Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học (Bản đẹp)

Bộ Giáo dục và Đào tạo  
Giáo trình  
Chủ nghĩa xã hội khoa học  
(dùng trong các trường đại học, cao đẳng)  
(Tái bản lần thứ hai có sửa chữa, bổ sung)  
đồng Chủ biên:  
GS,TS. Đỗ Nguyên Phương  
TS. Nguyễn Viết Thông  
Tập Thể tác giả:  
PGS,TS. Đỗ Công Tuấn  
PGS,TS. Nguyễn Đức Bách  
GS,TS. Đỗ Nguyên Phương  
TS. Nguyễn Viết Thông  
TS. Phùng Khắc Bình  
TS. Phạm Văn Chín  
TS. Nguyễn Đình Đức  
TS. Phạm Ngọc Anh  
Th.S. Vũ Thanh Bình  
1
Chương I  
Vị trí, đối tượng, phương pháp và chức năng  
của chủ nghĩa xã hội khoa học  
Kế thừa những nhân tố tích cực của các trào lưu tư tưởng xã hội chủ  
nghĩa không tưởng trong lịch sử và những tinh hoa của nhân loại; khảo sát  
và phân tích thực tiễn của chủ nghĩa tư bản, Các Mác và Phriđrích Ăngghen  
đã sáng lập ra một lý thuyết khoa học về chủ nghĩa xã hội, đó là chủ nghĩa  
xã hội khoa học. Chủ nghĩa Mác-Lênin bao gồm ba bộ phận hợp thành là  
triết học Mác - Lênin, kinh tế học chính trị Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội  
khoa học, trở thành một học thuyết khoa học và hoàn chỉnh, trở thành hệ tư  
tưởng khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân hiện đại, soi đường  
cho cách mạng xã hội chủ nghĩa giải phóng nhân loại khỏi chế độ tư hữu,  
áp bức b
I. Vị trí của chủ nghĩa xã hội khoa học  
Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác-Lênin đã sử dụng hai thuật ngữ:  
“chủ nghĩa xã hội khoa học” hoặc “chủ nghĩa cộng sản khoa học” cơ bản là  
thống nhất về ý nghĩa. Hiện nay, chúng ta dùng thuật ngữ “chủ nghĩa xã  
hội khoa học”.  
1. Khái niệm chủ nghĩa xã hội khoa học  
Chủ nghĩa xã hội khoa học là một ý nghĩa – về mặt lý luận nằm trong  
khái niệm “chủ nghĩa xã hội”, là một trong ba bộ phận hợp thành của chủ  
nghĩa Mác-Lênin, nghiên cứu sự vận động xã hội nhằm thủ tiêu chủ nghĩa  
tư bản vg xã hội cộng  
sản chủ nghĩa.  
Với tư cách là một bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ  
nghĩa xã hội khoa học có những đặc điểm đáng chú ý:  
Một là, chỉ rõ con đường hiện thực dựa vào khoa học để thủ tiêu tình  
trạng người bóc lột người và đưa ra một tổ chức xã hội mới không biết đến  
những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản mà những người theo chủ nghĩa xã  
hội không tưởng đã hằng mơ ước.  
2
Hai là, dựa vào những kết luận của hai bộ phận hợp thành khác của  
chủ nghĩa Mác-Lênin là triết học duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và  
kinh tế học chính trị.  
Ba là, chủ nghĩa xã hội khoa học là thế giới quan, hệ tư tưởng chính  
trị của giai cấp công nhân, biểu hiện những lợi ích của giai cấp này trong  
nhiệm vụ xây dựng lại xã hội một cách cách mạng.  
Bốn là, chủ nghĩa xã hội khoa học tổng kết không những kinh nghiệm  
đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân, kinh nghiệm cách mạng xã hội  
chủ nghĩa mà cả kinh nghiệm của những phong trào dân chủ của quần  
chúng, của các cuộc cách mạng dân chủ tư sản và giải phóng dân tộc.  
2. Vị trí của chủ nghĩa xã hội khoa học  
- Chủ nghĩa Mác-Lênin là một khối thống nhất giữa lý luận khoa học,  
hệ tư tưởng của giai cấp công nhân với những nguyên tắc lãnh đạo chính trị  
và thực tiễn đấu tranh cách mạng. Sự thống nhất tư tưởng một cách hữu cơ  
của chủ nghĩa Mác-Lênin thể hiện ở các bộ phận cấu thành của nó là triết  
học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học.  
- Sự thống nhất của chủ nghĩa Mác-Lênin không loại trừ mà còn định  
rõ tính đch là các khoa  
học độc lập, có đối tượng nghiên cứu riêng.  
Trước hết, với ý nghĩa là tư tưởng, là lý luận, thì chủ nghĩa xã hội nằm  
trong quá trình phát triển chung của các sản phẩm tư tưởng, lý luận mà  
nhân loại đã sản sinh ra; đặc biệt về lĩnh vực khoa học xã hội và chính trị -  
xã hội. Chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong những đỉnh cao nhất của  
các khoa học xã hội nhân loại nói chung.  
Chủ nghĩa xã hội khoa học cũng nằm trong quá trình phát triển lịch sử  
các tư tưởng xã hội chủ nghĩa của nhân loại. Chủ nghĩa xã hội khoa học đã  
kế thừa, phát triển những giá trị của chủ nghĩa xã hội không tưởng, loại trừ  
những yếu tố không tưởng, tìm ra những cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn  
của tư tưởng xã hội chủ nghĩa (tập trung nhất ở tính khoa học là đã tìm ra  
những qội chủ nghĩa,  
giải phóng con người, giải phóng xã hội).  
Trong hệ tư tưởng Mác-Lênin (hay còn gọi là chủ nghĩa Mác-Lênin),  
chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong ba bộ phận hợp thành (cùng với  
triết học Mác-Lênin, kinh tế học chính trị Mác-Lênin).  
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã phân tích rõ nghĩa hẹp và  
nghĩa rộng của chủ nghĩa xã hội khoa học.  
3
- Theo nghĩa hẹp thì chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong ba bộ  
phận của chủ nghĩa Mác-Lênin.  
Chủ nghĩa xã hội khoa học đã dựa trên phương pháp luận triết học duy  
vật biện chứng và duy vật lịch sử; đồng thời cũng dựa trên những cơ sở lý  
luận khoa học về các quy luật kinh tế, quan hệ kinh tế... để luận giải một  
cách khoa học về quá trình nảy sinh cách mạng xã hội chủ nghĩa, hình  
thành và phát triển hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, gắn liền  
với sứ mệnh lịch sử có tính toàn thế giới của giai cấp công nhân hiện đại,  
nhằm giải phóng con người, giải phóng xã hội.  
- Theo nghĩa rộng, chủ nghĩa xã hội khoa học tức là chủ nghĩa Mác-  
Lênin (gồm cả 3 bộ phận). Nói về nghĩa rộng của chủ nghĩa xã hội khoa  
học, V.I.Lênin khẳng định: “chủ nghĩa xã hội khoa học tức là chủ nghĩa  
Mác”. Bởi vì, suy cho cùng cả triết học Mác lẫn kinh tế chính trị Mác đều  
dẫn đến cái tất yếu lịch sử là làm cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng  
hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Người lãnh đạo, tổ chức cùng  
nhân dân thực hiện sự nghiệp cách mạng lâu dài và triệt để đó chỉ có thể là  
giai cấp công nhân hiện đại, thông qua đảng của nó. Mà phạm trù “giai cấp  
công nhân” và “sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân” lại trực tiếp là  
những pCho nên, gọi  
toàn bộ chủ nghĩa Mác (hay chủ nghĩa Mác-Lênin) là chủ nghĩa xã hội  
khoa học theo nghĩa rộng là nói về thực chất và mục đích của toàn bộ chủ  
nghĩa Mác-Lênin. Thậm chí, khi nghiên cứu kỹ lưỡng bộ Tư bản của  
C.Mác, V.I.Lênin đã xác định rằng: "bộ "Tư bản" - tác phẩm chủ yếu và cơ  
bản ấy trình bày chủ nghĩa xã hội khoa học... những yếu tố từ đó nảy sinh  
ra chế độ tương lai”1. Sẽ là sai lầm khi nói đến bộ Tư bản mà chỉ thấy  
những vấn đề kinh tế, khía cạnh kinh tế, không thấy nội dung chính trị - xã  
hội của nó.  
Bởi vậy, khi nghiên cứu, giảng dạy, học tập triết học Mác-Lênin, kinh  
tế học chính trị Mác-Lênin mà lại không luận chứng cuối cùng dẫn đến sứ  
mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, dẫn đến chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa  
cộng sảngiáo dục chủ  
nghĩa Mác-Lênin.  
1. V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1974, t.1, tr.226.  
4
 
II. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát, ứng  
dụng của chủ nghĩa xã hội khoa học  
1. Đối tượng nghiên cứu của triết học và kinh tế học chính trị Mác-  
Lênin là cơ sở lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học  
Triết học Mác-Lênin có đối tượng nghiên cứu là những quy luật  
chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Triết học, dù theo trường phái  
nào, thì cũng đều là thế giới quan và nhân sinh quan của con người; khi xã  
hội có giai cấp thì thế giới quan, nhân sinh quan mang tính giai cấp. Triết  
học Mác-Lênin là thế giới quan, nhân sinh quan của giai cấp công nhân  
hiện đại, đại biểu cho toàn thể nhân dân lao động trong thời đại hiện nay.  
Triết học Mác-Lênin vì thế mà trở thành cơ sở lý luận và phương pháp luận  
chung cho chủ nghĩa xã hội khoa học (và nhiều khoa học khác). Đặc biệt là  
khi luận giải về quy luật chung nhất của sự phát triển xã hội là do mâu  
thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, triết học Mác-Lênin  
khẳng định xã hội loài người có sự kế tiếp của các hình thái kinh tế - xã hội  
như “một quá trình lịch sử tự nhiên”. Quá trình đó tất yếu dẫn đến hình thái  
kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa ở tất cả các nước với những hình thức,  
bước đi và thời gian khác nhau.  
Kinh tế học chính trị Mác-Lênin có đối tượng nghiên cứu là những  
quy luật của các quan hệ xã hội hình thành và phát triển trong quá trình sản  
xuất và tái sản xuất của cải vật chất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng những  
của cải đó trong những trình độ nhất định của sự phát triển xã hội loài  
người; đặc biệt là những quy luật trong chế độ tư bản chủ nghĩa và quá  
trình chuyển biến tất yếu lên chủ nghĩa xã hội của cả thời đại ngày nay.  
Chủ nghĩa xã hội khoa học cũng phải dựa trên những cơ sở lý luận cơ  
bản của kinh tế học chính trị Mác-Lênin mới có thể làm rõ những quy luật,  
những vấn đề mà chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu của mỗi nước và  
của thời đại ngày nay – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa  
xã hội trên phạm vi toàn thế giới.  
2. Đối
Chủ nghĩa xã hội khoa học có đối tượng nghiên cứu là: những quy luật  
và tính quy luật chính trị - xã hội của quá trình phát sinh, hình thành và  
phát triển hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa; những nguyên tắc  
cơ bản, những điều kiện, con đường, hình thức và phương pháp đấu tranh  
cách mạng của giai cấp công nhân để thực hiện sự chuyển biến từ chủ  
nghĩa tư bản (và các chế độ tư hữu) lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng  
sản.  
5
Sự chuyển biến từ các chế độ tư hữu, từ chủ nghĩa tư bản lên chủ  
nghĩa xã hội... mang tính quy luật khách quan của lịch sử nhân loại. Nhưng  
vì đó là vấn đề xã hội, quy luật xã hội cho nên nó không tự diễn ra như quy  
luật tự nhiên mà đều thông qua những hoạt động của con người. Nhân tố  
Người ở đây lại trước hết là giai cấp công nhân hiện đại. Với ý nghĩa đó,  
các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin khái quát rằng: “Chủ nghĩa  
cộng sản... là sự biểu hiện lý luận của lập trường của giai cấp vô sản”1, là  
“sự khái quát lý luận về những điều kiện giải phóng của giai cấp vô sản”2  
gắn với giải phóng con người, giải phóng xã hội.  
Những nội dung lý luận khoa học chung nhất của chủ nghĩa xã hội  
khoa học mà chủ nghĩa Mác-Lênin nêu ra cần được vận dụng cụ thể, đúng  
đắn và phát triển sáng tạo ở mỗi nước, trong những giai đoạn và hoàn cảnh  
lịch sử cụ thể. Nếu ở đâu biến những lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học  
thành những công thức giáo điều thì ở đó đã làm mất tính biện chứng -  
khoa học và cách mạng cũng như giá trị và sức sống của chủ nghĩa xã hội  
khoa học.  
Trong hệ thống nội dung lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học có  
những phạm trù, khái niệm, vấn đề mang tính quy luật rất cơ bản sau đây:  
“giai cấp hân” (gắn với  
đảng cộng sản”); “hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa” (trong đó  
đặc biệt là “xã hội xã hội chủ nghĩa”); “cách mạng xã hội chủ nghĩa”; “nền  
dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhà nước xã hội chủ nghĩa”; “cơ cấu xã hội -  
giai cấp, liên minh công nông và các tầng lớp lao động...”; "vấn đề tôn giáo  
trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội", “vấn đề dân tộc trong quá trình  
xây dựng chủ nghĩa xã hội”; “vấn đề gia đình trong quá trình xây dựng chủ  
nghĩa xã hội”; “vấn đề nguồn lực con người trong quá trình xây dựng chủ  
nghĩa xã hội”; “thời đại ngày nay”...  
3. Phạm vi khảo sát và vận dụng của chủ nghĩa xã hội khoa học  
Với tư cách là một khoa học, cũng như các khoa học khác: lý thuyết  
của chủ nghĩa xã hội khoa học đều bắt nguồn từ sự khảo sát, phân tích  
những tư ý thuyết khoa  
học đương nhiên phải gắn với thực tế, thực tiễn một cách chủ động, sáng  
tạo, linh hoạt sao cho phù hợp và hiệu quả nhất trong những hoàn cảnh cụ  
thể khác nhau. Những vấn đề chính trị - xã hội giữa các giai cấp, tầng lớp  
xã hội, giữa các quốc gia, các dân tộc... có đặc điểm, vai trò, mục đích...  
khác nhau lại là những vấn đề thường là phức tạp hơn so với nhiều vấn đề  
của các khoa học khác.  
1, 2. C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4, tr.399.  
6
 
Nhận thức được những nội dung nêu trên chúng ta có khả năng khắc  
phục những bệnh giản đơn, chủ quan duy ý chí, thờ ơ chính trị... trong thời  
đại khoa học - công nghệ phát triển rất cao như hiện nay.  
Thực tiễn gần một thế kỷ ở một số nước xây dựng chủ nghĩa xã hội đã  
có nhiều thành tựu về mọi mặt. Song, các nước xã hội chủ nghĩa cũng mắc  
nhiều sai lầm, khuyết điểm và lâm vào khủng hoảng, thoái trào nghiêm  
trọng. Các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ là do đảng  
cộng sản ở các nước đó vừa sai lầm về đường lối, vừa xa rời lý luận chủ  
nghĩa Mác-Lênin, vừa có cả những sự phản bội từ cấp cao nhất; đồng thời  
có sự phá hoại nhiều mặt của chủ nghĩa đế quốc... Một trong những sai  
lầm, khuyết điểm của các đảng cộng sản, các nước xã hội chủ nghĩa mấy  
thập kỷ qua là bệnh chủ quan duy ý chí, giản đơn, biến chủ nghĩa Mác-  
Lênin, trong đó có chủ nghĩa xã hội khoa học thành những công thức máy  
móc, giáo điều, khô cứng... làm suy giảm, thậm chí mất sức sống trong  
thực tiễn.  
Các nước xã hội chủ nghĩa còn lại đã rút ra được những kinh nghiệm  
quý, vẫn kiên định mục tiêu, con đường xã hội chủ nghĩa, kiên định chủ  
nghĩa Mác-Lênin, nhưng biết chú trọng sửa chữa những sai lầm, khuyết  
điểm nêh quả đã đạt  
được, đổi mới, cải cách phù hợp một cách toàn diện. Đến nay, sau khoảng  
hai thập kỷ tiến hành đổi mới và cải cách, các nước xã hội chủ nghĩa (trong  
đó có Việt Nam) đã đạt được nhiều thành quả to lớn: ổn định chính trị - xã  
hội, phát triển về mọi mặt và nâng cao đời sống nhân dân. Những thành tựu  
đó được nhân dân trong nước và nhân loại tiến bộ thừa nhận, tin tưởng.  
Những vấn đề nêu khái quát trên đây cũng thuộc phạm vi khảo sát và  
vận dụng của môn chủ nghĩa xã hội khoa học. Vận dụng, bổ sung và phát  
triển đúng đắn chủ nghĩa xã hội khoa học chắc chắn sẽ làm cho các nước xã  
hội chủ nghĩa phát triển đúng mục tiêu, bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội  
mới – một chế độ thực sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.  
Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình khởi xướng và lãnh đạo  
công cuộbiệt coi trọng  
vấn đề đổi mới tư duy lý luận, coi đó như một tiền đề tư tưởng hàng đầu để  
lãnh đạo thành công sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.  
III. Phương pháp của chủ nghĩa xã hội khoa học  
Chủ nghĩa xã hội khoa học là bộ phận thứ ba của chủ nghĩa Mác-  
Lênin, có quan hệ chặt chẽ với hai bộ phận kia là triết học Mác-Lênin  
và kinh tế học chính trị Mác-Lênin.  
7
1. Phương pháp luận chung của chủ nghĩa xã hội khoa học  
Chủ nghĩa xã hội khoa học sử dụng phương pháp luận chung nhất của  
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học  
Mác-Lênin: Chỉ có dựa trên phương pháp luận khoa học đó thì chủ nghĩa  
xã hội khoa học mới luận giải đúng đắn, khoa học về sứ mệnh lịch sử của  
giai cấp công nhân, về quá trình phát sinh, hình thành, phát triển của hình  
thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa và các khái niệm, phạm trù, các nội  
dung khác của chủ nghĩa xã hội khoa học.  
Trên cơ sở phương pháp luận chung đó, chủ nghĩa xã hội khoa học  
cũng đặc biệt chú trọng sử dụng những phương pháp khác, cụ thể hơn và  
những phương pháp có tính liên ngành, tổng hợp.  
2. Các phương pháp đặc trưng của chủ nghĩa xã hội khoa học  
Phương pháp kết hợp lịch sử - lôgíc. Đây cũng là một nội dung của  
phương pháp luận triết học Mác-Lênin, nhưng nó càng đặc biệt quan trọng  
đối với chủ nghĩa xã hội khoa học. Phải trên cơ sở những tư liệu thực tiễn  
của các sự thật lịch sử mà phân tích để rút ra những nhận định, những khái  
quát về lý luận có kết cấu chặt chẽ, khoa học – tức là rút ra được lôgíc của  
lịch sử (nhà kinh điển  
của chủ nghĩa Mác-Lênin đã là những tấm gương mẫu mực về việc sử dụng  
phương pháp này khi phân tích lịch sử nhân loại, đặc biệt là về sự phát triển  
các phương thức sản xuất... để rút ra được lôgíc của quá trình lịch sử, căn  
bản là quy luật mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất,  
giữa giai cấp bóc lột và bị bóc lột, quy luật đấu tranh giai cấp dẫn đến các  
cuộc cách mạng xã hội và do đó, cuối cùng “đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn  
đến chuyên chính vô sản", dẫn đến chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.  
Sau này, chính cái kết luận lôgíc khoa học đó đã vừa được chứng minh vừa  
là nhân tố dẫn dắt tiến hành thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa  
Tháng Mười Nga (1917) và sau đó là hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới ra  
đời với rất nhiều thành tựu mới cho nhân loại tiến bộ. Còn sự sụp đổ của  
chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô không phải do cái tất yếu  
lôgíc của ở các nước đó  
xa rời, phản bội cái tất yếu đã được luận giải khoa học trên lập trường chủ  
nghĩa Mác-Lênin.  
- Phương pháp khảo sát và phân tích về mặt chính trị - xã hội dựa trên  
các điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể là phương pháp có tính đặc thù của chủ  
nghĩa xã hội khoa học. Khi nghiên cứu, khảo sát thực tế, thực tiễn một xã  
hội cụ thể, đặc biệt là trong điều kiện của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã  
hội, những người nghiên cứu, khảo sát... phải luôn có sự nhạy bén về chính  
8
trị - xã hội trước tất cả các hoạt động và quan hệ xã hội, trong nước và  
quốc tế. Thường là, trong thời đại còn giai cấp và đấu tranh giai cấp, còn  
chính trị thì mọi hoạt động, mọi quan hệ xã hội ở các lĩnh vực, kể cả khoa  
học công nghệ, tri thức và sử dụng tri thức, các nguồn lực, các lợi ích... đều  
có nhân tố chính trị chi phối mạnh nhất, nhưng nó lại có vẻ “đứng đằng sau  
hậu trường” (thậm chí cố tình che đậy như trong các đảng và chính phủ tư  
sản cầm quyền). Không chú ý phương pháp khảo sát và phân tích về mặt  
chính trị - xã hội, không có nhạy bén chính trị và lập trường – bản lĩnh  
chính trị vững vàng, khoa học thì dễ mơ hồ, lầm lẫn, sai lệch khôn lường.  
- Các phương pháp có tính liên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học là  
một môn khoa học xã hội nói chung và khoa học chính trị - xã hội nói  
riêng, do đó nó cần thiết phải sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ  
thể của các khoa học xã hội khác: như phương pháp phân tích, tổng hợp,  
thống kê, so sánh, điều tra xã hội học, sơ đồ hoá, mô hình hoá, v.v. để  
nghiên cứu những khía cạnh chính trị - xã hội của các mặt hoạt động trong  
một xã hội còn giai cấp, đặc biệt là trong chủ nghĩa tư bản và trong chủ  
nghĩa xã hội (kể cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội).  
Có thể đề cập đến một phương pháp nghiên cứu có tính khái quát mà  
chủ nghĩng kết lý luận  
từ thực tiễn, nhất là thực tiễn về chính trị - xã hội.  
IV. Chức năng, nhiệm vụ của chủ nghĩa xã hội khoa  
học và ý nghĩa việc nghiên cứu chủ nghĩa xã hội khoa  
học  
1. Chức năng và nhiệm vụ của chủ nghĩa xã hội khoa học  
Thứ nhất, chủ nghĩa xã hội khoa học có chức năng và nhiệm vụ trang  
bị những tri thức khoa học, đó là hệ thống lý luận chính trị - xã hội và  
phương pháp luận khoa học mà chủ nghĩa Mác-Lênin đã phát hiện ra và  
luận giải quá trình tất yếu lịch sử dẫn đến hình thành, phát triển hình thái  
kinh tế - người. Chức  
năng này cũng thống nhất với chức năng của triết học Mác-Lênin và kinh tế  
chính trị học Mác-Lênin, nhưng trực tiếp nhất là trang bị lý luận nhận thức  
về cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội.  
Không làm được chức năng này, chủ nghĩa xã hội khoa học sẽ không  
thể cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp nhận thức về chính trị - xã hội  
cho người nghiên cứu và hoạt động thực tiễn trong cách mạng xã hội chủ  
nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là cho các đảng cộng sản, nhà  
nước xã hội chủ nghĩa với chức năng lãnh đạo và quản lý xã hội.  
9
Thứ hai, chủ nghĩa xã hội khoa học có chức năng và nhiệm vụ trực  
tiếp nhất là giáo dục, trang bị lập trường tư tưởng chính trị của giai cấp  
công nhân cho đảng cộng sản, giai cấp công nhân và nhân dân lao động –  
lập trường xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa. Chính các nhà sáng lập ra  
chủ nghĩa xã hội khoa học đã có công lớn là xây dựng hệ thống lý luận  
phản ánh sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân rồi tuyên truyền, giáo dục  
trở lại cho giai cấp công nhân hiện đại hiểu về sứ mệnh lịch sử và bản chất  
của chính mình. Hệ thống lý luận đó đã trở thành hệ tư tưởng của giai cấp  
công nhân hiện đại.  
Không có hệ tư tưởng cách mạng và khoa học, không có lập trường và  
bản lĩnh chính trị xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa thì giai cấp công  
nhân, đảng của nó và nhân dân lao động không thể tiến tới giành chính  
quyền và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản;  
không thể đấu tranh với các hệ tư tưởng và các hoạt động thù địch chống chủ  
nghĩa xã hội, chống nhân dân lao động.  
Thứ ba, chủ nghĩa xã hội khoa học có chức năng và nhiệm vụ định  
hướng về chính trị - xã hội cho mọi hoạt động của giai cấp công nhân, của  
đảng cộng sản, của nhà nước và của nhân dân lao động trên mọi lĩnh vực,  
sao cho với bản chất,  
mục tiêu xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa; tức là qua từng nấc thang  
phát triển, tính chất xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa thuộc mọi lĩnh  
vực của xã hội thể hiện ngày càng rõ hơn và hoàn thiện hơn.  
2. ý nghĩa của việc nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học  
Về mặt lý luận: Việc nghiên cứu, học tập, vận dụng và phát triển lý  
luận chủ nghĩa Mác-Lênin là phải chú ý cả ba bộ phận hợp thành của nó.  
Nếu không chú ý nghiên cứu, học tập, vận dụng, phát triển chủ nghĩa xã hội  
khoa học sẽ làm cho triết học, kinh tế chính trị học Mác-Lênin dễ chệch  
hướng chính trị - xã hội, trước hết và chủ yếu là chệch hướng bản chất, mục  
tiêu là xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, giải phóng hoàn  
toàn xã hội và con người khỏi các chế độ tư hữu, áp bức, bất công, chiến  
tranh, nghực tế lịch sử  
nhân loại đã từng chứng kiến.  
Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học còn có ý nghĩa lý luận  
là: trang bị những nhận thức chính trị - xã hội (như đối tượng, chức năng,  
nhiệm vụ và phương pháp của chủ nghĩa xã hội khoa học đã nêu trên) cho  
đảng cộng sản, nhà nước và nhân dân lao động trong quá trình bảo vệ và  
xây dựng chủ nghĩa xã hội... Vì thế, các nhà kinh điển Mác-Lênin có lý khi  
xác định rằng, chủ nghĩa xã hội khoa học là vũ khí lý luận của giai cấp công  
10  
nhân hiện đại và đảng của nó để thực hiện quá trình giải phóng nhân loại và  
giải phóng bản thân mình. Cũng như triết học và kinh tế chính trị học Mác-  
Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học không chỉ giải thích thế giới mà căn bản là  
ở chỗ cải tạo thế giới (cả tự nhiên, xã hội và bản thân con người) theo hướng  
tiến bộ, văn minh.  
Đội ngũ trí thức và thế hệ trẻ nước ta hiện nay là những lực lượng xã  
hội có trí tuệ, có nhiều khả năng và tâm huyết trong quá trình cải tạo và xây  
dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nếu chỉ thuần tuý chú trọng về  
khoa học và công nghệ, phi chính trị, hoặc mơ hồ về chính trị và vi phạm  
pháp luật, họ càng không thể góp tài góp sức xây dựng Tổ quốc của mình.  
Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học chính là việc được trang bị  
trực tiếp nhất về ý thức chính trị - xã hội, lập trường tư tưởng chính trị và bản  
lĩnh cho mỗi cán bộ, đảng viên và mọi công dân Việt Nam góp phần thực  
hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng đề  
ra.  
Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học cũng làm cho ta có căn  
cứ nhận thức khoa học để luôn cảnh giác, phân tích đúng và đấu tranh  
chống lại những nhận thức sai lệch, những tuyên truyền chống phá của chủ  
nghĩa đế ớc, chế độ ta;  
chống chủ nghĩa xã hội, đi ngược lại xu thế và lợi ích của nhân dân, dân tộc  
và nhân loại tiến bộ.  
Về mặt thực tiễn, bất kỳ một lý thuyết khoa học nào, đặc biệt là các  
khoa học xã hội, bao giờ cũng có khoảng cách nhất định so với thực tiễn,  
nhất là những dự báo khoa học có tính quy luật. Nghiên cứu, học tập chủ  
nghĩa xã hội khoa học lại càng thấy rõ những khoảng cách đó, bởi vì chủ  
nghĩa xã hội trên thực tế, chưa có nước nào xây dựng hoàn chỉnh. Sau khi  
chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, cùng với thoái trào  
của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, lòng tin vào chủ nghĩa xã hội và chủ  
nghĩa xã hội khoa học, chủ nghĩa Mác-Lênin của nhiều người có giảm sút.  
Đó là một thực tế dễ hiểu. Vì thế, nghiên cứu, giảng dạy chủ nghĩa xã hội  
khoa học ý nghĩa chính  
trị cấp bách.  
Chỉ có bình tĩnh và sáng suốt, kiên định và chủ động sáng tạo tìm ra  
những nguyên nhân cơ bản và bản chất của những sai lầm, khuyết điểm,  
khủng hoảng, đổ vỡ và của những thành tựu to lớn trước đây cũng như của  
những thành quả đổi mới, cải cách ở các nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta  
mới có thể đi tới kết luận chuẩn xác rằng: không phải do chủ nghĩa xã hội –  
một xu thế xã hội hoá mọi mặt của nhân loại; cũng không phải do chủ  
nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học... làm các nước xã hội chủ  
11  
nghĩa khủng hoảng. Trái lại, chính là do các nước xã hội chủ nghĩa đã nhận  
thức và hành động trên nhiều vấn đề trái với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa  
Mác-Lênin... đã giáo điều, chủ quan duy ý chí, bảo thủ, kể cả việc đố kỵ,  
xem nhẹ những thành quả chung của nhân loại, trong đó có chủ nghĩa tư  
bản; đồng thời do xuất hiện chủ nghĩa cơ hội – phản bội trong một số đảng  
cộng sản và sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc thực hiện âm mưu diễn biến  
hoà bình đã làm cho chủ nghĩa xã hội thế giới lâm vào thoái trào.  
Thấy rõ thực chất những vấn đề đó một cách khách quan, khoa học;  
đồng thời được minh chứng bởi thành tựu rực rỡ của sự nghiệp đổi mới, cải  
cách của các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam, chúng ta càng  
củng cố bản lĩnh kiên định, tự tin tiếp tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ  
quốc theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh  
đã lựa chọn.  
Do đó, việc nghiên cứu học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ  
Chí Minh nói chung, lý luận chính trị - xã hội nói riêng và các khoa học  
khác... càng là vấn đề thực tiễn cơ bản và cấp thiết. Xây dựng, chỉnh đốn  
Đảng, chống mọi biểu hiện cơ hội chủ nghĩa, dao động, thoái hoá, biến chất  
trong đảng và cả xã hội, giáo dục lý luận chính trị - xã hội một cách cơ bản  
khoa họchủ nghĩa xã  
hội... cho cán bộ, học sinh, sinh viên, thanh thiếu niên và nhân dân. Tất  
nhiên đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và mở rộng hợp  
tác quốc tế; tiến hành hội nhập quốc tế, toàn cầu hoá về kinh tế; xây dựng  
"kinh tế tri thức", thực hiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ  
nghĩa... đang là những vận hội lớn, đồng thời cũng có những thách thức lớn  
đối với nhân dân ta, dân tộc ta. Đó cũng là trách nhiệm lịch sử rất nặng nề  
và vẻ vang của cả thế hệ trẻ đối với sự nghiệp xây dựng xã hội xã hội chủ  
nghĩa, cộng sản chủ nghĩa trên đất nước ta.  
Câu hỏi thảo luận và ôn tập  
1. Pĩa xã hội khoa  
học"?  
2. Nêu rõ vị trí, đối tượng và chức năng của chủ nghĩa xã hội khoa học  
(so sánh và nêu mối quan hệ giữa ba bộ phận của chủ nghĩa Mác-Lênin)?  
3. ý nghĩa của việc nghiên cứu chủ nghĩa xã hội khoa học, nhất là  
trong tình hình hiện nay trên thế giới và ở Việt Nam?  
12  
Chương II  
Lược khảo lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa  
Mọi lý luận và học thuyết khoa học ra đời, phát triển đều dựa trên hai  
căn cứ: Một mặt là kế thừa chọn lọc các tri thức khoa học hợp lý mà nhân  
loại đã tích luỹ trong quá khứ; mặt khác, tổng kết những kinh nghiệm hoạt  
động thực tiễn trong mỗi lĩnh vực tương ứng mà lý thuyết khoa học đó  
quan tâm, phản ánh. Sự hình thành, phát triển của chủ nghĩa xã hội khoa  
học cũng không nằm ngoài quy luật đó.  
I. Khái niệm và phân loại tư tưởng xã hội chủ nghĩa  
1. Khái niệm tư tưởng xã hội chủ nghĩa  
a) Định nghĩa tư tưởng xã hội chủ nghĩa  
Tư tưởng (tiếng Hy Lạp là Idéa - hình tượng) là một hình thái ý thức  
của con nào cũng do  
điều kiện sinh hoạt vật chất, do chế độ xã hội quy định và là sự phản ánh  
những điều kiện sinh hoạt vật chất của chế độ xã hội nhất định.  
Từ khi xuất hiện chế độ tư hữu và đi liền với nó là sự phân chia xã hội  
thành các giai cấp: thống trị và bị thống trị, áp bức và bị áp bức..., trong ý  
thức xã hội cũng bắt đầu xuất hiện và không ngừng phát triển các tư tưởng  
biểu hiện cho sự đối lập về lợi ích, về sự đấu tranh giữa các giai cấp. Ngay  
từ thời cổ đại, bên cạnh các tư tưởng phản ánh, bảo vệ lợi ích của các giai  
cấp thống trị, đã xuất hiện tư tưởng phản ánh, bảo vệ cho lợi ích, khát vọng  
của các giai cấp bị thống trị. Tư tưởng của giai cấp thống trị, duy trì củng  
cố địa vị của giai cấp thống trị, bất công, áp bức xã hội... Còn tư tưởng của  
các giai cấp bị thống trị phản ánh những nhu cầu về một chế độ xã hội  
không cg bình đẳng...  
Không những thế, những nhu cầu, những quan niệm, ước mơ, khát vọng ấy  
dần trở thành những con đường, cách thức, phương pháp... đấu tranh thực  
tiễn của nhân dân lao động. Nếu không có những tư tưởng tiến bộ xã hội  
chủ nghĩa có căn cứ khoa học thì không thể dẫn dắt được các phong trào  
thực tiễn của nhân dân đấu tranh vì lợi ích của mình.  
Vậy, tư tưởng xã hội chủ nghĩa là một hệ thống những quan niệm về  
những nhu cầu hoạt động thực tiễn và những ước mơ của các giai cấp lao  
động, bị thống trị; về con đường, cách thức và phương pháp đấu tranh  
13  
nhằm thực hiện một chế độ xã hội mà trong đó, tư liệu sản xuất là thuộc về  
toàn xã hội, không có áp bức và bóc lột, bất công, mọi người được bình  
đẳng về mọi mặt và đều có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc, văn minh.  
Chính sự xuất hiện chế độ tư hữu, xuất hiện giai cấp thống trị và bóc  
lột được xem như tiền đề kinh tế - xã hội cho sự xuất hiện các phong trào  
và tư tưởng xã hội chủ nghĩa từ phía nhân dân lao động.  
b) Các biểu hiện cơ bản của tư tưởng xã hội chủ nghĩa  
- Tư tưởng xã hội chủ nghĩa là các quan niệm về một chế độ xã hội mà  
mọi tư liệu sản xuất thuộc về mọi thành viên, thuộc về toàn xã hội.  
- Tư tưởng xã hội chủ nghĩa là tư tưởng về một chế độ xã hội mà ở đó  
ai cũng có việc làm và ai cũng lao động.  
- Tư tưởng xã hội chủ nghĩa là những tư tưởng về một xã hội, trong đó  
mọi người đều bình đẳng, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Mọi  
người đều có điều kiện để lao động, cống hiến, hưởng thụ và phát triển toàn  
diện.  
2. Phân loại các tư tưởng xã hội chủ nghĩa  
Các hường đưa ra  
hai tiêu chí phân loại các tư tưởng xã hội chủ nghĩa: thứ nhất, căn cứ vào  
quá trình lịch sử hình thành các tư tưởng xã hội chủ nghĩa gắn với các chế  
độ xã hội; thứ hai, căn cứ vào tính chất, trình độ phát triển của các tư tưởng  
ấy. Tuy nhiên, các nhà sử học mácxít, các nhà nghiên cứu tư tưởng xã hội  
chủ nghĩa theo quan điểm duy vật lịch sử thường tiến hành phân loại dựa  
trên sự kết hợp đúng mức hai tiêu chí nói trên.  
a) Phân loại tư tưởng xã hội chủ nghĩa theo lịch đại  
Theo tiến trình lịch sử phát triển, hay theo lịch đại, các nhà nghiên cứu  
lịch sử tư tưởng thường chia tư tưởng xã hội chủ nghĩa thành các giai đoạn  
phát triển tương ứng với các giai đoạn phát triển xã hội loài người. Theo  
cách này, người ta chia thành: tư tưởng xã hội chủ nghĩa cổ đại và trung  
đại, tư tg xã hội chủ  
nghĩa thời kỳ cận đại và tư tưởng xã hội chủ nghĩa thời kỳ hiện đại.  
b) Phân loại tư tưởng xã hội chủ nghĩa theo trình độ phát triển  
Theo trình độ phát triển của tư tưởng xã hội chủ nghĩa, người ta phân  
thành: chủ nghĩa xã hội sơ khai, chủ nghĩa xã hội không tưởng, chủ nghĩa  
xã hội không tưởng - phê phán và chủ nghĩa xã hội khoa học.  
14  
c) Kết hợp tính lịch đại với trình độ phát triển để phân loại các tư  
tưởng xã hội chủ nghĩa  
Dù sử dụng tiêu chí theo lịch đại hay theo trình độ phát triển của tri  
thức được tích luỹ trong phân loại tư tưởng xã hội chủ nghĩa, các nhà  
nghiên cứu đều cho rằng không nên tuyệt đối hoá các tiêu chí được sử  
dụng để phân loại, mà chỉ nên coi đó là tiêu chí chủ yếu, cơ bản nhất mà  
thôi.  
Do đó, khi phân loại tư tưởng xã hội chủ nghĩa để nghiên cứu, cần chú  
ý đến các cấp độ phát triển nội tại (theo kiểu kế thừa, phủ định, phát triển)  
của các tư tưởng ấy. Đây được coi là phương pháp phân loại đúng đắn nhất  
và là cơ sở để tiến hành khảo sát các tư tưởng xã hội chủ nghĩa.  
II. Lược khảo tư tưởng xã hội chủ nghĩa trước Mác  
1. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa thời cổ đại  
Chế độ cộng sản nguyên thủy tan rã, thay vào đó là chế độ chiếm hữu  
nô lệ, với sự thống trị của giai cấp chủ nô. Kinh tế, xã hội đã có bước phát  
triển đáng kể. Quan hệ hàng hoá - tiền tệ xuất hiện, xã hội phân chia thành  
kẻ giàu, người nghèo. Giai cấp chủ nô cùng với các tầng lớp chủ công  
trường thi... hợp thành  
lực lượng thống trị, áp bức xã hội. Giai cấp nô lệ và các tầng lớp lao động  
khác hợp thành lực lượng bị thống trị, bị áp bức. Cuộc đấu tranh chống áp  
bức, bóc lột do các giai cấp và tầng lớp bị thống trị tiến hành là tất yếu,  
phản ánh mâu thuẫn cơ bản trong phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ.  
Trong quá trình đấu tranh xã hội, đấu tranh giai cấp đó, những ước mơ,  
khát vọng về một xã hội không có áp bức, không có bóc lột được ra đời và  
phát triển.  
Những tư tưởng xã hội chủ nghĩa thời cổ đại chủ yếu được thể hiện  
mới chỉ là những ước mơ, niềm khát vọng của công chúng bị bóc lột, bị áp  
bức. Chúng được lan truyền, được phổ biến trong công chúng lúc đầu bằng  
những câu chuyện kể chưa thành văn, về sau là cả những áng văn chương  
cổ vũ chĩa của những  
người nô lệ. Những ước mơ, khát vọng ấy chỉ mới dừng ở lòng khao khát  
được quay về với "thời đại hoàng kim", mà sau này được các thánh kinh  
gọi là "giang sơn ngàn năm của Chúa", tức chế độ cộng sản nguyên thuỷ:  
không tư hữu, không giai cấp áp bức bóc lột, mọi người đều bình đẳng, tự  
do, v.v..  
15  
2. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVIII  
a) Hoàn cảnh lịch sử  
Từ khoảng thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVIII, nhân loại có những bước  
tiến dài trong đời sống kinh tế - xã hội. Các công trường thủ công có tính  
chất chuyên môn hoá dần hình thành, thay thế cho tính chất hợp tác sản  
xuất theo kiểu phường hội. Sự phân hoá giai cấp diễn ra mạnh mẽ hơn và  
kèm theo đó là những xung đột giai cấp cũng diễn ra quyết liệt hơn. Những  
thành phần đầu tiên của giai cấp tư sản và vô sản được hình thành, phát  
triển nhanh cùng với sự phát triển của nền công nghiệp lớn, sự mở mang  
thuộc địa, thị trường tư bản chủ nghĩa. Nhiều cuộc cách mạng tư sản nổ ra  
và thắng lợi. Giai cấp tư sản từng bước thiết lập địa vị thống trị của mình.  
Chủ nghĩa tư bản dần thay thế chế độ phong kiến ở phần lớn châu Âu, Bắc  
Mỹ. Sự tích tụ và tập trung tư bản diễn ra mạnh mẽ, xung đột giai cấp diễn  
ra gay gắt... Những điều kiện và tiền đề ấy, đã làm tư tưởng xã hội chủ  
nghĩa phát triển sang một thời kỳ mới, với một trình độ mới, qua công lao  
và đóng góp của nhiều nhà tư tưởng vĩ đại.  
b) Các đại biểu xuất sắc và các tư tưởng xã hội chủ nghĩa chủ yếu  
- Tư tưởng xã hội chủ nghĩa thế kỷ XVI - XVII:  
Chủ nghĩa xã hội không tưởng thế kỷ XVI - XVII có nhiều đại biểu  
xuất sắc: Tômát Morơ (1478-1535); Tômađô Campanenla (1568-1639);  
Giêrắcdơ Uynxtenli (1609-1652). Trong đó đáng chú ý nhất là T. Morơ với  
tác phẩm Không tưởng nổi tiếng.  
• Tômát Morơ (1478 - 1535)  
Tác phẩm chủ yếu của T. Morơ để người đời sau biết đến ông như một  
nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa xuất sắc là cuốn Không tưởng (Utopie) viết  
về cuộc sống của người dân trên đảo Utopie (chưa tồn tại ở đâu cả). Trong  
tác phẩm này, T. Morơ đã đề cập nhiều nội dung của tư tưởng xã hội chủ  
nghĩa dưới hình thức một tác phẩm văn học.  
Tư tưởng cơ bản nổi bật và có tính chất chủ đạo của ông là tư tưởng  
cho rằngp bức và bất  
công trong lòng xã hội tư bản là chế độ tư hữu. Trên cơ sở quan niệm xuất  
phát điểm ấy, ông mô tả một cách tài tình tình trạng phân hoá giàu, nghèo,  
những áp bức và bất công trong xã hội tư bản ngay khi mới hình thành;  
phân tích một cách sâu sắc sự khốn cùng của người nông dân do quá trình  
tích luỹ nguyên thuỷ tư bản mang lại... Điều quan trọng và rất căn bản  
trong các quan niệm xã hội chủ nghĩa của ông là ở chỗ, ông chỉ ra rằng,  
muốn xoá bỏ bất công, áp bức, xoá bỏ tình trạng phân hoá giàu nghèo, cần  
16  
xoá bỏ chế độ tư hữu. Với quan điểm có tính chất căn bản này, ông đã được  
xếp vào một trong số các nhà tư tưởng cộng sản chủ nghĩa vĩ đại của thế kỷ  
XVI.  
- Tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng thế kỷ XVIII  
Nhân loại trong thế kỷ XVIII được chứng kiến sự phát triển với tốc độ  
nhanh hơn của chủ nghĩa tư bản ở châu Âu và Bắc Mỹ. Các tiền đề kinh tế  
- xã hội và chính trị - xã hội cho sự xác lập hoàn toàn địa vị thống trị của  
giai cấp tư sản dần được chín muồi. Nền quân chủ chuyên chế đi vào thời  
kỳ suy tàn, thay vào đó là chính thể cộng hoà tư sản được thiết lập ở Hà  
Lan, Anh, Pháp, Hoa Kỳ... Tuy nhiên, cũng như cuộc Cách mạng tư sản  
Anh, cuộc Cách mạng tư sản Pháp diễn ra gay go, dai dẳng giữa các tập  
đoàn quý tộc, bảo thủ với bộ phận tư sản mới trong các lĩnh vực công  
nghiệp, thương nghiệp. Sự áp bức, bóc lột trong kinh tế cộng thêm chiến  
tranh, nội chiến triền miên đã làm gia tăng tính chất gay gắt của những mâu  
thuẫn và đối kháng giai cấp. Các phong trào phản kháng của nhân dân lao  
động chống lại giai cấp thống trị diễn ra mạnh mẽ. Để phản ánh cuộc đấu  
tranh ấy, đã xuất hiện nhiều nhà lý luận xã hội chủ nghĩa. Trong số đó phải  
kể đến các nhà tư tưởng Pháp: Giăng Mêliê, đặc biệt là Gabriendơ Mably,  
Grắccơ B
• Grắccơ Babớp (1760 - 1797)  
Trong bối cảnh không khí sục sôi của cuộc Cách mạng tư sản Pháp  
(1789), trong xã hội đã diễn ra một sự phân bố lực lượng mạnh mẽ. Nhiều  
nhà tư tưởng tiểu tư sản trước đây có khuynh hướng xã hội chủ nghĩa nay  
chuyển sang tham gia vào cuộc cách mạng lật đổ chế độ phong kiến. Giai  
cấp vô sản đã xuất hiện thành một lực lượng và bắt đầu có nhu cầu tách  
khỏi khối quần chúng nghèo khổ mà từ đó nó đã sinh ra. Đại biểu xuất sắc  
và là một lãnh tụ của lực lượng chính trị mới này là Grắccơ Babớp. Với sự  
ra đời của phái G. Babớp, lần đầu tiên trong lịch sử, vấn đề đấu tranh cho  
chủ nghĩa xã hội được đặt ra với tính cách một phong trào thực tiễn, chứ  
không chỉ là tư tưởng, lý luận, càng không chỉ là những khát vọng, mơ ước  
về chế đôn của những  
người bình dân. Đây được coi là một cương lĩnh hành động với những  
nhiệm vụ, những biện pháp cụ thể được thực hiện ngay trong tiến trình cách  
mạng.  
Ngoài những tư tưởng xã hội chủ nghĩa của G. Mêliê, G. Babớp, khi  
nghiên cứu thời kỳ này, cũng cần chú ý đến các quan niệm tiến bộ, mang  
tính chất xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa của Môrely, của  
Gabriendơ Mably.  
17  
Với Môrely, người mà cho đến nay giới sử học vẫn còn chưa biết rõ  
về tiểu sử của ông, tác giả của Bộ luật của tự nhiên. Trong đó ông đã trình  
bày một hệ thống những quan điểm có tính chất xã hội chủ nghĩa và cộng  
sản chủ nghĩa không tưởng trên cơ sở cho rằng quyền bình đẳng là tự  
nhiên, vốn có của con người, như đã từng diễn ra trong thời kỳ công xã  
nguyên thuỷ và vẫn tồn tại trong một số bộ lạc thời kỳ đó, chế độ tư hữu ra  
đời đã làm tiêu tan cái quyền bình đẳng tự nhiên ấy.  
Tương tự với Môrely, lý thuyết về quyền bình đẳng tự nhiên của G.  
Mably (1709-1785) được coi là cơ sở trong các luận điểm xã hội - chính trị  
của ông.  
3. Chủ nghĩa xã hội không tưởng - phê phán đầu thế kỷ XIX  
a) Hoàn cảnh lịch sử  
Cuối thế kỷ XVIII được coi là thời kỳ bão táp của cách mạng tư sản.  
Trên lĩnh vực kinh tế, sự ra đời của nền sản xuất công nghiệp đã diễn ra  
nhanh chóng ở nước Anh, một phần châu Âu lục địa và Bắc Mỹ. Sản xuất  
công nghiệp đã nhanh chóng làm biến đổi bộ mặt kinh tế - xã hội của thế  
giới mà theo đánh giá của Các Mác và Phriđrích Ăngghen: chỉ sau hơn hai  
thế kỷ tồa cải vật chất  
nhiều hơn tất cả các thời đại trước gộp lại. Lực lượng sản xuất phát triển  
nhanh chóng kéo theo sự biến đổi và ngày càng hoàn thiện quan hệ sản  
xuất chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Cùng với quá trình ấy, sự ra đời  
và hình thành ngày càng rõ nét hai lực lượng xã hội đối lập nhau: giai cấp  
tư sản và giai cấp công nhân. Giai cấp tư sản đã củng cố từng bước vững  
chắc địa vị thống trị của mình và cũng bắt đầu bộc lộ những bản chất cố  
hữu của nó: bóc lột, áp bức nhân dân lao động vì quyền lợi của giai cấp  
mình. Trong khi đó, giai cấp công nhân xuất hiện, từng bước lớn mạnh, trở  
thành một lực lượng xã hội quan trọng trong lĩnh vực sản xuất, trong nền  
kinh tế. Trong lĩnh vực xã hội - chính trị, họ cũng như các giai cấp và tầng  
lớp lao động khác, bị áp bức, bóc lột thậm tệ. Tình trạng bất công xã hội, bất  
bình đẳng và nghèo khó đè nặng lên vai họ.  
Trong điều kiện ấy, những phản kháng đầu tiên của giai cấp công  
nhân cùng với nhân dân lao động ngày càng tăng lên. Nhận thức được sự  
phản kháng ấy, một bộ phận trí thức tư sản và tiểu tư sản có tư tưởng cấp  
tiến đã phản ánh những lợi ích, khát vọng của giai cấp công nhân và của  
quần chúng lao động bị áp bức chống lại sự bất công xã hội. Một giai đoạn  
mới trong tiến trình phát triển của tư tưởng xã hội chủ nghĩa đã bắt đầu với  
tên tuổi của 3 nhà tư tưởng vĩ đại: Hăngri Đơ Xanh Ximông, Sáclơ Phuriê  
và Rôbớt Ôoen.  
18  
b) Các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng - phê phán tiêu biểu  
- Cơlôđơ Hăngri Đơ Xanh Ximông (1769 - 1825)  
Ông là người viết nhiều tác phẩm đề cập nhiều nội dung có tính chất  
xã hội chủ nghĩa.  
Trước hết, ông có công lao đề cập, luận giải cho lý thuyết về giai cấp  
và xung đột giai cấp. Mặc dù ông chưa thể phân định chính xác về nguồn  
gốc cũng như bản chất kinh tế - xã hội của các giai cấp nhưng đây là một  
đóng góp mới của ông đối với kho tàng tri thức nhân loại về xã hội nói  
chung, về tư tưởng xã hội chủ nghĩa nói riêng.  
Ông tự tuyên bố là người phát ngôn của giai cấp cần lao và giải phóng  
giai cấp ấy là mục đích cuối cùng của những nỗ lực mà ông thực hiện trong  
cuộc đời.  
Ông cũng chỉ ra tính chất nửa vời, thiếu triệt để và không vì lợi ích  
của nhân dân lao động, của cuộc Cách mạng tư sản Pháp 1789, nên theo  
ông cần có một cuộc cách mạng mới, một cuộc "tổng cách mạng". Để thực  
hiện cuộc cách mạng mới đó, ông chủ trương phải bằng "con đường bình  
yên chung", mặc dù thời trẻ ông từng cống hiến sức lực của mình trong  
cuộc kháBắc Mỹ.  
Quan niệm của ông về chế độ sở hữu của xã hội tương lai chứa đựng  
mâu thuẫn. Một mặt, ông cho rằng, trong xã hội ấy, chế độ sở hữu phải  
được tổ chức sao cho có lợi nhất cho toàn xã hội. Nhưng mặt khác, ông lại  
không chủ trương xoá bỏ chế độ tư hữu, mà chỉ cố gắng xoá bỏ sự phân  
hoá giàu nghèo một cách quá đáng, thông qua và bằng cách thực hiện chế  
độ tư hữu một cách phổ biến.  
- Sáclơ Phuriê (1772 - 1837)  
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình thương gia không mấy suôn sẻ  
trong việc buôn bán, S. Phuriê sớm được tiếp xúc với thương trường của xã  
hội tư bản phát triển. Là một người không được học hành đến nơi đến chốn,  
nhưng bù lại ông có một trí thông minh tuyệt vời. Tinh tế trong quan sát,  
sắc sảo tn chứng trong  
quan sát, phát hiện và phân tích vấn đề, sử dụng tài tình nguyên tắc  
antinomi trong trình bày các quan niệm về xã hội... Đó là những đặc thù  
trong nhân cách của S. Phuriê.  
Ngay từ khi chủ nghĩa tư bản đang ở trong buổi bình minh của tự do  
cạnh tranh, S.Phuriê đã phát hiện ra tình trạng vô chính phủ của nền công  
nghiệp tư bản chủ nghĩa. Trong nền kinh tế ấy, người lao động làm ra sản  
phẩm được hưởng thụ quá ít, trong khi kẻ ăn bám thì lại hưởng thụ quá  
19  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 179 trang myanh 25100 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học (Bản đẹp)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_chu_nghia_xa_hoi_khoa_hoc_ban_dep.pdf