Mô hình cấp nước sinh hoạt cho vùng khan hiếm nước tỉnh Sơn La theo công nghệ đập ngầm - Hào thu nước
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
MÔ HÌNH CẤP NƯỚC SINH HOẠT CHO VÙNG KHAN HIẾM NƯỚC
TỈNH SƠN LA THEO CÔNG NGHỆ ĐẬP NGẦM - HÀO THU NƯỚC
KS. Trần Văn Hải
Trung tâm Nước sinh hoạt & VSMT tỉnh Sơn La
GS.TS Nguyễn Quốc Dũng
Viện thủy công
Tóm tắt: Bài báo giới thiệu kết quả nghiên cứu, ứng dụng băng thu nước ngầm để thu nước
trong vùng đất ẩm ướt, tạo nguồn cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh cho các vùng khan hiếm nước
thuộc các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Sơn La. Đây là một đề tài do Sở KH&CN Sơn
La quản lý, Trung tâm Nước sinh hoạt & VSMT nông thôn Sơn La là đơn vị thực hiện đã được
nghiệm thu tháng 12/2016. Xuất phát từ công nghệ nguồn do Viện Thủy công chuyển giao, đề tài
đã có những cải tiến cho phù hợp với điều kiện thực tiễn của Sơn La. Bài báo giới thiệu kết quả
nghiên cứu, cải tiến và ứng dụng kết quả đề tài để xây dựng mô hình cấp nước cho 55 hộ dân tại
Bản Sói, xã Bó Mười, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
Từ khóa: đập ngầm, hào thu nước, băng thu nước, cấp nước sinh hoạt miền núi, cấp nước
cho vùng khan hiếm nước.
Summary: This paper presents results of studying, implementing drain waterbelt to collect and
gather water under wetlands located in mountain areas of Son La province, in order to provide
fresh water for people life in communes which are suffer from very dry climate and poor
economy. This R&D project was funded by Son La Department of Science and Technology,
Center of water and rural environment salination is in chart of project owner, with Hydraulic
construction is in role of technology transfer. During process of R&D activities, the author have
some valuable innovation performs for transferred sub-surface dam structures in order to profit
with particular conditions of site. Project results were successfully applied in Ban Soi village, Bo
Muoi commune, Thuan Chau Dist., Son La Province.
1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH CẤP dụng các nguồn nước mặt (mó, suối, hồ,…),
NƯỚC SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN chỉ có 9 công trình sử dụng nước ngầm bằng
TỈNH SƠN LA *
giếng khoan.
Tính đến hết năm 2014 toàn tỉnh đã có 1.456 Với công trình lấy nước từ mó nước, nguồn
công trình cấp nước nông thôn, với 83.835 nước thường được tạo ra bằng cách xây bao
người được cấp NSH hợp vệ sinh (chiếm mó hoặc làm hào thấm ngang. Với công trình
80,5% dân số nông thôn), trong đó có 27,5% lấy nước trên suối hình thức phổ biến là đập
đạt tiêu chuẩn nước sạch theo QC02/BYT.
dâng thu nước qua họng thu hoặc hào thấm
trên mặt đập. Một số công trình lấy nước từ
chân thác. Rất ít công trình lấy nước trực tiếp
từ hồ chứa. Giếng khoan lấy nước từ các hang
động ngầm hoặc tầng đá nứt nẻ ở độ sâu từ
30m đến 90m.
Trong số 1.456 công trình cấp nước có 1..394
công trình tự chảy, 59 công trình bơm dẫn, còn
lại là hỗn hợp bơm và tự chảy. Đa số đều sử
Ngày nhận bài: 27/12/2016
Ngày thông qua phản biện: 20/01/2017
Ngày duyệt đăng: 24/2/2017
Đánh giá hiệu quả hoạt động của các công
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017
1
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
trình cấp nước SH theo các tiêu chí ở Bảng 1 cho kết quả như sau:
Bảng 1: Đánh giá hiệu quả hoạt động của các công trình cấp NSH trên địa bản tỉnh Sơn La [1]
Hoạt động có hiệu Tổ chức quản lý có đủ trình độ chuyên môn, phù hợp yêu cầu 12%
quả, bền vững
kỹ thuật công trình, công trình hoạt động liên tục, số đấu nối
tăng ít nhất 5% so với thời điểm đưa công trình vào sử dụng,
phí sử dụng nước thu đúng, đủ theo giá thành sản xuất
Đang hoạt động Tổ chức quản lý có đủ trình độ chuyên môn, phù hợp yêu cầu 46,6%
bình thường
kỹ thuật công trình, công trình hoạt động liên tục, số đấu nối
duy trì so với thời điểm đưa công trình vào sử dụng, phí sử
dụng nước thu đủ trả cho người vận hành và sửa chữa nhỏ
Hoạt động kém hiệu Tổ chức quản lý, công trình hoạt động liên tục, số đấu nối suy 22,9%
quả
giảm tới 25% so với thời điểm đưa công trình vào sử dụng, phí
sử dụng nước thu không đủ trả cho người vận hành
Đã ngừng hoạt Không có tổ chức nhận trách nhiệm quản lý, công trình hoạt 18,4%
động
động gián đoạn, thời gian ngừng quá 30% tổng thời gian trong
năm, số đấu nối suy giảm quá 25% so với thời điểm đưa công
trình vào sử dụng, phí sử dụng nước thu không đủ trả cho
người vận hành
Nguyên nhân công trình hoạt động kémhiệu quả: vùng khô hạn khắc nghiệt, không có dòng
chảy mặt về mùa khô, nước ngầm cũng không
tồn tại để có thể khoan giếng.
35% công trình hư hỏng do đầu mối thu nước
bị cát sỏi bồi lấp, cửa lấy nước bị thu hẹp làm
Tuy nhiên, phân tích đặc điểm địa chất tại
những vùng khan hiếm nước trên địa bàn tỉnh
Sơn La cũng có thể lấy được nước nếu có dạng
công trình thu phù hợp. Cấu tạo địa chất Kast
tạo ra những điểm xuất lộ ẩm ướt, rải rác trên
mặt đất vào mùa khô, nhưng vào mùa mưa có
thể bùng lên thành vòi ở một chỗ khác. Nhiều
công trình xây bao lấy nước mó bị cạn kiệt, bỏ
không hoạt động được là vì vậy. Ở những
vùng khan hiếm nước, vào mùa khô nước chỉ
tồn tại trong các thấu kính cuội sỏi, nằm sâu
dưới mặt đất, các kiểu công trình thu nước
hiện có không khai thác được lượng nước kiểu
như thế này.
giảm lượng nước dẫn về bể. Một số công trình
bị lũ cuốn trôi;
Một số công trình do nguồn nước mặt (mó,
huổi) bị cạn kiệt;
Chất lượng nước không đảm bảo. Đặc biệt về
mùa lũ nước đục, việc lọc nước rất tốn kém;
Năng lực quản lý vận hành không phù hợp.
2. XUẤT XỨ DỰ ÁN ỨNG DỤNG SÁNG
CHẾ “ĐẬP NGẦM- HÀO THU NƯỚC”
VÀO THỰC TIỄN TỈNH SƠN LA
Nhằm đáp ứng mục tiêu đến năm 2020 cấp
nước hợp vệ sinh lên con số 95%, ngoài yêu
cầu về vốn đầu tư hàng năm từ nhiều nguồn,
một vấn đề quan trọng là phải có giải pháp
KHCN để tạo nguồn nước. Thực tế ở 32 xã
khó khăn, khan hiếm nước (theo Nghị quyết số
93/2014/NQ-HĐND tỉnh Sơn La) hiện nay có
tình trạng không có công trình cấp nước, hoặc
công trình không hoạt động do nằm ở những
Sáng chế “đập ngầm- hào thu nước” của Viện
Thủy công – Viện KHTL Việt nam đã được áp
dụng ở nhiều địa phương trong nước nhưng
chưa được áp dụng ở Sơn La, đặc biệt là cho
32 xã vùng khan hiếm nước đang rất cần loại
công trình phù hợp. Vì vậy, tháng 10 năm
2
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
2015 sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Sơn La Nước dưới đất thấm qua tầng cát, sau đó đi
đã có quyết định giao cho Trung tâm nước vào rãnh khía trên băng theo nguyên lý mao
sinh hoạt và VSMT tỉnh Sơn La thực hiện Dự dẫn do đó đã ngăn cản các hạt bụi, căn lơ lửng
án “Thử nghiệm ứng dụng băng thu nước đi theo dòng thấm. Kết cấu này tạo ra một hình
ngầm để thu nước vùng đất ẩm ướt, tạo nguồn thức lọc chậm rất hiệu quả.
nước sinh hoạt hợp vệ sinh cho các vùng khan
Khi áp dụng TCCS 02:2014/VTC vào thực
hiếm nước thuộc các xã đặc biệt khó khăn trên
tiễn công trình cấp NSH tại xã Bó Mười, nhóm
địa bàn tỉnh Sơn La”. Thời gian thực hiện 14
tác giả đã có những cải tiến phù hợp như sau:
tháng (từ tháng 10/2015 đến tháng 12/2016).
3.1 Điều kiện áp dụng
Tổng kinh phí thực hiện là 1tỷ400 triệu, trong
đó NSKH được cấp là 642 triệu đồng.
Tại các công trình mà Viện Thủy công đã thực
hiện đều không đến mức khan hiếm như công
trình ở Bản Sói, xã Bó Mười- Thuận Châu.
Công trình dạng đập ngầm đặt trong lòng suối
(như ở Nậm Cha- Lai Châu) hoặc hào thu
nước mái đồi (như ở Chăn Nưa- Lai Châu
hoặc Kim Bình – Tuyên Quang) đều có nguồn
dồi dào hơn nhiều, nước xuất lộ lên mặt ngay
cả trong mùa khô.
Dự án đã được Hội đồng KHCN do tỉnh Sơn
La tổ chức đánh giá, nghiệm thu với kết quả
như sau:
Tiếp nhận công nghệ “đập ngầm- hào thu nước”
và cải tiến cho phù hợp đểthu nước vùng đất ẩm
ướt, tạo nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh cho
các vùng khan hiếm nước thuộc các xã đặc biệt
khó khăn trên địa bàn tỉnh;
Tại Bản Sói, xã Bó Mười, huyện Thuận
Châu là điểm dự kiến xây dựng công trình
không có sông suối tự nhiên, thời điểm khảo
sát vào tháng 4/2015 chỉ có mạch nước lưu
lượng khỏang 0,05 l/s. Tầng chứa nước cuội
sỏi tích tụ trên khe hẹp ở độ sâu 0,6 đến
1,7m. Lớp trên là đất á sét chặt, lớp dưới là
đá bột kết màu vàng xám, phong hóa thành
các lớp mỏng theo hướng nằm nagng tim
huổi. Lưu lượng đo được trong hào đào là
0,9 l/s. Mực nước dâng ổn định ở 0,8m kể từ
đáy hố và cách mặt đất 0,9m.
Xây dựng mô hình công trình cấp nước cho 58
hộ dân (với gầnn 300 nhân khẩu) với định mức
55lít/người/ng.đêm tại Bản Sói, xã Bó Mười,
h. Thuận Châu.
Sau đây là tóm tắt kết quả đạt được của dự án.
3. NHỮNG CẢI TIẾN VỀ CÔNG NGHỆ
TRONG DỰ ÁN
Công nghệ “Đập ngầm – hào thu nước” đã
được cấp Bằng Sáng chế số 12311 (Quyết định
số 4274/QĐ-SHTT của Cục Sở hữu trí tuệ,
ngày 20/01/2014) cho Viện Thủy công. Bộ
Nông nghiệp và PTNT đã công nhận Tiến bộ 3.2 Phương pháp khảo sát
kỹ thuật ngành (QĐ công nhận TBKT số
Trong TCCS 02:2014/VTC hướng dẫn đánh
682/QĐ-TCTL-KHCN ngày 01/10/2014 của
Bộ NN&PTNT cho Hệ thống lấy nước sinh
hoạt kiểu đập ngầm và hào thu nước). Viện
Thủy công đã ban hành Tiêu chuẩn cơ sở
TCCS 02:2014/VTC “Hướng dẫn thiết kế thi
công công trình thu nước dạng đập ngầm, hào
thu nước”.
giá n guồn nước vào mùa khô bằng cách đào hố
thám sát 1mx1m, sâu 1 đến 2m. Với địa điểm
của dự án, đầu tiên các tác giả đã sử dụng
phương pháp đánh giá, phân tích trực quan
bằng mắt tại hiện trường. Việc lựa chọn vị trí
đầu mối thu nước vừa p hải đảm bảo cao độ tự
chảy về bể tập trung, vừa phải chọn được vị trí
Bản chất của công nghệ là sử dụng các băng có tầng cuội sỏi dày để chứa được nhiều nước.
thu nước khía rãnh hình đặt trong tầng cát Bằng kinh nghiệm nhiều năm công tác tại Sơn
hạt thô dùng để thu nước trong đất bão hòa. La cho thấy rằng, dọc theo huổi cạn nếu có các
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017
3
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
miệng phun nước trong mùa mưa thì chứng tỏ Với vùng khan hiếm nước như ở Thuận Châu,
tầng cuội sỏi dưới đó bị chặn lại do đột biến nếu sử dụng các hố thám sát kích thước hạn
địa chất tầng đá gốc. Trên cắt dọc huổi, các chế sẽ không đánh giá được chính xác điều
điểm xuất lộ nước như vậy thường nằm sát kiện địa chất thủy văn. Tác giả kiến nghị đào
mép bậc, thượng lưu độ dốc nhổ, hạ lưu độ thành một hào cắt ngang suối, hình chữ U,
dốc lớn. Nếu sử dụng các thiết bị khảo sát sang hai bên vai đồi, dài hơn phạm vi đặt băng
hiện đại (như máy phát sóng tần số thấp, địa dự kiến , sâu cắt qua hết tầng cuội sỏi, cho đến
vật lý, … ) thì dễ dàng tìm được các tầng cuội tầng cách nước hoặc ít thấm nước.
sỏi bồi tích trong bồn trũng như vậy.
Hình 1: Dự kiến đặt băng thu tại một đoạn lòng Hình 2: Hào đào để đánh giá nguồn nước vào
suối nằm ngang, phía trên của một điểm phun
nước trong mùa mưa
mùa khô, cắt ngang suối
3.3 Kết cấu thu nước
mà vào mùa mưa nước trong các khe nứt của
đá gốc có thể đầy ngược lên mặt đất, làm hư
hỏng tầng cát lọc. Vì vậy, kết cấu của đập
ngầm đã có những điều chỉnh thích hợp (xem
hình 4 & 5), cụ thể như sau:
Trong TCCS 02:2014/VTC đập ngầm chỉ đơn
giản là một tấm HDPE chắn cắt qua tầng cuội
sỏi. Xét thấy tại công trình này nước vận
chuyển không chỉ theo phương dọc đáy suối,
Hình 3: Hình cắt kết cấu đập ngầm
Hình 4: Mặt bằng bố trí đập ngầm
4
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
Sau khi đào hố móng đến cao độ thiết kế tiến đầm chặt, sau đó lắp đặt băng thu nước;
hành lắp dựng tấm HDPE chặn bờ hạ lưu, sau
Cắm các ống thông áp chạm vào mặt lớp sỏi;
đó rải một lớp dăm sỏi 10cm để làm phẳng hố
Rải tiếp lớp cát vàng dày 30cm lên hệ thống
móng, chặn đè lên tấm HDPE;
băng;
Rải 2 lớp lưới PVC lên mặt sỏi, sau đó đặt các
Đắp đất chọn lọc, đầm nhẹ hoàn thổ đến cao
ống nhựa châm kim để sục rửa sau này;
độ thiết kế
Rải tiếp lớp cát vàng dày 30cm và tháo nước
Hình 5: Đào hố móng cắt ngang lòng suối
Hình 6: Chặn tầng cuội sỏi bằng tấm HDPE
Hình 7: Lắp đặt băng thu nước trong lớp cát
Hình 8: Lấp hoàn trả mặt bằng
Trình tự như trên có những khác biệt với quy nước ngầm lớn hơn khả năng thu nước của hệ
trình nêu trong TCCS 02:2014/VTC như sau: thống băng;
Có một vài lớp lưới PVC rải xuống mặt nền để Đắp đất chọn lọc lên lớp cát (thay vì lớp đá
mạch đùn từ đáy móng không làm hư hỏng lớp dăm, đá hộc như trong TCCS 02:2014) để hạn
cát lọc;
chế nước mưa, nước mặt thấm trực tiếp xuống
lớp cát. Làm như vậy để hạn chế ô nhiễm nước
do phân bón, thuốc trừ sâu, trừ cỏ trên nương
rẫy chảy vào hệ thống lọc. Đồng thời cũng
ngặn chặn hiện tượng đá hộc có thể chím vào
Lắp đặt thêm các ống châm kim ở đáy, nối với
bơm lắc tay để sục rửa cặn lắng;
Lắp đặt các ống thông áp đề phòng áp lực
nước đẩy bục tầng cát khi lưu lượng dòng
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017
5
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
tầng cát khi có dòng nước ngầm đẩy ngược.
1 ngày đêm. Mùa Khô: Trên 60 lít/ người 1
ngày đêm.
4. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CỦA MÔ HÌNH
THỰC TẾ
4.3 Công trình thu nước dạng đập ngầm hào
thu nước nằm sâu dưới đất nên dễ bảo vệ, quản
lý, không bị hư hỏng do sạt lở đất, do bồi lắng
hoặc bị dòng lũ phá hoại như các dạng công
trình hiện có. Việc bố trí thêm kết cấu xúc rửa
bằng bơm lắc tay cho phép duy tu kết cấu lọc
hàng năm.
4.1 Từ công nghệ cơ sở do Viện Thủy công
chuyển giao, đềtàiđã có những cải tiến thích hợp
cho điều kiện cụ thể của công trình thử nghiệm
nằm ở vùng khan hiếm nước tỉnh Sơn La
4.2 Mô hình dạng hào thu kết hợp đập chắn với
chiều dài hào L= 14,2, rộng B=2,5 m, sâu 1,73
m. Chênh cao giữa bề mặt nguồn nước với nhà
cao nhất trong khu dân cư khoảng 14m, đủ để
dẫn tự chảy. Lưu lượng đo lúc khảo sát đạt 0,12
l/s tương ứng khoảng 10,3 m3/ngày đêm. Sau
khi đưa vào vận hành lưu lượng đo được cụ thể
4.4 Việc thi công đơn giản, sử dụng nhân
công địa phương. Vật liệu sử dụng vật liệu sẵn
có tại địa phương. Riêng băng thu nước phải
nhập ngoại, nhưng chỉ chiếm 1,7% giá thành
công trình đầu mối.
như sau: Ngày 08/4/2016 đạt 12 m3/ngày đêm 4.5 Suất đầu tư: 16.503.844/ 1 đấu nối.
(sau khi thi công xong); Ngày 08/5/2016 đạt 22 Phương án băng thu chi phí thấp hơn phương
m3/ngày đêm; Ngày 08/6/2016 đạt 35m3/ngày án hào thu truyền thống: 2.203.844 đồng/1
đêm. Đánh giá: Lưu lượng thu được cao hơn dự đấu nối
kiến đủ cấp cho nhu cầu sinh hoạt 57 hộ dân
bản Sói với mức: Mùa mưa: trên 100 lít / người
QC-09/2008/BTN, cụ thể là:
4.6 Chất lượng nước đạt chỉ tiêu quy định tại
Chỉ tiêu cảm quan
Kết quả xét nghiệm
Giới hạn
Chỉ tiêu
phân tích
Ngày
Ngày
TT
Đơn vị
II QC-
02/BYT
Ngày
Ngày
07/7/2015 08/4/2016
12/4/2016 18/6/2016
(khảo sát) (TC xong)
A Chỉ tiêu cảm quan
1
Màu sắc T CU
15
8
2
2
2
Không
có mùi
vị lạ
Không có
mùi vị lạ
Không có Không có Không có
2
Mùi vị
mùi vị lạ
mùi vị lạ
mùi vị lạ
3
Độ đục
NTU
5
8
0
0
0
B
Chỉ tiêu thành phần hóa học
Clorua
mg/l
(Cl-)
4
-
5,7
5,7
5,7
5,7
Độ
Tp
pH
Amoni
(NH 4+)
cứng
5
6
7
mg/l
NTU
mg/l
-
6.0 – 8.5
3
200
7,3
200
7,54
0,13
200
7,54
0,13
200
7,54
0,13
0,19
Sắt(Fe
2+,Fe3+)
8
mg/l
0,5
0.17
0,17
0,17
0,17
6
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
Kết quả xét nghiệm
Ngày
Giới hạn
II QC-
02/BYT
Chỉ tiêu
phân tích
Ngày
TT
9
Đơn vị
Ngày
Ngày
07/7/2015 08/4/2016
(khảo sát) (TC xong)
12/4/2016 18/6/2016
Asen (As)
mg/l
mg/l
0.05
-
0.00
0,04
0.00
0,1
0.00
0,1
0.00
0,1
10 Florua (F-)
C
Chỉ tiêu hữu cơ và vi sinh
Độ oxy
1
hóa theo
KM nO4
mg/l
4
4,8
6,4
4,6
4,4
II
1
Chỉ tiêu vi sinh
Vi
khuẩn/100ml
Vi
E.coli
20
7
4
0
1
0
1
Tổng
2
150
30
12
Coliform khuẩn/100ml
3. KẾT LUẬN
KHCN cấp tỉnh Sơn La “Thử nghiệm ứng
dụng băng thu nước ngầm để thu nước vùng đất
ẩm ướt, tạo nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh
cho các vùng khan hiếm nước thuộc các xã đặc
biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Sơn La” do KS
Trần Văn Hải làm chủ nhiệm, Viện Thủy công
là đơn vị chuyển giao công nghệ. Các tác giả
chân thành cám ơn Sở KH&CN tỉnh Lai Châu
đã tài trợ cho chương trình nghiên cứu này, cám
ơn Trung tâm NSH&VSMTNT tỉnh Sơn La đã
hỗ trợ trong việc triển khai dự án, cám ơn các
cấp chính quyền và bà con xã Bó Mười đã đồng
Việc lựa chọn công nghệ phù hợp để có giải
pháp cho 32 xã đặc biệt khó khăn của tỉnh Sơn
La về nước sinh hoạt theo Nghị quyết số
93/2014/NQ-HĐND là hết sức cấp bách, có
tính khoa học và thực tiễn.
Kết quả đạt trên mô hình thực tiễn tại Bản Sói,
xã Bó Mười, huyện Thuận Châu đã được nhiều
địa phương đến tham quan. Dự kiến trong năm
2017, mỗi huyện sẽ áp dụng 1 công trình
tương tự để rút kinh nghiệm và mở rộng.
Lời cám ơn: Bài báo này sử dụng các tư liệu hành trong suốt quá trình xây dựng công trình
và kết quả nghiên cứu thử nghiệm của Dự án thử nghiệm.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017
7
Bạn đang xem tài liệu "Mô hình cấp nước sinh hoạt cho vùng khan hiếm nước tỉnh Sơn La theo công nghệ đập ngầm - Hào thu nước", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mo_hinh_cap_nuoc_sinh_hoat_cho_vung_khan_hiem_nuoc_tinh_son.pdf

