Nghiên cứu ứng dụng smes (Supperconducting magnetic energy store: Cuộn dây từ siêu dẫn tích trữ năng lượng) trong cải thiện chất lượng điện năng

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG SMES  
(SUPPERCONDUCTING MAGNETIC ENERGY STORE:  
CUỘN DÂY TỪ SIÊU DẪN TÍCH TRỮ NĂNG LƯỢNG)  
TRONG CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG ĐIỆN NĂNG  
A STUDY OF THE SUPPERCONDUCTING MAGETIC STORE (SMES) APPLICATION TO  
POWER QUALITY IMPROVEMENT  
Nguyễn Hữu Phúc (*), Phan Thanh Cảnh (**)  
(*) Khoa Điện - Điện tử; Trường Đại học Bách Khoa Tp.HCM  
(**) Học viên cao học ngành Kỹ Thuật Điện; Trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật Tp.HCM  
ABSTRACT  
This paper presents a methodology for investigating the application of SMES equipment based on Matlab  
software to built model of power system with SMES and simulation to equipment response ability of  
analyse when fault ride – through as loaded fluctuation, fault short short circuit. SMES devices, is the “zero-  
resistance” characteristic, permitted instantaneous dynamic response, nearly infinite cycle life, high roundtrip  
efficiency, and stored large energy without storage loss. SMES has been proposed for compensation of  
fluctuating loads, asymmetries of current and voltage from loads, providing back-up power supply,  
protection of critical loads, and improving flexible AC transmission system (FACTS), controlling primary  
frequency. A high capacity of SMES has been applied to control damping of system oscillations, enhancing  
voltage stability, providing load levelling, decreasing area control error (ACE) and spinning reserve when  
connected into power grid.  
Key words: Transmission power system, SMES and Matlab – Simulink Modeling software.  
TÓM TẮT  
Bài báo trình bày phuơng pháp nghiên cứu việc ứng dụng thiết bị SMES dựa trên phần mềm Matlab để  
xây dựng mô hình hệ thống điện với cấu trúc của SMES và mô phỏng để phân tích khả năng đáp ứng của  
thiết bị SMES khi xảy ra sự cố thoáng qua như tải dao động, sự cố ngắn mạch. Một thiết bị SMES với đặc  
tính siêu dẫn “zero-resistance” hoạt động linh hoạt, chu kỳ hoạt động gần như vô hạn, hiệu suất cao và khả  
năng lưu trữ năng lượng cao mà hầu như không tiêu hao năng lượng. Ứng dụng thiết bị SMES dùng để bù  
đắp cho các tải dao động, tải có dòng điện và điện áp không đối xứng, cung cấp nguồn điện dự phòng, bảo vệ  
cho phụ tải quan trọng và cải thiện hệ thống thiết bị truyền tải điện xoay chiều linh hoạt [FACTS], kiểm soát  
tần số. Một phần công suất tương đối cao từ SMES dùng để kiểm soát sự dao động của hệ thống, tăng cường  
ổn định điện áp, giảm sai số trong các vùng kiểm soát (ACE) và có khả năng phát thêm công suất khi nối vào  
lưới điện.  
Từ khóa: Hệ thống lưới điện truyền tải, SMES và phần mềm Matlab – Simulink Modeling.  
1. Đặt vấn đề.  
vấn đề cần đặt ra là ảnh hưởng đến môi trường  
như thế nào? Hàng loạt câu hỏi đặt ra liên quan  
đến hiệu ứng nhà kính, liên quan đến sự nóng lên  
của Trái đất. Sự phát thải của các nhà máy đã góp  
phần làm ảnh hưởng đáng kể đến môi trường.  
Ngày nay, nhu cầu năng lượng đang gia tăng  
nhanh ở hầu hết các quốc gia. Các nhà cung cấp  
đang phải đối mặt với sự thiếu hụt năng lượng  
trầm trọng. Bên cạnh đó, về chất lượng của nhiên  
liệu, chất lượng của nguồn năng lượng cũng là  
Từ những vấn đề cấp thiết trên, nguồn năng  
một vấn đề cần quan tâm. Song song với việc phát lượng tái tạo, năng lượng địa nhiệt, năng lượng  
triển nguồn năng lượng để phục vụ đời sống thì sóng biển, cũng như nguồn năng lượng sinh khối,  
1
năng lượng gió…đang dần được Thế giới quan khi có các vấn đề sự cố của lưới điện như đã nêu ở phần  
tâm và khai thác. Các nguồn năng lượng này đóng trên.  
góp đáng kể cho nhu cầu thiếu hụt năng lượng  
2. Tổng quan về cấu trúc hệ thống SMES  
trầm trọng hiện nay. Tuy nhiên, ảnh hưởng của  
Trong mô phỏng, hệ thống SMES đã được kết  
các nguồn năng lượng tái tạo cũng như những  
nguồn năng lượng khác gây ra trên hệ thống điện  
cũng đáng kể như: Quá điện áp, gây nhiễu lưới  
điện [5], tổn thất công suất [4], mất ổn định hệ  
thống [1].  
nối với thanh cái cung cấp cho tải, và nó liên kết đến  
thanh cái của hệ thống điện thông qua các tổng trở  
tương đương Z.  
Một thiết bị SMES với đặc tính siêu dẫn “zero-  
resistance” hoạt động linh hoạt, chu kỳ hoạt động  
gần như vô hạn, hiệu suất cao và khả năng lưu trữ  
năng lượng cao mà hầu như không tiêu hao năng  
lượng. Công nghệ siêu dẫn nhiệt độ cao (HTS) của  
SMES là một phương pháp hiệu quả về chi phí đối  
với một hệ thống SMES hiện nay. HTS cũng đã  
được sử dụng từ nhiều năm nay nhưng mới chỉ giới  
hạn ở các dự án thí điểm để thử nghiệm trên lưới  
điện. Vật liệu của HTS được sử dụng là hợp chất  
oxit gốm và làm mát bằng nitơ lỏng, trong khi đó vật  
liệu siêu dẫn nhiệt độ thấp (LTS) được sử dụng hợp  
kim niobium-titan và làm lạnh bằng chất lỏng  
helium [8]. Một lượng công suất nhỏ từ SMES dùng  
để bù đắp cho các tải dao động, tải có dòng điện và  
điện áp không đối xứng [6], cung cấp nguồn điện dự  
phòng, bảo vệ cho phụ tải quan trọng và cải thiện hệ  
thống thiết bị truyền tải điện xoay chiều linh hoạt  
[FACTS] [1], kiểm soát tần số [8]. Một phần công  
suất tương đối cao từ SMES dùng để kiểm soát sự  
dao động của hệ thống, tăng cường ổn định điện áp,  
giảm sai số trong các vùng kiểm soát (ACE) và có  
khả năng phát thêm công suất khi nối vào lưới  
điện[1].  
2.1. Tổng quan về cấu trúc hệ thống SMES.  
Một hệ thống SMES được biểu diễn như hình  
2.1, hệ thống SMES được kết nối với lưới điện xoay  
chiều AC thông qua một máy biến áp ba pha và một  
bộ lọc (Khối “Transformer and Filter”). Khối  
“Voltage Source Converter VSC” , bộ nghịch lưu áp  
VSI được kết nối từ cuộn thứ cấp của máy biến áp  
có nhiệm vụ chuyển đổi nguồn điện từ điện xoay  
chiều AC sang điện một chiều DC và ngược lại. Để  
điện áp DC ổn định thì ta cần một tụ điện lọc phẳng  
được kết nối ở ngõ ra của VSI. Bộ “DC-DC  
Chopper” có nhiệm vụ điều khiển quá quá trình sạc  
và xả của hệ thống. Khối “Bypass” là khối bảo vệ và  
kiểm soát chế độ nghỉ của cuộn dây SMES. Cuối  
cùng, khối “SMES Coil” là cuộn dây SMES chưa  
năng lượng tích trữ dưới tác dụng của lực Lauren.  
Từ những vấn đề cấp thiết trên, tác giả đề xuất ứng  
dụng vai trò của thiết bị SMES trong lưới điện, nhằm  
ổn định hệ thống lưới điện khi có phụ tải thâm nhập  
thoáng qua hoặc sự cố ngắn mạch thoáng qua tác động  
trên lưới. Từ đó, tiến hành mô phỏng và đánh giá hệ  
thống qua phần mềm Matlab. Tác giả đã đề xuất hướng  
nghiên cứu với chủ đề: “Ứng dụng SMES  
(Supperconducting Magnetic Energy Store: Cuộn dây  
từ siêu dẫn tích trữ năng lượng) trong cải thiện chất  
lượng điện năng”. Trong khuôn khổ của bài báo này,  
tác giả dựa trên các nghiên cứu của các tác giả đã công  
bố trước đó về các mô hình hóa một hệ thống SMES để  
nhằm giải quyết bài toán cải thiện chất lượng điện năng  
Hình 2.1. Mô hình hệ thống SMES  
2.2. Bộ nghịch lưu áp  
Mô hình thiết bị nghịch lưu áp được biểu diễn như  
hình 2.2 Lưới điện PCC được kết nối với hệ thống  
SMES lần lượt các điện áp pha là Va, Vb, và Vc  
tương ứng. Trong đó, Ls là điện kháng của máy biến  
áp, Rs là điện trở của máy biến áp. Ls và Rs mắc nối  
2
tiếp nhau được gọi là trở kháng tương đương của  
máy biến áp. Khi máy biến áp hoạt động, hiện tượng  
tự cảm M được gây ra bởi sự ảnh hưởng qua lại giữa  
các cuộn dây máy biến áp. Tổn thất công suất trong  
bộ VSI và tụ điện DC được mô hình hóa bằng điện  
trở Rp mắc song song với một hệ thống VSI lý  
tưởng. Công suất tiêu tán trên điện trở Rp là công  
suất tổn thất của hệ thống trên.  
(5)  
(6)  
Trong đó:  
Hàm ma trận chuyển đổi trung bình trong hệ quy  
chiếu d-q của bộ nghịch lưu áp là Sdqav trình bày  
mối quan hệ giữa điện áp một chiều Vd và dạng điện  
áp xoay chiều ngõ ra Vinv. Giả sử điện áp một chiều  
của tụ điện là Vd, chúng ta có công thức biểu diễn  
mối quan hệ giữa điện áp một chiều và điện áp xoay  
chiều ngõ ra của bộ nghịch lưu áp như sau:  
Hình 2.2 Mô hình bộ nghịch lưu áp  
(7)  
Áp dụng định luật Kirchhoff’s về điện áp, phương  
trình Kirchhoff’s cho điện áp xoay chiều ba pha ở  
ngõ ra bộ VSI được tính như sau:  
Hàm ma trận chuyển đổi trung bình trong hệ quy  
chiếu d-q của bộ nghịch lưu áp Sdqav được tính như  
sau:  
(1)  
(8)  
Trong đó, s phép biến đổi Laplace theo thời gian t Trong đó:  
trong miền số phức, s = d/dt với t ˃ 0  
- mi : Chỉ số điều chế của bộ nghịch lưu áp. mi có giá  
trị là [0,1].  
(2)  
- α : góc lệch trên hệ trục d- q của vinvd và vinvq đến  
các trục tọa độ.  
Với tần số cơ bản của hệ thống là f, tốc độ góc đồng  
bộ là ω [20], như vậy ta có:  
-
là tỷ số máy biến áp ghép và nó dịch pha  
của điện áp ngõ ra DSTATCOM từ vị trí tham chiếu.  
Công suất giữa xoay chiều AC và một chiều DC là  
bằng nhau, ta có:  
(3)  
Trong đó, ma trận Ks từ hệ quy chiếu d-q được biểu  
diễn như sau:  
(9)  
(4)  
(10)  
-
là góc lệch giữa trục d của  
Từ công thức (1) đến (10) chúng ta có phương trình  
(11) như sau [8]:  
hệ tọa độ d-q so với hệ tọa độ A-B-C, ξ là biến tích  
phân.  
Từ phương trình (3), bỏ qua các thành phần thứ tự  
không, ta có:  
3
Hình 2.4 Sơ đồ trạng thái sạc của Chopper.  
Theo tài liệu [22], điện áp đặt vào cuộn dây SMES  
được tính theo công thức sau:  
(11)  
(12)  
Với I0 là dòng điện ban đầu của cuộn dây siêu  
dẫn, C là tụ điện của liên kết tầng DC và dòng điện  
tăng lên trong cuộn dây siêu dẫn SMES trong  
khoảng thời gian Δt được tính theo công thức sau:  
2.3. Khối DC Chopper  
Về cơ bản, bộ chuyển đổi DC/DC Chopper hoạt  
động ở 3 chế độ: Chế độ giảm áp hay chế độ sạc, chế  
độ chờ hay chế độ nghỉ, và chế độ tăng áp hay chế  
độ xả. Ba chế độ này được trình bày trong các  
nghiên cứu bằng cách sử dụng bộ điều khiển buck-  
boost hoặc ngược lại, được biểu diễn như hình 3.7.  
(13)  
Trong đó: L là độ tự cảm của cuộn dây siêu dẫn.  
Trong chế độ hoạt động thứ 2 hay chế độ nghỉ  
như hình 2.5, hệ thống điện hoạt động ở điều kiện  
ổn định. Lúc này, giữa lưới điện và cuộn dây SMES  
không có sự liên kết với nhau, năng lượng cấp cho  
cuộn dây SMES ở chế độ 1 được tích trữ trong cuộn  
Hình 3. Mô hinh chi tiết của một bộ Chopper  
Chế độ giảm áp (chế độ sạc) là phương thức hoạt dây. Hệ thống SMES ở chế độ nghỉ. Tất cả các  
động đầu tiên của bộ Chopper. Trong chế độ này, Thyristor S1 và S2 đều ở trạng thái OFF, riêng  
Chopper làm việc như một bộ giảm áp Buck. Lúc Thyristor S3 được giữ trạng thái ON.  
này, năng lượng từ lưới điện sẽ được kết nối đến  
cuộn dây siêu dẫn SMES và được tích trữ trong cuộn  
dây. Điều này được thực hiện thông qua sự chuyển  
mạch của hai Thyristor S1 và S2, nhờ sự chuyển  
mạch của S1 và S2 trong chế độ dẫn, điện áp đặt vào  
cuộn dây SMES sẽ là điện áp một chiều. Như hình  
2.3 cho thấy, hai Thyristor S1 và S2 luôn được giữ ở  
Hình 2.5. Trạng thái nghỉ của Chopper.  
trạng thái ON, và Thyristor S3 trạng thái OFF, dòng  
Điện áp đặt lên cuộn dây SMES được tính toán  
điện đi từ Thyristor S1 đến cuộn dây SMES rồi về  
như sau:  
S2, lúc này cuộn dây SMES được nạp đầy năng  
lượng và tích trữ chúng.  
(14)  
Với Rs và L tương ứng là điện trở và cảm kháng  
của cuộn dây SMES, và dòng điện ở chế độ này có  
công thức như sau:  
(15)  
4
Với I0 là dòng điện ban đầu trước khi chế độ này soát, điều khiển tối ưu dòng công suất phản kháng  
hoạt động, do điện trở của cuộn dây SMES lúc này và tác dụng trong hệ thống. Các thông số điều khiển  
bằng 0 nên dòng điện vẫn không thay đổi.  
được tính toán từ tỷ lệ của dòng điện. Có hai hệ  
thống điều khiển chính trong hệ thống SMES: Điều  
khiển bộ nghịch lưu nguồn áp VSI và bộ chuyển đổi  
điện áp DC-DC Chopper.  
Trong hình 2.6, trình bày chế độ hoạt động thứ  
3 của hệ thống SMES. Chế độ này là sự hoạt động  
của bộ chuyển đổi tăng áp (Mạch Boost). Dòng điện  
lúc này được xả ra từ cuộn dây SMES nên chiều đi 3.1.Điều khiển bộ nghịch lưu VSI  
của dòng điện trong hình 2.6 là từ nơi có điện thế  
Để có thể xây dựng bộ điều khiển VSI, chúng ta  
thấp đến nơi có điện thế cao là từ -VDC đến +VDC.  
Cuộn dây lúc này sẽ giải phóng năng lượng để bù  
cho sự thiếu hụt của công suất tác dụng, công suất  
phản kháng, dòng điện và điện áp của hệ thống điện.  
Như hình 2.6, lúc này các Thyristor đều ở trạng thái  
OFF, dòng điện sẽ qua các điốt D1 và D2.  
sẽ dựa vào phương trình (*).  
−
(*)  
Điện áp điều khiển trên bus DC được thiết lập  
là sai số phần trăm giữa điện áp một chiều đầu ra  
VDC của VSC và điện áp một chiều tham chiếu  
VDCREF nhằm tạo ra sai lệch điện áp trên trục d  
(VDREF). Điện áp này tỷ lệ với điện trở Rp của mạch  
cầu và Chopper để có được dòng điện tham chiếu  
IDREF trên trục d. Dòng điện này kết hợp với dòng Id  
từ khung tham chiếu d-q, và kết quả của sự kết hợp  
trên là duy trì Id với hệ số tỷ lệ KD (KD= Ls’/Rs) và  
bộ lọc để tạo ra Vdref. Dòng điện Iq từ khung tham  
chiếu d-q qua trở kháng ωLs để tạo ra điện áp trên  
trục d. Điện áp Vdref kết hợp với điện áp trục d tạo ra  
điện áp Vd [7]. Hình 3.1 thể hiện sơ đồ khối điều  
khiển VSI:  
Hình 2.6. Trạng thái xả của chopper.  
Ở chế độ này, phương trình điện áp được tính  
như công thức sau:  
(16)  
Với Rs và L tương ứng là điện trở và cảm kháng  
của cuộn dây SMES, và dòng điện ở chế độ này có  
công thức như sau:  
(17)  
Với I0 là dòng điện ban đầu trước khi chế độ xả  
hoạt động, và dòng điện giảm xuống trong cuộn dây  
siêu dẫn SMES trong khoảng thời gian Δt được tính  
theo công thức trên.  
Hình 3.1. Sơ đồ khối bộ điều khiển VSC  
Tương tự như bộ điều khiển DC, bộ điều khiển  
AC cũng tạo ra dòng điện tham chiếu trên trục q từ  
điện áp xoay chiều VAC và điện áp xoay chiều tham  
chiếu VACREF. Điện áp của bộ điều khiển AC hiển thị  
phần trăm sai lệch giữa điện áp xoay chiều ngõ ra  
3.0.Phương thức điều khiển hệ thống SMES  
Việc điều khiển hệ thống SMES là rất khó khăn  
khi thực hiện bộ điều khiển hệ thống SMES để kiểm  
5
VAC của VSC với điện áp tham chiếu VACREF nhằm  
tạo ra sai lệch điện áp trên trục d (VDREF).  
(18)  
Chu kỳ nhiệm vụ D cho phép nạp, xả hoặc nghỉ  
của bộ DC-DC Chopper theo giá trị sau:  
Điện áp này tỷ lệ với tổng trở Z của máy biến áp  
để có được dòng điện tham chiếu IQREF trên trục d.  
Dòng điện này kết hợp với dòng Id từ khung tham  
chiếu d-q, và kết quả của sự kết hợp trên là duy trì Id  
với hệ số tỷ lệ KD (KD= Ls’/Rs) và bộ lọc để tạo ra  
D = 0.5, Chế độ nghỉ.  
D > 0.5, Chế độ sạc.  
D < 0.5, Chế độ xả.  
Vqref. Dòng điện Iq từ khung tham chiếu d-q qua trở  
4.0 Mô phỏng hệ thống SMES trong hệ thống điện  
kháng ωLs để tạo ra điện áp trên trục q. Điện áp Vqref  
kết hợp với điện áp trục q tạo ra điện áp Vq [7]. Cả  
hai điện áp Vd và Vq thông qua bộ chuyển đổi sang  
điện áp ba pha Vabc cung cấp cho bộ PWM để tạo ra  
xung điều khiển.  
sử dụng phần mềm Matlab  
4.1. Sơ đồ khối tổng thể hệ thống  
Để khảo sát các đặc tính của hệ thống điện trong  
trường hợp có hoặc không có SMES khi trên lưới  
xãy ra sự cố thoáng qua như bởi do tải có tính chất  
tiêu thụ công suất phản kháng hoặc trường hợp ngắn  
mạch thoáng qua, hệ thống được đề xuất xây dựng  
các khối như hình 4.1. Như vậy, sẽ có hai mô hình  
hoạt động song song, một mô hình không có hệ  
thống SMES kết nối lưới điện, một mô hình có hệ  
thống SMES kết nối lưới.  
3.2.Điều khiển bộ DC-DC Chopper  
Theo tài liệu [7], bộ điều khiển Chopper hoạt  
động dựa trên chu kỳ nhiệm vụ D của chế độ sạc.  
Việc tính toán chu kỳ nhiệm vụ dựa trên công suất  
truyền tải giữa công suất xoay chiều AC và công  
suất một chiều DC của hệ thống như phương trình  
(9) và (10). Hình 3.12 biểu diễn sơ đồ hệ thống điều  
khiển DC chopper.  
Hình 4.1. Mô hình hệ thống điện được xây dựng trên  
Simulink với hai trường hợp có và không có SMES với đối  
tượng tải thâm nhập thoáng qua QL  
Hình 3.2. Sơ đồ bộ điều khiển DC Chopper.  
Dòng điện qua cuộn dây SMES được nhân với  
điện áp DC để có được công suất một chiều PDC, và  
Để sạc cho cuộn dây SMES thì phụ thuộc vào  
lượng công suất này cũng bằng công suất xoay chiều điện áp đầu vào của SMES và giá trị độ tự cảm của  
PAC. Công suất xoay chiều PAC chia cho điện áp ngõ cuộn dây SMES. Hoạt động của hệ thống SMES  
ra VAC ta được dòng điện tích trữ. Dòng này kết hợp trong các nghiên cứu trước đây có giá trị khác nhau  
với dòng đo được trên VSI nhằm điều khiển chu kỳ đã được các tác giả trình bày cụ thể, ví dụ như trong  
nhiệm vụ DX. Chu kỳ nhiệm vụ D được tính theo bài báo [2], hoạt động với tổng độ tự cảm của cuộn  
phương trình sau:  
dây SMES khoảng 68.724H ( trong đó 6 x  
{8.334H(tự cảm cuộn dây)+3.12H(hỗ cảm)} tại điện  
6
áp 24kV, còn đối với tài liệu [3], cuộn dây có độ tự  
cảm 21.1H với điện áp là 6kV, tài liệu [10] với độ tự  
cảm 12.5H tại điện áp 415V. Giá trị cao của độ tự  
cảm sẽ mất một khoảng thời gian để sạc đến giá trị  
dự kiến.  
Để tránh được thời gian mô phỏng, đề tài này sẽ  
mô phỏng với cuộn dây SMES có độ tự cảm là 1H,  
tụ điện liên kết DC có dung lượng 0.02F. Dòng điện  
qua cuộn dây SMES tối đa lên đến 4000A. Như vậy,  
năng lượng tối đa mà SMES lưu trữ là 8.000.000J  
(t=5s). Giá trị tự cảm của cuộn dây và dòng điện lớn  
nhất sạc cho cuộn dây tùy vào thực tế mà ta có thể  
thay đổi cho phù hợp.  
(b)  
Hình 4.2. Dạng sóng điện áp tại thanh cái 11kV, (a) hệ  
thống có SMES, (b) hệ thống không có SMES.  
Điện áp đo được trong cả hai trường hợp của hệ  
thống thấp hơn điện áp định mức của hệ thống  
(11kVrms = 11.55kV). Sự sụt áp ấy là do điện áp rơi  
trong quá trình truyền tải, điện áp rơi trên các thành  
phần của hệ thống như trên đường dây, trên máy  
biến áp. Điện áp tại thanh cái 11kV của cả hai hệ  
thống có SMES hay không có SMES là hoàn toàn  
giống nhau trong điều kiện làm việc bình thường của  
lưới điện. Rõ ràng, ta có thể nhận thấy như trong  
hình 4.3, điện áp dây của hai dây pha AB trong cả  
hai trường hợp là như nhau.  
4.2. Trạng thái ổn định của hệ thống  
Để có thể so sánh, hệ thống điện của đề tài sẽ  
đồng thời chạy mô phỏng ở 2 hệ thống có thông số  
giống nhau. Một mô hình có kết nối với hệ thống  
SMES, và một mô hình hoạt động bình thường. Ở  
trạng thái ổn định, cả hai mô hình hoạt động khi  
không có phụ tải thâm nhập vào hệ thống. Kết quả  
của trường hợp này cho thấy hai hệ thống có hay  
không có kết nối SMES thì tương đương nhau. Kết  
quả mô phỏng cho cùng một kết quả. Do vậy, ta có  
thể nhận thấy rằng, khi hệ thống hoạt động bình  
thường và không có mục tiêu thâm nhập thì không  
có sự ảnh hưởng của hệ thống SMES với lưới điện.  
Hình 4.3. Dạng sóng điện áp dây trung bình của đường  
dây 11kV trong cả hai trường hợp có hệ thống SMES và  
không có hệ thống SMES ở điều kiện hoạt động bình  
thường của lưới điện, đường đồ thị màu xanh dương là  
điện áp của hệ thống điện khi có hệ thống SMES và đồ thị  
màu hồng là điện áp của hệ thống điện khi không có hệ  
thống SMES .  
Các giá trị đo được của hệ thống ở điều kiện ổn  
định được thể hiện như trong hình dưới đây.  
4.2.1. Đo lường thông số của hệ thống  
Dạng sóng điện áp của hệ thống tại thanh cái  
11kV.  
4.2.2 Đo lường thông số của hệ thống SMES  
Điện áp đầu vào của hệ thống SMES dao động ở  
mức 580V, nằm trong khoảng giá trị điện áp định  
mức (  
).  
(a)  
7
(a)  
Hình 4.4. Điện áp tại hệ thống SMES ở điều kiện  
bình thường  
Để tránh sự ảnh hưởng của cuộn dây SMES, giá trị  
chọn lựa của tụ điện là thấp như là 0.1F, do đó điện áp tại  
liên kết DC dao động khoảng gần 100V theo như Hình  
4.5.  
(b)  
Hình 4.6. Điện áp tại cuộn dây SMES, (a) trạng  
thái điện áp ở chế độ sạc và (b) điện áp ở chế độ  
chờ  
Dòng điện cuộn dây SMES:  
Hình 4.5. Điện áp tại liên kết DC của hệ thống  
SMES ở điều kiện bình thường  
Ở điều kiện làm việc bình thường của hệ thống điện,  
hệ thống SMES có thể ở 2 trạng thái hoạt động là sạc  
hoặc chờ. Điện áp tại cuộn SMES phụ thuộc vào chế độ  
sạc hoặc chờ của SMES. Theo quan sát hình 4.6 (a), khi  
SMES đang trạng thái sạc (chế độ buck), dòng điện qua  
cuộn dây SMES đi từ nơi có điện thế cao đến nơi có điện  
thế thấp hơn. Điện áp tại cuộn dây SMES mang là giá trị  
dương, nhưng sau một khoảng thời gian là âm. Đó là sự  
nhạy cảm trong quá trình điều khiển gây ra trong chu kỳ  
nhiệm vụ ở chế độ xả. Có thể nhìn thấy từ hình 4.6 (b),  
giống như ở chế độ chờ, hầu hết điện áp chịu sự ảnh  
hưởng điện áp trước đó khi ở chế độ chờ và nó cũng chịu  
ảnh hưởng bởi bộ điều khiển.  
Hình 4.7. Dòng điện qua cuộn dây SMES trong chế độ  
sạc và chế độ chờ  
Khi hệ thống bắt đầu chế độ sạc, dòng điện cuộn  
dây SMES tăng lên cho đến khi nó đạt được giá trị  
dòng điện tối đa thiết lập trước đó của hệ thống. Khi  
đạt giá trị tối đa, hệ thống chuyển sang chế độ chờ  
với giá trị dòng điện không đổi đó. Trong mô phỏng  
này, dòng điện cực đại (4000Amps) được lưu trữ bởi  
chế độ sạc với thời gian nạp khoảng 18s như hình  
4.7.  
4.3.Trạng thái của hệ thống khi có phụ tải thâm  
nhập với QL =100 kVAR  
Khi có phụ tải xâm nhập vào hệ thống, phụ tải  
được kết nối và ngưng kết nối với thời gian khảo sát  
bắt đầu từ giây thứ 40 và khoảng khảo sát 10 chu kỳ  
8
Đo lường thông số hệ thống điện:  
nhẹ, và nhanh chóng ổn định trong trường hợp này.  
Trong hình 4.9, kết quả điện áp trung bình một pha  
của hệ thống điện trong cả hai trường hợp. Đường  
màu hồng, thể hiện giá trị điện áp trung bình của pha  
khi hệ thống không có SMES kết nối lưới điện.  
Đường màu xanh, là trị điện áp pha trung bình của  
hệ thống khi có sự ảnh hưởng của SMES lên lưới  
điện. Dựa vào đồ thị, ta dễ dàng nhận thấy trong  
trường hợp hệ thống có SMES, thì giá trị điện áp  
này ít dao động hơn và có điện áp cao hơn so với  
trường hợp hệ thống không có SMES kết nối lưới  
điện.  
Điện áp của hệ thống tại thanh cái 11kV  
(a)  
(b)  
Hình 4.8. Điện áp tại thanh cái 11kV khi phụ tải thâm  
nhập lưới điện, (a) lưới điện có kết nối với hệ thống  
SMES và (b) lưới điện không có kết nối với hệ thống  
SMES  
Hình 4.9. Trị điện áp trung bình của đường dây tại  
thanh cái 11kV của cả hai hệ thống có và không có hệ  
thống SMES khi có phụ tải thâm nhập lưới điện, màu  
xanh là điện áp của hệ thống điện có kết nối hệ thống  
SMES và màu hồng là điện áp của hệ thống điện không có  
hệ thống SMES  
Như chúng ta thấy ở hình 4.8, khi có phụ tải  
thâm nhập vào hệ thống, phụ tải này kết nối và ngắt  
kết nối thường xuyên sẽ gây nên hiện tượng dao  
động điện áp trong hệ thống điện ở trường hợp hệ  
thống có sử dụng SMES và hệ thống còn lại không  
sử dụng SMES. Điện áp của hệ thống có sự dao  
động trước khi trở lại trạng thái ổn định hình sin.  
Dựa vào kết quả mô phỏng, tác giả nhận thấy rằng  
trong trường hợp hệ thống có SMES, thì điện áp  
phục hồi trạng thái ổn định nhanh hơn so với trường  
hợp không có SMES. Ở trường hợp b, khi hệ thống  
không có SMES kết nối lưới điện, điện áp bị dao  
động khá rõ và kéo dài trong một khoảng thời gian  
trễ hơn gây ảnh hưởng nhiều đến lưới điện. Cũng  
trên cơ sở kết quả thu được, chứng tỏ hệ thống điện  
đã nhận được sự bù công suất từ năng lượng lưu trữ  
của SMES truyền lên lưới điện để bù đắp cho sự  
thiếu hụt công suất khi có phụ tải thâm nhập thoáng  
qua vào lưới điện. Điện áp của hệ thống dao động  
4.3.1 Đo lường thông số hệ thống SMES  
Điện áp ngõ vào tại hệ thống SMES  
(a)  
9
Dựa vào kết quả mô phỏng như Hình 4.11, dòng  
điện tại cuộn SMES tăng lên khi hệ thống bắt đầu  
hoạt động và đạt đến mức tối đa (4000A). Giai đoạn  
này là chế độ sạc của hệ thống SMES. Năng lượng  
trong giai đoạn này sẽ được tích trữ trong cuộn dây  
SMES. Xét hệ thống tại giây thứ 40 trở đi, đó là  
thời điểm khảo sát khi có phụ tải thâm nhập thoáng  
qua được kết nối vào hệ thống. Chính vì sự thâm  
nhập này gây ra sự dao động điện áp trong hệ thống  
lưới điện như làm méo biên dạng điện áp, sụt áp tức  
thời, điện áp có tính chất nhấp nháy, với đặc tính  
điện áp như vậy gây ảnh hưởng rất lớn cho các phụ  
tải nhạy cảm (thiết bị điện tử), các thiết bị đóng cắt  
trên lưới có thể dẫn đến tác động cắt sai yêu cầu. Hệ  
thống điện có trang bị hệ thống SMES nhận được  
năng lượng từ hệ thống SMES để bù đắp cho lưới  
điện với lượng năng lượng suy giảm do sự cố gây ra  
do tải thâm nhập thoáng qua, hoặc trường hợp ngắn  
mạch thoáng qua. Lúc này, hệ thống SMES xả năng  
lượng tích trữ vào lưới điện, việc xả của hệ thống  
SMES dẫn đến điện áp của hệ thống điện đạt đến giá  
trị điện áp tham chiếu nhanh hơn khi hệ thống điện  
không có trang bị thiết bị SMES. Khi điện áp của hệ  
thống điện bằng hoặc cao hơn điện áp tham chiếu,  
hệ thống SMES tiếp tục sạc lại, và khi điện áp hạ  
(b)  
(c)  
Hình 4.10. Điện áp của hệ thống SMES, (a) điện áp tại  
đầu cuối, (b) tại liên kết DC và (c) tại cuộn SMES khi mục  
tiêu thâm nhập được kết nối.  
Quan sát hình 4.10, điện áp hệ thống SMES và  
tại liên kết tầng DC giảm xuống khoảng 10% so với thấp hơn giá trị tham chiếu, hệ thống SMES sẽ bù  
đắp công suất thiếu hụt của hệ thống điện cho đến  
khi hệ thống điện phục hồi đến điều kiện làm việc  
bình thường. Cứ như thế, hệ thống điện với hệ thống  
trạng thái bình thường, điều này ảnh hưởng đến sự  
giảm điện áp của hệ thống SMES khi có tải thâm  
nhập hệ thống. Tuy nhiên, điện áp của cuộn dây  
SMES mang giá trị âm. Nó được trình bày ở chế độ  
tăng áp “Boost”, và dòng điện của cuộn dây SMES  
đi từ nơi có điện áp thấp đến nơi có điện áp cao hơn  
và năng lượng từ cuộn dây SMES sẽ được giải  
phóng để bù năng lượng thiếu hụt trong hệ thống  
điện.  
SMES sẽ làm giảm bớt sự dao động điện áp và góp  
phần ổn định hệ thống điện.  
5. Kết luận  
Kết quả nghiên cứu và đóng góp mới của đề tài  
“Ứng dụng SMES (Supperconducting Magnetic  
Energy Store: Cuộn dây từ siêu dẫn tích trữ năng  
lượng) trong cải thiện chất lượng điện năng” được  
thể hiện ở những điểm sau đây:  
- Tổng hợp cơ sở lý luận, đánh giá các công trình  
nghiên cứu liên quan đến đề tài, xác định nội dung  
cần đi sâu giải quyết vấn đề.  
Dòng điện tại cuộn dây SMES  
- Về nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu lý thuyết và  
trình bày một cách tổng thể về hệ thống SMES,  
nguyên lý hoạt động của hệ thống SMES, trình bày  
tổng quan về mô hình toán học của hệ thống từ đó  
làm cở sở xây dựng mô hình hóa hệ thống lưới điện  
với việc áp dụng SMES trong môi trường MATLAB  
nhằm đánh giá khả năng phục hồi hệ thống khi có sự  
cố thoáng qua trên lưới điện.  
Hình 4.11. Dòng điện tại cuộn dây SMES khi có thêm phụ  
tải thâm nhập.  
10  
- Sự ổn định của hệ thống điện đóng một vai trò tác dụng, công suất phản kháng, tần số, đảo ngược,  
quan trọng để đảm bảo cung cấp an toàn và liên tục cân bằng phụ tải ... Những bất lợi của tình huống  
cho phụ tải. Hệ thống từ cuộn dây từ siêu dẫn tích này là một hệ thống điện không thể phân phối được  
trữ năng lượng (SMES) đã được phát triển trong nhiều hệ thống SMES trong các ứng dụng khác nhau  
phần mềm MATLAB. Sự dao động điện áp được dọc theo hệ thống điện, và nó có thể làm tăng chi phí  
giảm nhẹ, bù đắp năng lượng thiếu hụt cho lưới khi đầu tư, không gian, quản lý và môi trường. Một ứng  
có đối tượng thâm nhập thoáng qua vào hệ thống dụng đa dạng của hệ thống SMES có thể là những  
điện đã được chỉ ra trong hướng phát triển của đề tài thách thức đáng kể và phải đối mặt với hệ thống  
này.  
kiểm soát phức tạp.  
- Ưu điểm của hệ thống SMES là đặc tính "điện trở 6. Phụ lục  
gần như bằng không", cho phép đáp ứng động ngay  
tức khắc, chu kỳ sống vô hạn, hiệu suất cao, và cho  
phép lưu trữ nhiều năng lượng mà không bị mất đi  
trong chế độ chờ. Do đó, hệ thống SMES có đặc tính  
khả năng giải phóng năng lượng nhanh và có thể  
ngay lập tức bồi thường năng lượng cho hệ thống  
điện để góp phần đáng kể sự ổn định của hệ thống  
điện.  
- Trong nhiều nghiên cứu trước, thiết kế đề xuất của  
hệ thống SMES đã được tập trung vào mục đích cụ  
thể của ứng dụng. Tuy nhiên, trong hệ thống điện, có  
nhiều ứng dụng như điều khiển điện áp, công suất  
11  
PHỤ LỤC A. MÔ HÌNH SIMULINK  
Hình.A.1. Mô hình Simulink của hai hệ thống điện với hệ thống có và  
không có SMES với trường hợp có tải thâm nhập thoáng qua  
Hình.A2. Mô hình Simulink của hệ thống SMES  
12  
Hình.A.3. Mô hình Simulink của bộ điều khiển VSI  
Hình.A.4. Mô hình Simulink của bộ điều khiển DC-DC chopper  
PHỤ LỤC B. BẢNG THÔNG SỐ HỆ THỐNG  
1.  
Thông số hệ thống điện  
Thông số về nguồn phát:  
Base  
voltage X/R  
(Vrms  
ph-ph)  
Line  
Voltage  
(Vrms) (degree)  
Phase A  
angle  
Fault  
level  
(MVA)  
Frequency  
(Hz)  
Internal  
connection  
Load  
flow  
ratio  
13,800  
0
50  
Yg  
2500  
13,800  
7
swing  
Bảng 1.2 Thông số máy phát  
13  
Thông số máy biến áp tăng áp (step-up) và hạ áp (step-down)  
Transformer  
Capacity (MVA)  
Frequency (Hz)  
Step-up  
Step-down  
100  
100  
50  
50  
Winding 1  
Winding 2  
Winding 1  
Winding 2  
Winding 1  
Winding 2  
13.8  
132  
132  
Voltage phase to  
phase(Vrms)  
11  
0.002  
0.002  
0.00  
0.08  
500  
0.002  
0.002  
0.08  
0.00  
500  
Resistance R (pu)  
Inductance L (pu)  
Magnetization resistance Rm (pu)  
Magnetization inductance Lm (pu)  
500  
500  
Winding 1  
Configuration  
Yg  
D11  
Yg  
Winding 2  
D11  
Bảng 1.3 Thông số máy biến áp tăng áp và hạ áp  
Thông số đường dây truyền tải :  
Number of Frequency Resistance  
Inductance  
(H/km)  
Capacitance  
(F/km)  
Length (km)  
100  
phase  
(Hz)  
(Ω/km)  
3
50  
0.01273  
0.9337e-3  
12.74e-9  
Bảng 1.4 Thông số đường dây truyền tải  
Thông số về tải:  
Active  
Power  
(MW)  
Inductive  
power  
(Mvar)  
Voltage L- Frequency  
Configuration  
Load type  
L (Vrms)  
(Hz)  
Constant  
Z
Y (grounded)  
11,000  
50  
10  
7
Bảng 1.5 Thông số của tải  
2.  
SMES system  
Thông số máy biến áp hạ áp đầu cuối của hệ thống SMES:  
Voltage  
Power  
Frequency  
Resistance  
(pu)  
Inductance  
(pu)  
capacity  
Winding1  
(Vrms)  
Winding2  
(Vrms)  
(Hz)  
(MVA)  
14  
10  
11,000  
400  
50  
0.002  
0.005  
Bảng 1.6 Thông số máy biến áp hạn áp tại đầu cuối SMES  
Đối tượng tải thâm nhập thoáng qua  
3.  
Thông số tải thâm nhập thoáng qua, tải thâm nhập có tính chất tiêu thụ công suất phản kháng  
Active  
Power  
(MW)  
Inductive  
power  
(Mvar)  
Voltage L-L Frequency  
ConHìnhuration  
Y (grounded)  
Load type  
Constant Z  
(Vrms)  
(Hz)  
11,000  
50  
0
100  
Bảng 1.7 Thông số phụ tải thâm nhập thoáng qua  
15  
6. TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] X.D. Xue, K.W.E. Cheng, D. Sutanto, “A study of the status and future of superconducting magnetic  
energy storage in power systems”, Superconductor Science and Technology, 19(6), pp. R31-R39,  
2006.  
[2] M.G. Molina, P.E. Mercado, et al., “Improved superconducting magnetic energy storage (SMES)  
controller for high-power utility applications”, IEEE Trans. on Energy Conversion, Early excess,  
2015.  
[3] S-T Kim, B-K Kang, S-H Bae, J-W Park, “Application of SMES and grid code compliance to  
wind/photovoltaic generation system”, IEEE Trans on Applied Superconductivity, V.23, No.3, 2013.  
[4] Y. Ueda, K. Kurokawa, T. Tanabe, K. Kitamura, and H. Sugihara, “Analysis Results of Output  
Power Loss Due to the Grid Voltage Rise in Grid-Connected Photovoltaic Power Generation  
Systems”, IEEE Trans on Industrial Electronics, Vol. 55, No. 7, 2008, p.2744-2751.  
[5] M.J.E. Alam, K.M. Muttaqi, D. Sutanto, “A novel approach for ramp-rate control of solar PV using  
energy storage to mitigate output fluctuations caused by cloud passing”, IEEE Trans on Energy  
Conversion, V.29, No.2, pp.507 – 518, 2014.  
[6] J. Rodriguez, J. S. Lai, and F. Z. Peng, “Multilevel inverters: A survey of topologies, controls, and  
applications,” IEEE Trans. Ind. Electron, Aug. 2002, vol. 49, no. 4, pp. 724–738.  
[7] C. Luonge, M Steurer, “Modeling of SMES and Its Integration to the Power Grid”, EPRI, Palo Alto,  
CA: 2005. 1012153.  
[8] M. G. Molina, “Dynamic Modelling and Control Design of Advanced Energy Storage for Power  
System Applications”, ISBN 978-953-7619-68-8, January 2010, pp. 50-93.  
[9] M.V. Aware, D. Sutanto, “Improved Controller for Power Conditioner Using High-Temperature  
Superconducting Magnetic Energy Storage (HTS-SMES)”, IEEE TRANSACTIONS ON APPLIED  
SUPERCONDUCTIVITY, Vol. 13, No. 1, March 2003, pp. 38-47.  
[10] D Cuiuri, J Moscop, C Cook, “A FLEXIBLE APPROACH TO ON-SITE POWER FILTERING  
AND SUPPLY BACKUP USING HIGH CAPACITY HIGH TEMPERATURE SMES FOR  
MAXIMUM EQUIPMENT UTILITY”, The University of Wollongong, Faculty of Engineering,  
Wollongong, NSW 2522, Australia, 01/2007, pp 1-6.  
Thông tin liên hệ tác giả:  
Tp. Hồ Chí Minh, ngày …. tháng …. năm 20178  
Xác nhận giáo viên hướng dẫn  
Ký tên và ghi rõ họ tên  
Họ và Tên: Phan Thanh Cảnh  
Đơn vị: Công ty TNHH UPC Holding Vietnam  
Điện thoại: 090 363 1019  
16  
Scanned with CamScanner  
BÀI BÁO KHOA HỌC  
THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ  
Bài báo khoa học của học viên  
có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn  
Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ  
Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ bởi Luật xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.  
Nghiêm cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý  
của tác giả và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh.  
ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN!  
Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2018-2019 của Thư viện Trường Đại học  
Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.  
pdf 18 trang Mãnh Khiết 09/01/2024 21340 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu ứng dụng smes (Supperconducting magnetic energy store: Cuộn dây từ siêu dẫn tích trữ năng lượng) trong cải thiện chất lượng điện năng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_ung_dung_smes_supperconducting_magnetic_energy_st.pdf