Tài liệu Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Ứớc muốn thâm căn, công nghệ tiên tiến

SỰ ƯA THÍCH CON TRAI Ở VIỆT NAM:  
ƯỚC MUỐN THÂM CĂN,  
CÔNG NGHỆ TIÊN TIẾN  
Báo cáo nghiên cứu định tính nhằm tìm hiểu sâu hơn  
về tình trạng tăng tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam  
Tháng 9 / 2011
Bản quyền thuộc: Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc tại Việt Nam  
Ảnh minh họa: Liên Hợp Quốc tại Việt Nam/Đoàn Bảo Châu - Sơn Đào  
và các ảnh do Luck House Graphics cung cấp  
Mục lục  
LỜI NÓI ĐẦU................................................................................................................................................. 5  
CÁC CHỮ VIẾT TẮT ...................................................................................................................................... 6  
TÓM TẮT ......................................................................................................................................................... 7  
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU VỀ CUỘC NGHIÊN CỨU............................................................................13  
Bối cảnh..................................................................................................................................................................................... 15  
Mục đích nghiên cứu........................................................................................................................................................ 16  
CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU......................................................................................17  
Địa bàn nghiên cứu ........................................................................................................................................................... 19  
Đối tượng nghiên cứu...................................................................................................................................................... 19  
Thu thập thông tin và số liệu....................................................................................................................................... 19  
Xử lý và phân tích số liệu................................................................................................................................................ 20  
CHƯƠNG 3. VÌ SAO CON TRAI ĐƯỢC KHAO KHÁT HƠN?............................................................21  
Khía cạnh văn hóa của sự ưa thích con trai........................................................................................................ 23  
Những khía cạnh kinh tế - xã hội của sự ưa thích con trai........................................................................ 27  
Những điều người ta nói: Áp lực của gia đình và chuẩn mực của cộng đồng............................ 31  
Tóm lại: Vì sao con trai được khao khát hơn?..................................................................................................... 38  
CHƯƠNG 4. CÓ CON TRAI BẰNG CÁCH NÀO?................................................................................39  
Sinh con trai: khoa học của sinh sản có lựa chọn........................................................................................... 41  
Tóm lại: Làm thế nào để có con trai? ...................................................................................................................... 50  
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ.........................................................................................51  
Kết luận...................................................................................................................................................................................... 53  
Khuyến nghị ........................................................................................................................................................................... 54  
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..............................................................................................................................58  
3
Sự ưa thích con trai ở Việt Nam:  
Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến  
Lời nói đầu  
rong vài thập kỷ trở lại đây, mất cân bằng giới tính khi sinh đã ảnh hưởng đến một số  
nước ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Thời gian gần đây Việt Nam bắt đầu có sự  
T
gia tăng bất thường của tỷ số giới tính khi sinh (TSGTKS). Cho đến năm 2000, TSGTKS  
vẫn còn ở mức bình thường là 106,2 bé trai được sinh ra trên 100 bé gái nhưng theo kết quả  
cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009 tỷ số này đã tăng lên nhanh chóng  
đến 110,6. Ở cấp độ quốc tế cũng như ở Việt Nam, sự mất cân bằng của TSGTKS được coi  
như chỉ báo nhân khẩu học cho thấy sự bất bình đẳng giới vì nó phản ánh tình trạng phân  
biệt đối xử với phụ nữ và trẻ em gái ngay từ trước khi họ được sinh ra.  
Mức độ và tốc độ gia tăng đáng báo động của TSGTKS mới chỉ thu hút được sự chú ý của  
các nhà hoạch định chính sách trong những năm gần đây. Vào năm 2006 và 2009, một số tài  
liệu được công bố về kết quả phân tích số liệu của các cuộc điều tra biến động Dân số hàng  
năm và số liệu thống kê về các ca sinh từ tại bệnh viện năm 2008 đã đưa ra bằng chứng định  
lượng đầu tiên về sự xuất hiện lên của hiện tượng nhân khẩu học này. Theo đó, sự gia tăng  
TSGTKS được cho là bắt đầu vào khoảng năm 2004 và tiếp tục tăng lên với tốc độ chưa từng  
có với 1 điểm phần trăm mỗi năm. Những phát hiện này sau đó đã được khẳng định bởi  
một phân tích sâu hơn và toàn diện hơn từ số liệu Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam  
năm 2009, cung cấp một bức tranh chi tiết về quá trình tiến triển của TSGTKS theo thời gian,  
những khác biệt về mặt địa lý của tỷ số này theo vùng và cấp tỉnh, cũng như các đặc điểm  
kinh tế xã hội của hộ gia đình có TSGTKS cao.  
Mặc dù những phân tích định lượng đã cung cấp những thông tin có giá trị về xu hướng và  
đặc điểm của tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam, nhiều câu hỏi về các yếu  
tố văn hóa và xã hội tác động đến TSGTKS vẫn chưa được trả lời. Để xác định những khoảng  
trống trong kiến thức và hiểu biết về vấn đề này, đầu năm 2010 UNFPA đã tổ chức thực hiện  
một phân tích tổng quan các tài liệu về TSGTKS ở khu vực châu Á với trọng tâm là Việt Nam.  
Nghiên cứu này đã thu thập và phân tích hầu hết các tài liệu nghiên cứu, luật pháp và chính  
sách về TSGTKS ở Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc và Việt Nam và xác định những khoảng  
trống kiến thức đang tồn tại. Đó chính là cơ sở cho việc thiết kế cuộc nghiên cứu mà kết quả  
được trình bày trong báo cáo này.  
Cuộc nghiên cứu định tính này được thực hiện trong vòng 3 tháng từ tháng Tám đến tháng  
Mười năm 2010 tại bốn tỉnh/thành phố của Việt Nam bao gồm Hà Nội, Hưng Yên (thuộc  
vùng Đồng bằng Sông Hồng), Quảng Ngãi (thuộc khu vực bắc Trung bộ và Duyên hải miền  
Trung) và Cần Thơ (thuộc Đồng bằng sông Cửu Long). Nghiên cứu đã chứng minh tầm  
quan trọng của chế độ thân tộc phụ hệ và mô hình cư trú bên nội ở Việt Nam như cội nguồn  
sâu xa của tâm lý ưa thích con trai, thôi thúc nhu cầu phải có con trai để nối dõi tông đường.  
Thêm vào đó, nghiên cứu đã xác định vai trò quan trọng của việc tiếp cận ngày càng dễ  
dàng đến công nghệ lựa chọn giới tính tạo điều kiện cho nhiều cặp vợ chồng đạt được ước  
nguyện sinh con trai. Dự thảo báo cáo kết quả và khuyến nghị về các giải pháp đối với các  
yếu tố văn hóa, xã hội và công nghệ tác động đến TSGTKS đã được thảo luận trong cuộc  
hội thảo tham vấn do Chính phủ và các Tổ chức Liên Hợp Quốc phối hợp tổ chức trong hai  
ngày 3 và 4 tháng 11 năm 2010 với sự tham gia của các nhà hoạch định chính sách và các  
đại diện từ các cơ quan chính phủ, các tổ chức xã hội dân sự và các cơ quan Liên Hợp Quốc.  
5
Sự ưa thích con trai ở Việt Nam:  
Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến  
UNFPA xin cảm ơn Tiến sĩ Khuất Thu Hồng, Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS) và Tiến sĩ Tine  
Gammeltoft từ khoa Nhân chủng học, trường Đại học Tổng hợp Copenhagen về sự đóng góp của họ  
cho báo cáo này. Chúng tôi muốn đặc biệt cảm ơn Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình về những  
hỗ trợ cho cuộc nghiên cứu và về việc đồng tổ chức hội thảo tham vấn nói trên, tạo điều kiện cho thảo  
luận giữa chính phủ, Liên Hợp Quốc và các tổ chức xã hội dân sự nhằm hoàn chỉnh các khuyến nghị  
trình bày trong báo cáo này. Lời cảm ơn cũng xin được gửi tới các cán bộ của UNFPA vì những cố gắng  
và đóng góp quý báu của họ trong quá trình thực hiện nghiên cứu và chuẩn bị báo cáo này.  
UNFPA mong muốn giới thiệu tài liệu có giá trị này đến các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý,  
các nhà nghiên cứu và những người quan tâm đến các vấn đề dân số và giới ở Việt Nam. Những bằng  
chứng được trình bày trong tài liệu này được đưa ra kịp thời vào thời điểm mà Việt Nam đang xây dựng  
một số chính sách và văn bản pháp lý cũng như các chương trình can thiệp để giải quyết vấn đề giới  
có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong nhiều năm tới đây.  
Bruce Campbell  
Trưởng Đại diện Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc tại Việt Nam  
CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
CEDAW  
GOPFP  
GSO  
Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ  
Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình  
Tổng cục Thống kê  
ICPD  
Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển  
Tỷ số giới tính khi sinh  
TSGTKS  
UNFPA  
Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc  
6
Sự ưa thích con trai ở Việt Nam:  
Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến  
Tóm tắt  
ình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh đã tác động đến một số nước trong khu vực châu Á -  
Thái Bình Dương như Trung Quốc, Hàn Quốc và Ấn Độ. Sự gia tăng bất thường của tỷ số giới tính  
T
khi sinh (TSGTKS) cũng được quan sát thấy ở Việt Nam trong mấy năm gần đây. Cho đến năm  
2000, TSGTKS vẫn còn ở mức bình thường và được ước tính vào khoảng 106,2 nhưng con số này đã  
tăng lên 110,6 theo kết quả của cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009. Dự báo rằng  
nếu mất cân bằng giới tính tiếp tục tăng sau năm 2010, thì sau hai thập kỷ nữa, Việt Nam sẽ phải đối  
mặt với nhiều vấn đề nhân khẩu học, kinh tế, chính trị và xã hội như tình trạng mất ổn định trong thị  
trường hôn nhân do thừa nam thiếu nữ, gia tăng áp lực buộc phụ nữ phải kết hôn sớm, tăng nhu cầu  
về mại dâm và sự lan tràn của các đường dây buôn bán phụ nữ, tăng nguy cơ bạo lực giới. Thực hành  
lựa chọn giới tính còn có thể mang lại những tác động tiêu cực đối với sức khỏe tâm thần, sức khỏe  
sinh sản/tình dục và quyền của phụ nữ. Mất cân bằng giới tính khi sinh phản ánh và tiếp tục củng cố  
sự bất bình đẳng giới trong xã hội.  
Các nghiên cứu trong khu vực đã chỉ ra một loạt các yếu tố khác nhau tác động đến sự gia tăng của  
TSGTKS như tâm lý ưa thích con trai (các yếu tố cầu), khả năng tiếp cận và chi trả các dịch vụ công nghệ  
lựa chọn giới tính (các yếu tố cung), và tác động nhất định của sự giảm sinh dẫn tới việc các gia đình  
mong muốn có quy mô gia đình nhỏ nhưng phải có con trai. Mặc dù cả ba yếu tố nói trên cần phải  
được phân tích một cách độc lập với nhau nhưng khi phối hợp lại chúng đã tạo ra một bối cảnh đặc  
thù dẫn đến gia tăng TSGTKS. Bối cảnh ở Việt Nam hiện nay đang hội đủ cả ba yếu tố đó: tâm lý ưa thích  
con trai, mức sinh giảm nhanh chóng và sự sẵn có các dịch vụ công nghệ lựa chọn giới tính tiên tiến.  
Chính phủ Việt Nam đã có nhiều nỗ lực để thúc đẩy bình đẳng giới và bảo vệ quyền con người thông  
qua cam kết thực hiện các sáng kiến quốc tế và ban hành các văn bản pháp luật và chính sách về bình  
đẳng giới. Gần đây, các quy định nghiêm cấm các hành vi xác định giới tính và nạo phá thai lựa chọn  
giới tính đã được ban hành. Với sự hỗ trợ của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA), các hoạt động nhằm  
nâng cao nhận thức về vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh đã được triển khai thực hiện. Đồng thời,  
việc thu thập và phân tích các số liệu nhân khẩu học về hiện trạng TSGTKS cũng được nỗ lực tiến hành.  
Nghiên cứu định tính này nhằm bổ sung những kiến thức còn thiếu về các xu hướng của TSGTKS  
thông qua việc tìm hiểu về các yếu tố văn hóa, xã hội và thị trường đang tác động đến TSGTKS.  
Mục đích chung của cuộc nghiên cứu là cung cấp các bằng chứng cho thảo luận về chính sách, xây  
dựng điều chỉnh các can thiệp và chính sách hiện hành về tâm lý ưa thích con trai và mất cân bằng  
TSGTKS ở Việt Nam. Cụ thể, nghiên cứu này nhằm trả lời những câu hỏi sau đây: i) Các yếu tố văn hóa  
và xã hội chủ yếu của tâm lý ưa thích con trai ở Việt Nam là gì? ii) Những ai tham gia vào lựa chọn giới  
tính và quá trình lựa chọn giới tính đã diễn ra như thế nào? iii) Những công nghệ nào được sử dụng để  
lựa chọn giới tính và chúng được kiểm soát ra sao? và iv) Các chính sách của nhà nước về cấm lựa chọn  
giới tính đã được thực hiện như thế nào trong thực tế?  
Cuộc nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn từ tháng 7 đến tháng 10 năm 2010 tại Hà Nội, Hưng  
Yên (vùng Đồng bằng sông Hồng), Quảng Ngãi (vùng Bắc Trung bộ và Duyên Hải miền Trung) và Cần  
Thơ (vùng Đồng bằng sống Cửu Long). Theo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, bốn  
địa phương này đều được xác định là có tình trạng gia tăng TSGTKS, nhưng ở mức độ khác nhau. Các  
phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm đã được thực hiện cả ở cấp tỉnh/thành phố và ở cộng đồng. Tổng  
số 248 người đã được phỏng vấn hoặc tham gia thảo luận nhóm, bao gồm 48 cán bộ lãnh đạo quản lý  
từ cấp tỉnh đến cộng đồng; 48 phụ nữ và 47 nam giới trong độ tuổi sinh đẻ có từ 1 đến 4 con với đứa  
con cuối cùng sinh trong khoảng từ năm 2006 đến 2009, trong đó 48 người chưa có con trai; 28 ông  
bà nội trong đó 16 người chưa có cháu trai; 32 bác sĩ và y tá sản làm việc trong các bệnh viện nhà nước  
hoặc cơ sở y tế tư nhân và 34 khách hàng đến khám thai tại các cơ sở đó. Các cuộc phỏng vấn và thảo  
luận nhóm đã được ghi âm và chuyển thành văn bản sau đó được xử lý trên phần mềm NVIVO trước  
khi được phân tích.  
7
Sự ưa thích con trai ở Việt Nam:  
Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến  
Nghiên cứu này cũng đã phát hiện ra rằng nhiều  
cặp vợ chồng đã tìm đến khoa học và công nghệ  
để có được đứa con với giới tính như mong muốn,  
trong đó có cả siêu âm để xác định giới tính của  
thai nhi và nạo thai để loại bỏ những thai gái  
không mong muốn. Hỗ trợ những người khao  
khát con trai là một bộ phận dịch vụ y tế đang  
hướng đến lợi nhuận, và việc“sinh đẻ có chọn lọc”  
đó được chấp nhận rộng rãi và thông cảm bởi cả  
người dân và cán bộ tham gia vào nghiên cứu này.  
Khả năng tiếp cận đến công nghệ đã tạo điều kiện  
cho mọi người “lựa chọn” giới tính của con cái, và  
vì thế củng cố quan niệm cho rằng cơ cấu gia đình  
có thể và nên thực hiện theo kế hoạch và có “lựa  
chọn.”Trong một bối cảnh xã hội nơi mà hệ thống  
thân tộc vẫn đề cao nam giới hơn phụ nữ, sự tiếp  
cận dễ dàng đến các công nghệ mới như siêu âm  
sản khoa có thể sẽ làm gia tăng áp lực buộc mọi  
người phải sinh bằng được con trai, và do vậy càng  
làm tăng sự ưa thích con trai.  
KẾT QUẢ  
Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng tâm lý ưa thích  
con trai ở Việt Nam bắt nguồn từ hệ thống thân  
tộc phụ hệ và mô hình cư trú bên nội, tạo ra áp  
lực buộc các gia đình phải có ít nhất một con  
trai1. Chuẩn mực gia đình hai con đã được các  
gia đình chấp nhận: ngày nay, hầu hết các cặp vợ  
chồng đều chỉ muốn có hai con và trong đó phải  
có ít nhất một con trai. Mọi người cho rằng con  
trai là rất quan trọng đối với các gia đình vì con  
trai tiếp nối dòng dõi; thờ cúng tổ tiên và chăm  
sóc cha mẹ lúc họ về già. Do đó, để hiểu về động  
cơ của sự ưa thích con trai ở Việt Nam, cần phải  
đặc biệt chú ý đến các chuẩn mực và quan niệm  
về thân tộc.  
Tuy nhiên nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng ở Việt  
Nam con gái được tin cậy và được đánh giá cao  
vì sự gần gũi tình cảm với cha mẹ, sự đóng góp  
về kinh tế và hỗ trợ đối với gia đình cha mẹ đẻ.  
Những người được phỏng vấn khẳng định rằng  
con gái cũng có thể chăm sóc cha mẹ già và thờ  
cúng tổ tiên. Điều này gợi ý rằng trong thực tế,  
kiểu gia đình “truyền thống” (đàn ông là chủ đạo)  
không nhất thiết là kiểu gia đình duy nhất như  
mọi người vẫn nghĩ và mặc định.  
KHUYẾN NGHỊ  
Để giải quyết vấn đề gia tăng TSGTKS ở Việt Nam,  
một số khuyến nghị sau đây đã được rút ra trên cơ  
sở các kết quả nghiên cứu:  
1- Giải quyết vấn đề sử dụng công nghệ sai  
mục đích  
Một phát hiện quan trọng trong nghiên cứu  
này là vai trò đáng kể của áp lực của gia đình và  
cộng đồng trong việc duy trì vai trò chủ đạo của  
đàn ông nói chung và tâm lý ưa thích con trai  
nói riêng. Mọi người thích có con trai không chỉ  
vì ‘‘giá trị’’ của bản thân người con trai mà còn vì  
việc có con trai sẽ củng cố vị trí của người phụ nữ  
trong gia đình và khẳng định uy tín của người đàn  
ông trong cộng đồng. Nam giới và phụ nữ không  
có con trai thường phải chịu áp lực rất lớn từ gia  
đình nhà chồng và phải chịu đựng sự mỉa mai,  
trêu chọc và xúc phạm của cộng đồng. Tâm lý ưa  
thích con trai không chỉ là vấn đề duy trì dòng  
giống gia đình mà còn là vấn đề áp lực, uy tín và  
sự thừa nhận về đạo đức. Nghiên cứu chỉ ra rằng  
những áp lực về đạo đức như vậy thể hiện rõ hơn  
ở miền Bắc và đặc biệt là trong những người có  
cuộc sống khá giả.  
Nghiên cứu chỉ ra rằng nhiều người đã tìm cách  
lựa chọn con trai thông qua sử dụng siêu âm kết  
hợp với nạo thai. Khi xây dựng các can thiệp để  
giải quyết vấn đề này, cần phải đảm bảo rằng  
quyền được nạo thai an toàn của phụ nữ phải  
được bảo vệ và cán bộ y tế phải cung cấp dịch  
vụ tư vấn đầy đủ và có chất lượng đối với những  
phụ nữ muốn nạo thai. Tuy nhiên, để loại trừ việc  
sử dụng các công nghệ y học cho mục đích lựa  
chọn giới tính có thể cân nhắc áp dụng một số  
biện pháp sau đây:  
1A. Nâng cao nhận thức cho người cung cấp  
dịch vụ về hậu quả xã hội của sự mất cân  
bằng giới tính và về trách nhiệm đặc biệt  
của họ đối với vấn đề nhân khẩu học quan  
trọng này. Chủ đề TSGTKS nên được đưa vào  
chương trình giảng dạy ở các trường đại học  
y, đồng thời những người cung cấp dịch vụ  
sản, phụ khoa cần được tập huấn để có thể  
tư vấn cho những phụ nữ có ý định nạo thai  
lựa chọn giới tính.  
1
Trong chế độ phụ hệ, dòng dõi được truy theo đàn ông:  
phụ hệ là dòng dõi bắt đầu từ ông tổ cho đến thế hệ con  
cháu (trai hoặc gái) mà chỉ được duy trì thông qua những  
người con trai. Thuật ngữ “cư trú bên nội” nói về hệ thống  
thân tộc trong đó các cặp vợ chồng sinh sống bên gia  
đình nhà chồng.  
9
Sự ưa thích con trai ở Việt Nam:  
Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến  
1B. Củng cố các quy định của nhà nước cấm xác mà chủ đạo là phụ hệ và cư trú bên nội. Do đó, để  
định giới tính thai nhi thông qua tăng cường nâng cao giá trị của con gái, cần thúc đẩy các mô  
giám sát việc sử dụng siêu âm sản khoa hình thân tộc lưỡng hệ mà trong đó cả họ nội và  
trong các cơ sở y tế công và tư nhân. Thông họ ngoại đều được thừa nhận như nhau. Các can  
tin về giới tính thai nhi thường được thông thiệp để thúc đẩy mô hình thân tộc lưỡng hệ như  
báo qua những cách rất tế nhị nhưng các vậy có thể chú ý đến các chiều cạnh sau đây:  
cơ chế giám sát có thể được thực hiện bằng  
2A. Họ của con cái và dòng họ của gia đình:  
Theo Điều 15, Nghị định 158/2005/NĐ-CP  
do Chính phủ ban hành ngày 27/12/2005  
và điểm e mục 1 phần II của Thông tư  
của Bộ Tư pháp số 01/2008/TT-BTP ngày  
02/06/2008 Hướng dẫn thực hiện một số  
quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-  
CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng  
ký và quản lý hộ tịch: “Khi đăng ký khai sinh,  
họ và quê quán của con được xác định theo  
họ và quê quán của người cha hoặc họ và  
quê quán của người mẹ theo tập quán hoặc  
theo thỏa thuận của cha, mẹ”. Như vậy, theo  
luật pháp Việt Nam, họ tộc có thể được tiếp  
tục thông qua con gái hoặc con trai. Cần tổ  
chức các chiến dịch truyền thông trên thông  
tin đại chúng và trong cộng đồng để củng  
cố nhận thức của xã hội về việc con gái có  
thể tiếp tục truyền lại họ và dòng giống gia  
đình. Những chiến dịch như vậy phải được  
nhằm vào cán bộ nhà nước ở tất cả các cấp,  
từ trung ương đến cơ sở và nhân dân nói  
chung trên khắp cả nước.  
cách sử dụng “khách hàng bí mật” (Boyce và  
Neale 2006) hoặc công tác thanh tra do các  
cán bộ y tế thực hiện. Các quy định còn có  
thể được tăng cường thông qua phối hợp  
với cán bộ tư pháp để xử lý những trường  
hợp vi phạm (ví dụ đưa ra tòa). Cần tham  
khảo kinh nghiệm từ Hàn Quốc và Ấn Độ. Ví  
dụ, ở Hàn Quốc, những giải pháp can thiệp  
trong ngành y tế đã được cho là đóng vai trò  
quan trọng trong việc đưa tỷ số giới tính khi  
sinh trở lại mức bình thường (UNFPA 2010 a).  
1C. Củng cố các quy định cấm xác định giới tính  
thai nhi thông qua các chế tài nghiêm khắc  
(ví dụ mức phạt tiền cao hoặc rút giấy phép  
hành nghề) nếu phát hiện bác sĩ thông báo  
cho khách hàng về giới tính của thai nhi.  
1D. Củng cố các quy định cấm xác định giới tính  
thai nhi bằng cách đăng tải rộng rãi trên các  
phương tiện thông tin đại chúng về những  
trường hợp vi phạm. Biện pháp này có thể  
vừa như là chế tài xử lý vừa là cách để ngăn  
ngừa sự vi phạm của những người khác.  
2B. Thờ cúng tổ tiên: Tổ chức các chiến dịch  
thay đổi hành vi để nhấn mạnh việc con gái  
hoàn toàn có thể đảm nhiệm việc thờ cúng  
tổ tiên và chăm nom phần mộ của những  
người trong gia đình.  
1E. Các can thiệp trong ngành y tế nhằm giám  
sát và điều chỉnh những hoạt động “tư vấn”  
(đáng ngờ cả về đạo đức và y sinh học) của  
cán bộ y tế cho những người muốn sinh con  
với giới tính mong muốn. Cần phải nâng cao  
nhận thức của công chúng và của người 2C. Nơi cư trú: Điều 20 Luật Hôn nhân và Gia  
cung cấp dịch vụ về bản chất khoa học giả  
tạo của phần lớn những lời khuyên về sinh  
đẻ như vậy và khuyến khích sử dụng khoa  
học và công nghệ một cách phù hợp.  
đình ban hành năm 2000 quy định rằng  
cặp vợ chồng có quyền tự do lựa chọn nơi  
ở của mình. Nghiên cứu này chỉ ra rằng sự  
linh hoạt về nơi sinh sống - ví dụ cặp vợ  
chồng có thể tự do lựa chọn ở với gia đình  
nhà chồng hoặc gia đình nhà vợ, - có thể  
giúp giảm bớt áp lực phải có con trai. Vì vậy,  
cần phải thúc đẩy sự chấp nhận rộng rãi mô  
hình cư trú bên ngoại (ở rể), ví dụ, thông qua  
các chiến dịch truyền thông nhằm thay đổi  
hành vi để nhấn mạnh khả năng của con  
gái có thể chăm sóc tốt cha mẹ và khuyến  
khích mọi người linh hoạt về nơi sinh sống  
vì lợi ích quốc gia (thông qua cân bằng tỷ  
số giới tính).  
2. Giải quyết nguyên nhân gốc rễ của sự ưa  
thích con trai: bất bình đẳng giới trong  
thân tộc  
Mặc dù công nghệ y học được sử dụng rộng rãi  
cho mục đích lựa chọn giới tính, nguyên nhân sâu  
xa của tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh  
không nằm trong việc sử dụng công nghệ. Nghiên  
cứu này chỉ ra rằng nền móng của bất bình đẳng  
giới gắn liền với hệ thống thân tộc ở Việt Nam: sự  
ưa thích con trai bắt nguồn từ hệ thống thân tộc  
10  
Sự ưa thích con trai ở Việt Nam:  
Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến  
2D. Thừa kế: Theo Luật Dân sự Việt Nam, mọi cá  
nhân đều có quyền lập di chúc để lại tài sản  
của mình cho người khác sau khi họ qua đời.  
Nếu không có di chúc, tài sản sẽ được chia  
công bằng giữa những người họ hàng trực  
hệ. Tuy nhiên, trong thực tế, con trai thường  
được thừa kế phần lớn tài sản của cha mẹ.  
Các chiến dịch truyền thông cần phải nâng  
cao nhận thức về quyền thừa kế bình đẳng  
của con gái.  
2E. Chăm sóc người cao tuổi: Các chiến dịch  
truyền thông cần phải thu hút sự chú ý  
của công chúng đến một thực tế rằng con  
gái cũng có thể chăm sóc cha mẹ già chu  
đáo cả về tình cảm và vật chất. Cần phải có  
những cải thiện về hệ thống lương hưu và  
bảo hiểm xã hội để giảm bớt áp lực đối với  
cha mẹ, nhất là những người nghèo phải  
dựa vào con cái khi tuổi già.  
3. Giải quyết các quan niệm chuẩn mực về  
bất bình đẳng giới  
Nghiên cứu này cho thấy thái độ và chuẩn mực  
của gia đình và cộng đồng đóng vai trò quan  
trọng trong việc con trai được ưa thích hơn con  
gái ở Việt Nam. Nghiên cứu ở Hàn Quốc cho thấy  
thay đổi các chuẩn mực là yếu tố cực kỳ quan  
trọng trong việc đưa TSGTKS trở lại mức tự nhiên  
(Chung và Das Gupta 2007). Ở Việt Nam, có thể  
cân nhắc áp dụng một số can thiệp sau đây:  
bao gồm các hoạt động tiếp cận, huy động  
cộng đồng, các chiến dịch truyền thông đại  
chúng, giáo dục trực tiếp hướng đến nhiều  
thành phần xã hội như cán bộ nhà nước,  
lãnh đạo cộng đồng, chức sắc tôn giáo, cán  
bộ xã hội, giáo viên, phóng viên, cán bộ y tế  
và nhân dân nói chung.  
3A. Các chiến dịch truyền thông nhằm nâng  
cao nhận thức rằng trêu chọc và đả kích  
những người không có con trai là bất lịch sự  
và thiếu đạo đức, đồng thời gây bất lợi cho  
sự phát triển của đất nước. Các chiến dịch  
như vậy cần phải hướng vào cả cán bộ và  
cộng đồng dân cư ở nông thôn và đô thị.  
3D. Tổ chức tập huấn nâng cao nhận thức về  
bình đẳng giới và TSGTKS cho cán bộ xã hội,  
giáo viên, cán bộ tòa án, cán bộ y tế, phóng  
viên, lãnh đạo các tổ chức xã hội, chức sắc  
tôn giáo, cán bộ dân số và các nhóm liên  
quan khác.  
4. Bổ sung kiến thức: Tiếp tục nghiên cứu  
và chia sẻ thông tin  
3B. Các chiến dịch truyền thông nhằm nâng  
cao giá trị của con gái, nhấn mạnh khả năng  
của con gái có thể tạo thu nhập cao và  
chăm sóc cha mẹ khi họ về già. Nên đưa các  
tấm gương thành đạt và hạnh phúc của các  
gia đình chỉ có con gái.  
Để tăng cường cơ sở cho xây dựng chính sách và  
đối thoại về những yếu tố thúc đẩy sự gia tăng  
TSGTKS ở Việt Nam, cần phải có thêm số liệu định  
tính và định lượng, đồng thời cần phổ biến và  
cho thảo luận rộng rãi trong công chúng những  
bằng chứng này. Cụ thể, cần phải có những số  
liệu sau:  
3C. Các chiến dịch giáo dục truyền thông về  
TSGTKS để làm rõ rằng mất cân bằng giới  
tính khi sinh phản ánh bất bình đẳng giới  
đồng thời chỉ ra những hậu quả tiêu cực của  
tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh  
đối với xã hội. Các chiến dịch này có thể  
4A. Số liệu về dân số: Cần tiếp tục phân tích  
định kỳ về TSGTKS qua các số liệu dân số và  
11  
Sự ưa thích con trai ở Việt Nam:  
Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến  
thống kê khai sinh để bổ sung bằng chứng  
về TSGTKS và giám sát các xu hướng theo  
thời gian. Cụ thể hơn, phải phân tích tỷ số  
này từ các cuộc Điều tra biến động dân số  
hàng năm, điều tra dân số giữa kỳ, và Tổng  
Điều tra Dân số năm 2019.  
4C. Nghiên cứu về xu hướng y tế hóa và  
thương mại hóa việc sinh đẻ:  
Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng việc sinh đẻ  
đang bị y tế hóa và thương mại hóa một  
cách đáng kể ở Việt Nam. Trong bối cảnh  
đó, cần phải có thêm kiến thức về những  
vấn đề sau đây:  
4B. Nghiên cứu về gia đình và thân tộc: Các  
yếu tố xã hội và văn hóa thúc đẩy sự ưa  
thích con trai ở Việt Nam đã được hiểu biết  
khá đầy đủ. Tuy nhiên vẫn có nhu cầu thông  
tin về các loại hình gia đình khác nhau đang  
tồn tại ở Việt Nam. Nghiên cứu định tính  
này cho thấy hệ tư tưởng văn hóa chủ đạo  
nhấn mạnh mô hình gia đình“truyền thống”  
đề cao nam giới nhưng trong thực tế cuộc  
sống, các mô hình đề cao phụ nữ cũng  
đóng vai trò quan trọng không kém. Các  
nghiên cứu tiếp theo có thể tìm hiểu những  
câu hỏi sau đây:  
Những người cung cấp dịch vụ nhìn  
nhận như thế nào về vai trò của họ trong  
việc siêu âm và nạo thai được sử dụng  
cho mục đích lựa chọn giới tính, và làm  
thế nào để người cung cấp dịch vụ có  
thể tham gia tích cực hơn vào những nỗ  
lực để chống lại tình trạng sử dụng sai  
công nghệ y học? Để trả lời những câu  
hỏi này, nghiên cứu hoạt động bao gồm  
tham vấn với những bên liên quan có  
thể là phương pháp phù hợp,  
“Tư vấn” (về thời điểm rụng trứng, ăn  
uống, sinh lý và thuốc men) đóng  
vai trò như thế nào trong những cố  
gắng của các cặp vợ chồng để có  
được những đứa con mong muốn và  
liệu người cung cấp dịch vụ và khách  
hàng của họ có biết rằng những giải  
pháp như vậy có rất ít hiệu quả hay  
không? Kết quả của nghiên cứu về  
những vấn đề này cần được phổ biến  
và thảo luận kỹ trong nhóm cán bộ  
y tế cung cấp dịch vụ và quan chức  
ngành y tế, và sẽ được sử dụng để  
thiết kế tài liệu đào tạo cho các cán  
bộ y tế.  
Trải nghiệm về cuộc sống và điều kiện  
sống của những gia đình Việt Nam nơi  
mà cha mẹ già sống với con gái đã  
trưởng thành có những đặc trưng gì?  
Những bằng chứng xác đáng về vai trò  
quan trọng của con gái trong kinh tế  
gia đình và chăm sóc cha mẹ già có thể  
giúp thay đổi nhận thức của mọi người  
về việc“không thể thiếu”con trai.  
Cách thức phân chia tài sản và nơi cư  
trú cũng như vai trò của con trai và  
con gái trong vấn đề này khác nhau  
như thế nào ở các vùng khác nhau  
của Việt Nam? Những kiến thức sâu  
hơn về động thái kinh tế-xã hội khiến  
một số vùng của Việt Nam “thân thiện”  
với con gái hơn các vùng khác, có thể  
giúp nâng cao nhận thức về các hình  
thức tổ chức thân tộc khác nhau ở Việt  
Nam, giúp mọi người nhận ra rằng gia  
đình “truyền thống” đề cao nam giới  
chỉ là một trong các mô hình thân tộc  
ở Việt Nam. Hiểu biết sâu hơn về tính  
“lưỡng hệ” của hệ thống thân tộc Việt  
Nam cũng có thể hữu ích trong việc  
xây dựng các hoạt động vận động  
chính sách và truyền thông về các vấn  
đề liên quan đến thân tộc như là họ  
(trong họ tên), thừa kế và nơi cư trú,  
từ đó đóng góp vào việc phát triển  
cách tổ chức thân tộc linh hoạt hơn.  
12  
Sự ưa thích con trai ở Việt Nam:  
Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến  
Chương 1  
GIỚI THIỆU VỀ  
CUỘC NGHIÊN CỨU  
Các dự báo nhân khẩu học cho thấy rằng nếu mất  
cân bằng giới tính tiếp tục tăng sau năm 2010, sẽ  
làm gia tăng mạnh tỷ lệ nam giới trong dân cư.  
Sau hai thập kỷ nữa, Việt Nam sẽ dư thừa ít nhất  
là 10 phần trăm nam giới trưởng thành so với số  
phụ nữ cùng thế hệ. Nếu TSGTKS không nhanh  
chóng trở lại mức bình thường của nó là 105 bé  
trai được sinh ra trên 100 bé gái, sự mất cân bằng  
giữa số lượng các chú rể và cô dâu tương lai sẽ  
dẫn đến tình trạng mất ổn định trong thị trường  
hôn nhân giống như những gì đang diễn ra ở  
một số vùng của Trung Quốc và Ấn Độ hiện nay.  
BỐI CẢNH  
Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh đã  
xảy ra ở một số nước trong khu vực châu Á-Thái  
Bình Dương bao gồm Trung Quốc, Hàn Quốc và  
Ấn Độ. Sự gia tăng bất thường của TSGTKS khi  
sinh cũng được quan sát thấy ở Việt Nam trong  
những năm gần đây. Cho đến năm 2000, TSGTKS  
vẫn còn ở mức bình thường và được ước tính  
vào khoảng 106,2 bé trai so với 100 bé gái được  
sinh ra. Tuy nhiên, tỷ số này đã tăng lên 112,1  
vào năm 2008 và 110,6 theo kết quả của cuộc  
Tổng Điều tra Dân số và nhà ở năm 2009. Ở một  
số địa phương, TSGTKS thậm chí đã tăng đến  
128. Khoảng cách quá lớn của chỉ số nhân khẩu  
học này so với mức sinh học tự nhiên là 104-106  
bé trai được sinh ra trên 100 bé gái, đã phản ánh  
sự can thiệp có chủ đích phá vỡ thế cân bằng  
ổn định sinh học giữa số bé trai và bé giá được  
sinh ra trong xã hội, và phản ánh sự phân biệt  
đối xử có hệ thống đối với các bé gái từ trước  
khi được sinh ra. Đây là bằng chứng cho thấy  
rằng sự ưa thích con trai đã dẫn các gia đình đến  
việc lựa chọn giới tính của các con mình.  
Việc thiếu hụt nữ giới sẽ làm nảy sinh một loạt  
hậu quả xã hội như gia tăng áp lực buộc phụ  
nữ phải kết hôn sớm, tăng nhu cầu về mại dâm  
và gia tăng nạn buôn bán phụ nữ. Những bằng  
chứng về bạo lực giới và buôn bán phụ nữ ở Việt  
Nam chỉ ra những nguy cơ đối với phụ nữ và các  
em gái nếu bạo lực giới gia tăng do số lượng nam  
giới tăng lên (UNFPA 2010c). Thực hành lựa chọn  
giới tính có thể mang lại những tác động tiêu  
cực đối với sức khỏe tâm thần, sức khỏe sinh sản/  
tình dục và quyền của phụ nữ (Belanger 2002a).  
15  
Sự ưa thích con trai ở Việt Nam:  
Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến  
Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có một loạt các  
yếu tố khác nhau tác động đến sự gia tăng của  
TSGTKS. Chúng ta có thể phân biệt các yếu tố liên  
quan đến tâm lý ưa thích con trai (các yếu tố cầu),  
khả năng tiếp cận và chi trả các dịch vụ công  
nghệ lựa chọn giới tính (các yếu tố cung), và tác  
động nhất định của sự giảm sinh, khiến các gia  
đình giảm số con nhưng buộc phải có con trai,  
đồng thời cả áp lực của thị trường và sự thương  
mại hóa công nghệ phát hiện và lựa chọn giới  
tính (Guilmoto 2009). Mỗi yếu tố trên cần phải  
được phân tích một cách riêng rẽ. Tuy nhiên, mặc  
dù cả ba yếu tố nói trên độc lập với nhau nhưng  
khi phối hợp lại đã tạo ra một bối cảnh đặc thù  
dẫn đến gia tăng TSGTKS. Bối cảnh ở Việt Nam  
hiện nay đang hội đủ cả ba yếu tố đó: tâm lý ưa  
thích con trai từ lâu đời, mức sinh giảm và sự sẵn  
có của công nghệ lựa chọn giới tính hiện đại.  
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU  
Mục đích của cuộc nghiên cứu là tìm hiểu các  
yếu tố xã hội, văn hóa và sức khỏe tác động đến  
TSGTKS ở Việt Nam để giúp hiểu sâu sắc hơn về  
các nguyên nhân của tâm lý ưa thích con trai  
trong mối liên hệ với tình trạng mất cân bằng  
giới tính khi sinh. Nghiên cứu sẽ cung cấp các  
bằng chứng cho thảo luận về chính sách, xây  
dựng và điều chỉnh các can thiệp và chính sách  
hiện hành về tâm lý ưa thích con trai và TSGTKS  
ở Việt Nam. Cụ thể, nghiên cứu này nhằm trả lời  
những câu hỏi sau đây:  
1) Các yếu tố văn hóa và xã hội chủ yếu của  
tâm lý ưa thích con trai ở Việt Nam là gì?  
2) Những ai tham gia vào lựa chọn giới tính và  
quá trình lựa chọn giới tính đã diễn ra như  
thế nào?  
Chính phủ Việt Nam đã có nhiều nỗ lực để  
thúc đẩy bình đẳng giới và bảo vệ quyền con  
người thông qua những cam kết thực hiện các  
sáng kiến quốc tế như công ước CEDAW và Kế  
hoạch Hành động ICPD. Ở cấp độ quốc gia,  
Việt Nam đã ban hành luật Bình đẳng Giới và  
đưa ra các quy định nghiêm cấm các hành vi  
xác định giới tính và nạo phá thai lựa chọn giới  
tính. Trong ba thập kỷ qua, với sự hỗ trợ của  
Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) đã tích  
cực hỗ trợ chính phủ Việt Nam trong việc thu  
thập và phân tích các số liệu nhân khẩu học  
giúp cho xây dựng và thực hiện các chính sách  
dựa trên bằng chứng về dân số, sức khoẻ sinh  
sản và giới. Phân tích tổng quan các tài liệu về  
TSGTKS ở khu vực Đông và Nam Á với trọng  
tâm là Việt Nam đã xác định những khoảng  
trống trong kiến thức về chủ đề này ở Việt  
Nam và đưa ra một số gợi ý về việc triển khai  
các nghiên cứu phục vụ chính sách (UNFPA  
2010a). Một nghiên cứu phân tích số liệu của  
Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm  
2009 đã cung cấp một bức tranh cập nhật  
nhất về các xu hướng của TSGTKS kể từ năm  
1999 cho đến nay (UNFPA 2010b). Nghiên cứu  
định tính này nhằm bổ sung những kiến thức  
còn thiếu về các xu hướng của TSGTKS thông  
qua việc tìm hiểu về các yếu tố văn hóa, xã hội  
và thị trường đang tác động đến TSGTKS.  
3) Những công nghệ nào được sử dụng để  
lựa chọn giới tính và chúng được kiểm soát  
ra sao?  
4) Các chính sách của nhà nước về cấm lựa  
chọn giới tính đã được thực hiện như thế  
nào trong thực tế?  
16  
Sự ưa thích con trai ở Việt Nam:  
Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến  
Chương 2  
PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
Số liệu của cuộc nghiên cứu này được thu thập  
từ tháng 8 đến tháng 10 năm 2010. Kết quả sơ bộ  
đã được trình bày và thảo luận tại hội thảo tham  
vấn do UNFPA và Tổng cục Dân số phối hợp tổ  
chức ở Hòa Bình trong hai ngày 3 và 4 tháng 11  
năm 2010. Mục tiêu của hội thảo là chia sẻ những  
thông tin về chủ đề và xây dựng quan điểm  
chung về việc làm thế nào để giải quyết tình  
trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam.  
Các đại biểu đến dự bao gồm đại diện của các cơ  
quan nhà nước từ trung ương đến địa phương  
của ngành y tế, bộ văn hoá, du lịch và thể thao,  
các cơ quan nghiên cứu, các tổ chức xã hội dân  
sự và các cơ quan Liên Hợp Quốc. Các khuyến  
nghị trình bày trong báo cáo này được xây dựng  
trên cơ sở kết quả nghiên cứu và một số gợi ý  
được đưa ra trong cuộc hội thảo tham vấn.  
nhà ở 2009, Hà Nội có tỷ số giới tính trẻ em dưới  
5 tuổi nằm trong khoảng 115-120; Hưng Yên nằm  
trong các điểm “nóng” với TSGTKS trong khoảng  
120-125, Quảng Ngãi có TSGTKS trong khoảng  
110-115, và ở Cần Thơ tỷ số này dao động ở mức  
105-110 (UNFPA 2010b)  
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU  
Bảng 1 dưới đây trình bày về các nhóm đối tượng  
của cuộc nghiên cứu. Tổng số 248 người thuộc  
11 nhóm đối tượng khác nhau đã được phỏng  
vấn hoặc tham gia thảo luận nhóm  
Tất cả phụ nữ và nam giới ở cộng đồng trong  
mẫu nghiên cứu đều ở độ tuổi sinh đẻ với đứa  
con sinh gần đây nhất từ năm 2006 đến 2009.  
ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU  
THU THẬP THÔNG TIN  
VÀ SỐ LIỆU  
Các kỹ thuật thu thập thông tin chủ yếu là phỏng  
vấn sâu và thảo luận nhóm. Trước khi tiến hành  
nghiên cứu thực địa, một bảng hướng dẫn chi  
tiết các câu hỏi phỏng vấn và thảo luận nhóm đã  
được xây dựng. Thiết kế nghiên cứu và các công  
cụ nghiên cứu cũng như hướng dẫn quy trình  
nghiên cứu đều được thẩm định bởi Ban Đạo đức  
Dựa vào kết quả phân tích số liệu cuộc Tổng Điều  
tra Dân số và Nhà ở năm 2009, bốn địa phương  
đã được lựa chọn: Hà Nội và Hưng Yên ở vùng  
Đồng bằng Sông Hồng, Quảng Ngãi ở vùng  
Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung,và Cần  
Thơ thuộc Đồng bằng sông Cửu Long. Bốn địa  
phương này đều được xác định là có tình trạng  
gia tăng TSGTKS, nhưng ở mức độ khác nhau.  
Theo phân tích kết quả Tổng điều tra Dân số và  
Nhóm đối tượng  
Số lượng  
Người cung cấp dịch vụ y tế (Lãnh đạo bệnh viện, bác sĩ sản/siêu âm và y tá  
bệnh viện tỉnh và ở các cơ sở y tế tư nhân)  
32  
Lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo ngành y tế và dân số tỉnh/thành phố  
Khách hàng khám thai tại bệnh viện Tỉnh và phòng khám tư nhân  
Lãnh đạo cộng đồng (xã/phường)  
10  
34  
48  
24  
24  
24  
23  
16  
12  
1
Nam giới và phụ nữ có con đầu lòng là con trai  
Nam giới và phụ nữ có đầu lòng là con gái  
Nam giới và phụ nữ có hai con gái trở lên, chưa có con trai  
Nam giới và phụ nữ có hai con gái trở lên, một con trai út  
Ông/bà nội chưa có cháu trai  
Ông/Bà nội có một cháu trai út  
Lãnh đạo Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình  
Tổng số  
248  
19  
Sự ưa thích con trai ở Việt Nam:  
Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến  
Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Phát triển Xã  
hội. Trước khi tiến hành công tác thực địa, nhóm  
nghiên cứu viên gồm sáu người đã được tập  
huấn trong hai ngày về mục đích, phương pháp  
nghiên cứu và toàn bộ các công cụ nghiên cứu.  
những người tham gia nghiên cứu đều có những  
hiểu biết nhất định về chủ đề nghiên cứu là một  
vấn đề có ý nghĩa chính trị và xã hội cấp thiết  
đối với quốc gia. Do vậy, việc những người được  
phỏng vấn cố gắng để tỏ ra là mình có nhận thức  
đúng đắn cũng có những ảnh hưởng nhất định  
đến cách họ trả lời về một số khía cạnh được cho  
là nhạy cảm, nhất là về các thực hành liên quan  
đến lựa chọn giới tính. Việc những người được  
phỏng vấn cố gắng trả lời “đúng” với đường lối  
chính sách của nhà nước đã phần nào hạn chế họ  
chia sẻ những kinh nghiệm mà họ cho là “không  
phù hợp” hoặc “không đúng”. Những nghiên cứu  
trong tương lai cần có nhiều thời gian hơn để có  
thể thực hiện phỏng vấn nhiều lần và tạo điều  
kiện cho nghiên cứu viên gần gũi hơn với người  
được phỏng vấn để giúp giảm bớt những câu trả  
lời“phù hợp”theo kiểu như vậy.  
Mỗi cuộc phỏng vấn sâu hoặc thảo luận nhóm  
đều bắt đầu bằng phần giới thiệu về cuộc nghiên  
cứu và quy trình phỏng vấn. Các nghiên cứu viên  
tự giới thiệu về mình và xin phép được phỏng  
vấn/thảo luận cũng như xin phép được ghi âm  
cuộc phỏng vấn. Tất cả những người được lựa  
chọn đều đồng ý tham gia cuộc nghiên cứu và  
cho phép ghi âm cuộc phỏng vấn, chỉ có một  
người từ chối ghi âm. Trung bình một cuộc  
phỏng vấn kéo dài khoảng một giờ hai mươi  
phút. Các cuộc phỏng vấn với các nhà lãnh đạo,  
cán bộ cung cấp dịch vụ và khách hàng tại các cơ  
sở y tế thường chỉ kéo dài 30 phút đến một giờ,  
do hạn chế về thời gian hoặc do điều kiện phỏng  
vấn không thuận lợi.  
Điều kiện phỏng vấn cũng là một yếu tố có thể  
ảnh hưởng đến chất lượng của cuộc phỏng vấn.  
Hầu hết các nhà lãnh đạo và các nhà cung cấp  
dịch vụ có ít thời gian giành cho phỏng vấn do  
vậy họ không có đủ thời gian để chia sẻ kinh  
nghiệm công tác thực tiễn cũng như thể hiện  
các quan điểm của họ về vấn đề nghiên cứu. Hơn  
nữa, các phỏng vấn với khách hàng tại các cơ  
sở y tế được thực hiện trước hoặc sau khi khách  
hàng sử dụng dịch vụ, vì vậy không thể kéo dài  
do hạn chế về thời gian. Khi các cuộc phỏng vấn  
thực hiện tại cơ sở y tế, đôi khi cũng khó đảm  
bảo được tính riêng tư. Những nghiên cứu trong  
tương lai cần phải có nhiều thời gian hơn cho  
quá trình thu thập số liệu và sử dụng các phương  
pháp cùng tham gia; như vậy có thể giúp nghiên  
cứu viên thu thập được nhiều thông tin sâu hơn,  
nhất là từ cán bộ lãnh đạo.  
XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH  
SỐ LIỆU  
Sau khi các băng ghi âm phỏng vấn được chuyển  
thành văn bản, nhóm nghiên cứu đã đọc nhanh  
các phỏng vấn để phát hiện các chủ đề chính từ đó  
xây dựng hệ thống mã hóa thông tin cho tất cả các  
nhóm đối tượng. Tiếp theo, nhóm nghiên cứu phân  
tích thông tin bằng NVIVO - phần mềm dùng cho xử  
lý số liệu định tính, và xây dựng đề cương báo cáo.  
MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA  
CUỘC NGHIÊN CỨU  
Trong khoảng hai năm trở lại đây, mất cân bằng  
giới tính khi sinh là một chủ đề khá được quan tâm  
bởi các nhà lập chính sách, các cơ quan truyền  
thông đại chúng và các tổ chức trong nước và  
quốc tế tại Việt Nam. Tổng cục Dân số và Kế hoạch  
hóa Gia đình và các cơ quan/tổ chức hữu quan đã  
ban hành các quy định nghiêm cấm các hành vi  
lựa chọn giới tính, tiến hành một dự án can thiệp  
ở 18 tỉnh/thành phố và tổ chức một số chiến dịch  
nâng cao nhận thức. Các phương tiện truyền  
thông đại chúng cũng tích cực tham gia vào công  
tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người  
dân chúng về tầm quan trọng và hậu quả của vấn  
đề mất cân bằng giới tính khi sinh. Vì vậy hầu hết  
20  
Sự ưa thích con trai ở Việt Nam:  
Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 60 trang myanh 29160 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Ứớc muốn thâm căn, công nghệ tiên tiến", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_su_ua_thich_con_trai_o_viet_nam_uoc_muon_tham_can_c.pdf