., 1959, tr. 427  
E.Fromm. Chạy trốn tự do. Basel, 1992, tr. 9. Xem thêm: E.Fromm. Có hay tồn tại? London, 1990; B.P.Vycheslavsev. Khủng hoảng của  
văn hóa công nghiệp. N.Y., 1953, tr. 21-28.  
8
9
P.Tillich. Dũng cảm tồn tại. Cambrigie, 1994, tr. 132.  
P.Sorokin. Khủng hoảng của thời đại chúng ta. N.Y., 1959, tr. 485.  
66  
Khủng hoảng của thời . . .  
người mà, về thực chất, chưa trưởng thành  
về phương diện đạo đức. Đó là một hiểm họa  
đối với sự sống trên trái Đất (vũ khí huỷ diệt  
hàng loạt, nạn ô nhiễm môi trường). Cái gọi  
là cách mạng thông tin đưa tới chỗ “con người  
tự nhận thấy mình ngày càng trở nên hèn mọn  
hơn, khi họ phải đối mặt không những với  
một hệ thống những xí nghiệp khổng lồ, mà  
với cả một thế giới vi tính tự quản, suy nghĩ  
nhanh hơn và thường đúng hơn con người”(10).  
Như vậy, có thể khẳng định rằng, những  
hậu quả của cuộc cách mạng công nghệ là hết  
sức đa dạng. Sức mạnh kỹ thuật có thể mở ra  
những khả năng to lớn cho phát triển tinh  
thần theo các phương hướng khác nhau  
nhất. Song, “kỹ thuật tự thân nó không  
những không tự động kéo theo tiến bộ  
trong lĩnh vực văn hóa và tinh thần - đạo  
đức, mà còn trở thành nhân tố làm phức  
tạp hơn nữa bối cảnh tinh thần vốn đang  
ngày càng trở nên phong phú và rối rắm  
hơn rất nhiều so với trước kia”(11). Niềm  
tin mù quáng vào sức mạnh toàn năng của  
kỹ thuật có thể làm cho con người đánh mất  
những giá trị nhân văn, như năng lực thấu  
hiểu và đồng cảm với người thân, quan niệm  
về cái thiện và cái ác. Điều này có thể dẫn đến  
sự phi nhân văn hóa các quan hệ xã hội và  
quan hệ giữa các cá nhân với nhau.  
con người khỏi áp bức xã hội chưa hẳn đã  
giải quyết được vấn đề tự do nội tâm của con  
người cùng với toàn bộ dung lượng của nó.  
Sau khi được giải phóng khỏi xiềng xích của  
chế độ áp bức, “con người nhỏ bé” lại bộc  
lộ khát vọng được giải phóng về mặt tinh  
thần ngày một lớn hơn. Khi đó, các mặt đen  
tối của bản tính người bắt đầu được xem xét  
không hẳn từ góc độ nhận thức, mà chủ yếu  
là từ góc độ hiệu quả tẩy rửa, làm trong sạch  
bản tính ấy. Việc im lặng và che đậy sẽ sinh ra  
tính hiếu chiến. Ngược lại, việc lôi con người  
đen tối ra ánh sáng sẽ có khả năng loại bỏ  
được sự căng thẳng nội tâm. Thực tế này gắn  
liền với quá trình phi thần thánh hoá văn hóa.  
Nhận định này cần được làm sáng tỏ. Với  
những câu hỏi, như “con người hiện đại là  
gì?”, “cái gì đang chờ đợi nó?”, trước hết cần  
phải thừa nhận rằng, trả lời cho các câu hỏi  
như vậy không hề đơn giản. Sự nan giải ở  
đây không chỉ vì dự báo tương lai bao giờ  
cũng khó, mà còn vì tính hợp lý của bản thân  
các câu hỏi này luôn dẫn đến hoài nghi. Theo  
Chaadaev, khi một nhà triết học nói ra danh  
từ “con người”, thì không phải bao giờ ông  
ta cũng hiểu mình định nói gì(12). Hoài nghi  
đó của Chaadaev rất đáng phải suy ngẫm.  
Tất nhiên, nếu cho rằng, con người hoàn toàn  
thuộc về thế giới xã hội, thì có thể hạn chế số  
phận của họ một cách tuyệt đối ở bản thân  
tính xã hội này. Khi đó, theo F.Fukuyama,  
thậm chí còn có thể nói đến “sự cáo chung  
của lịch sử”(13).  
Đánh giá chung về thời đại Công nghiệp,  
chúng ta dễ dàng nhận thấy xã hội hiện đại  
đang làm nảy sinh các lực lượng thù địch  
với bản thân nhân cách con người. Do vậy,  
hiện nay, bên cạnh nhiệm vụ giải phóng con  
người khỏi sự áp bức bên ngoài, thực tiễn xã  
hội hiện đại còn đặt ra một cách gay gắt vấn  
đề tự do nội tâm của con người. Giải phóng  
Theo quan điểm nhân học triết học, những  
quan niệm như vậy là rất hời hợt. Thực ra,  
sau hơn hai thế kỷ tìm kiếm câu trả lời cho  
câu hỏi “con người là gì?”, tư tưởng triết học  
10 E.Fromm. Chạy trốn tự do. Basel, 1992, tr. 10.  
11 Đỗ Minh Hợp. Diện mạo triết học phương Tõy hiện đại. Nxb. Hà Nội, HN., 2006, tr. 28.  
12 P.Ya.Chaadaev. Toàn tập, t.2. London, 1991, tr. 468.  
13 F.Fukuyama. Sự cáo chung của lịch sử? N.Y., 1990, tr. 28.  
67  
Taïp chí Kinh te - Ky thuat  
phương Tây, mặc dù mắc phải những hạn chế  
mang tính thực chứng chủ nghĩa, song vẫn  
luôn giữ quan điểm cho rằng, không thể quy  
con người chỉ về thế giới xã hội. Nếu nhìn  
nhận mục đích sống của con người chỉ là khát  
vọng được giải phóng về phương diện xã hội,  
thì tư tưởng về các cội nguồn nào đó của  
lịch sử sẽ trở nên vô nghĩa. Không nên hiểu  
số phận của con người chỉ là số phận mang  
bản tính xã hội (bản thân nó cũng cần phải  
được nghiên cứu một cách sâu sắc hơn nữa).  
Không thể hình dung nổi tương lai của nhân  
loại sẽ ra sao nếu không tính đến số phận của  
con người với tư cách một thực thể tinh thần,  
một nhân cách. Mục đích và triển vọng tồn  
tại trong xã hội hiện đại như một thực thể tinh  
thần của con người là gì?  
mình, lại bộc lộ ra thông qua những quy tắc  
đạo đức vốn có của con người. Khi đó, mọi  
nỗ lực tinh thần đều thể hiện ra là bộ phận  
cấu thành quan trọng nhất của hoạt động tinh  
thần. Do vậy, một vấn đề triết học quan trọng  
được đặt ra ở đây - vấn đề biện minh cho chủ  
nghĩa duy lý - đã bị bỏ qua. Tuy nhiên, chúng  
ta cần phải coi những nỗ lực tinh thần đó là  
điều kiện cần thiết cho đời sống văn hóa, là sự  
khách quan hóa đời sống của con người. Với  
quan điểm này, Mamardashvili cho rằng, “ý  
thức” (hay ý thức tôn giáo) là cái không thể  
quy về hoạt động lý trí; nó là cái biểu thị lĩnh  
vực không phân chia được, bao hàm mọi biểu  
hiện của con người như một thực thể thuộc về  
hai thế giới. Rằng, thực hiện hành vi ý thức  
có nghĩa là thực hiện nỗ lực có bản chất trí  
tuệ - đạo đức thống nhất. Như vậy, có thể nói,  
thuật ngữ “ý thức” đã được Mamardashvili  
sử dụng theo nghĩa “tinh thần”. Với ông,  
không có nỗ lực thì cũng không có con người  
với tư cách một nhân cách; trở thành con  
người cũng có nghĩa là trở thành thực thể  
đạo đức, là sống bằng nỗ lực thường xuyên  
của ý thức (tinh thần). Chính với nghĩa đó  
mà Mamardashvili đã nói rằng, văn hóa chỉ  
là khả năng của văn hóa cao cả hơn.  
Để trả lời câu hỏi này, trước hết chúng ta  
cần phải quan tâm đến việc lựa chọn một giải  
pháp nào đó để sao cho vấn đề này không thể  
được luận chứng một cách hoàn toàn duy lý.  
Theo Leont’ev, đây là công việc lựa chọn cuối  
cùng, đòi hỏi phải có tự do(14). Phương án lựa  
chọn phổ biến ở đây là lựa chọn bắt nguồn từ  
quan điểm nhân học của I.Kant - quan điểm  
chủ yếu dựa trên quan niệm Kitô giáo về con  
người. Đó là quan niệm cho rằng, con người  
đồng thời thuộc về hai thế giới - thế giới tự  
nhiên và thế giới siêu nhiên. Mamardashvili  
gọi thế giới siêu nhiên này là “đất nước vô  
hình”, là “tổ quốc bí ẩn vô hình của bất kỳ  
thực thể có ý thức nào”. Theo ông, do con  
người có ý thức, nên họ đều có tổ quốc thứ  
hai và, với tư cách thực thể tinh thần, với tư  
cách con người, họ là những công dân của  
tổ quốc thứ hai đó”(15). Bản chất siêu nhiên  
của con người thể hiện trong tinh thần của nó,  
trước hết là trong ý thức tôn giáo mà, đến lượt  
Ở đây, chúng ta cần phải hiểu quy tắc đạo  
đức - phạm trù đạo đức học cơ bản của I.Kant  
- theo nghĩa, ngoài lương tâm và trí tuệ, còn  
phải khích lệ cái thiện, hay tác động trực tiếp  
và tích cực của bản nguyên thiện đến chúng  
ta và ở trong chúng ta(16). Tư tưởng về năng  
lực bẩm sinh của con người trong việc khu  
biệt giữa cái thiện và cái ác, về sự cần thiết  
phải tạo ra cái thiện để con người trở thành  
Người, là tư tưởng xuất phát từ quan niệm  
Kitô giáo về cá nhân như một chủ thể độc  
14 N.Berdyaev. Vương quốc tinh thần và vương quốc nô lệ. N.Y., 1951, tr. 393.  
15 M.Mamardashvili. Tư tưởng bị cấm đoán. Cambrigie, 1992, tr. 105.  
16 V.Soloviev. Mục đích của tình yêu. London, 1991, tr. 393.  
68  
Khủng hoảng của thời . . .  
lập có giá trị tự thân, có năng lực tiếp cận  
với cái thần thánh nhờ ý chí tự do của nó. Do  
vậy, con đường chân chính đối với mỗi con  
người chỉ có thể là con đường nỗ lực không  
mệt mỏi, tự sáng tạo ra bản thân mình như  
một thực thể tương tự.  
2. Kết luận  
Có thể xem, đây cũng là mục đích mà  
tác giả bài viết này muốn đặt ra như một vấn  
đề để độc giả cùng suy ngẫm và tìm ra con  
đường giải phóng con người hiện đại khỏi  
những cảm dỗ, những khát vọng tầm thường  
luôn ẩn náu trong mỗi người chúng ta. Con  
“quỷ sa tăng” này sống ở trong miền sâu  
tâm thần mỗi con người chúng ta, luôn sẵn  
sàng xuất đầu lộ diện, cám dỗ và chi phối  
hành vi của chúng ta khi chúng ta “thức mà  
không tỉnh”, khi chúng ta để cho những giá  
trị phàm tục “danh, lợi, tình, quyền” ám ảnh  
và ngự trị trong tâm thần mình, tạo ra những  
dục vọng thấp hèn “tham, sân, si” nơi chúng  
ta, đưa chúng ta đến lầm tưởng về “cái Ngã”  
đích thực và bị sa vào “vô minh”, đánh mất  
bản tính tinh thần đích thực Người của ta -  
Atman. Vì vậy đã đến lúc chúng ta phải cùng  
nhau “ngộ” một sự thực hiển nhiên nhưng  
hay bị chúng ta lãng quên là: “Sự sống quý  
giá biết nhường nào mà loài người lại phung  
phí nó một cách vô thức! Biết bao thánh  
hiền đã dạy dỗ con người về lẽ sống, về  
những điều quý giá nhất đối với sự sống của  
con người, về hạnh phúc, thế mà loài người  
dường như vẫn chưa ý thức được sự thật  
đơn giản ấy! Nhìn chung, trong loài người  
có vô số những kẻ hèn hạ, những kẻ ích kỷ,  
chỉ hơn thú vật ở một phương diện duy nhất  
là thói ích kỷ của chúng được cân nhắc kỹ  
hơn! Loài người là những đứa trẻ vĩnh viễn,  
là những kẻ phải nỗ lực làm việc mà không  
có thu hoạch, không bao giờ được nhìn thấy  
kết quả của những gì mình gieo trồng! Đã  
đến lúc cần phải nhắc lại tư tưởng của các  
thánh nhân để cảnh tỉnh loài người! Và chỉ  
có con người mới có nhu cầu tinh thần và  
sống chết vì nhu cầu ấy. Không một con thú  
nào lại có nhu cầu tinh thần”. Chân lý này  
Mức độ mà con người ý thức được sự cần  
thiết phải nỗ lực như vậy, phải hoàn thiện đạo  
đức cũng như các chuẩn mực đạo đức tương  
ứng mà họ có nghĩa vụ tuân thủ, - đó chính là  
cái chứng tỏ trình độ phát triển tinh thần của  
con người. Khi đó, ở mỗi thời điểm cụ thể, tuỳ  
thuộc vào mức độ nỗ lực của mình, con người  
trở nên khác nhau một cách đáng kể. Người  
này nỗ lực ít hơn, người khác nỗ lực nhiều  
hơn, nhưng đây không phải là vấn đề thuộc  
về dân chủ, bởi dân chủ đòi hỏi bình đẳng về  
những điều kiện xuất phát. Dân chủ không  
có nghĩa là chia đều, là cào bằng. Người ta  
không thể chia đều những cái không có. Con  
người phải tự mình tìm kiếm những cái mà  
mình cần có bằng nỗ lực của chính mình. Và,  
với nghĩa đó, mỗi người đều có cuộc sống  
riêng ở một thời điểm nào đó. Thực tiễn cho  
thấy người ta chỉ có thể nói đến trình độ phát  
triển tinh thần cao đối với những cá thể nào  
đó, còn số đông được phân bổ không đồng  
đều giữa hai ranh giới tinh thần là văn minh  
và man rợ. Tư tưởng về “giới tinh hoa tinh  
thần” chỉ là một sự trừu tượng hóa có lợi cho  
những suy luận tư biện. Việc phân chia con  
người thành giới tinh hoa và đại chúng chỉ  
mang tính tương đối. Cốt lõi của vấn đề là  
tự ý thức của mỗi con người về tự do như  
một giá trị tinh thần tối cao của mình, là  
việc hiện thực hóa nó và chịu trách nhiệm  
về nó dựa trên những giá trị nhân văn đích  
thực mà nhân loại đã tích luỹ được trong  
suốt chiều dài lịch sử tồn tại và phát triển  
của mình.  
69  
Taïp chí Kinh te - Ky thuat  
cũng là lời kết tác giả bài viết muốn gửi gắm  
tới độc giả như lời chia sẻ tri ân để chúng ta  
cùng nhau tỉnh dậy khỏi cơn mê sảng kéo  
dài bấy lâu nay, để chúng ta cùng tìm kiếm  
và tạo ra hành trang cho mình trước khi tiếp  
bước vào tương lai với tư cách loài Người  
mang trong mình “tính thánh thiện”, “bản  
Ngã tinh thần”. Triết học cùng với các lĩnh  
vực tri thức nhân văn khác cần phải đóng vai  
trò và có tiếng nói quyết định ở đây.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. N.I.Moiseev. Vươn lên lý tính. Bài giả về thuyết tiến hoá phổ quát và những ứng dụng của nó.  
Moscow,1993.  
[2]. H.Ortega y Gasset. Sự nổi dậy của đại chúng. London, 1995.  
[3]. R.Gvardini. Sự cáo chung của thời Cận đại. Maiz, 1990.  
[4]. N.Berdyaev. Trạng thái tinh thần của thế giới hiện đại. Moscow,1994..  
[5]. P.Sorokin. Khủng hoảng của thời đại chúng ta. - Con người, văn minh, xã hội. N.Y., 1959.  
[6]. E.Fromm. Chạy trốn tự do. Basel, 1992.  
[7]. B.P.Vycheslavsev. Khủng hoảng của văn hóa công nghiệp. N.Y., 1953, tr. 21-28.  
[8]. P.Tillich. Dũng cảm tồn tại. Cambrigie, 1994.  
[9]. Đỗ Minh Hợp. Diện mạo triết học phương Tây hiện đại. Nxb. Hà Nội, HN., 2006.  
[10]. P.Ya.Chaadaev. Toàn tập, t.2. London, 1991.  
[11]. F.Fukuyama. Sự cáo chung của lịch sử? N.Y., 1990.  
[12]. N.Berdyaev. Vương quốc tinh thần và vương quốc nô lệ. N.Y., 1951.  
[13]. M.Mamardashvili. Tư tưởng bị cấm đoán. Cambrigie, 1992.  
[14]. V.Soloviev. Mục đích của tình yêu. London, 1991  
70  
pdf 8 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 17400 Free
Bạn đang xem tài liệu "Khủng hoảng của thời hiện đại - Vấn đề về con người và của con người", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhung_hoang_cua_thoi_hien_dai_van_de_ve_con_nguoi_va_cua_con.pdf