Nguồn vốn vật chất và xã hội của các hộ gia đình ở xã Thới Bình (Huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau)

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH  
HO CHI MINH CITY UNIVERSITY OF EDUCATION  
TẠP CHÍ KHOA HỌC  
JOURNAL OF SCIENCE  
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN  
Tập 16, Số 5 (2019): 121-130  
SOCIAL SCIENCES AND HUMANITIES  
Vol. 16, No. 5 (2019): 121-130  
ISSN:  
1859-3100  
NGUỒN VỐN VẬT CHẤT VÀ XÃ HỘI CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH  
Ở XÃ THỚI BÌNH (HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU)  
Huỳnh Phẩm Dũng Phát1*, Kim Hải Vân2  
1 Khoa Địa lí – Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh  
2 THPT chuyên Hoàng Lê Kha - Tây Ninh  
* Tác giả liên hệ: Huỳnh Phẩm Dũng Phát – Email: [email protected]  
Ngày nhận bài: 27-02-2019; ngày nhận bài sửa: 11-3-2019; ngày duyệt đăng: 18-4-2019  
TÓM TẮT  
Trong giai đoạn 2000-2015, nguồn vốn vật chất và vốn xã hội của các hộ gia đình ở xã Thới  
Bình (huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau) đã có sự thay đổi theo hướng tích cực. Tỉ lệ hộ có nhà ở kiên  
cố, bán kiên cố; có phương tiện đi lại chính bằng xe máy, ô tô; có các đồ dùng lâu bền đều tăng.  
Mối quan hệ giữa các hộ với họ hàng, hàng xóm ngày càng phát triển và số người tham gia các tổ  
chức chính trị - xã hội cũng được nâng cao. Bài viết giới thiệu về sự biến đổi nguồn vốn vật chất và  
vốn xã hội của các hộ gia đình ở xã Thới Bình giai đoạn 2000-2015 dựa trên kết quả khảo sát 125  
chủ hộ và phỏng vấn 20 chủ hộ, từ đó đề xuất một số giải pháp phát triển hai nguồn vốn này trong  
thời gian tới.  
Từ khóa: hộ gia đình, nguồn vốn vật chất, nguồn vốn xã hội, xã Thới Bình.  
1.  
Đặt vấn đề  
Nguồn vốn sinh kế là thành phần quan trọng trong sinh kế. Nguồn vốn sinh kế gồm 5  
thành tố là con người, tự nhiên, tài chính, vật chất và xã hội; trong đó, vốn vật chất và xã  
hội là hai nguồn vốn phản ánh đời sống vật chất và mạng lưới xã hội, chuẩn mực, sự tin  
cậy trong xã hội của hộ gia đình. Theo định nghĩa của Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc  
Anh: “Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản và hàng hóa vật chất nhằm hỗ trợ việc  
thực hiện các hoạt động sinh kế. Nguồn vốn vật chất thể hiện ở cả cấp cơ sở cộng đồng hay  
cấp hộ gia đình. Trên góc độ cộng đồng, đó chính là cơ sở hạ tầng nhằm hỗ trợ cho sinh kế  
của cộng đồng hay cá nhân gồm hệ thống điện, đường, trường trạm, hệ thống cấp nước và  
vệ sinh môi trường, hệ thống tưới tiêu và hệ thống chợ. Ở góc độ hộ gia đình, vốn vật chất  
là trang thiết bị sản xuất như máy móc, dụng cụ sản xuất, nhà xưởng hay các tài sản nhằm  
phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày như nhà cửa và thiết bị sinh hoạt gia đình” (DFID,  
2001). Về vốn xã hội, theo Coleman (1990): “Vốn xã hội gồm những đặc trưng trong đời  
sống xã hội như sau: các mạng lưới xã hội, các chuẩn mực và sự tin cậy trong xã hội – là  
những cái giúp cho thành viên có thể hành động chung với nhau một cách có hiệu quả  
nhằm đạt đến mục tiêu chung”.  
Xã Thới Bình nằm ở phía Tây Nam huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, tiếp giáp với thị  
trấn Thới Bình, là một trong những xã có vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế  
121  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 16, Số 5 (2019): 121-130  
– xã hội của huyện. Năm 2015, diện tích tự nhiên của toàn xã là 10.109,4 ha với 4035 hộ  
gia đình và 17.374 nhân khẩu. Hoạt động kinh tế chính của hầu hết các hộ gia đình ở địa  
phương là nông nghiệp. Giá trị sản xuất xuất nông nghiệp của xã vào năm 2015 là 7651,7  
tỉ đồng (Chi cục Thống kê huyện Thới Bình, 2016). Hiện nay, cùng với sự phát triển kinh  
tế – xã hội của địa phương thì nguồn vốn vật chất và xã hội có sự thay đổi theo hướng ngày  
càng tăng. Việc nghiên cứu nguồn vốn vật chất và xã hội có ý nghĩa quan trọng trong định  
hướng phát triển hai nguồn vốn này nói riêng cũng như định hướng phát triển kinh tế – xã  
hội nói chung ở địa phương.  
Bài viết chỉ tập trung phân tích một số nội dung chính về vốn vật chất và vốn xã hội  
phổ biến có ở xã Thới Bình. Về vốn vật chất là nhà ở, phương tiện đi lại và đồ dùng lâu  
bền; về vốn xã hội là mối quan hệ của hộ với họ hàng, làng xóm và với các tổ chức chính  
trị – xã hội trong giai đoạn 2000-2015.  
2.  
Tổng quan nghiên cứu, cơ sở dữ liệu và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Tổng quan nghiên cứu  
Các nghiên cứu về vốn vật chất điển hình có thể kể: Vốn vật chất và phát triển kinh  
tế ở Việt Nam (Eric & Tâm, 2012), nghiên cứu đã sử dụng số liệu từ các ngành kinh tế để  
phân tích tác động của vốn vật chất đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Sustainable  
livelihoods guidance sheets (DFID, 2001) đã giới thiệu khung phân tích sinh kế bền vững,  
đưa ra khái niệm đồng thời phân tích vai trò của từng nguồn vốn sinh kế, trong đó có  
nguồn vốn xã hội và chỉ ra phương thức khai thác và phát triển sinh kế bền vững.  
Các nghiên cứu về vốn xã hội, điển hình có thể kể đến là Social Capital in the  
Creation of Human Capital (Coleman, 1988), bài báo đã trình bày khá cụ thể các nội dung:  
khái niệm vốn xã hội và nguồn nhân lực, các hình thức của vốn xã hội, vai trò của vốn xã  
hội trong việc tạo ra nguồn nhân lực. Bài báo Tìm hiểu khái niệm vốn xã hội (Trần Hữu  
Quang, 2006) cũng đã hệ thống hóa các khái niệm về nguồn vốn xã hội, phân tích các kích  
thước văn hóa và định chế của vốn xã hội. Bài báo Vốn xã hội, mạng lưới xã hội và những  
phí tổn (Hoàng Bá Thịnh, 2009) cũng đã giới thiệu một số quan niệm về vốn xã hội của  
một số tổ chức, cá nhân: Pierre Bourdieu, Jame Coleman, Ngân hàng Thế giới, Putnam và  
Fukuyama; qua đó, tác giả đã đưa ra quan niệm về mạng lưới xã hội; phân tích cấu trúc,  
chức năng của vốn xã hội, những phí tổn để duy trì vốn xã hội và mạng lưới xã hội.  
Các nghiên cứu nói trên đã cung cấp cho chúng tôi một số vấn đề lí luận về vốn vật  
chất và vốn xã hội: các khái niệm cơ bản, tính chất, đặc điểm, nội dung và vai trò của vốn  
vật chất và vốn xã hội đối với sinh kế của các hộ nói riêng và đối với phát triển kinh tế – xã  
hội nói chung.  
2.2. Cơ sở dữ liệu và phương pháp nghiên cứu  
Chúng tôi tiến hành khảo sát thông tin về nguồn vốn vật chất và vốn xã hội của các  
hộ gia đình ở xã Thới Bình với hai mốc thời gian năm 2000 và 2015 để có cứ liệu so sánh  
sự thay đổi của hai nguồn vốn ở hai thời điểm khác nhau trong cùng một hộ. Thông tin do  
122  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Huỳnh Phẩm Dũng Phát và tgk  
chính chủ hộ cung cấp thông qua hình thức điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu.  
Trong đó, bảng hỏi được xây dựng có nội dung liên quan đến nghiên cứu đối với 125 chủ  
hộ đại diện cho 3% tổng số hộ ở xã (125 trong 4035 hộ), phỏng vấn sâu 20 chủ hộ. Số hộ  
được điều tra trên địa bàn 11 ấp (từ ấp 1 đến ấp 11).  
3.  
Kết quả nghiên cứu  
3.1. Nguồn vốn vật chất  
- Nhà ở:  
Giai đoạn 2000-2015, tình trạng nhà ở của các hộ gia đình được khảo sát ở xã Thới  
Bình có sự thay đổi theo hướng tích cực. Chỉ trong vòng 5 năm, nhà kiên cố tăng 24 căn;  
nhà bán kiên cố tăng 26 căn; nhà thiếu kiên cố giảm 14 căn và nhà đơn sơ giảm 36 căn  
(xem Bảng 1). Đây là tín hiệu đáng mừng, thể hiện sự cải thiện trong đời sống vật chất của  
các hộ ở địa phương.  
Bảng 1. Tình trạng nhà ở phân theo loại nhà của các hộ gia đình ở xã Thới Bình  
(huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau) giai đoạn 2000-2015  
Nhà  
Nhà bán  
Nhà thiếu  
kiên cố  
Nhà  
Loại nhà ở  
Tổng số  
kiên cố  
kiên cố  
đơn sơ  
Số lượng (hộ)  
Tỉ lệ (%)  
125  
100  
125  
100  
16  
12,8  
40  
18  
14,4  
44  
41  
32,8  
27  
50  
40  
2000  
2015  
Số lượng (hộ)  
Tỉ lệ (%)  
14  
32  
35,2  
21,6  
11,2  
(Kết quả khảo sát của nhóm tác giả)  
Theo phỏng vấn, nhà ở ngày được cải thiện là do thu nhập của người dân tăng, số  
tiền tích lũy ngày càng nhiều. Năm 2000, thu nhập bình quân đầu người ở xã Thới Bình là  
10,9 triệu đồng/năm, đến năm 2015 là 25,6 triệu đồng/năm, tăng 14,7 triệu đồng (Chi cục  
Thống kê huyện Thới Bình, 2016). Ngoài ra, các hộ còn vay tiền từ họ hàng, hàng xóm,  
ngân hàng, tổ chức chính trị – xã hội để xây mới hoặc sửa chữa nhà. Bên cạnh đó, trong  
những năm gần đây, huyện Thới Bình luôn quan tâm đến công tác hỗ trợ các hộ gia đình,  
đặc biệt là các hộ chính sách, hộ nghèo. Theo Chi cục Thống kê huyện Thới Bình, năm  
2015, huyện đã huy động Quỹ đền ơn đáp nghĩa xây dựng được 35 căn nhà tình nghĩa (Chi  
cục Thống kê huyện Thới Bình, 2016).  
- Phương tiện đi lại:  
Bảng 2 cho thấy phương tiện đi lại của người dân có sự thay đổi khá đáng kể trong  
giai đoạn 2000-2015. Các phương tiện truyền thống, giản đơn được thay thế bởi các  
phương tiện có giá trị, tiện lợi hơn, nhanh hơn. Năm 2000, các hộ chủ yếu đi lại bằng  
xuồng/võ lãi với 101/125 hộ, chiếm đến 87,8%, nhưng đến năm 2015 phương tiện này  
giảm xuống chỉ còn 16 hộ với 13,1%. Tỉ trọng xe đạp giảm từ 3,5% xuống 1,6%, giảm  
1,9%. Xe máy là phương tiện đi lại có giá trị, phổ biến và tiện lợi nên tỉ trọng tăng đáng kể  
- từ 8,7% năm 2000 lên 81,1% năm 2015. Trong các phương tiện đi lại, xe ô tô có số lượng  
123  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 16, Số 5 (2019): 121-130  
hộ sử dụng thấp – trong vòng mười lăm năm chỉ tăng 4 hộ (từ 0 hộ lên 5 hộ) (xem Bảng 2).  
Nguyên nhân do giá thành xe ô tô đắt, chủ yếu là các hộ kinh doanh sử dụng; hệ thống các  
đường giao thông ở các huyện, xã chưa thuận tiện cho phương tiện này lưu thông.  
Bảng 2. Phương tiện đi lại chính của các hộ gia đình ở xã Thới Bình  
(huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau giai đoạn 2000-2015  
Xuồng/  
Vỏ lãi  
101  
Xe  
máy  
10  
Phương tiện đi lại  
Tổng số  
Xe đạp  
Xe ô tô  
Số lượng (hộ)  
Cơ cấu (%)  
125  
100  
125  
100  
4
0
0
5
4
2000  
2015  
87,8  
3,5  
2
8,7  
99  
Số lượng (hộ)  
Cơ cấu (%)  
16  
13,1  
1,6  
81,1  
(Kết quả khảo sát của nhóm tác giả)  
- Đồ dùng lâu bền:  
Giai đoạn 2000-2015, tỉ lệ đồ dùng lâu bền ở các hộ được khảo sát tăng đáng kể.  
Trong đó, tiêu biểu là máy vi tính/máy tính xách tay tăng từ 1,6% lên 36,8%, tăng 23 lần,  
máy giặt cũng tăng hơn 15 lần. Ngoài ra, các đồ dùng như tivi, tủ lạnh, sofa/bộ bàn ghế, tủ  
(tủ thờ, tủ tivi…) cũng lần lượt tăng 2,5 lần, 6,8 lần, 2,1 lần và 2,3 lần. Nguyên nhân làm  
cho tỉ lệ các đồ dùng tăng là do thu nhập tăng, các thiết bị nêu trên là rất cần thiết để phục  
vụ nhu cầu sinh hoạt trong gia đình và một phần là do giá thành rẻ hơn so với trước đây.  
Bảng 3 cho thấy các đồ dùng tuy tỉ lệ tăng cao nhưng số lượng vẫn chưa nhiều: số hộ  
có máy vi tính/máy tính xách tay, máy giặt vẫn còn thấp. Năm 2015, máy giặt là 17/125 hộ  
và máy vi tính/máy tính xách tay 46/125 hộ. Nguyên nhân là do máy vi tính/máy tính xách  
tay chủ yếu được mua sắm ở các hộ có con em học trung cấp, cao đẳng trở lên hoặc làm  
nhân viên văn phòng; đa số hộ ở khu vực nông thôn vẫn còn thói quen giặt đồ bằng tay,  
một số ít hộ không mua máy giặt vì chưa có điều kiện. Tủ lạnh được các hộ đầu tư nhiều  
do thiết bị này giúp sinh hoạt hàng ngày thuận lợi hơn.  
Bảng 3. Đồ dùng lâu bền của các hộ gia đình ở xã Thới Bình  
(huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau) giai đoạn 2000-2015  
Máy vi  
Bộ  
Tủ (tủ  
thờ, tủ  
tivi..)  
Tủ  
Máy  
tính/máy  
Đồ dùng lâu bền  
Tivi  
sofa/bộ  
bàn ghế  
lạnh  
giặt  
tính xách  
tay  
2
Số lượng (hộ)  
50  
40  
17  
1
44  
35,2  
92  
52  
41,6  
120  
96  
2000  
2015  
Tỉ lệ (%)  
13,6  
116  
92,8  
0,8  
17  
1,6  
46  
Số lượng (hộ)  
Tỉ lệ (%)  
125  
100  
13,6  
73,6  
36,8  
(Kết quả khảo sát của nhóm tác giả)  
124  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Huỳnh Phẩm Dũng Phát và tgk  
Tỉ lệ các đồ dùng lâu bền tăng nhờ sự thay đổi công nghệ sản xuất, giá cả hợp lí và  
xu hướng tiêu dùng của người dân. Thời điểm năm 2000, người dân mua sắm theo hướng  
ăn chắc mặc bền, nhưng đến nay chủ yếu mua những sản phẩm có mẫu mã và công nghệ  
sản xuất mới. Bên cạnh đó, sự phát triển của hình thức mua hàng trả góp cũng góp phần  
làm tăng tỉ lệ các đồ dùng lâu bền.  
3.2. Nguồn vốn xã hội  
Đối với nguồn vốn xã hội, việc xây dựng các mối quan hệ xã hội rất cần thiết, giúp  
các thành viên trong hộ có thể tìm được việc làm, tạo cơ hội cho hộ học tập các mô hình  
mới trong sản xuất kinh doanh và được hỗ trợ nguồn vốn.  
- Mối quan hệ giữa các hộ với họ hàng:  
Giai đoạn 2000-2015, số hộ gia đình có họ hàng sinh sống ở cùng địa phương tăng từ  
95 hộ lên 113 hộ, tăng 18 hộ. Quan hệ của các hộ với họ hàng không chỉ gắn bó trong sản  
xuất mà còn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày với nhiều hình thức khác nhau. Đây là  
điều rất tích cực, mang lại ý nghĩa cho cả hộ và họ hàng.  
+ Các hình thức thể hiện mối liên hệ xã hội giữa hộ và họ hàng thông qua các hoạt  
động: phụ đám cưới, đám giỗ, tang ma; thăm hỏi ốm đau và phụ giữ, chăm sóc con.  
Hình thức có tỉ lệ tăng nhiều nhất là phụ đám cưới, đám giỗ, tang ma tăng từ 33,9%  
lên 55,3%, tăng 21,4%. Khi các hộ có đám cưới, đám giỗ hay đám tang thì họ hàng thường  
đến phụ giúp một số công việc như dựng rạp, làm heo, nấu ăn, rửa chén và chạy bàn. Sau  
khi kết thúc đám tiệc, chủ hộ thường đến từng nhà họ hàng để gửi lời cảm ơn và quà bánh.  
Hình thức thăm hỏi ốm đau có xu hướng tăng nhẹ với 1,8%. Mỗi khi có thành viên trong  
hộ bị ốm đau, họ hàng hay sang nhà hoặc đến bệnh viện để thăm hỏi về tình hình sức khỏe  
và giúp đỡ, hỗ trợ, như: trông coi nhà, cho mượn hoặc vay tiền để chữa bệnh.  
Hình thức nhờ họ hàng phụ giữ, chăm sóc con, giảm từ 50,8% xuống còn 27,6%,  
giảm 23,2%. Hiện nay, ở khu vực nông thôn, hệ thống giáo dục mầm non phát triển nên  
các hộ gia đình gửi con đến nhà trẻ, trường mẫu giáo ngày càng tăng.  
Bảng 4. Mối liên hệ xã hội giữa các hộ gia đình và họ hàng ở xã Thới Bình  
(huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau) giai đoạn 2000-2015  
Năm  
2000  
9
2015  
13  
Số lượng (hộ)  
Cơ cấu (%)  
Phụ đám cưới, đám giỗ, đám tang  
15,3  
20  
17,1  
42  
Số lượng (hộ)  
Cơ cấu (%)  
Thăm hỏi ốm đau  
Phụ giữ, chăm sóc con  
Tổng số  
33,9  
30  
55,3  
21  
Số lượng (hộ)  
Cơ cấu (%)  
50,8  
59  
27,6  
76  
Số lượng (hộ)  
Cơ cấu (%)  
100  
100  
(Kết quả khảo sát của nhóm tác giả)  
125  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 16, Số 5 (2019): 121-130  
+ Tương tự như mối liên hệ xã hội, số hộ có liên hệ với họ hàng về mặt kinh tế cũng  
tăng 18 hộ, từ 52 hộ lên 70 hộ. Các hộ và họ hàng liên kết với nhau về mặt kinh tế thể hiện  
bằng nhiều hình thức khác nhau như: cho vay mượn tiền, hợp tác trong sản xuất nông  
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh dịch vụ và thuê làm lao động. Mối liên hệ về kinh  
tế giữa hộ và họ hàng ở địa phương còn thiếu sự bền chặt nên ngoại trừ hình thức cho vay  
mượn tiền có tỉ trọng cao và tăng nhiều (gần 30%), xu hướng chung của các hình thức hợp  
tác trong sản xuất tại địa phương là giảm. Cụ thể, hợp tác trong sản xuất nông nghiệp giảm  
từ 7,7% năm 2000 xuống 1,4% năm 2015, giảm 6,3%; sản xuất tiểu thủ công nghiệp giảm  
1,9%; kinh doanh dịch vụ giảm 2,4% (từ 3,8% xuống 1,4%); thuê lao động giảm 18,9% (từ  
34,6% xuống 15,7%) (xem Bảng 5). Nguyên nhân là do di cư lao động đến các tỉnh khác,  
do không cần vốn làm ăn, do phân chia lợi nhuận khi hợp tác...  
Tiền vay mượn từ họ hàng được các hộ sử dụng vào mục đích đầu tư sản xuất nông  
nghiệp, xây mới hoặc sửa chữa nhà, cho con đi học và chi các việc phát sinh trong gia  
đình. Số tiền các hộ vay mượn thường thấp và phải trả sớm vì tiền họ hàng cho hộ vay  
mượn chủ yếu là tiền vốn dùng để đầu tư tái sản xuất. Về lãi suất, họ hàng cho hộ vay với  
lãi suất rất thấp hoặc thậm chí không lấy lãi.  
Trong sản xuất nông nghiệp, hộ hợp tác với họ hàng thông qua việc hùn vốn thuê  
trồng lúa; nuôi tôm, cua và cá; trao đổi ngày công ở các khâu của trồng lúa như làm đất,  
gieo mạ, cấy và gặt lúa để hoàn thành các công việc và giảm chi phí. Ngoài ra, hộ còn  
hợp tác với họ hàng trong sản xuất tiểu thủ công nghiệp nhưng chiếm tỉ trọng rất thấp,  
năm 2015 là 0% do các hộ sản xuất chiếu ngày càng bị thu hẹp thị trường dẫn đến không  
thể tồn tại.  
Tỉ lệ hộ và họ hàng hợp tác trong kinh doanh dịch vụ giảm là do các hộ có đủ nguồn  
vốn để đầu tư hoặc gặp rắc rối trong việc phân chia lợi nhuận, quyền quyết định các vấn đề  
phát sinh nên nên muốn kinh doanh riêng.  
Đối với việc thuê họ hàng làm lao động, cùng với xu hướng di cư của huyện Thới  
Bình nói chung, lao động của các gia đình được khảo sát ở xã Thới Bình cũng di cư đến  
các tỉnh thành khác để làm việc (Thành phố Hồ Chí Minh 36,7%, Bình Dương 26,6%...);  
vì vậy, việc thuê lao động ở địa phương là điều rất khó khăn. Các hộ thuê lao động là do  
gia đình không có nhân lực hoặc lao động là công chức, viên chức. Ở xã Thới Bình, các hộ  
chủ yếu thuê họ hàng làm việc ở lĩnh vực nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.  
Trong nông nghiệp, hộ thuê làm các công việc đào đất, xới đất, nhổ mạ, cấy lúa và gặt lúa  
là chủ yếu.  
126  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Huỳnh Phẩm Dũng Phát và tgk  
Bảng 5. Mối liên hệ kinh tế giữa các hộ gia đình và họ hàng ở xã Thới Bình  
(huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau) giai đoạn 2000-2015  
Năm  
2000  
2015  
Số lượng (hộ)  
4
1
Hợp tác trong sản xuất nông nghiệp  
Cơ cấu (%)  
7,7  
1
1,4  
0
Số lượng (hộ)  
Hợp tác trong sản xuất tiểu thủ công nghiệp  
Cơ cấu (%)  
1,9  
0
Số lượng (hộ)  
Cơ cấu (%)  
2
1
Hợp tác trong kinh doanh dịch vụ  
Thuê làm lao động  
Cho vay mượn tiền  
Tổng số  
3,8  
18  
1,4  
11  
Số lượng (hộ)  
Cơ cấu (%)  
34,6  
27  
15,7  
57  
Số lượng (hộ)  
Cơ cấu (%)  
51,9  
52  
81,4  
70  
Số lượng (hộ)  
Cơ cấu (%)  
100  
100  
(Kết quả khảo sát của nhóm tác giả)  
+ Mức độ tiếp xúc là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá mối quan hệ giữa  
các hộ và họ hàng. Giai đoạn 2000-2015, mức độ tiếp xúc có sự biến đổi theo hướng tích  
cực, tăng tỉ trọng mức rất thường xuyên, thường xuyên, đồng giảm các mức bình thường, ít  
tiếp xúc và rất ít tiếp xúc. Trong đó, mức độ rất thường xuyên tăng 12% và thường xuyên  
8% (xem Bảng 6). Điều này cho thấy, sự tin cậy giữa hộ với các mối quan hệ trong xã hội  
ngày càng nâng cao.  
Mặc dù giảm nhưng đến năm 2015 vẫn còn 2 hộ rất ít tiếp xúc với họ hàng do có  
những mâu thuẫn, xích mích từ những việc nhỏ nhặt trong cuộc sống như: tranh chấp lối  
đi, vật nuôi quậy phá, con nhỏ tranh cãi… dẫn đến mất đi tình thân thiết.  
Bảng 6. Mức độ tiếp xúc giữa các hộ gia đình với hàng xóm ở xã Thới Bình  
(huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau) giai đoạn 2000-2015  
Mức độ tiếp xúc  
Số lượng (hộ)  
2000  
16  
2015  
31  
Rất thường xuyên  
(12- 14 lần/tuần)  
Thường xuyên  
(từ 9 -11 lần/tuần)  
Bình thường  
Cơ cấu (%)  
Số lượng (hộ)  
Cơ cấu (%)  
Số lượng (hộ)  
Cơ cấu (%)  
Số lượng (hộ)  
Cơ cấu (%)  
Số lượng (hộ)  
Cơ cấu (%)  
12,8  
59  
24,8  
69  
47,2  
30  
55,2  
18  
(6-8 lần/tuần)  
Ít tiếp xúc  
24  
14,4  
5
13  
(3-5 lần/tuần)  
Rất ít tiếp xúc  
(0-2 lần/tuần)  
10,4  
7
4,0  
2
5,6  
1,6  
(Kết quả khảo sát của nhóm tác giả)  
127  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 16, Số 5 (2019): 121-130  
- Mối quan hệ của các hộ với các tổ chức chính trị - xã hội  
Trong mười lăm năm, số hộ tham gia vào các tổ chức chính trị – xã hội có xu hướng  
tăng cao. Năm 2000 có 35 hộ, đến năm 2015 tăng lên 75 hộ, tăng 40 hộ. Các hộ đồng thời  
tham gia vào nhiều tổ chức khác nhau và trung bình mỗi hộ tham gia 2 tổ chức. Trong đó,  
chủ yếu các hộ tham gia vào Hội Liên hiệp Phụ nữ với 53,1%. Tỉ trọng của các tổ chức Hội  
Nông dân, Hội Cựu chiến binh và các tổ chức khác lần lượt là 27,9%, 4,8%, 14,2%.  
Khi tham gia vào các tổ chức chính trị – xã hội, ngoài việc được học tập các mô hình  
sản xuất, kinh doanh mới, học hỏi kinh nghiệm, các hộ còn được hỗ trợ tiền vốn để đầu tư  
sản xuất, kinh doanh. Năm 2015, khảo sát cho thấy trong tổng số 27 hộ vay vốn tín dụng,  
có 4 hộ vay vốn từ các tổ chức chính trị – xã hội, chiếm gần 15%.  
Khảo sát thực tế tại địa phương cho thấy, các tổ chức chính trị – xã hội đã chú trọng  
quan tâm nhiều mặt cho các hộ tham gia: Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện luôn quan tâm, giúp  
đỡ hội viên cả trong đời sống và sản xuất: Nhiều phụ nữ ở địa phương vươn lên thoát  
nghèo thông qua các chương trình hũ gạo tình thương; 5 không, 3 sạch; mua bảo hiểm cho  
hội viên; nuôi heo đất. Hội Nông dân huyện luôn tạo điều kiện để hội viên có cơ hội tìm  
hiểu, tập huấn và chuyển giao các kĩ thuật mới trong sản xuất nông nghiệp. Hội đã mời các  
các kĩ sư chuyên ngành nông nghiệp của Trường Đại học Cần Thơ về tập huấn kĩ thuật  
nuôi tôm, cá; mời kĩ sư Trung tâm Khuyến nông tỉnh Cà Mau đến tập huấn và chuyển giao  
kĩ thuật trồng lúa, trồng hoa màu. Ngoài ra, hàng năm còn tổ chức bồi dưỡng kĩ thuật  
khuyến nông, khuyến ngư cho nông dân. Đối với các cựu chiến binh, họ luôn được Hội  
Cựu chiến binh huyện Thới Bình hỗ trợ để phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững, nâng  
cao đời sống vật chất và tinh thần. Hội thường xuyên phối hợp với các cấp ngành tổ chức  
bồi dưỡng, tập huấn chuyển giao kĩ thuật, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; phát  
động phong trào cựu chiến binh tiết kiệm, đóng góp xây dựng quỹ hỗ trợ “Xóa nhà dột  
nát” cho cựu chiến binh có hoàn cảnh khó khăn. Hội cũng đã xây dựng và nhân rộng nhiều  
mô hình sản xuất có hiệu quả như mô hình lúa – tôm, lúa – tôm càng xanh; mô hình nuôi le  
le, rắn ri tượng.  
4.  
4.1. Kết luận  
Giai đoạn 2000-2015, nguồn vốn vật chất của các hộ gia đình ở xã Thới Bình có sự  
Kết luận và đề xuất  
thay đổi theo hướng tích cực, tuy tốc độ vẫn còn chậm. Tỉ lệ nhà ở kiên cố và bán kiên cố  
nâng lên mức khá. Số hộ có phương tiện đi lại là xe máy, xe ô tô tăng, song xe ô tô vẫn còn  
hạn chế. Đa số các đồ dùng lâu bền đều tăng tỉ lệ, tăng nhanh nhất là máy vi tính/máy tính  
xách tay.  
Về nguồn vốn xã hội, tỉ lệ hộ có mối liên hệ với họ hàng về xã hội và kinh tế khá ổn  
định. Mức độ tiếp xúc giữa các hộ diễn ra thường xuyên, tính cố kết cộng đồng cao; tuy  
nhiên vẫn còn xảy ra mâu thuẫn với họ hàng ở một số ít hộ. Số hộ tham gia vào các tổ chức  
128  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Huỳnh Phẩm Dũng Phát và tgk  
chính trị – xã hội ở mức tương đối. Các tổ chức kinh tế – xã hội có nhiều hình thức khác  
nhau giúp đỡ các hộ gia đình ổn định kinh tế, nâng cao đời sống.  
Có thể thấy, nguồn vốn vật chất và nguồn vốn xã hội của các hộ gia đình ở xã Thới  
Bình có xu hướng phát triển, tuy nhiên chưa thực sự mạnh mẽ, nhất là liên kết kinh tế giữa  
hộ với họ hàng. Điều này có tác động đến nguồn vốn tài chính trong sinh kế thông qua cơ  
hội tiếp cận việc làm của các thành viên trong hộ, vay vốn từ các mối quan hệ xã hội.  
4.2. Đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn vốn vật chất và xã hội ở xã Thới Bình  
(huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau)  
Từ kết quả khảo sát, bài viết đề xuất một số giải pháp để góp phần phát triển nguồn  
vốn vật chất và xã hội ở xã Thới Bình như sau:  
- Về tiếp cận nguồn vốn, huyện Thới Bình nên khuyến khích tạo điều kiện cho các hộ  
gia đình được tiếp cận với nguồn vốn vay ưu đãi để đầu tư phát triển nguồn vốn vật chất  
như xây dựng nhà ở kiên cố, bán kiên cố, mua sắm phương tiện đi lại phục vụ sản xuất,  
qua đó góp phần phát triển ổn định đời sống vật chất cho người dân.  
- Về phát triển giao thông nông thôn, ngành giao thông và chính quyền tỉnh Cà Mau  
cần đẩy mạnh đầu tư xây dựng các tuyến đường giao thông đáp ứng phương tiện ô tô ở lưu  
thông các huyện, xã để thuận tiện cho việc vận chuyển của người dân, từ đó thúc đẩy số hộ  
sở hữu ô tô phục vụ sản xuất, kinh doanh.  
- Về đẩy mạnh chương trình nông thôn mới, chính quyền xã Thới Bình cần sớm tổ  
chức hòa giải cho các hộ có xảy ra mâu thuẫn với nhau, đồng thời đẩy mạnh công tác tổ  
chức các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao giữa các ấp nhằm củng cố  
mối quan hệ láng giềng, tăng tính đoàn kết cho người dân và xây dựng môi trường văn hóa  
lành mạnh ở địa phương.  
- Về việc khuyến khích hợp tác trong sản xuất để tăng năng lực sản xuất của các hộ và  
cộng đồng, ngành nông nghiệp và chính quyền tỉnh Cà Mau nên khuyến khích các hộ gia  
đình ở các huyện, xã hợp tác xây dựng các hợp tác xã, đầu tư phát triển thế mạnh của địa  
phương như nuôi trồng thủy sản, trồng hoa màu, tiến đến xây dựng thương hiệu có chỉ dẫn  
địa lí; từ đó, giúp các hộ nâng cao thu nhập và phát triển mối quan hệ hợp tác về kinh tế.  
- Về việc phát triển hội viên các tổ chức tại địa phương, các tổ chức chính trị – xã hội  
cần phối hợp với chính quyền địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho người dân  
biết quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia các tổ chức chính trị – xã hội, nâng cao số lượng,  
chất lượng hội viên tham gia.  
Tuyên bố về quyền lợi: Cá c tá c giả xá c nhận hoàn toàn không có xung đột về quyền lợi.  
129  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 16, Số 5 (2019): 121-130  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Coleman, James S. (1988). Social Capital in the Creation of Human Capital. The American Journal  
of Sociology, 94, 95-120.  
Coleman, James S. (1990). Foundations of Social Theory. Massachusetts: Harvard University  
Press.  
Chi cục Thống kê huyện Thới Bình. (2016). Niên giám thống kê huyện Thới Bình năm 2015. Thới  
Bình.  
DFID (Department for International Development). (2001). Sustainable Livelihoods Guidance  
Sheets. London.  
Eric Iksoon Im, Vũ Băng Tâm. (2012). Vốn vật chất và phát triển kinh tế ở Việt Nam. Tạp chí Phát  
triển Kinh tế, 261, 30-35.  
Hoàng Bá Thịnh. (2009). Vốn xã hội, mạng lưới xã hội và những phí tổn. Tạp chí xã hội học, 1, 42-  
51.  
Trần Hữu Quang. (2006). Tìm hiểu khái niệm vốn xã hội. Tạp chí Khoa học xã hội (TPHCM),  
7(95), 74-81.  
THE PHYSICAL CAPITAL AND THE SOCIAL CAPITAL  
OF HOUSEHOLDS IN THOI BINH COMMUNE (THOI BINH DISTRICT, CA MAU PROVINCE)  
Huynh Pham Dung Phat1*, Kim Hai Van2  
1Ho Chi Minh City University of Education  
2Hoang Le Kha High School for the Gifted  
* Corresponding author: Huynh Pham Dung Phat – Email: [email protected]  
Received: 27/02/2019; Revised: 11/3/2019; Accepted: 18/4/2019  
ABSTRACT  
During the period 2000-2015, in Thoi Binh comune (Thoi Binh district, Ca Mau province),  
the physical capital and the social capial of households have changed positively. The percentage of  
households with solid house, semi – solid house; main means of transportation by motorcycles,  
cars; durable goods increased. The relationship between households with relatives, neighbours is  
increasingly developed and the number of people participating in socio – political organizations  
has improved. This article introduces the transformation of physical capital and social capital of  
households in Thoi Binh commune (Thoi Binh district, Ca Mau province) during the period 2000-  
2015 based on survey results of 125 householders and interviewed 20 householders. Thereby, the  
authors propose some measures to develop these two capital in the next time.  
Keywords: household, physical capital, social capital, Thoi Binh commune.  
130  
pdf 10 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 20640 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nguồn vốn vật chất và xã hội của các hộ gia đình ở xã Thới Bình (Huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnguon_von_vat_chat_va_xa_hoi_cua_cac_ho_gia_dinh_o_xa_thoi_b.pdf