Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và cảnh báo nguy cơ tai biến nứt sụt đất khu vực Tây Nguyên

35(3), 219-229  
Tạp chí CÁC KHOA HỌC VỀ TRÁI ĐẤT  
9-2013  
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ  
CẢNH BÁO NGUY CƠ TAI BIẾN NỨT SỤT ĐẤT  
KHU VỰC TÂY NGUYÊN  
PHẠM VĂN HÙNG, NGUYỄN XUÂN HUYÊN  
Viện Địa chất, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam  
Ngày nhận bài: 4 - 7 - 2013  
1. Mở đầu  
NSĐ làm cơ sở cho quản lý tai biến và phòng  
chống giảm nhẹ thiên tai. Vì vậy, những kết quả  
nghiên cứu của công trình này bước đầu đáp ứng  
những đòi hỏi của thực tiễn. Đây là những kết quả  
nghiên cứu mới nhất của đề tài khoa học cấp Nhà  
nước: “Nghiên cứu một số dạng tai biến địa chất  
điển hình phục vụ phát triển kinh tế - xã hội khu  
vực Tây Nguyên” mang mã số TN3/T04 thuộc  
Chương trình TN3/11-15.  
Lãnh thổ Tây Nguyên bao gồm 5 tỉnh Kon  
Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng,  
nằm trong vùng có những điều kiện tự nhiên và xã  
hội thuận lợi cho sự phát triển kinh tế ở Tây  
Nguyên nói riêng, nước ta nói chung. Tuy nhiên,  
trong thời gian qua, các tai biến địa chất, đặc biệt là  
nứt sụt đất (NSĐ) diễn ra bất thường, khó kiểm  
soát đã gây nên những tổn thất khó lường cho cuộc  
sống của người dân địa phương. Các tai biến nứt 2. Phương pháp nghiên cứu  
đất, nứt sụt đất đã xuất hiện ở một số nơi như  
Ở nước ta, việc ứng dụng các phương pháp  
doanh trại của Trung đoàn 28 - Quân đoàn 3 thuộc  
xã Hoà Bình (thành phố Kon Tum), Tu Mơ Rông,  
Diên Bình, Doãn Văn, Hoà Thắng, Ia Ve, Cư  
Mgar, Pleiku, Tuy Đức, Đắk Rlấp,... gây tổn thất  
lớn không những về tài sản vật chất, mà còn gây  
hoang mang lo lắng trong nhân dân.  
nghiên cứu đánh giá tai biến địa chất còn gặp nhiều  
khó khăn. Nguyễn Trọng Yêm và các cộng sự  
(2006) đã tổng hợp một cách tương đối đầy đủ hệ  
phương pháp nghiên cứu đánh giá tai biến môi  
trường trên thế giới áp dụng vào nghiên cứu ở Việt  
Nam. Công trình này áp dụng tổ hợp các phương  
pháp nghiên cứu bao gồm: phân tích ảnh viễn  
thám, khảo sát thực địa và phân tích đánh giá tai  
biến (phương pháp phân tích so sánh cặp thông  
minh và phân tích không gian trong môi trường  
GIS.  
Trong những năm gần đây, đã có nhiều công  
trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này và đạt được  
kết quả bước đầu. Nguyễn Trọng Yêm và các cộng  
sự (1991, 2005) khẳng định rằng, tai biến nứt đất  
có nguồn gốc nội sinh, do chuyển động từ từ của  
vỏ Trái Đất, trong đó phải kể đến yếu tố hoạt động  
của các đứt gãy kiến tạo hiện đại. Theo Phan  
Thanh Sáng và các cộng sự (2002), tai biến NSĐ  
hình thành và phát triển do tác động của nhóm yếu  
tố địa chất và kiến tạo, trong đó phải kể đến yếu tố  
đứt gãy hoạt động, địa chất thạch học, chuyển động  
hiện đại vỏ Trái Đất và địa chất thủy văn. Tai biến  
NSĐ ở khu vực Tây Nguyên đã được quan tâm  
điều tra hiện trạng và đánh giá nguyên nhân phát  
sinh. Cho đến nay, ở Tây Nguyên chưa có công  
trình nào nghiên cứu dự báo, khoanh vùng nguy cơ  
Phân tích ảnh viễn thám được ứng dụng để giải  
đoán vị trí các điểm NSĐ trên địa bàn nghiên cứu.  
Phương pháp khảo sát thực địa là chủ đạo được  
ứng dụng để nghiên cứu đánh giá hiện trạng và các  
yếu tố tác động phát sinh NSĐ. Ở ngoài thực địa,  
tiến hành đo vẽ chi tiết, xác định quy mô, các đặc  
trưng của điểm nứt sụt đất và những yếu tố tác  
động phát sinh NSĐ. Từ đó đánh giá hiện trạng và  
diễn biến của quá trình NSĐ trong khu vực nghiên  
219  
cứu. Phương pháp phân tích so sánh cặp thông  
minh [6] được ứng dụng nhằm xác định vai trò của  
từng yếu tố trong tổng hợp các yếu tố tác động phát  
sinh NSĐ trên cơ sở cho điểm và tính trọng số.  
Phương pháp phân tích không gian trong môi  
trường GIS được áp dụng để xây dựng bản đồ nguy  
cơ NSĐ. Bản đồ nguy cơ NSĐ được xây dựng dựa  
trên sự hiểu biết về các chuyển động phức tạp trên  
bề mặt Trái Đất và các yếu tố gây ra NSĐ. Việc  
khoanh vẽ các khu vực hiện thời chưa bị tác động  
của NSĐ được dựa trên giả định rằng, quá trình  
NSĐ trong tương lai sẽ diễn ra trong cùng một điều  
kiện với các vụ NSĐ quan sát được đã xảy ra trước  
đó. Việc vạch ranh giới của các vùng nguy cơ NSĐ  
xuất phát từ xác suất xảy ra hiện tượng, từ sự tương  
đồng của các yếu tố tác động phát sinh NSĐ như:  
đặc tính địa chất thạch học của đất đá, đặc điểm địa  
chất thủy văn, hoạt động phá hủy của đứt gãy hoạt  
động (mật độ đứt gãy và đới ảnh hưởng động lực  
đứt gãy) và chuyển động Tân kiến tạo vỏ Trái Đất.  
Mặt khác, việc định lượng cấp độ nguy cơ NSĐ là  
kết quả của sự tích lũy các yếu tố tác động phát sinh  
NSĐ được tính theo công thức sau [6]:  
KT-XH khu vực Tây Nguyên nói riêng, nước ta  
nói chung.  
3. Hiện trạng phân bố nứt sụt đất khu vực  
Tây Nguyên  
Trên khu vực Tây Nguyên, tai biến NSĐ thể  
hiện rất rõ trên bề mặt thông qua sự bộc lộ của  
chúng trên các công trình kinh tế dân sinh và tự  
nhiên. Quá trình NSĐ diễn ra để lại những dấu tích  
trên nhiều đối tượng khác nhau: nứt đồi, nứt núi,  
phá hủy ruộng vườn, hoa màu, đường giao thông,  
các công trình kinh tế dân sinh, gây tổn thất không  
chỉ tài sản mà cả tính mạng của nhân dân. Trong  
những năm gần đây, hiện tượng NSĐ diễn ra rất  
phức tạp, khó kiểm soát và làm cho người dân  
hoang mang, lo lắng. Hiện tại, trên cơ sở tổng hợp  
các tài liệu và kết qủa khảo sát thực địa ở Tây  
Nguyên, đã xác lập được 91 điểm NSĐ, trong đó  
có 21 điểm NSĐ nguy hiểm (hình 1, bảng 1).  
n
m
H =  
wj  
Xij  
∑ ∑  
j=1  
i=1  
Trong đó: H - là nguy cơ NSĐ, Wj - là trọng số  
của yếu tố thứ j, Xij - là giá trị của lớp thứ i trong  
yếu tố gây NSĐ j.  
Việc tích hợp thông tin trong môi trường GIS  
với phương pháp phân tích đa biến đã cho  
phép xây dựng bản đồ nguy cơ NSĐ khu vực  
Tây Nguyên.  
Như vậy, phương pháp khảo sát thực địa kết  
hợp với phân tích các dữ liệu viễn thám là quan  
trọng, bởi lẽ có xác lập chi tiết hiện trạng tai biến  
NSĐ một cách đầy đủ, chi tiết thì mới cho kết quả  
khoanh vùng nguy cơ NSĐ đạt độ tin cậy và có ý  
nghĩa thực tiễn. Ứng dụng phương pháp phân tích  
so sánh cặp thông minh và phân tích không gian  
trong môi trường GIS để khoanh vùng nguy cơ  
NSĐ sẽ đáp ứng được nhu cầu thực tiễn đặt ra, làm  
cơ sở khoa học cho quy hoạch phát triển bền vững  
Hình 1. Bản đồ hiện trạng phân bố nứt sụt đất khu vực  
Tây Nguyên  
220  
Bảng 1. Thống kê các điểm nứt sụt đất ở khu vực Tây Nguyên  
Stt  
1
Vỹ độ  
Kinh độ  
Địa điểm  
Đơn Dương - Lâm Đồng  
Đặc điểm  
11,805  
108,433  
Nứt đất kèm theo sụt trượt  
2
13,503  
12,666  
14,023  
12,153  
11,993  
12,061  
12,616  
14,022  
13,905  
14,279  
11,606  
11,755  
11,526  
12,051  
12,102  
11,580  
11,964  
11,943  
11,872  
11,967  
11,940  
12,044  
12,246  
11,662  
11,634  
12,495  
12,524  
12,271  
12,301  
11,947  
12,627  
12,775  
12,759  
12,819  
13,912  
13,734  
13,692  
14,472  
14,517  
14,320  
14,137  
14,648  
14,648  
14,497  
108,259  
108,300  
108,234  
107,478  
107,491  
107,475  
108,083  
108,019  
108,018  
108,000  
107,940  
107,375  
107,951  
108,510  
108,585  
108,045  
107,465  
107,426  
107,451  
107,737  
107,753  
107,682  
107,629  
107,926  
107,855  
108,338  
108,411  
108,153  
108,189  
107,565  
108,806  
108,922  
108,356  
108,013  
108,062  
107,906  
107,808  
108,190  
108,260  
108,087  
108,124  
107,848  
107,815  
107,891  
Phú Thiện - Gia Lai  
Lắk - Đắk Lắk  
Nứt sụt đất  
3
Nứt sụt đất  
4
Đắk Đoa - Gia Lai  
Nứt sụt đất  
5
Tuy Đức - Đắk Nông  
Kiến Đức Đắk Nông  
Đắk Rlấp - Đắk Nông  
Hoà Thắng - Đắk Lắk  
Pleiku - Gia Lai  
Nứt sụt đất  
6
Nứt sụt đất  
7
Nứt sụt đất  
8
Nứt sụt đất  
9
Nứt sụt đất  
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
17  
18  
19  
20  
21  
22  
23  
24  
25  
26  
27  
28  
29  
30  
31  
32  
33  
34  
35  
36  
37  
38  
39  
40  
41  
42  
43  
44  
45  
Pleiku - Gia Lai  
Nứt sụt đất  
Hoà Bình - Kon Tum  
Đức Trọng - Lâm Đồng  
Cát Tiên - Lâm Đồng  
Di Linh - Lâm Đồng  
Đà Lạt - Lâm Đồng  
Lạc Duơng - Lâm Đồng  
Di Linh - Lâm Đồng  
Đắk Rlấp - Đắk Nông  
Đắk Rlấp - Đắk Nông  
Đắk Rlấp - Đắk Nông  
Đắk Glong - Đắk Nông  
Đắk Glong - Đắk Nông  
Gia Nghĩa - Đắk Nông  
Đắk Song - Đắk Nông  
Bảo Lâm - Lâm Đồng  
Bảo Lâm - Lâm Đồng  
Krông Bông - Đắk Lắk  
Krông Bông - Đắk Lắk  
Đam Rông - Lâm Đồng  
Lắk - Đắk Lắk  
Nứt đất  
Nứt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt đất kèm theo sụt trượt  
Nứt đất kèm theo sụt trượt  
Nứt sụt đất  
Nứt đất kèm theo sụt trượt  
Nứt đất kèm theo sụt trượt  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Đắk Rlấp - Đắk Lắk  
M’Đrắk - Đắk Lắk  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
An Khê - Đắk Lắk  
Nứt đất  
Krông Pách - Đắk Lắk  
Cư Mgar - Đắk Lắk  
Chư Prông - Gia Lai  
Chư Prông - Gia Lai  
Chư Prông - Gia Lai  
Kon Rẫy - Kon Tum  
Kon Rẫy - Kon Tum  
Kon Tum - Kon Tum  
Đắk Đoa - Kon Tum  
Đắk Tô - Kon Tum  
Đắk Tô - Kon Tum  
Đắk Hà - Kon Tum  
Nứt sụt đất  
Nứt đất kèm theo sụt trượt  
Nứt sụt đất  
Nứt đất kèm theo sụt trượt  
Nứt đất kèm phun tro  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt đất kèm theo sụt trượt  
Nứt sụt đất  
Nứt đất kèm theo sụt trượt  
221  
46  
47  
48  
49  
50  
51  
52  
53  
54  
55  
56  
57  
58  
59  
60  
61  
62  
63  
64  
65  
66  
67  
68  
69  
70  
71  
72  
73  
74  
75  
76  
77  
78  
79  
80  
81  
82  
83  
84  
85  
86  
87  
88  
89  
90  
91  
14,401  
15,202  
14,899  
14,813  
14,633  
14,993  
14,665  
13,968  
13,728  
13,752  
13,879  
13,640  
13,416  
12,920  
14,711  
14,716  
14,218  
14,223  
14,060  
14,126  
14,203  
14,198  
14,854  
14,737  
14,139  
15,066  
14,279  
14,007  
14,005  
13,955  
13,905  
13,866  
13,647  
12,336  
13,216  
12,666  
12,616  
12,061  
12,050  
12,005  
11,993  
11,986  
11,983  
11,916  
11,772  
11,805  
107,767  
107,746  
107,991  
107,881  
107,926  
107,920  
108,408  
108,746  
108,572  
108,595  
108,131  
108,217  
108,506  
108,713  
107,825  
107,594  
107,805  
107,818  
107,954  
107,907  
107,858  
107,822  
108,035  
108,477  
108,610  
107,750  
108,000  
108,232  
108,021  
107,950  
108,018  
107,967  
107,992  
108,265  
108,699  
108,300  
108,083  
107,475  
107,701  
107,468  
107,491  
107,478  
107,583  
107,400  
108,233  
108,433  
Sa Thầy - Kon Tum  
Đắk Glei - Kon Tum  
Tu Mơ Rông - Kon Tum  
Đắk Tô - Kon Tum  
Đắk Tô - Kon Tum  
Tu Mơ Rông - Kon Tum  
Kon Plông - Kon Tum  
An khê - Đắk Lắk  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt đất kèm theo sụt trượt  
Nứt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt đất  
Kông Chrô - Gia Lai  
Kông Chrô - Gia Lai  
Chu Prông - Gia Lai  
Chư Sê - Gia Lai  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt đất  
Ayun Pa - Gia Lai  
M’Đrắk - Đắk Lắk  
Đắk Tô - Kon Tum  
Ngọc Hồi - Kon Tum  
Đắk Hà - Kon Tum  
Đắk Hà - Kon Tum  
Ia Grai - Gia Lai  
Ia Grai - Gia Lai  
Nứt đất kèm theo sụt trượt  
Nứt đất  
Chư Pah - Gia Lai  
Chư Pah - Gia Lai  
Tu Mơ rông - Kon Tum  
Kon Plông - Kon Tum  
Kbang - Gia Lai  
Nứt đất  
Nứt đất kèm theo sụt trượt  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt đất  
Đắk Glei - Kon Tum  
Kon Tum - Kon Tum  
Măng Giang - Gia Lai  
Pleiku - Gia Lai  
Pleiku - Gia Lai  
Nứt đất  
Pleiku - Gia Lai  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt đất kèm phun bùn  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt đất  
Chu Prông - Gia Lai  
Chu Sê - Gia Lai  
Lắk - Đắk Lắk  
Krông Pa - Gia Lai  
Krông Ana - Đắk Lắk  
Krông Ana - Đắk Lắk  
Đắk Rlấp - Đắk Nông  
Gia Nghĩa - Đắk Nông  
Đắk Rlấp - Đắk Nông  
Đắk Rlấp - Đắk Nông  
Đắk Rlấp - Đắk Nông  
Đắk Rlấp - Đắk Nông  
Đắk Rlấp - Đắk Nông  
Đức Trọng - Lâm Đồng  
Đơn Dương - Lâm Đồng  
Nứt đất  
Nứt đất  
Nứt sụt đất  
Nứt đất  
Nứt đất  
222  
Các điểm NSĐ thể hiện ở ba dạng chủ yếu: nứt rác các huyện Tu Mơ Rông, Đắk Tô, Đắk Glei,  
đất ở Hòa Bình (thành phố Kon Tum), phía bắc sân Kon Rẫy, thành phố Kon Tum,… Điểm NSĐ ở  
bay Pleiku, Trà Bá (tỉnh Gia Lai), Krông Pák, Ea Plei Cần - Ngọc Hồi gồm tập hợp các khe nứt tách  
Trun (tỉnh Đắk Lắk), Doãn Văn, Bum Bre, Hiệp sụt có phương á kinh tuyến dài khoảng 120-150 m.  
An, Quảng Tín (tỉnh Đắk Nông); nứt đất kèm theo Hệ thống các khe nứt tách sụt cắt qua cả sườn núi  
sụt đất và trượt đất ở Ia Băng, phía tây Pleiku, Yaly và đoạn đường Xuyên Á, phá hủy đoạn đường dài  
(tỉnh Gia Lai), Hòa Thắng (thành phố Buôn Ma 100 m. Điểm NSĐ hình thành chuỗi các sụt bậc,  
Thuột, Gia Nghĩa, Nhân Cơ, Bù Tung, Đăk Rlấp, chênh cao 1m, vẫn tiếp tục sụt trượt (ảnh 1a). Trên  
Tân Văn, Đắk Tung (tỉnh Đắk Nông) và nứt đất địa bàn tỉnh Gia Lai, NSĐ xảy ra phổ biến ở  
kèm theo phun tro núi lửa và phun bùn ở Ia Ve - Pleiku, các huyện Chư Pah, Chư Prông, Đắk  
Chư Prông và Phú Túc - Krông Pa (tỉnh Gia Lai).  
Đoa,…. Vết nứt ở Diên Phú - Pleiku gồm các khe  
nứt có phương TB-ĐN, ĐB-TN và á kinh tuyến.  
Các khe nứt phương TB-ĐN dài 150-170m, kiểu  
sụt bậc, chênh cao mỗi bậc 3-5m. Các khe nứt  
phương ĐB-TN dài khoảng 100-120m, sụt bậc,  
chênh cao mỗi bậc 0,5-1m. Các khe nứt á kinh  
tuyến có kiểu tách mở, dài 70-90 m, rộng 1,2-1,5  
m, hình thành dải sụt bậc rộng 150 m. Khối nứt sụt  
đã phá hủy hàng chục ha đất canh tác của cư dân  
Nứt sụt đất phân bố thành dải có mật độ cao  
chạy theo phương ĐB-TN và á kinh tuyến. Các dải  
có phương á kinh tuyến là Đắk Glei - Chư Prông,  
Tu Mơ Rông - Đắk Tô - Kon Tum, Xã Hiếu -  
Kbang; dải có phương ĐB-TN là M’Đrắk - Cát  
Tiên, Ea Ka - Tuy Đức, Đơn Dương - Di Linh và  
dải có phương TB-ĐN Yaly - Krông Pa.  
Trên địa bàn tỉnh Kon Tum, NSĐ diễn ra ở rải địa phương (ảnh 1b).  
b
a
Ảnh 1. Nứt sụt đất đường Xuyên Á ở Pleican - Ngọc Hồi (a), Diên Phú - Pleiku (b) (ảnh Phạm Văn Hùng)  
Ở tỉnh Lâm Đồng, NSĐ xảy ra phổ biến ở Bảo lục nguyên cát kết, bột kết. Vết nứt phá hủy hàng  
Lâm, Đức Trọng, Di Linh, Lạc Dương và Đà Lạt. chục ha hoa màu và gây tâm lý hoang mang cho  
Nhiều điểm NSĐ gây tổn thất cho đời sống của cư cư dân địa phương (ảnh 2a). Địa bàn tỉnh Đắk  
dân địa phương như Lộc Ngãi - Bảo Lâm, thị trấn Nông là nơi phân bố với mật độ lớn các điểm  
Di Linh, Đức Trọng, Lạc Dương. Trên địa bàn NSĐ nguy hiểm ở khu vực Tây Nguyên. Các  
tỉnh Đắk Lắk, NSĐ phân bố ở Cư Mgar, Krông điểm NSĐ phân bố tập trung ở các huyện Tuy  
Pák, Buôn Ma Thuột,… Ở sườn đông núi Chư Bir Đức, Đắk Rlấp, Đắk Glong và Đắk Song. Tại  
thuộc xã Hoà Thắng - Buôn Ma Thuột điểm NSĐ thôn 5 xã Quảng Tín, NSĐ làm cho 2 người dân  
hình thành từ tập hợp các khe nứt tách mở có đang làm nương ở đây bị vùi chết, 1 người bị  
phương á kinh tuyến, dài 200-250m, rộng 1,0- thương, phá hủy các rẫy cà phê và hoa màu của 7  
1,5m, sụt bậc và chênh cao mỗi bậc 2-3m. Vết nứt hộ dân. Vết nứt có phương á kinh tuyến dài 150-  
nằm trên một sườn đồi thoải, độ dốc 10-15o. NSĐ 200m, cắt ngang qua đường nhựa, chênh cao 0,5-  
diễn ra trong cả vỏ phong hoá đá basalt ầm tích 1m (ảnh 2b).  
223  
a
b
Ảnh 2. Nứt sụt đất ở Hoà Thắng - Buôn Ma Thuột (a), Quảng Tín - Đắk Rlấp (b) (ảnh Phạm Văn Hùng)  
phân bố chủ yếu ở phía nam Tây Nguyên. Chúng  
phân cắt khối Lâm Đồng thành các cấu trúc bậc  
cao có phương ĐB-TN. Trên khối Đắk Lắk phát  
triển các cấu trúc bậc cao có phương ĐB-TN và á  
kinh tuyến.  
4. Đánh giá nguy cơ nứt sụt đất khu vực  
Tây Nguyên  
4.1. Yếu tố tác động phát sinh nứt sụt đất  
Khu vực Tây Nguyên nằm trong khối cấu trúc  
Nam Trung Bộ bị phân dị thành các khối cấu trúc  
bậc cao hơn, có ranh giới là các đới đứt gãy.  
Chuyển động của các khối cấu trúc dọc theo các  
đứt gãy hoạt động đã thúc đẩy tai biến địa chất  
phát triển, trong đó có tai biến NSĐ [4, 5]. NSĐ  
được hiểu là nứt tách vỏ Trái Đất kèm theo chuyển  
động hạ lún bề mặt Trái Đất. Trên cơ sở phân tích  
hiện trạng phân bố, cho phép đánh giá vai trò của  
các yếu tố phát sinh NSĐ ở khu vực Tây Nguyên,  
bao gồm nhóm các yếu tố địa chất và kiến tạo.  
4.1.1. Nhóm yếu tố kiến tạo  
Nhóm các yếu tố kiến tạo phải kể đến là chuyển  
động tân kiến tạo và hoạt động phá hủy đứt gãy  
kiến tạo, đặc biệt là đứt gãy hoạt động. Bình đồ cấu  
trúc Tân kiến tạo khu vực Tây Nguyên bao gồm  
các khối cấu trúc bậc1: Kon Tum, Đắk Lắk và Lâm  
Đồng. Ranh giới của các khối là các đứt gãy Sông  
Pô Cô, Ia Sir-Sông Ba và M’Đrắc-Cát Tiên.  
Chuyển động của các khối cũng như hoạt động của  
các đới đứt gãy trong Tân kiến tạo và hiện đại diễn  
ra mạnh mẽ, phân dị phức tạp (hình 2) [1, 2, 4].  
Các đứt gãy hoạt động ở khu vực Tây Nguyên  
phổ biến có phương á kinh tuyến và ĐB-TN.  
Trong đó nổi lên các đứt gãy Sông Pô Cô, Ia Sir-  
Sông Ba, M’Đrắc-Cát Tiên, Đơn Dương-Di Linh,  
Krông Năng-Tuy Đức, Kon Plông-Măng Yang, Tu  
Mơ Rông-Đắk Hà, Kon Tum-Đắk Đoa, Pleiku-Cư  
Mgar, Cư Yut-Đắk Rlấp, Kon Plông-Kon Rẫy,…  
Các đứt gãy phương á kinh tuyến phân bố chủ yếu  
ở phía bắc Tây Nguyên. Chúng phân cắt khối cấu  
trúc Kon Tum, hình thành các cấu trúc bậc cao có  
phương á kinh tuyến. Các đứt gãy phương ĐB-TN  
Hình 2: Bản đồ đứt gãy tân kiến tạo khu vực Tây Nguyên  
Chú thích: Các đới đứt gãy Sông Pô Cô (I), Ia Sir-Sông Ba (II),  
M’Đrắk-Cát Tiên (III), Xã Hiếu-Kbang (IV), Đơn Dương-Di Linh  
(V), Ea Ka-Tuy Đức (VI), Pleiku-Ia H’leo (VII), Kon Plông-Kon Rẫy  
(VIII); khối Kon Tum (KKT), Đắk Lắk (KĐL), Lâm Đồng (KLĐ)  
224  
Đứt gãy hoạt động đã phá hủy đất đá, làm cho (hoặc vùng ngoại vi) chiếm phần lớn diện tích khu  
độ dính kết của chúng yếu đi, tạo điều kiện thuận vực nghiên cứu [3]. Vai trò của đới ảnh hưởng  
lợi thúc đẩy quá trình nứt sụt đất phát triển. Mỗi động lực đứt gãy hoạt động với quá trình NSĐ là  
đứt gãy hoạt động đều có phạm vi ảnh hưởng của khá rõ ràng và cho yếu tố này 9 điểm. Mức độ  
chúng (chiều rộng đới ảnh hưởng động lực đứt NSĐ lớn nhất tập trung ở các đới động lực đứt gãy  
gãy). Càng xa trục đứt gãy, cường độ hoạt động hoạt động bậc 1, tiếp theo là bậc 2, bậc 3, bậc 4 và  
của đứt gãy giảm dần. Phạm vi ảnh hưởng động cao hơn và điểm tương ứng là 9, 7, 5, 3 và 1  
lực của đứt gãy của mỗi bậc đứt gãy là khác nhau. (bảng 2).  
Đứt gãy có bậc càng cao, phạm vi ảnh hưởng của  
chúng càng hẹp lại. Sự ảnh hưởng của chúng thể  
hiện các đặc trưng chủ yếu sau đây: (1) mức độ phá  
Bảng 2. Thống kê nứt sụt đất và điểm số theo  
đới động lực đứt gãy khu vực Tây Nguyên  
Đới động lực  
đứt gãy (bậc)  
1
Số điểm  
NSĐ  
33  
Diện tích  
Mật độ  
NSĐ  
0,0026  
Điểm số  
(km2)  
hủy gây biến dạng các loại đất đá tạo các đới cá  
nát, xiết ép vỡ vụn, (2) mức độ phá hủy địa hình  
thể hiện ở các quá trình địa mạo- tân kiến tạo, (3)-  
mức độ hình thành khe nứt hiện đại thể hiện ở mật  
độ khe nứt, đứt gãy, (4) biên độ và tốc độ dịch  
chuyển của đứt gãy, (5) vai trò phân định các bậc  
kiến trúc, (6) mức độ phá hủy các đối tượng trên bề  
mặt đất (công trình giao thông, xây dựng dân dụng,  
đê đập, núi, đồi, ruộng vườn). Do vậy, vai trò của  
yếu tố kiến tạo đưa vào đánh giá nguy cơ nứt sụt  
đất thể hiện ở mật độ đứt gãy, phạm vi ảnh hưởng  
động lực của đứt gãy hoạt động và đặc điểm  
chuyển động Tân kiến tạo.  
12870  
9
7
5
3
1
2
3
19  
7
8101  
3996  
8600  
21280  
0,0023  
0,0021  
0,0016  
0,0008  
4
14  
18  
Cao  
Mật độ đứt gãy: trên khu vực nghiên cứu, mạng  
lưới đứt gãy kiến tạo từ cổ đến trẻ phát triển dầy  
đặc; mật độ đứt gãy trung bình là 0,504 km/km2.  
Mật độ đứt gãy lớn >0,673km/km2 phân bố dọc  
theo các đới đứt gãy Sông Pô Cô, Ia Sir-Sông Ba  
và M’Đrăk-Cát Tiên. Vùng có mật độ đứt gãy  
0,504-0,673km/km2 phân bố bao quanh dải có mật  
độ đứt gãy >0,673km/km2. Vùng có mật độ đứt  
gãy 0,336-0,504km/km2, 0,168-0,336km/km2 và  
<0,168km/km2 phân bố rộng rãi ở khu vực Tây  
Nguyên. Vai trò của mật độ đứt gãy với quá trình  
NSĐ là không rõ ràng và cho yếu tố này 5 điểm.  
Vùng có mật độ đứt gãy >0,673km/km2 có mức độ  
NSĐ lớn nhất, tiếp theo là vùng có mật độ 0,168-  
0,366km/km2, 0,366-0,504km/km2,... Vùng có mật  
độ đứt gãy <0,168km/km2 có mức độ NSĐ thấp  
nhất. Điểm của các bậc mật độ đứt gãy tương ứng  
là 9, 7, 5, 3 và 1 (bảng 3).  
Đới động lực đứt gãy hoạt động: đới ảnh hưởng  
động lực đứt gãy bậc 1 ở khu vực nghiên cứu là  
các đứt gãy Sông Pô Cô, Ia Sir - Sông Ba và  
M’Đrắk-Cát Tiên. Đới đứt gãy này đóng vai trò  
phân chia khối cấu trúc Kon Tum, Đắk Lắk và  
Lâm Đồng. Các đới động lực đứt gãy bậc 1 có quy  
mô: rộng 10-15km, dài >100km. Đới ảnh hưởng  
động lực đứt gãy bậc 2 đóng vai trò phân chia khối  
cấu trúc bậc 2 ở khu vực Tây Nguyên, rộng 7-  
10km, dài 70-100km. Đới ảnh hưởng động lực đứt  
gãy bậc 3 rộng 5-7km, dài 50-70km. Đới ảnh  
hưởng động lực đứt gãy bậc 4 rộng 3-5km, dài 30-  
50km. Đới ảnh hưởng động lực đứt gãy bậc cao  
Bảng 3. Thống kê nứt sụt đất và điểm số theo mật độ đứt gãy khu vực Tây Nguyên  
Mật độ đứt gãy (km/km2)  
Số điểm nứt sụt đất  
Diện tích (km2)  
Mật độ nứt sụt đất  
Điểm số  
<0,168  
1
2681  
0,0004  
1
0,168-0,336  
0,336-0,504  
0,504-0,673  
>0,673  
28  
32  
7
9450  
30760  
3388  
6532  
0,0030  
0,0010  
0,0020  
0,0035  
7
3
5
9
23  
Chuyển động Tân kiến tạo: đặc điểm chuyển 2000m, phát triển trên móng Proterozoi-Paleozoi  
động Tân kiến tạo khu vực nghiên cứu phân dị theo và Mesozoi. Tại đây, phân bố địa hình núi cao  
không gian; biên độ nâng lên lớn nhất (>1500m) ở >2000m. Chuyển động nâng lên với biên độ 1000-  
khối Kon Tum thuộc huyện Tu Mơ Rông và Đắk 1500m đã hình thành các cấu trúc nâng tạo núi  
Glei và trên khối Lâm Đồng thuộc huyện Lạc khối tảng dạng “bậc thang” trên cấu trúc móng  
Dương. Chuyển động nâng mạnh, hình thành cấu Mesozoi muộn phân bố ở phía nam tỉnh Kon Tum,  
trúc nâng uốn nếp vòm khối tảng với biên độ 1500- tỉnh Gia Lai và đông nam tỉnh Lâm Đồng. Địa hình  
225  
đá khác nhau. Nhóm thạch học đá phun trào basalt  
phân bố rộng rãi ở Tây Nguyên. Thành phần thạch  
học bao gồm các basalt hai pyroxen, plagiobasalt,  
basalt olivin - augit - plagioclas và basalt olivin.  
Nhóm thạch học này thuộc loại cứng. Tuy nhiên,  
khi bị tác động của các quá trình động lực nội-  
ngoại sinh trở nên mềm yếu, dễ bị phá hủy. Nhóm  
thạch học trầm tích bở rời Đệ tứ và Neogen gắn kết  
yếu phân bố dọc các thung lũng sông Xê San,  
Xrepốc, Ba, Đồng Nai và trũng giữa núi. Thành  
phần thạch học bao gồm cuội, sỏi, sạn, cát, sét.  
Nhóm thạch học đá magma xâm nhập phân bố khá  
rộng ở Tây Nguyên. Thành phần thạch học bao  
gồm các đá granitogneis biotit, granitogneis hai  
mica, granit hai mica, gabro, gabro norit đến gabro  
amphibol, gabro điorit. Nhóm thạch học này thuộc  
loại cứng. Tuy nhiên, khi bị tác động của các quá  
trình động lực nội-ngoại sinh trở nên rất yếu và dễ  
bị phá hủy. Nhóm thạch học đá biến chất phân bố  
rộng rãi ở khu vực Tây Nguyên, gồm các hệ tầng  
Xa Lam Cô, Đắk Lô, Sông Re, Tắc Pỏ, Khâm Đức,  
Đắk Long. Thành phần thạch học bao gồm các đá  
gneis biotit, gneis biotit-granat-silimanit, phiến  
thạch anh-biotit-silimanit. Đất đá có độ cứng trung  
bình-nửa cứng, dễ bị phá hủy bởi các quá trình  
động lực nội-ngoại sinh. Nhóm thạch học đá trầm  
tích phân bố rộng rãi ở khu vực Tây Nguyên.  
Thành phần thạch học bao gồm các đá phiến, cát  
kết, bột kết. Nhóm thạch học này thuộc loại cứng.  
Đặc điểm địa chất thạch học công trình thể hiện ở  
độ cứng, độ bền chắc của các nhóm đất đá trong  
đánh giá NSĐ. Quá trình phong hoá phát triển  
trong điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, đặc biệt  
là trong điều kiện hoạt động kiến tạo phân dị mạnh  
mẽ như ở khu vực Tây Nguyên. Vai trò của yếu tố  
này trong phát sinh NSĐ là khá rõ ràng và cho 7  
điểm. Trên các đá phun trào basalt bị phong hoá  
mạnh mẽ, NSĐ cũng xảy ra mạnh nhất. NSĐ xảy  
ra yếu hơn trên các thành tạo bở rời, đá magma  
xâm nhập, rồi đến đá biến chất và cuối cùng là đá  
trầm tích. Điểm của các nhóm đá này tương ứng là  
9, 7, 5, 3 và 1 (bảng 5).  
trên các cấu trúc này là các dẫy núi phương á kinh  
tuyến và ĐB-TN, cao khoảng 1500m. Chuyển  
động nâng với biên độ 500-1000m đã hình thành  
các cấu trúc nâng tạo núi khối tảng phát triển trên  
móng Paleozoi, Mesozoi. Nó là nền tảng tạo nên  
các dẫy núi, đồi phương ĐB-TN và á kinh tuyến  
cao 500-1000m. Chuyển động nâng, hạ lún tương  
đối với biên độ 200-500 m đã hình thành các cấu  
trúc nâng tạo núi khối tảng phát triển trên móng  
Paleozoi, Mesozoi và sụt lún tạo trũng giữa núi. Nó  
là nền tảng tạo nên các dẫy núi, đồi và đồng bằng  
có phương ĐB-TN, TB-ĐN và á kinh tuyến cao  
khoảng 200-500m. Chuyển động nâng, hạ lún  
tương đối với biên độ <200m đã hình thành các cấu  
trúc nâng tạo núi khối tảng phát triển trên móng  
Paleozoi, Mesozoi. Địa hình là dải đồi đồng bằng  
bóc mòn-tích tụ cao khoảng 100-200m [1, 2, 4].  
Vai trò của biên độ chuyển động Tân kiến tạo với  
quá trình NSĐ là không rõ ràng và cho yếu tố này  
3 điểm. Mức độ NSĐ lớn nhất tập trung ở vùng có  
biên độ nâng 200-500m, tiếp theo là 500-1000m,  
>1500m, 1000-1500m và <200m. Điểm của các  
bậc biên độ nâng tương ứng là 9, 7, 5, 3 và 1  
(bảng 4).  
Bảng 4. Thống kê nứt sụt đất và điểm số theo biên độ  
chuyển động Tân kiến tạo ở Tây Nguyên  
Biên độ  
chuyển động (m)  
<200  
Số điểm  
NSĐ  
1
Diện tích  
Mật độ  
NSĐ  
0,0001  
Điểm số  
(km2)  
7008  
1
9
7
3
5
200-500  
500-1000  
1000-1500  
>1500  
55  
22  
3
25900  
11900  
3109  
0,0021  
0,0018  
0,0010  
0,0014  
10  
6870  
4.1.2. Nhóm yếu tố địa chất  
Đặc điểm địa chất thạch học: trên địa bàn Tây  
Nguyên, yếu tố địa chất thạch học có vai trò quan  
trọng trong phát sinh NSĐ. Theo Phan Thanh Sang  
và các cộng sự (2002), ở Tây Nguyên có 5 nhóm  
Bảng 5. Thống kê nứt sụt đất và điểm số theo yếu tố địa chất thạch học ở Tây Nguyên  
Nhóm thạch học  
Basalt trẻ: cứng, dễ bị phong hóa  
Số điểm NSĐ  
Diện tích (km2)  
Mật độ NSĐ  
0,0026  
Điểm số  
45  
7
17610  
9
7
5
3
1
Trầm tích bở rời Đệ tứ và Neogen gắn kết yếu, dễ bị phong hóa  
Xâm nhập - nửa cứng, dễ bị phong hóa  
Biến chất - nửa cứng, bị phong hóa  
13042  
0,0023  
24  
6
14590  
0,0016  
6452  
0,0009  
Trầm tích: cứng, bị phong hóa yếu  
9
13040  
0,0007  
Đặc điểm địa chất thủy văn: theo Phan Thanh giàu nước là các tầng chứa nước lỗ hổng, tồn tại  
Sang và các cộng sự (2002), ở Tây Nguyên, tầng trong các trầm tích bở rời Đệ tứ (apd) và các trầm  
226  
tích Neogen gắn kết yếu. Tầng chứa nước này phân  
bố dọc các thung lũng sông và trũng giữa núi. Các  
tầng chứa nước lỗ hổng-khe nứt-vỉa phân bố rộng  
rãi ở Tây Nguyên. Mức độ chứa nước cũng như  
các thông số địa chất thủy văn của chúng thường  
thay đổi mạnh theo không gian. Tầng rất nghèo  
nước phân bố rải rác trên Tây Nguyên. Mức độ  
chứa nước cũng như các thông số địa chất thủy văn  
của chúng thường thay đổi mạnh theo không gian.  
Tầng không chứa nước phân bố rộng rãi ở khu vực  
Tây Nguyên. Tầng chứa nước khe nứt-vỉa phân bố  
ở một số khu vực lộ các đá trầm tích bột kết, sét  
kết; biến chất đá phiến và các đá magma xâm nhập.  
Vai trò của yếu tố địa chất thủy văn với quá trình  
NSĐ là không rõ ràng và cho 1 điểm. Mức độ NSĐ  
lớn nhất nằm trong đới giàu nước; tiếp theo là tầng  
chứa nước lỗ hổng-khe nứt-vỉa, tầng rất nghèo  
nước, tầng không chứa nước, tầng chứa nước khe  
nứt-vỉa. Điểm của các cấp độ chứa nước ngầm  
tương ứng là 9, 7, 5, 3 và 1 (bảng 6).  
Từ ma trận này, theo vector nguyên lý eigen  
tính được một “tập hợp các trọng số phù hợp nhất”.  
Kết quả tính toán cho thấy, trọng số của yếu tố đới  
động lực đứt gãy hoạt động là 0,360, địa chất thạch  
học là 0,280; mật độ đứt gãy là 0,200; chuyển động  
Tân kiến tạo là 0,120 và địa chất thủy văn là 0,040.  
4.2. Đánh giá nguy cơ nứt sụt đất ở khu vực  
Tây Nguyên  
Bản đồ phân vùng nguy cơ NSĐ khu vực Tây  
Nguyên được xây dựng bằng phương pháp phân  
tích không gian trong môi trường GIS. Đó là sự  
tích hợp 5 bản đồ thành phần theo công thức sau:  
H = 0,360 × Bđ_Đđl + 0,280 × Bđ_Đcth +  
0,200 × Bđ_Mđđg + 0,120 × Bđ_Cđtkt + 0,040  
Bđ_Đctv.  
Trong đó: H: bản đồ nguy cơ NSĐ, Bđ_Đdl:  
bản đồ nguy cơ NSĐ theo yếu tố đới động lực đứt  
gãy, Bđ_Đcth: bản đồ nguy cơ NSĐ theo yếu tố địa  
chất thạch học, Bđ_ Mđđg: bản đồ nguy cơ NSĐ  
theo yếu tố mật độ đứt gãy, Bđ_Cđtkt: bản đồ nguy  
cơ NSĐ theo yếu tố chuyển động Tân kiến tạo và  
Bđ_Đctv: bản đồ nguy cơ NSĐ theo yếu tố địa chất  
thủy văn.  
Bảng 6. Thống kê nứt sụt đất và điểm số theo  
yếu tố địa chất thủy văn ở khu vực Tây Nguyên  
Diện  
Số điểm  
NSĐ  
Mật độ  
NSĐ  
Độ chứa nước  
tích  
Điểm số  
(km2)  
Nước khe nứt  
- vỉa (nghèo  
nước)  
Nước lỗ hổng  
(giàu nước qp)  
Nước lỗ hổng -  
vỉa (trung bình)  
Rất nghèo  
7
10010  
3752  
0,0007  
0,0021  
0,0031  
0,0016  
0,0009  
1
7
9
5
3
Bản đồ nguy cơ NSĐ được tích hợp từ 5 bản đồ  
thành phần thể hiện bằng giá trị số với mỗi pixel có  
một giá trị nguy cơ NSĐ tương ứng. Do đó, để xây  
dựng bản đồ phân vùng nguy cơ NSĐ, cần phân  
chia các giá trị nguy cơ NSĐ trên bản đồ giá trị số  
thành các cấp nguy cơ phù hợp. Nguyên tắc và  
phương pháp phân chia các cấp nguy cơ từ các giá  
trị nguy cơ NSĐ như sau: ngưỡng để phân cấp bản  
đồ nguy cơ NSĐ giá trị số được lựa chọn sau khi  
thực hiện phân tích xử lý thống kê, xây dựng  
đường cong tích lũy xác suất (biểu đồ thống kê tích  
luỹ nguy cơ NSĐ giá trị số). Cấp nguy cơ NSĐ rất  
thấp thể hiện ở vùng đó rất ít xảy ra NSĐ, hoặc có  
xảy ra với khối lượng rất nhỏ. Cấp nguy cơ NSĐ  
thấp phản ánh ở vùng đó NSĐ có thể xảy ra ít,  
hoặc xảy ra với khối lượng, quy mô nhỏ. Cấp nguy  
cơ NSĐ trung bình là vùng có thể xảy ra NSĐ với  
quy mô và khối lượng vừa. Cấp nguy cơ NSĐ cao  
là vùng có thể xảy ra NSĐ nhiều, quy mô và khối  
lượng lớn. Cấp nguy cơ NSĐ rất cao là vùng có thể  
xảy ra NSĐ rất nhiều, quy mô rất lớn.  
8
49  
10  
17  
15580  
6211  
nước (bc)  
Không chứa  
nước (xn)  
19170  
Tóm lại, ở Tây Nguyên, NSĐ hình thành và  
phát triển do tác động của 5 yếu tố. Trên cơ sở  
điểm của 5 yếu tố, áp dụng phương pháp phân tích  
so sánh cặp thông minh, xây dựng ma trận so sánh  
cặp các yếu tố tác động phát sinh NSĐ ở khu vực  
Tây Nguyên (bảng 7).  
Bảng 7. Ma trận so sánh cặp các yếu tố phát sinh nứt  
sụt đất ở khu vực Tây Nguyên  
Đđl  
(9)  
1
Đcth  
(7)  
Cđtkt  
(3)  
Đctv  
(1)  
Mđđg  
(5)  
Trọng  
số  
Yếu tố  
Đđl (9)  
1,286  
1,800  
1,400  
1
3,000  
9,000  
0,360  
0,280  
0,200  
0,120  
0,040  
Đcth (7)  
Mđđg(5)  
Cđtkt(3)  
Đctv (1)  
0,778  
0,556  
0,333  
0,111  
1
2,333  
1,667  
1
7,000  
5,000  
3,000  
1
0,714  
0,429  
0,143  
0,600  
0,200  
0,333  
Bản đồ nguy cơ NSĐ khu vực Tây Nguyên tỷ  
lệ 1:250.000 thể hiện ở 5 cấp nguy cơ khác nhau:  
rất cao, cao, trung bình, thấp và rất thấp và được  
thể hiện trên hình 3. Kết quả thống kê diện tích  
Chú thích: Đđl- Đới động lực đứt gãy, Đcth- Địa chất thạch học,  
Mđđg- Mật độ đứt gãy, Cđtkt- Chuyển động Tân kiến tạo và Đctv-  
Địa chất thủy văn.  
227  
theo cấp nguy cơ NSĐ và phần trăm ở khu vực Tây quanh các dải có nguy cơ NSĐ rất cao và một số  
Nguyên thể hiện trên bảng 8. Như vậy, khu vực dải mới trên địa phận các huyện Đắk Glei, Ngọc  
Tây Nguyên có nguy cơ NSĐ ở mức độ trung bình. Hồi, Đắk Tô, Kon Plông (tỉnh Kon Tum); Chư Pảh,  
Tuy nhiên, một số vùng có nguy cơ NSĐ rất cao Pleiku, Chư Sê, Ayun, Krông Pa (tỉnh Gia Lai);  
như: các huyện Đắk Glei, Ngọc Hồi, Đắk Tô, Kon Đắk Glong, Gia Nghĩa, Đắk Rlấp (tỉnh Đắk Nông),  
Rẫy và thành phố Kon Tum (tỉnh Kon Tum); Chư Lạc Dương, Đức Trọng, Bảo Lâm, Di Linh (tỉnh  
Pah, Ayun Pa, Krông Pa, Kbang, An Khê, Chư Lâm Đồng). Vùng có nguy cơ NSĐ trung bình  
Prông và thành phố Pleiku (tỉnh Gia Lai); Cư phân bố khá rộng rãi trên hầu khắp diện tích các  
Mgar, Krông Pák và thành phố Buôn Ma Thuột tỉnh Tây Nguyên. Vùng có nguy cơ NSĐ thấp phân  
(tỉnh Đắk Lắk); Đắk Song, Đắk Rlấp và thị xã Gia bố ở phía đông tỉnh Đắk Lắk, rải rác ở một số nơi  
Nghĩa (tỉnh Đắk Nông); Lạc Dương, Đơn Dương, thuộc tỉnh Đắk Nông và Lâm Đồng. Vùng có nguy  
Đức Trọng, Bảo Lâm, Di Linh và thành phố Đà Lạt cơ NSĐ rất thấp chủ yếu phân bố ở phía tây tỉnh  
(tỉnh Lâm Đồng) cần được chú trọng phòng chống, Đắk Lắk, trên địa bàn các huyện Buôn Đôn, Ea  
đảm bảo an sinh xã hội.  
Súp (bảng 8).  
Bảng 8. Thống kê diện tích theo cấp nguy cơ  
nứt sụt đất khu vực Tây Nguyên  
Rất  
cao  
Trung  
bình  
Rất  
thấp  
Cấp nguy cơ  
Diện tích (ha)  
Phần trăm (%)  
Cao  
Thấp  
641700 1404000 2315000 865100 244200  
11,73% 25,67% 42,32% 15,82% 4,46%  
5. Kết luận  
Trên lãnh thổ Tây Nguyên phân bố 91 điểm  
NSĐ, trong đó có 21 điểm NSĐ nguy hiểm gây tổn  
thất lớn đến đời sống của cư dân địa phương. NSĐ  
tồn tại dưới dạng nứt tách vỏ Trái Đất kèm sụt lún,  
nứt đất kèm sụt trượt và nứt tách vỏ Trái Đất kèm  
phun tro bùn. Các điểm NSĐ chủ yếu bị khống chế  
bởi các khe nứt tách có phương á kinh tuyến, khe  
nứt cắt có phương ĐB-TN và TB-ĐN. Tai biến  
NSĐ phân bố thành dải có phương á kinh tuyến,  
ĐB-TN và TB-ĐN. Trong đó, nổi lên các dải  
phương á kinh tuyến: Đắk Glei-Ngọc Hồi-Đức Cơ,  
Xã Hiếu-Kbang-An Khê, Đắk Song-Đắk Rlấp;  
phương TB-ĐN: Ia Sir Sông Ba; phương ĐB-TN:  
M’Đrắk-Cát Tiên, Đơn Dương- Di Linh, Ea Ka-  
Tuy Đức.  
Tai biến NSĐ ở Tây Nguyên phát sinh dưới tác  
động của nhóm các yếu tố địa chất và kiến tạo.  
Trong đó nổi lên các yếu tố đới động lực đứt gãy,  
đặc điểm địa chất thạch học, mật độ đứt gãy,  
chuyển động Tân kiến tạo và địa chất thủy văn. Áp  
dụng phương pháp phân tích so sánh cặp thông  
minh và phân tích không gian trong môi trường  
GIS cho phép xây dựng bản đồ nguy cơ NSĐ khu  
vực Tây Nguyên. Bản đồ nguy cơ NSĐ khu vực  
Tây Nguyên được tích hợp từ 5 bản đồ thành phần  
và thể hiện ở 5 cấp: nguy cơ rất cao, cao, trung  
bình, thấp và rất thấp.  
Hình 3. Bản đồ nguy cơ nứt sụt đất khu vực Tây Nguyên  
Vùng có nguy cơ NSĐ rất cao phân bố thành  
những dải kéo dài theo phương á kinh tuyến: Đắk  
Glei-Ngọc Hồi-Đức Cơ, Tu Mơ Rông-Đắk Tô-Kon  
Tum, Xã Hiếu-Kbang-An Khê-Kông Chrô-Krông  
Pa và Đắk Song-Đắk Rlấp; phương TB-ĐN: Yaly-  
Pleiku-Ayun Pa-Krông Pa và phương ĐB-TN:  
M’Đrắk-Cát Tiên, Đơn Dương-Đức Trọng-Di  
Linh. Vùng có nguy cơ NSĐ cao phân bố bao  
228  
Vùng có nguy cơ NSĐ trung bình phân bố rộng  
[2] Lê Duy Bách, 1982: Tân kiến tạo Việt Nam.  
rãi, chiếm 42,32% diện tích khu vực Tây Nguyên: Atlas Quốc gia, Hà Nội.  
Tu Mơ Rông-Đắk Tô-Kon Tum, Krông Pak-Tuy  
[3] Phạm Văn Hùng, Nguyễn Trọng Yêm, 1998:  
Đức và Kon Plông-Kon Rẫy-Kon Tum. Vùng nguy  
cơ NSĐ thấp và rất thấp phân bố rộng rãi trên địa  
bàn các tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk và phía nam tỉnh  
Lâm Đồng. Vùng có nguy cơ NSĐ cao, rất cao cần  
có giải pháp phòng tránh, phân bố ở Đắk Glei-  
Xác định vùng ảnh hưởng động lực đứt gãy Tân kiến  
tạo Nam Trung Bộ. Tc. Các Khoa học về Trái đất,  
số 2, tr. 140-144.  
[4] Phạm Văn Hùng, 2002: Một số đặc điểm đứt  
Ngọc Hồi-Đức Cơ, Xã Hiếu-Kbang-An Khê, Chư gãy Tân kiến tạo khu vực Nam Trung Bộ. Luận án  
Pah-Ayun Pa-Krông Pa, M’Đrăk-Krông Bông-Đắk Tiến sĩ, Viện Địa chất.  
Glong-Cát Tiên, Đơn Dương-Đức Trọng-Di Linh.  
[5] Nguyễn Trọng Yêm, 1991: Về việc dự báo sự  
xuất hiện khe nứt hiện đại. Tc. Địa chất, số 203-  
TÀI LIỆU DẪN  
204.  
[1] Lê Đức An, 1990: Vài đặc điểm Tân kiến tạo  
[6] Saaty, Thomas L., 1994: Fundamentals of  
bán đảo Đông Dương (trên cơ sở nghiên cứu địa decision making and priority theory with analytic  
hình). Tc. Các Khoa học về Trái Đất (các công hierarchy process. Pittsburgh: RWS publications,  
trình nghiên cứu 1986-1990), tr.74-78.  
527p.  
SUMMARY  
Research status and warming of the risk of earth subsidence-cracking in the Tay Nguyen area  
On the basis of assessment of the status and cause analysis has allowed assessment of the risk of earth  
subsidence-cracking in the Tay Nguyen area.  
In the Tay Nguyen area occur 91 points of earth subsidence-cracking, including 21 points large losses danger to the  
lives of local residents. The distribution of earth subsidence-cracking in the sub-bands have the meridian in the north and  
south of NE-SW in the Tay Nguyen area. The bands have the meridian, such as: Dak Glei-Ngoc Hoi-Duc Co, Tu Mo  
Rong-Dak To-Kon Tum, Xa Hieu-Kbang-An Khe. The range is the NE-SW: Ea Ka-Dak Mil-Tuy Duc, M’Drak-Lak-Cat  
Tien, Don Duong-Di Linh. Also in the Tay Nguyen area distributed earth subsidence -cracking in NW-SE: Yaly-Pleiku-  
Ayun Pa-Krong Pa.  
Earth subsidence-cracking hazard in the Tay Nguyen area is arising under the action of the elements of tectonic and  
geology. To this emerging are new elements of neotectonic movement, fault density, fault zone dynamics activities,  
geological characteristics of the lithology and hydrogeology.  
On the Tay Nguyen area is the risk of moderate earth subsidence-cracking. Areas with very high and high risk of  
earth subsidence-cracking are distributed a wide range of 7-10km: Dak Glei-Duc Co, Xa Hieu -Kbang-An Khe, Chu Pah-  
Ayun Pa-Krong Pa, M’Drak-Krong Bong-Dak Glong-Cat Tien, Dak Song-Dak Rlap, Don Duong-Duc Trong-Di Linh. Areas  
at risk of average earth subsidence-cracking are widely distributed east of Kon Tum, Gia Lai province to the west and  
north of Dak Lak. Areas at risk of low and very low earth subsidence-cracking are widely distributed in the western of  
Dak Lak province, south of Lam Dong province.  
229  
pdf 11 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 17620 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và cảnh báo nguy cơ tai biến nứt sụt đất khu vực Tây Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_danh_gia_hien_trang_va_canh_bao_nguy_co_tai_bien.pdf