Quan hệ giữa truyền thông xã hội và tài sản khách hàng: Trường hợp nghiên cứu tại Thành phố Huế
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Kinh tế và Phát triển; ISSN 2588–1205
Tập 126, Số 5C, 2017, Tr. 115–126; DOI: 10.26459/hueuni-jed.v126i5C.4546
QUAN HỆ GIỮA TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI VÀ TÀI SẢN
KHÁCH HÀNG: TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI
THÀNH PHỐ HUẾ
Trần Đức Trí*
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế, 99 Hồ Đắc Di, Huế, Việt Nam
Tóm tắt: Trong thời gian vừa qua trên địa bàn thành phố Huế, nhiều doanh nghiệp đã sử dụng truyền
thông xã hội để nâng cao tài sản khách hàng. Nghiên cứu này thực hiện để đo lường tác động của truyền
thông xã hội trong duy trì và nâng cao tài sản khách hàng thông qua Cảm nhận truyền thông xã hội, Tài
sản giá trị, Tài sản quan hệ và Tài sản thương hiệu. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thu được từ 306 bảng hỏi
phỏng vấn người tiêu dùng và phương pháp mô hình phương trình cấu trúc Structural Equation Model để
phân tích mối liên hệ giữa các yếu tố này. Kết quả nghiên cứu cho rằng Cảm nhận truyền thông xã hội có
tác động lớn đến Tài sản khách hàng, đặc biệt thông qua Tài sản thương hiệu. Tài sản quan hệ và Tài sản
giá trị đều có tác động, nhưng mới mức độ thấp hơn.
Từ khóa: truyền thông xã hội, tài sản khách hàng, mô hình cấu trúc tuyến tính
1
Đặt vấn đề
Những năm vừa qua chứng kiến tốc độ tăng trưởng mạnh của các trang web mạng xã hội
như Facebook, Youtube, Twitter… và sự ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống của con người. Theo
báo cáo của tổ chức We Are Social thực hiện năm 2014 thì Việt Nam hiện đang có khoảng 36
triệu người dùng Internet với hơn 20 triệu tài khoản facebook đang hoạt động. Thời lượng sử
dụng Internet của người dùng Việt Nam cũng khá cao, lên đến 4 giờ 37 phút trung bình mỗi
ngày, trong đó hơn một nửa thời gian dùng để vào các trang web mạng xã hội. Thêm vào đó,
theo báo cáo Thương mại điện tử Việt Nam năm 2014, tham gia vào các mạng xã hội được khảo
sát là hoạt động hàng ngày phổ biến nhất của đại đa số người dùng Internet Việt Nam, chiếm tỉ
lệ lên đến 81,2 %. Những số liệu thống kê trên cho thấy mức độ thâm nhập của các trang web
mạng xã hội đến cuộc sống của người dân Việt Nam sâu sắc như thế nào.
Do vậy, để có thể thích ứng với sự biến đổi môi trường này, mạng xã hội đã vượt qua hai
công cụ quảng bá là cỗ máy tìm kiếm và báo điện tử để trở thành phương tiện có tỉ lệ doanh
nghiệp sử dụng cao nhất, chiếm 50 % (Báo cáo Thương mại điện tử, 2015). Tuy nhiên, cũng theo
báo cáo này, hiệu quả của việc quảng bá website thương mại điện tử dựa vào mạng xã hội chưa
được đánh giá cao bằng công cụ tìm kiếm và chỉ cao hơn một ít so với hình thức báo điện tử.
* Liên hệ: [email protected].vn
Nhận bài: 29–09–2017; Hoàn thành phản biện: 04–10–2017; Ngày nhận đăng: 15–12–2017
Trần Đức Trí
Tập 126, Số 5C, 2017
Trong thời gian vừa qua trên địa bàn thành phố Huế, khá nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu
tiến hành đưa truyền thông xã hội trở thành một trong những kênh marketing chính của doanh
nghiệp. Một số doanh nghiệp sử dụng bộ công cụ truyền thông xã hội đồng bộ trong cả nước.
Một số doanh nghiệp nhỏ khác cũng bắt đầu xây dựng thương hiệu trên Internet thông qua
mạng xã hội từ đầu. Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả công tác truyền thông xã hội của doanh
nghiệp, đặc biệt trong việc nâng cao tài sản khách hàng có vai trò hết sức quan trọng. Đó chính
là lý do nghiên cứu quan hệ giữa truyền thông xã hội và tài sản khách hàng đối với thành phố
Huế. Nghiên cứu này nhằm 3 mục tiêu: (i) Hệ thống hóa lý thuyết liên quan đến hoạt động
truyền thông xã hội và tài sản KH, (ii) Đánh giá hiệu quả hoạt động truyền thông xã hội trong
duy trì và nâng cao giá trị KH, và (iii) Đề xuất giải pháp thúc đẩy hiệu quả công tác truyền
thông xã hội của doanh nghiệp.
2
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
2.1
Truyền thông xã hội
Truyền thông xã hội là các ứng dụng trực tuyến, nền tảng và phương tiện truyền thông
nhằm tạo thuận lợi cho các tương tác, hợp tác và chia sẻ thông tin (Richter & Koch, 2007). Theo
Kim và Ko (2010a), truyền thông xã hội có thể có tác động đáng kể đến danh tiếng của một
thương hiệu. Do đó, các tập đoàn và thương hiệu bây giờ cần phải tính đến giá trị của khách
hàng cũng như ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông xã hội đối với họ.
2.2
Marketing truyền thông xã hội
Theo Gunelius (2011), marketing truyền thông xã hội “là bất kỳ dạng thức marketing trực
tiếp hoặc gián tiếp được sử dụng để xây dựng kiến thức, nhận biết, gợi nhớ và thúc đẩy hành
động hướng đến một thương hiệu, doanh nghiệp, sản phẩm, con người hoặc những đối tượng
khác thông qua sử dụng các công cụ web xã hội như các trang blog, siêu blog, mạng xã hội,
trang đánh dấu cộng đồng và chia sẻ nội dung”.
Marketing truyền thông xã hội nên được xem xét như là một chiến lược marketing dài
hạn, nhưng doanh nghiệp có thể dùng nó để đạt được những mục tiêu thị trường trong ngắn
hạn như hoạt động xúc tiến. Marketing truyền thông xã hội là một quá trình gồm nhiều bước,
và doanh nghiệp cần chuẩn bị kỹ lưỡng mới có thể đạt kết quả tích cực như mong đợi.
2.3
Tài sản khách hàng
Giá trị mà khách hàng mang đến không chỉ giới hạn ở lợi nhuận từ mỗi giao dịch mà còn
là tổng số lợi nhuận mà khách hàng có thể cung cấp trong suốt mối quan hệ với công ty (Kumar
& George, 2007). Do đó, khách hàng được xem như là tài sản vô hình cần phải có được, duy trì
116
Jos.hueuni.edu.vn
Tập 126, Số 5C, 2017
và tối đa hóa giống như các tài sản tài chính khác (Blattberg và cs., 2001). Tài sản khách hàng,
thường được xác định là tổng số các giá trị tồn tại của khách hàng, đã được coi là yếu tố quyết
định nhất của các giá trị lâu dài của tập đoàn (Kim và cs., 2010; Lemon và cs., 2001).
Lemon và cs. (2001) xác định ba tác nhân của tài sản khách hàng: giá trị, thương hiệu và
quan hệ; đây là những động lực chính của tài sản khách hàng tổng thể.
Thứ nhất, tài sản giá trị là đánh giá khách quan của khách hàng về lợi ích của một thương
hiệu, dựa trên nhận thức của những gì được nhận cho những gì nhận được (Vogel và cs., 2008).
Ba điểm chính về tài sản giá trị là chất lượng, giá cả và sự tiện lợi (Lemon và cs., 2001).
Thứ hai, tài sản quan hệ thể hiện xu hướng của khách hàng để duy trì mối quan hệ với
thương hiệu, vượt xa những đánh giá khách quan và chủ quan. Thông thường, các chương
trình khách hàng trung thành dưới sự kiểm soát của một công ty có thể tăng cường sự công
bằng về mối quan hệ. Tuy nhiên, lòng trung thành đối với một thương hiệu nhất định ngày
càng yếu đi so với ngày hôm qua khi số lượng lựa chọn của khách hàng ngày càng đa dạng..
Điều cần thiết là xây dựng mối quan hệ khách hàng mạnh mẽ thông qua việc đối xử đặc biệt
hoặc công nhận và các chương trình cộng đồng có thể là một cách hiệu quả để tăng cường tài
sản quan hệ.
Thứ ba, tài sản thương hiệu là đánh giá chủ quan và phi vật thể của khách hàng về
thương hiệu vượt quá giá trị của nó (Kim và cs., 2008; Lemon và cs., 2001). Thương hiệu xây
dựng hình ảnh tốt là thương hiệu có thể làm cho khách hàng xác định điểm đặc biệt so với
những đối thủ cạnh tranh (Keller, 1998). Các đòn bẩy có thể thực hiện được của thương hiệu là
nhận thức thương hiệu, thái độ đối với thương hiệu và đạo đức doanh nghiệp (Lemon và cs.,
2001).
2.4
Giả thuyết và mô hình nghiên cứu
Ban đầu, mục đích của marketing là tạo ra một giao tiếp mà thông qua đó một công ty có
thể thông báo cho khách hàng về các sản phẩm và dịch vụ của họ. Marketing là một quá trình
đa chiều hình thành từ các chiến lược khác nhau; tuy nhiên, mục tiêu chính của bất kỳ chiến
lược marketing nào là tăng doanh thu và lợi nhuận. Theo Srivastava và cs. (1998), marketing là
việc đầu tư nhằm cải thiện tài sản khách hàng khách hàng. Vì sự tham gia của thương hiệu
trong các phương tiện truyền thông xã hội thực hiện như là một hoạt động marketing để xây
dựng mối quan hệ với khách hàng và tăng lợi nhuận của công ty, các hoạt động truyền thông xã
hội của các thương hiệu sang trọng dự kiến sẽ tạo ra những ảnh hưởng tích cực đối với các cổ
đông.
H1: Cảm nhận của khách hàng về các hoạt động truyền thông xã hội có tác động tích cực
đến tài sản giá trị của doanh nghiệp,
117
Trần Đức Trí
Tập 126, Số 5C, 2017
H2: Cảm nhận của khách hàng về các hoạt động truyền thông xã hội có tác động tích cực
đến tài sản quan hệ của doanh nghiệp,
H3: Cảm nhận của khách hàng về các hoạt động truyền thông xã hội có tác động tích cực
đến tài sản thương hiệu của doanh nghiệp,
Trong tính toán tài sản khách hàng, Rust và cs. (2000) đã liên kết đầu vào marketing với
phản ứng của khách hàng. Rust và cs. (2014) đã chứng minh rằng trong ngành dịch vụ hàng
không, tài sản giá trị, tài sản quan hệ, và tài sản thương hiệu đều có quan hệ với tài sản khách
hàng. Mô hình nghiên cứu tương tự cũng được áp dụng trong việc đo lường tài sản khách hàng
của các thương hiệu thời trang trong nhiều nghiên cứu khác (Ko & Oh, 2009; Ko & Lee, 2009;
Yun & Ko, 2006; Zhang và cs., 2010). Ba giả thuyết sau được phát triển và thành lập:
H4: Tài sản giá trị có tác động tích cực đến tài sản khách hàng của doanh nghiệp,
H5: Tài sản quan hệ có tác động tích cực đến tài sản khách hàng của doanh nghiệp,
H6: Tài sản thương hiệu có tác động tích cực đến tài sản khách hàng của doanh nghiệp.
Dựa trên việc hình thành các giả thuyết nghiên cứu như trên, mô hình nghiên cứu được
đề xuất như sau:
Biểu đồ 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất.
3
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
3.1
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khách hàng cá nhân đang có tần suất sử dụng mạng xã hội thường xuyên tại thành phố
Huế.
Phạm vi không gian: các doanh nghiệp đang áp dụng truyền thông xã hội và khách hàng
cá nhân tại thành phố Huế.
Phạm vi thời gian: Năm 2016.
118
Jos.hueuni.edu.vn
Tập 126, Số 5C, 2017
3.2
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này được tiếp cận theo hướng khách hàng dưới dạng định lượng bằng cách
xử lý, rút trích thông tin từ dữ liệu bằng cách công cụ phân tích định lượng là SPSS và AMOS
20. Sử dụng bảng hỏi để điều tra trên mẫu đại diện cho tổng thể và đưa ra những kết luận về
đặc điểm, mối quan hệ trên mẫu để suy ra cho tổng thể.
Phương pháp xác định cỡ mẫu
Về độ lệch chuẩn, sau khi tiến hành điều tra thử với mẫu 30 bảng hỏi nghiên cứu tiến
hành xử lý SPSS để tính ra độ lệch chuẩn. Kết quả thu được giá trị = 0,433.
=
Vì vậy, để đảm bảo tính đại diện và khách quan, tác giả đã tiến hành phát ra 320 bảng hỏi
và thu về 306 bảng hỏi hợp lệ. Vậy kích thước mẫu trong nghiên cứu này là 306 mẫu.
Phương pháp chọn mẫu
Do không thể xác định được kích cỡ tổng thể và danh sách khách hàng nên tác giả sử
dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Đối tượng khách hàng được điều tra ở đây là những
khách hàng cá nhân đang sử dụng mạng xã hội hàng ngày ở thành phố Huế. Khi đối tượng
điều tra click vào đường link khảo sát sẽ được hỏi: "Anh/Chị có đang sử dụng mạng xã hội và
tiếp cận fan page của các doanh nghiệp, cửa hàng ở thành phố Huế không? Nếu khách hàng trả
lời “Có” thì sẽ tiến hành điều tra, nếu câu trả lời là “Không” thì sẽ tiến hành chọn khách hàng
khác.
Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
Kỹ thuật phân tích của nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết mô hình
phương trình cấu trúc SEM (Structural Equation Modeling) và sự hỗ trợ của phần mềm SPSS
20. Kỹ thuật phân tích này sẽ bỏ qua hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình và sự tin cậy của
thị trường cũng được xem xét thông qua các sai số đo lường. Kỹ thuật được tiến hành như sau:
– Phân tích nhân tố EFA (Exploratory factor analysis) nhằm xem xét các biến nào dùng
để đánh giá giá trị cảm nhận của khách hàng.
– Tiếp theo sử dụng kỹ thuật phân tích nhân tố khẳng định CFA (Confirmation Factor
Analysis) để kiểm tra mô hình đo lường có đạt yêu cầu không.
– Sau đó sử dụng mô hình SEM để đánh giá mối quan hệ tuyến tính trong mô hình.
119
Trần Đức Trí
Tập 126, Số 5C, 2017
4
Kết quả nghiên cứu
4.1
Đặc điểm mẫu điều tra
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu tập trung vào người dùng của các mạng xã hội, thường
xuyên tiếp xúc với thông tin về sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp được quảng bá trên
mạng xã hội. Mẫu điều tra thu được có kích cỡ là 306 người. Bảng 1 thể hiện một số thông tin
thống kê về mẫu điều tra.
Bảng 1. Thông tin về đối tượng nghiên cứu
Tiêu chí
Số người
138
168
55
Tỉ lệ, %
45,10
54,90
17,97
40,85
30,39
9,15
Giới tính
Độ tuổi
Nam
Nữ
Dưới 18 tuổi
Từ 18 đến 22 tuổi
Từ 22 đến 30 tuổi
Từ 30 đến 40 tuổi
Trên 40 tuổi
125
93
28
5
1,63
Nghề nghiệp
Lao động trực tiếp
Lao động gián tiếp
Sinh viên, học sinh
Nội trợ
36
11,76
57,19
20,92
5,56
175
64
17
Khác
14
4,58
Thu nhập
Dưới 3 triệu đồng
Từ 3 đến 5 triệu đồng
Từ 5 đến 7 triệu đồng
Trên 7 triệu đồng
55
17,97
24,84
35,95
21,24
76
110
65
Nguồn: dữ liệu điều tra của tác giả 2016
Những khách hàng tham gia quá trình điều tra có sự phân hóa đa dạng giữa các mức thu
nhập. Điều này phần nào tạo nên tính đa dạng về đối tượng được điều tra, góp phần tăng tính
đại diện của mẫu dữ liệu.
120
Jos.hueuni.edu.vn
Tập 126, Số 5C, 2017
4.2
Kiểm định độ tin cậy thang đo
Thực hiện đo lường giá trị Cronbach alpha đối với các biến quan sát thành phần của biến, các
biến quan sát đều đạt tiêu chuẩn với hệ số Cronbach alpha từ 0,88 trở lên. Bên cạnh đó, trong mỗi
nhóm, hệ số tương quan biến – tổng đều đạt giá trị 0,33 trở lên. Điều này khẳng định thang đo các
nhân tố rút trích từ các biến quan sát là phù hợp và đáng tin cậy. Vậy, có thể sử dụng 5 nhóm biến này
trong các bước phân tích nhân tố khám phá EFA.
4.3
Phân tích nhân tố khám phá
Nghiên cứu tiến hành kiểm định KMO và Bartlett để xem xét mẫu nghiên cứu có đủ lớn và
đủ điều kiện để phân tích nhân tố hay không. Với kết quả kiểm định là KMO = 0,956 (> 0,5) và
giá trị p của kiểm định Bartlett = 0,00 (< 0,05) tức là các biến quan sát trong tổng thể tương quan với
nhau. Từ đó có thể kết luận rằng, dữ liệu khảo sát đảm bảo được các điều kiện để tiến hành phân
tích nhân tố khám phá EFA.
Dựa vào kết quả, các nhân tố đều có hệ số tải nhân tố > 0,5, điều này chứng tỏ rằng nhân
tố và biến có liên quan chặt chẽ với nhau.
Kết quả xoay nhân tố cho 5 nhóm, không có sự thay đổi biến trong các nhóm, được đặt
tên như sau:
Nhóm nhân tố 1: Cảm nhận truyền thông xã hội (Social Media Marketing – SMM).
Nhóm nhân tố 2: Tài sản giá trị (Value – VL).
Nhóm nhân tố 3: Tài sản quan hệ (Relationship – RE).
Nhóm nhân tố 4: Tài sản thương hiệu (Brand – BR).
Nhóm nhân tố 5: Tài sản khách hàng (Customer Equity – EQT).
4.4
Phân tích nhân tố khẳng định
Phân tích nhân tố khẳng định được sử dụng để đo lường mức độ phù hợp của mô hình
với thông tin thị trường, để kiểm định người ta thường sử dụng Chi-square (CMIN); Chi-square
điều chỉnh theo bậc tự do (CMIN/df); Chỉ số thích hợp so sánh (CFI – Comparative Fit Index);
Chỉ số Tucker & Lewis (TLI - Tucker & Lewis index); Chỉ số RMSEA (Root Mean Square Error
Approximation).
Mô hình được xem là phù hợp với dữ liệu thị trường khi kiểm định Chi-square có P-
value > 0,05. Tuy nhiên, Chi-square có nhược điểm là phụ thuộc vào kích thước mẫu. Nếu một
mô hình nhận được giá trị xác suất thống kê Chi-bình phương lớn hơn 0,08, hoặc hai chỉ số TLI
và CFI có giá trị gần bằng 1 và chỉ số RMSEA dưới 0,08 (Browne và Cudek, 1992). Trong nghiên
cứu thực tế CMIN/df < 5 (với mẫu n ≥ 200); hay CMIN/df < 3 (khi cỡ mẫu n ≤ 200) thì mô hình
được xem là phù hợp tốt (Kettinger và Lee, 1995).
121
Trần Đức Trí
Tập 126, Số 5C, 2017
Thực hiện phương pháp phân tích nhân tố khẳng định, các chỉ số đánh giá sự phù hợp
của mô hình thu được như sau:
Bảng 2. Các chỉ số đánh giá sự phù hợp của mô hình với dữ liệu thị trường
Các chỉ số đánh giá
Giá trị
2,339
0,945
0,948
0,826
0,066
CMIN/DF
TLI
CFI
GFI
RMSEA
Nguồn: dữ liệu điều tra của tác giả 2016
Dựa vào kết quả ở Bảng 2, các chỉ số đánh giá đều thỏa mãn điều kiện. Như vậy, có thể
kết luận mô hình phù hợp với dữ liệu thị trường.
4.5
Đánh giá sự phù hợp của mô hình nghiên cứu bằng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM
Sau khi phân tích CFA, mô hình cấu trúc tuyến tính SEM được thực hiện nhằm xác định
các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến tài sản khách hàng của
doanh nghiệp. Phân tích SEM được tiến hành phân tích bắt đầu từ mô hình nghiên cứu đề xuất
ban đầu, sau đó tiến hành hiệu chỉnh mô hình để có được mô hình tốt hơn.
Thực hiện ước lượng mô hình nghiên cứu bằng mô hình cấu trúc tuyến tính, thu được kết
quả như sau:
Biểu đồ 2. Kết quả phân tích cấu trúc tuyến tính
122
Jos.hueuni.edu.vn
Tập 126, Số 5C, 2017
Từ kết quả của phân tích SEM, có thể nó mô hình phù hợp với dữ liệu thị trường vì
Chisquare/df = 2,706 < 5; TLI = 0,930 ≈ 1; CFI = 0,933 ≈ 1; RMSEA = 0,075 < 0,08 (Browne và
Cudek, 1992; Kettinger và Lee, 1995). Vậy, mô hình cấu trúc tuyến tính trong trường hợp này là
phù hợp và đáng tin cậy.
Bảng 3. Các trọng số chưa chuẩn hóa phân tích SEM
Sai số
chuẩn
Giá trị
tới hạn
Mối tương quan
Ước lượng
p
Hệ số chuẩn hóa
←
←
←
←
←
←
VL
RE
SMM
SMM
SMM
BR
0,553
0,595
0,496
0,293
0,244
0,237
0,045
0,041
0,043
0,052
0,051
0,049
12,214
14,435
11,477
5,664
***
***
***
***
***
***
0,600
0,666
0,576
0,311
0,270
0,269
BR
EQT
EQT
EQT
RE
4,802
VL
4,873
Nguồn: dữ liệu điều tra của tác giả 2016
Kết quả của các trọng số chưa chuẩn hóa ở Bảng 2 cho thấy:
Nhóm nhân tố "Cảm nhận truyền thông xã hội" có tác động đến cả ba tác nhân tạo nên tài
sản khách hàng là các nhân tố "Tài sản giá trị", "Tài sản quan hệ" và "Tài sản thương hiệu". Cụ
thể, hệ số chưa chuẩn hóa của "Cảm nhận truyền thông xã hội" đến "Tài sản giá trị" bằng 0,553
có nghĩa rằng khi "Cảm nhận truyền thông xã hội" trong tâm trí khách hàng thay đổi 1 đơn vị
thì khách hàng có cảm nhận về "Tài sản giá trị" mà doanh nghiệp mang lại thay đổi cùng chiều
0,553 đơn vị. Tương tự, nếu "Cảm nhận truyền thông xã hội" thay đổi 1 đơn vị thì hai nhóm
nhân tố "Tài sản quan hệ" và "Tài sản thương hiệu" đều thay đổi cùng chiều với giá trị lần lượt
là 0,595 và 0,496 đơn vị.
Về nhóm các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến "Tài sản khách hàng", nhân tố "Tài sản
thương hiệu" có hệ số chưa chuẩn hóa lớn nhất với giá trị beta bằng 0,293 và giá trị p < 0,05, cho
thấy rằng "Tài sản thương hiệu" có tác động lớn nhất đến "Tài sản khách hàng", nếu "Tài sản
thương hiệu" tăng 1 đơn vị thì "Tài sản khách hàng" tăng cùng chiều 0,293 đơn vị. Hai nhân tố
còn lại là "Tài sản quan hệ" và "Tài sản giá trị" có giá trị beta lần lượt là 0,244 và 0,237 cho thấy
hai nhân tố này có mức độ tác động thấp hơn so với "Tài sản thương hiệu", khi hai nhân tố này
thay đổi 1 đơn vị thì "Tài sản khách hàng" tăng/giảm tương ứng lần lượt là 0,244 và 0,237 đơn
vị.
Như vậy, theo kết quả kiểm định, mô hình nghiên cứu có nhóm nhân tố "Cảm nhận
truyền thông xã hội" tác động tích cực đến 3 nhóm nhân tố "Tài sản giá trị", "Tài sản quan hệ",
"Tài sản thương hiệu"; và 3 nhóm nhân tố này cũng có tác động cùng chiều đến và "Tài sản
123
Trần Đức Trí
Tập 126, Số 5C, 2017
khách hàng". Các giả thuyết được giải quyết khá trọn vẹn, có thể được tóm tắt thông qua biểu
đồ sau:
Biểu đồ 3. Ảnh hưởng của các nhân tố trong mô hình SEM
5
Kết luận và đề xuất
Nghiên cứu đã đánh giá được hiệu quả hoạt động truyền thông xã hội trong việc duy trì
và nâng cao tài sản khách hàng. Nhìn chung, những khách hàng thường xuyên sử dụng các
mạng xã hội có đánh giá tương đối tích cực với các hoạt động truyền thông xã hội của doanh
nghiệp. Những đánh giá này có tác động cùng chiều đến tài sản khách hàng.
Tài sản thương hiệu là yếu tố có tác động mạnh nhất đến tài sản khách hàng, nhưng tác
động từ Cảm nhận truyền thông xã hội lên yếu tố này là chưa cao. Do đó, doanh nghiệp cần
chú ý hơn đến việc xây dựng thương hiệu thông qua truyền thông xã hội một cách tốt hơn.
Muốn thực hiện được điều này, doanh nghiệp cần nhanh chóng học tập kinh nghiệm triển khai
truyền thông xã hội, xây dựng chiến lược marketing truyền thông xã hội một cách bài bản và
chuyên nghiệp.
Yếu tố Tài sản quan hệ chịu sự tác động lớn nhất từ Cảm nhận truyền thông xã hội và có
tác động mạnh thứ hai lên đến Tài sản khách hàng. Vì vậy, đây là một yếu tố cần được quan
tâm trong hoạt động truyền thông của doanh nghiệp. Các hoạt động xây dựng quan hệ với
khách hàng cần được thực hiện thường xuyên và mạnh mẽ hơn để có thể nâng cao tần suất mua
sắm và lòng trung thành của khách hàng.
Yếu tố Tài sản giá trị có các trọng số không thấp hơn nhiều so với hai yếu tố còn lại. Cho
nên doanh nghiệp cũng không nên bỏ qua việc nâng cao tài sản giá trị cho khách hàng. Doanh
nghiệp cần phải sử dụng công cụ truyền thông xã hội thật sự khéo léo sao cho có thể truyền tải
giá trị thực sự do sản phẩm/dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp. Trong môi trường ngày nay,
các giá trị mà doanh nghiệp có thể tập trung vào là chất lượng, giá cả, và sự tiện lợi.
124
Jos.hueuni.edu.vn
Tập 126, Số 5C, 2017
Tóm lại, truyền thông xã hội đang có vai trò quan trọng trong việc hình thành và nâng
cao tài sản khách hàng. Các doanh nghiệp muốn thành công trong thời đại ngày nay cần xây
dựng chiến lược marketing truyền thông xã hội một cách có hệ thống, kết hợp truyền thông xã
hội với các hoạt động marketing truyền thống, phòng tránh và xử lý khủng hoảng thông tin,
nắm vững pháp luật liên quan đến hoạt động truyền thông xã hội và nâng cao năng lực cho đội
ngũ thực hiện các hoạt động marketing truyền thông xã hội.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Công Thương (2016), Báo cáo Thương mại điện tử Việt Nam 2015, Hà Nội.
2. Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS tập 1,
tập 2, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, Nxb. Hồng Đức.
3. Byrne, B. M. (2006), Structural equation modeling with EQS: Basic concepts, applications, and
programming (2nd ed.). Mahwah, NJ: Erlbaum.
4. Nguyễn Khánh Duy (2009), Bài giảng “Thực hành mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) với phần
mềm AMOS”, Trường Đại Học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.
5. Kim, A. J., & Ko, E. (2012), Do social media marketing activities enhance customer equity?
An empirical study of luxury fashion brand, Journal of Business Research, 65 (10), 1480–1486.
6. Kim, A. J., & Ko, E. (2010), Impacts of luxury fashion brand’s social media marketing on
customer relationship and purchase intention, Journal of Global Fashion Marketing, 1 (3),
164–171.
7. Kyung Hoon, K., Ko, E., Hooley, G., Lee, N., Lee, D., Seob Jung, H., Seob Jung, H., Moon,
H. (2008), Brand equity and purchase intention in fashion products: a cross-cultural study
in Asia and Europe, Journal of Global Academy of Marketing Science, 18 (4), 247–278.
8. Ko, E. J., & Lee, H. J. (2009), A study on relationship between customer equity and
customer satisfaction of sports fashion brands, Journal of the Korean Society of Clothing and
Textiles, 33 (5), 782–792.
9. Lee, E. K. (2007), A study on the effect of mobile fashion shopping characteristics and
perceived risk on perceived value and purchase intention: focusing on personal innovation
and mobile internet lifestyle, Unpublished master's thesis, Yonsei University.
10. Zeithaml, V. A., Lemon, K. N., & Rust, R. T. (2001), Driving customer equity: How customer
lifetime value is reshaping corporate strategy, Simon and Schuster.
125
Trần Đức Trí
Tập 126, Số 5C, 2017
RELATIONSHIP BETWEEN SOCIAL MEDIA
AND CUSTOMER EQUITY: CASE OF HUE CITY
Tran Đuc Tri*
HU – University of Economics, 100 Phung Hung St., Hue, Vietnam
Abstract: In the recent time, a number of businesses in Hue City have utilized social media to improve
their customer equity. This study aimed at measuring the impact of social media on maintaining and
enhancing customer equity through Social Media Marketing Activities, Value Equity, Relationship Equity,
and Brand Equity. The study used data from 306 questionnaires and the Structural Equation Model
method to analyze the relationship between these constructs. The results suggested that Social Media
Marketing Activities had a great impact on Customer Equity, especially through Brand Equity.
Relationship Equity and Value Equity were less influenced.
Keywords: Social Media Marketing, customer equity
126
Bạn đang xem tài liệu "Quan hệ giữa truyền thông xã hội và tài sản khách hàng: Trường hợp nghiên cứu tại Thành phố Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
quan_he_giua_truyen_thong_xa_hoi_va_tai_san_khach_hang_truon.pdf

