Quan hệ giữa truyền thông xã hội và tài sản khách hàng: Trường hợp nghiên cứu tại Thành phố Huế

Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Kinh tế và Phát triển; ISSN 2588–1205  
Tập 126, Số 5C, 2017, Tr. 115–126; DOI: 10.26459/hueuni-jed.v126i5C.4546  
QUAN HỆ GIỮA TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI VÀ TÀI SẢN  
KHÁCH HÀNG: TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI  
THÀNH PHỐ HUẾ  
Trần Đức Trí*  
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế, 99 Hồ Đắc Di, Huế, Việt Nam  
Tóm tắt: Trong thời gian vừa qua trên địa bàn thành phố Huế, nhiều doanh nghiệp đã sử dụng truyền  
thông xã hội để nâng cao tài sản khách hàng. Nghiên cứu này thực hiện để đo lường tác động của truyền  
thông xã hội trong duy trì và nâng cao tài sản khách hàng thông qua Cảm nhận truyền thông xã hội, Tài  
sản giá trị, Tài sản quan hệ và Tài sản thương hiệu. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thu được từ 306 bảng hỏi  
phỏng vấn người tiêu dùng và phương pháp mô hình phương trình cấu trúc Structural Equation Model để  
phân tích mối liên hệ giữa các yếu tố này. Kết quả nghiên cứu cho rằng Cảm nhận truyền thông xã hội có  
tác động lớn đến Tài sản khách hàng, đặc biệt thông qua Tài sản thương hiệu. Tài sản quan hệ và Tài sản  
giá trị đều có tác động, nhưng mới mức độ thấp hơn.  
Từ khóa: truyền thông xã hội, tài sản khách hàng, mô hình cấu trúc tuyến tính  
1
Đặt vấn đề  
Những năm vừa qua chứng kiến tốc độ tăng trưởng mạnh của các trang web mạng xã hội  
như Facebook, Youtube, Twitter… và sự ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống của con người. Theo  
báo cáo của tổ chức We Are Social thực hiện năm 2014 thì Việt Nam hiện đang có khoảng 36  
triệu người dùng Internet với hơn 20 triệu tài khoản facebook đang hoạt động. Thời lượng sử  
dụng Internet của người dùng Việt Nam cũng khá cao, lên đến 4 giờ 37 phút trung bình mỗi  
ngày, trong đó hơn một nửa thời gian dùng để vào các trang web mạng xã hội. Thêm vào đó,  
theo báo cáo Thương mại điện tử Việt Nam năm 2014, tham gia vào các mạng xã hội được khảo  
sát là hoạt động hàng ngày phổ biến nhất của đại đa số người dùng Internet Việt Nam, chiếm tỉ  
lệ lên đến 81,2 %. Những số liệu thống kê trên cho thấy mức độ thâm nhập của các trang web  
mạng xã hội đến cuộc sống của người dân Việt Nam sâu sắc như thế nào.  
Do vậy, để có thể thích ứng với sự biến đổi môi trường này, mạng xã hội đã vượt qua hai  
công cụ quảng bá là cỗ máy tìm kiếm và báo điện tử để trở thành phương tiện có tỉ lệ doanh  
nghiệp sử dụng cao nhất, chiếm 50 % (Báo cáo Thương mại điện tử, 2015). Tuy nhiên, cũng theo  
báo cáo này, hiệu quả của việc quảng bá website thương mại điện tử dựa vào mạng xã hội chưa  
được đánh giá cao bằng công cụ tìm kiếm và chỉ cao hơn một ít so với hình thức báo điện tử.  
Nhận bài: 29–09–2017; Hoàn thành phản biện: 04–10–2017; Ngày nhận đăng: 15–12–2017  
Trần Đức Trí  
Tập 126, Số 5C, 2017  
Trong thời gian vừa qua trên địa bàn thành phố Huế, khá nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu  
tiến hành đưa truyền thông xã hội trở thành một trong những kênh marketing chính của doanh  
nghiệp. Một số doanh nghiệp sử dụng bộ công cụ truyền thông xã hội đồng bộ trong cả nước.  
Một số doanh nghiệp nhỏ khác cũng bắt đầu xây dựng thương hiệu trên Internet thông qua  
mạng xã hội từ đầu. Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả công tác truyền thông xã hội của doanh  
nghiệp, đặc biệt trong việc nâng cao tài sản khách hàng có vai trò hết sức quan trọng. Đó chính  
là lý do nghiên cứu quan hệ giữa truyền thông xã hội và tài sản khách hàng đối với thành phố  
Huế. Nghiên cứu này nhằm 3 mục tiêu: (i) Hệ thống hóa lý thuyết liên quan đến hoạt động  
truyền thông xã hội và tài sản KH, (ii) Đánh giá hiệu quả hoạt động truyền thông xã hội trong  
duy trì và nâng cao giá trị KH, và (iii) Đề xuất giải pháp thúc đẩy hiệu quả công tác truyền  
thông xã hội của doanh nghiệp.  
2
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu  
2.1  
Truyền thông xã hội  
Truyền thông xã hội là các ứng dụng trực tuyến, nền tảng và phương tiện truyền thông  
nhằm tạo thuận lợi cho các tương tác, hợp tác và chia sẻ thông tin (Richter & Koch, 2007). Theo  
Kim và Ko (2010a), truyền thông xã hội có thể có tác động đáng kể đến danh tiếng của một  
thương hiệu. Do đó, các tập đoàn và thương hiệu bây giờ cần phải tính đến giá trị của khách  
hàng cũng như ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông xã hội đối với họ.  
2.2  
Marketing truyền thông xã hội  
Theo Gunelius (2011), marketing truyền thông xã hội “là bất kỳ dạng thức marketing trực  
tiếp hoặc gián tiếp được sử dụng để xây dựng kiến thức, nhận biết, gợi nhớ và thúc đẩy hành  
động hướng đến một thương hiệu, doanh nghiệp, sản phẩm, con người hoặc những đối tượng  
khác thông qua sử dụng các công cụ web xã hội như các trang blog, siêu blog, mạng xã hội,  
trang đánh dấu cộng đồng và chia sẻ nội dung”.  
Marketing truyền thông xã hội nên được xem xét như là một chiến lược marketing dài  
hạn, nhưng doanh nghiệp có thể dùng nó để đạt được những mục tiêu thị trường trong ngắn  
hạn như hoạt động xúc tiến. Marketing truyền thông xã hội là một quá trình gồm nhiều bước,  
và doanh nghiệp cần chuẩn bị kỹ lưỡng mới có thể đạt kết quả tích cực như mong đợi.  
2.3  
Tài sản khách hàng  
Giá trị mà khách hàng mang đến không chỉ giới hạn ở lợi nhuận từ mỗi giao dịch mà còn  
là tổng số lợi nhuận mà khách hàng có thể cung cấp trong suốt mối quan hệ với công ty (Kumar  
& George, 2007). Do đó, khách hàng được xem như là tài sản vô hình cần phải có được, duy trì  
116  
Jos.hueuni.edu.vn  
Tập 126, Số 5C, 2017  
và tối đa hóa giống như các tài sản tài chính khác (Blattberg và cs., 2001). Tài sản khách hàng,  
thường được xác định là tổng số các giá trị tồn tại của khách hàng, đã được coi là yếu tố quyết  
định nhất của các giá trị lâu dài của tập đoàn (Kim và cs., 2010; Lemon và cs., 2001).  
Lemon và cs. (2001) xác định ba tác nhân của tài sản khách hàng: giá trị, thương hiệu và  
quan hệ; đây là những động lực chính của tài sản khách hàng tổng thể.  
Thứ nhất, tài sản giá trị là đánh giá khách quan của khách hàng về lợi ích của một thương  
hiệu, dựa trên nhận thức của những gì được nhận cho những gì nhận được (Vogel và cs., 2008).  
Ba điểm chính về tài sản giá trị là chất lượng, giá cả và sự tiện lợi (Lemon và cs., 2001).  
Thứ hai, tài sản quan hệ thể hiện xu hướng của khách hàng để duy trì mối quan hệ với  
thương hiệu, vượt xa những đánh giá khách quan và chủ quan. Thông thường, các chương  
trình khách hàng trung thành dưới sự kiểm soát của một công ty có thể tăng cường sự công  
bằng về mối quan hệ. Tuy nhiên, lòng trung thành đối với một thương hiệu nhất định ngày  
càng yếu đi so với ngày hôm qua khi số lượng lựa chọn của khách hàng ngày càng đa dạng..  
Điều cần thiết là xây dựng mối quan hệ khách hàng mạnh mẽ thông qua việc đối xử đặc biệt  
hoặc công nhận và các chương trình cộng đồng có thể là một cách hiệu quả để tăng cường tài  
sản quan hệ.  
Thứ ba, tài sản thương hiệu là đánh giá chủ quan và phi vật thể của khách hàng về  
thương hiệu vượt quá giá trị của nó (Kim và cs., 2008; Lemon và cs., 2001). Thương hiệu xây  
dựng hình ảnh tốt là thương hiệu có thể làm cho khách hàng xác định điểm đặc biệt so với  
những đối thủ cạnh tranh (Keller, 1998). Các đòn bẩy có thể thực hiện được của thương hiệu là  
nhận thức thương hiệu, thái độ đối với thương hiệu và đạo đức doanh nghiệp (Lemon và cs.,  
2001).  
2.4  
Giả thuyết và mô hình nghiên cứu  
Ban đầu, mục đích của marketing là tạo ra một giao tiếp mà thông qua đó một công ty có  
thể thông báo cho khách hàng về các sản phẩm và dịch vụ của họ. Marketing là một quá trình  
đa chiều hình thành từ các chiến lược khác nhau; tuy nhiên, mục tiêu chính của bất kỳ chiến  
lược marketing nào là tăng doanh thu và lợi nhuận. Theo Srivastava và cs. (1998), marketing là  
việc đầu tư nhằm cải thiện tài sản khách hàng khách hàng. Vì sự tham gia của thương hiệu  
trong các phương tiện truyền thông xã hội thực hiện như là một hoạt động marketing để xây  
dựng mối quan hệ với khách hàng và tăng lợi nhuận của công ty, các hoạt động truyền thông xã  
hội của các thương hiệu sang trọng dự kiến sẽ tạo ra những ảnh hưởng tích cực đối với các cổ  
đông.  
H1: Cảm nhận của khách hàng về các hoạt động truyền thông xã hội có tác động tích cực  
đến tài sản giá trị của doanh nghiệp,  
117  
Trần Đức Trí  
Tập 126, Số 5C, 2017  
H2: Cảm nhận của khách hàng về các hoạt động truyền thông xã hội có tác động tích cực  
đến tài sản quan hệ của doanh nghiệp,  
H3: Cảm nhận của khách hàng về các hoạt động truyền thông xã hội có tác động tích cực  
đến tài sản thương hiệu của doanh nghiệp,  
Trong tính toán tài sản khách hàng, Rust và cs. (2000) đã liên kết đầu vào marketing với  
phản ứng của khách hàng. Rust và cs. (2014) đã chứng minh rằng trong ngành dịch vụ hàng  
không, tài sản giá trị, tài sản quan hệ, và tài sản thương hiệu đều có quan hệ với tài sản khách  
hàng. Mô hình nghiên cứu tương tự cũng được áp dụng trong việc đo lường tài sản khách hàng  
của các thương hiệu thời trang trong nhiều nghiên cứu khác (Ko & Oh, 2009; Ko & Lee, 2009;  
Yun & Ko, 2006; Zhang và cs., 2010). Ba giả thuyết sau được phát triển và thành lập:  
H4: Tài sản giá trị có tác động tích cực đến tài sản khách hàng của doanh nghiệp,  
H5: Tài sản quan hệ có tác động tích cực đến tài sản khách hàng của doanh nghiệp,  
H6: Tài sản thương hiệu có tác động tích cực đến tài sản khách hàng của doanh nghiệp.  
Dựa trên việc hình thành các giả thuyết nghiên cứu như trên, mô hình nghiên cứu được  
đề xuất như sau:  
Biểu đồ 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất.  
3
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
3.1  
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
Khách hàng cá nhân đang có tần suất sử dụng mạng xã hội thường xuyên tại thành phố  
Huế.  
Phạm vi không gian: các doanh nghiệp đang áp dụng truyền thông xã hội và khách hàng  
cá nhân tại thành phố Huế.  
Phạm vi thời gian: Năm 2016.  
118  
Jos.hueuni.edu.vn  
Tập 126, Số 5C, 2017  
3.2  
Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu này được tiếp cận theo hướng khách hàng dưới dạng định lượng bằng cách  
xử lý, rút trích thông tin từ dữ liệu bằng cách công cụ phân tích định lượng là SPSS và AMOS  
20. Sử dụng bảng hỏi để điều tra trên mẫu đại diện cho tổng thể và đưa ra những kết luận về  
đặc điểm, mối quan hệ trên mẫu để suy ra cho tổng thể.  
Phương pháp xác định cỡ mẫu  
Về độ lệch chuẩn, sau khi tiến hành điều tra thử với mẫu 30 bảng hỏi nghiên cứu tiến  
hành xử lý SPSS để tính ra độ lệch chuẩn. Kết quả thu được giá trị = 0,433.  
 
 
 
 
     
              
    
=
          
 
 
     
 
Vì vậy, để đảm bảo tính đại diện và khách quan, tác giả đã tiến hành phát ra 320 bảng hỏi  
và thu về 306 bảng hỏi hợp lệ. Vậy kích thước mẫu trong nghiên cứu này là 306 mẫu.  
Phương pháp chọn mẫu  
Do không thể xác định được kích cỡ tổng thể và danh sách khách hàng nên tác giả sử  
dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Đối tượng khách hàng được điều tra ở đây là những  
khách hàng cá nhân đang sử dụng mạng xã hội hàng ngày ở thành phố Huế. Khi đối tượng  
điều tra click vào đường link khảo sát sẽ được hỏi: "Anh/Chị có đang sử dụng mạng xã hội và  
tiếp cận fan page của các doanh nghiệp, cửa hàng ở thành phố Huế không? Nếu khách hàng trả  
lời “Có” thì sẽ tiến hành điều tra, nếu câu trả lời là “Không” thì sẽ tiến hành chọn khách hàng  
khác.  
Phương pháp phân tích, xử lý số liệu  
Kỹ thuật phân tích của nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết mô hình  
phương trình cấu trúc SEM (Structural Equation Modeling) và sự hỗ trợ của phần mềm SPSS  
20. Kỹ thuật phân tích này sẽ bỏ qua hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình và sự tin cậy của  
thị trường cũng được xem xét thông qua các sai số đo lường. Kỹ thuật được tiến hành như sau:  
– Phân tích nhân tố EFA (Exploratory factor analysis) nhằm xem xét các biến nào dùng  
để đánh giá giá trị cảm nhận của khách hàng.  
– Tiếp theo sử dụng kỹ thuật phân tích nhân tố khẳng định CFA (Confirmation Factor  
Analysis) để kiểm tra mô hình đo lường có đạt yêu cầu không.  
– Sau đó sử dụng mô hình SEM để đánh giá mối quan hệ tuyến tính trong mô hình.  
119  
Trần Đức Trí  
Tập 126, Số 5C, 2017  
4
Kết quả nghiên cứu  
4.1  
Đặc điểm mẫu điều tra  
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu tập trung vào người dùng của các mạng xã hội, thường  
xuyên tiếp xúc với thông tin về sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp được quảng bá trên  
mạng xã hội. Mẫu điều tra thu được có kích cỡ là 306 người. Bảng 1 thể hiện một số thông tin  
thống kê về mẫu điều tra.  
Bảng 1. Thông tin về đối tượng nghiên cứu  
Tiêu chí  
Số người  
138  
168  
55  
Tỉ lệ, %  
45,10  
54,90  
17,97  
40,85  
30,39  
9,15  
Giới tính  
Độ tuổi  
Nam  
Nữ  
Dưới 18 tuổi  
Từ 18 đến 22 tuổi  
Từ 22 đến 30 tuổi  
Từ 30 đến 40 tuổi  
Trên 40 tuổi  
125  
93  
28  
5
1,63  
Nghề nghiệp  
Lao động trực tiếp  
Lao động gián tiếp  
Sinh viên, học sinh  
Nội trợ  
36  
11,76  
57,19  
20,92  
5,56  
175  
64  
17  
Khác  
14  
4,58  
Thu nhập  
Dưới 3 triệu đồng  
Từ 3 đến 5 triệu đồng  
Từ 5 đến 7 triệu đồng  
Trên 7 triệu đồng  
55  
17,97  
24,84  
35,95  
21,24  
76  
110  
65  
Nguồn: dữ liệu điều tra của tác giả 2016  
Những khách hàng tham gia quá trình điều tra có sự phân hóa đa dạng giữa các mức thu  
nhập. Điều này phần nào tạo nên tính đa dạng về đối tượng được điều tra, góp phần tăng tính  
đại diện của mẫu dữ liệu.  
120  
Jos.hueuni.edu.vn  
Tập 126, Số 5C, 2017  
4.2  
Kiểm định độ tin cậy thang đo  
Thực hiện đo lường giá trị Cronbach alpha đối với các biến quan sát thành phần của biến, các  
biến quan sát đều đạt tiêu chuẩn với hệ số Cronbach alpha từ 0,88 trở lên. Bên cạnh đó, trong mỗi  
nhóm, hệ số tương quan biến – tổng đều đạt giá trị 0,33 trở lên. Điều này khẳng định thang đo các  
nhân tố rút trích từ các biến quan sát là phù hợp và đáng tin cậy. Vậy, có thể sử dụng 5 nhóm biến này  
trong các bước phân tích nhân tố khám phá EFA.  
4.3  
Phân tích nhân tố khám phá  
Nghiên cứu tiến hành kiểm định KMO và Bartlett để xem xét mẫu nghiên cứu có đủ lớn và  
đủ điều kiện để phân tích nhân tố hay không. Với kết quả kiểm định là KMO = 0,956 (> 0,5) và  
giá trị p của kiểm định Bartlett = 0,00 (< 0,05) tức là các biến quan sát trong tổng thể tương quan với  
nhau. Từ đó có thể kết luận rằng, dữ liệu khảo sát đảm bảo được các điều kiện để tiến hành phân  
tích nhân tố khám phá EFA.  
Dựa vào kết quả, các nhân tố đều có hệ số tải nhân tố > 0,5, điều này chứng tỏ rằng nhân  
tố và biến có liên quan chặt chẽ với nhau.  
Kết quả xoay nhân tố cho 5 nhóm, không có sự thay đổi biến trong các nhóm, được đặt  
tên như sau:  
Nhóm nhân tố 1: Cảm nhận truyền thông xã hội (Social Media Marketing – SMM).  
Nhóm nhân tố 2: Tài sản giá trị (Value – VL).  
Nhóm nhân tố 3: Tài sản quan hệ (Relationship – RE).  
Nhóm nhân tố 4: Tài sản thương hiệu (Brand – BR).  
Nhóm nhân tố 5: Tài sản khách hàng (Customer Equity – EQT).  
4.4  
Phân tích nhân tố khẳng định  
Phân tích nhân tố khẳng định được sử dụng để đo lường mức độ phù hợp của mô hình  
với thông tin thị trường, để kiểm định người ta thường sử dụng Chi-square (CMIN); Chi-square  
điều chỉnh theo bậc tự do (CMIN/df); Chỉ số thích hợp so sánh (CFI – Comparative Fit Index);  
Chỉ số Tucker & Lewis (TLI - Tucker & Lewis index); Chỉ số RMSEA (Root Mean Square Error  
Approximation).  
Mô hình được xem là phù hợp với dữ liệu thị trường khi kiểm định Chi-square có P-  
value > 0,05. Tuy nhiên, Chi-square có nhược điểm là phụ thuộc vào kích thước mẫu. Nếu một  
mô hình nhận được giá trị xác suất thống kê Chi-bình phương lớn hơn 0,08, hoặc hai chỉ số TLI  
và CFI có giá trị gần bằng 1 và chỉ số RMSEA dưới 0,08 (Browne và Cudek, 1992). Trong nghiên  
cứu thực tế CMIN/df < 5 (với mẫu n ≥ 200); hay CMIN/df < 3 (khi cỡ mẫu n ≤ 200) thì mô hình  
được xem là phù hợp tốt (Kettinger và Lee, 1995).  
121  
Trần Đức Trí  
Tập 126, Số 5C, 2017  
Thực hiện phương pháp phân tích nhân tố khẳng định, các chỉ số đánh giá sự phù hợp  
của mô hình thu được như sau:  
Bảng 2. Các chỉ số đánh giá sự phù hợp của mô hình với dữ liệu thị trường  
Các chỉ số đánh giá  
Giá trị  
2,339  
0,945  
0,948  
0,826  
0,066  
CMIN/DF  
TLI  
CFI  
GFI  
RMSEA  
Nguồn: dữ liệu điều tra của tác giả 2016  
Dựa vào kết quả ở Bảng 2, các chỉ số đánh giá đều thỏa mãn điều kiện. Như vậy, có thể  
kết luận mô hình phù hợp với dữ liệu thị trường.  
4.5  
Đánh giá sự phù hợp của mô hình nghiên cứu bằng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM  
Sau khi phân tích CFA, mô hình cấu trúc tuyến tính SEM được thực hiện nhằm xác định  
các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến tài sản khách hàng của  
doanh nghiệp. Phân tích SEM được tiến hành phân tích bắt đầu từ mô hình nghiên cứu đề xuất  
ban đầu, sau đó tiến hành hiệu chỉnh mô hình để có được mô hình tốt hơn.  
Thực hiện ước lượng mô hình nghiên cứu bằng mô hình cấu trúc tuyến tính, thu được kết  
quả như sau:  
Biểu đồ 2. Kết quả phân tích cấu trúc tuyến tính  
122  
Jos.hueuni.edu.vn  
Tập 126, Số 5C, 2017  
Từ kết quả của phân tích SEM, có thể nó mô hình phù hợp với dữ liệu thị trường vì  
Chisquare/df = 2,706 < 5; TLI = 0,930 ≈ 1; CFI = 0,933 ≈ 1; RMSEA = 0,075 < 0,08 (Browne và  
Cudek, 1992; Kettinger và Lee, 1995). Vậy, mô hình cấu trúc tuyến tính trong trường hợp này là  
phù hợp và đáng tin cậy.  
Bảng 3. Các trọng số chưa chuẩn hóa phân tích SEM  
Sai số  
chuẩn  
Giá trị  
tới hạn  
Mối tương quan  
Ước lượng  
p
Hệ số chuẩn hóa  
←
←
←
←
←
←
VL  
RE  
SMM  
SMM  
SMM  
BR  
0,553  
0,595  
0,496  
0,293  
0,244  
0,237  
0,045  
0,041  
0,043  
0,052  
0,051  
0,049  
12,214  
14,435  
11,477  
5,664  
***  
***  
***  
***  
***  
***  
0,600  
0,666  
0,576  
0,311  
0,270  
0,269  
BR  
EQT  
EQT  
EQT  
RE  
4,802  
VL  
4,873  
Nguồn: dữ liệu điều tra của tác giả 2016  
Kết quả của các trọng số chưa chuẩn hóa ở Bảng 2 cho thấy:  
Nhóm nhân tố "Cảm nhận truyền thông xã hội" có tác động đến cả ba tác nhân tạo nên tài  
sản khách hàng là các nhân tố "Tài sản giá trị", "Tài sản quan hệ" và "Tài sản thương hiệu". Cụ  
thể, hệ số chưa chuẩn hóa của "Cảm nhận truyền thông xã hội" đến "Tài sản giá trị" bằng 0,553  
có nghĩa rằng khi "Cảm nhận truyền thông xã hội" trong tâm trí khách hàng thay đổi 1 đơn vị  
thì khách hàng có cảm nhận về "Tài sản giá trị" mà doanh nghiệp mang lại thay đổi cùng chiều  
0,553 đơn vị. Tương tự, nếu "Cảm nhận truyền thông xã hội" thay đổi 1 đơn vị thì hai nhóm  
nhân tố "Tài sản quan hệ" và "Tài sản thương hiệu" đều thay đổi cùng chiều với giá trị lần lượt  
là 0,595 và 0,496 đơn vị.  
Về nhóm các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến "Tài sản khách hàng", nhân tố "Tài sản  
thương hiệu" có hệ số chưa chuẩn hóa lớn nhất với giá trị beta bằng 0,293 và giá trị p < 0,05, cho  
thấy rằng "Tài sản thương hiệu" có tác động lớn nhất đến "Tài sản khách hàng", nếu "Tài sản  
thương hiệu" tăng 1 đơn vị thì "Tài sản khách hàng" tăng cùng chiều 0,293 đơn vị. Hai nhân tố  
còn lại là "Tài sản quan hệ" và "Tài sản giá trị" có giá trị beta lần lượt là 0,244 và 0,237 cho thấy  
hai nhân tố này có mức độ tác động thấp hơn so với "Tài sản thương hiệu", khi hai nhân tố này  
thay đổi 1 đơn vị thì "Tài sản khách hàng" tăng/giảm tương ứng lần lượt là 0,244 và 0,237 đơn  
vị.  
Như vậy, theo kết quả kiểm định, mô hình nghiên cứu có nhóm nhân tố "Cảm nhận  
truyền thông xã hội" tác động tích cực đến 3 nhóm nhân tố "Tài sản giá trị", "Tài sản quan hệ",  
"Tài sản thương hiệu"; và 3 nhóm nhân tố này cũng có tác động cùng chiều đến và "Tài sản  
123  
Trần Đức Trí  
Tập 126, Số 5C, 2017  
khách hàng". Các giả thuyết được giải quyết khá trọn vẹn, có thể được tóm tắt thông qua biểu  
đồ sau:  
Biểu đồ 3. Ảnh hưởng của các nhân tố trong mô hình SEM  
5
Kết luận và đề xuất  
Nghiên cứu đã đánh giá được hiệu quả hoạt động truyền thông xã hội trong việc duy trì  
và nâng cao tài sản khách hàng. Nhìn chung, những khách hàng thường xuyên sử dụng các  
mạng xã hội có đánh giá tương đối tích cực với các hoạt động truyền thông xã hội của doanh  
nghiệp. Những đánh giá này có tác động cùng chiều đến tài sản khách hàng.  
Tài sản thương hiệu là yếu tố có tác động mạnh nhất đến tài sản khách hàng, nhưng tác  
động từ Cảm nhận truyền thông xã hội lên yếu tố này là chưa cao. Do đó, doanh nghiệp cần  
chú ý hơn đến việc xây dựng thương hiệu thông qua truyền thông xã hội một cách tốt hơn.  
Muốn thực hiện được điều này, doanh nghiệp cần nhanh chóng học tập kinh nghiệm triển khai  
truyền thông xã hội, xây dựng chiến lược marketing truyền thông xã hội một cách bài bản và  
chuyên nghiệp.  
Yếu tố Tài sản quan hệ chịu sự tác động lớn nhất từ Cảm nhận truyền thông xã hội và có  
tác động mạnh thứ hai lên đến Tài sản khách hàng. Vì vậy, đây là một yếu tố cần được quan  
tâm trong hoạt động truyền thông của doanh nghiệp. Các hoạt động xây dựng quan hệ với  
khách hàng cần được thực hiện thường xuyên và mạnh mẽ hơn để có thể nâng cao tần suất mua  
sắm và lòng trung thành của khách hàng.  
Yếu tố Tài sản giá trị có các trọng số không thấp hơn nhiều so với hai yếu tố còn lại. Cho  
nên doanh nghiệp cũng không nên bỏ qua việc nâng cao tài sản giá trị cho khách hàng. Doanh  
nghiệp cần phải sử dụng công cụ truyền thông xã hội thật sự khéo léo sao cho có thể truyền tải  
giá trị thực sự do sản phẩm/dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp. Trong môi trường ngày nay,  
các giá trị mà doanh nghiệp có thể tập trung vào là chất lượng, giá cả, và sự tiện lợi.  
124  
Jos.hueuni.edu.vn  
Tập 126, Số 5C, 2017  
Tóm lại, truyền thông xã hội đang có vai trò quan trọng trong việc hình thành và nâng  
cao tài sản khách hàng. Các doanh nghiệp muốn thành công trong thời đại ngày nay cần xây  
dựng chiến lược marketing truyền thông xã hội một cách có hệ thống, kết hợp truyền thông xã  
hội với các hoạt động marketing truyền thống, phòng tránh và xử lý khủng hoảng thông tin,  
nắm vững pháp luật liên quan đến hoạt động truyền thông xã hội và nâng cao năng lực cho đội  
ngũ thực hiện các hoạt động marketing truyền thông xã hội.  
Tài liệu tham khảo  
1. Bộ Công Thương (2016), Báo cáo Thương mại điện tử Việt Nam 2015, Hà Nội.  
2. Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS tập 1,  
tập 2, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, Nxb. Hồng Đức.  
3. Byrne, B. M. (2006), Structural equation modeling with EQS: Basic concepts, applications, and  
programming (2nd ed.). Mahwah, NJ: Erlbaum.  
4. Nguyễn Khánh Duy (2009), Bài giảng “Thực hành mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) với phần  
mềm AMOS”, Trường Đại Học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.  
5. Kim, A. J., & Ko, E. (2012), Do social media marketing activities enhance customer equity?  
An empirical study of luxury fashion brand, Journal of Business Research, 65 (10), 1480–1486.  
6. Kim, A. J., & Ko, E. (2010), Impacts of luxury fashion brand’s social media marketing on  
customer relationship and purchase intention, Journal of Global Fashion Marketing, 1 (3),  
164–171.  
7. Kyung Hoon, K., Ko, E., Hooley, G., Lee, N., Lee, D., Seob Jung, H., Seob Jung, H., Moon,  
H. (2008), Brand equity and purchase intention in fashion products: a cross-cultural study  
in Asia and Europe, Journal of Global Academy of Marketing Science, 18 (4), 247–278.  
8. Ko, E. J., & Lee, H. J. (2009), A study on relationship between customer equity and  
customer satisfaction of sports fashion brands, Journal of the Korean Society of Clothing and  
Textiles, 33 (5), 782–792.  
9. Lee, E. K. (2007), A study on the effect of mobile fashion shopping characteristics and  
perceived risk on perceived value and purchase intention: focusing on personal innovation  
and mobile internet lifestyle, Unpublished master's thesis, Yonsei University.  
10. Zeithaml, V. A., Lemon, K. N., & Rust, R. T. (2001), Driving customer equity: How customer  
lifetime value is reshaping corporate strategy, Simon and Schuster.  
125  
Trần Đức Trí  
Tập 126, Số 5C, 2017  
RELATIONSHIP BETWEEN SOCIAL MEDIA  
AND CUSTOMER EQUITY: CASE OF HUE CITY  
Tran Đuc Tri*  
HU – University of Economics, 100 Phung Hung St., Hue, Vietnam  
Abstract: In the recent time, a number of businesses in Hue City have utilized social media to improve  
their customer equity. This study aimed at measuring the impact of social media on maintaining and  
enhancing customer equity through Social Media Marketing Activities, Value Equity, Relationship Equity,  
and Brand Equity. The study used data from 306 questionnaires and the Structural Equation Model  
method to analyze the relationship between these constructs. The results suggested that Social Media  
Marketing Activities had a great impact on Customer Equity, especially through Brand Equity.  
Relationship Equity and Value Equity were less influenced.  
Keywords: Social Media Marketing, customer equity  
126  
pdf 12 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 13440 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quan hệ giữa truyền thông xã hội và tài sản khách hàng: Trường hợp nghiên cứu tại Thành phố Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquan_he_giua_truyen_thong_xa_hoi_va_tai_san_khach_hang_truon.pdf