Hiện trạng thảm thực vật ngập mặn xã đồng rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh

Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
Hiện trạng thảm thực vật ngập mặn xã đồng rui,  
huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh  
Nguyễn Hoàng Hanh1,*, Mai Sỹ Tuấn2  
1Viện Sinh thái và Bảo vệ Công trình  
2Trường Đại học Sư phạm Hà Nội  
Nhận ngày 20 tháng 8 năm 2018  
Chỉnh sửa ngày 07 tháng 9 năm 2018; Chấp nhận đăng ngày 10 tháng 9 năm 2018  
Tóm tắt: Các phương pháp điều tra thực địa, phân tích ảnh vệ tinh, thiết bị bay không người lái đã  
được sử dụng để nghiên cứu, đánh giá hiện trạng thảm thực vật rừng ngập mặn xã Đồng Rui,  
huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh và xây dựng bản đồ phân bố các kiểu quần xã thực vật rừng  
ngập mặn. Tổng số 144 loài thực vật thuộc 115 chi, 53 họ và hai ngành thực vật có mạch, gồm  
Dương xỉ (Pteridophyta) và Ngọc lan (Magnoliophyta) đã được ghi nhận ở rừng ngập mặn xã  
Đồng Rui, trong đó có 16 loài thuộc nhóm cây ngập mặn thực sự. Các loài Trang (Kandelia  
obovata), Đâng (Rhizophora. stylosa), Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza), các loài Mắm (Avicennia  
spp.) Sú (A. corniculatum) là nhóm loài ưu thế. Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận một loài sẽ nguy  
cấp và nguy cấp được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) là Cỏ ngạn (Scirpus kimsonensis),  
87,5% (126 loài) tổng số loài có công dụng, chủ yếu được sử dụng làm dược liệu và làm thức ăn.  
Đã xác định và xây dựng bản đồ phân bố của 14 quần xã thực vật thuộc rừng ngập mặn xã  
Đồng Rui.  
Từ khóa: rừng ngập mặn, Đồng Rui, quần xã thực vật  
1. Đặt vấn đề  
phức tạp về các đặc điểm địa mạo, thủy văn và  
khí hậu. Hệ thực vật trong tiểu khu 1 nói chung  
và khu vực này nói riêng tương đối phong phú  
với các loài chịu mặn cao, không có các loài ưa  
nước lợ điển hình (Phan Nguyên Hồng, 1999)  
[8]. Đặc điểm về thành phần loài khá đặc trưng,  
bao gồm một số loài như Đâng (Rhizophora  
stylosa), Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza),  
Trang (Kandelia obovata) vốn phân bố phổ biến ở  
đây, nhưng rất ít gặp ở ven biển Nam Bộ, cũng  
như chỉ gặp rải rác ở ven viển Trung Bộ.  
Rừng ngập mặn (RNM) xã Đồng Rui là hệ  
sinh thái tiêu biểu cho tiểu khu 1 (Khu vực từ  
Móng Cái đến Cửa Ông) thuộc khu vực I - ven  
biển Đông Bắc từ Mũi Ngọc đến mũi Đồ Sơn  
theo cách phân chia của Phan Nguyên Hồng  
(1991) [7]. Hệ sinh thái rừng ngập mặn này có  
tính đa dạng sinh học cao do có sự phong phú,  
_______  
Tác giả liên hệ. ĐT.: 84-.  
1
N.H. Hanh, M.S. Tuấn / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
2
Trong những năm gần đây, hệ sinh thái  
trạng thảm thực vật RNM xã Đồng Rui và xây  
dựng bản đồ phân bố các quần xã thực vật RNM.  
RNM xã Đồng Rui đã và đang chịu nhiều áp  
lực do quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội  
thông qua các hoạt động khai thác và nuôi trồng  
thủy sản, làm mất đi nhiều diện tích RNM tự  
nhiên và làm ảnh hưởng đến chất lượng và quá  
trình tái sinh, phục hồi rừng ngập mặn. Những  
giải pháp phục hồi rừng ngập mặn, đã và đang  
được đưa ra, kể cả việc trồng rừng ngập mặn  
trong các đầm nuôi trông thuỷ sản đã bỏ hoang.  
Để có cơ sở khoa học cho việc phục hồi và  
quản lí hiệu quả hệ sinh thái RNM xã Đồng Rui  
cần phải có thông tin đáng tin cậy, có tính cập  
nhật về hiện trạng thảm thực vật tại đây.  
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Đối tượng, địa điểm nghiên cứu  
Nghiên cứu được thực hiện tại khu vực  
rừng ngập mặn, bao gồm thực vật ngập mặn  
thực sự và các loài tham gia rừng ngập mặn  
xung quanh đảo Đồng Rui, huyện Tiên Yên,  
tỉnh Quảng Ninh (hình 1).  
Thời gian nghiên cứu được tiến hành từ  
tháng 12 năm 2017 đến tháng 6 năm 2018.  
Khảo sát thực địa được tiến hành theo 3 đợt  
(12/2017, 3/2018; 6/2018).  
Vì vậy chúng tôi đã sử dụng kết hợp nhiều  
phương pháp khác nhau bao gồm điều tra thực  
địa, phân tích ảnh vệ tinh, sử dụng thiết bị bay  
không người lái để nghiên cứu, đánh giá hiện  
Hình 1. Sơ đồ vị trí nghiên cứu với các tuyến điều tra thực địa, chụp ảnh Flycam.  
N.H. Hanh, M.S. Tuấn / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
3
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Phương pháp phân tích ảnh vệ tinh và xây  
dựng bản đồ phân bố thảm thực vật ngập mặn  
Phương pháp điều tra thực địa  
Để xây dựng bản đồ phân bố rừng ngập  
mặn chi tiết, chúng tôi đã phân tích kết hợp bản  
đồ diễn biến rừng năm 2017 dựa trên nền bản  
đồ kiểm kê rừng năm 2016 - cung cấp bởi Chi  
cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh với việc phân  
tích ảnh vệ tinh VNREDsat, độ phân giải không  
gian 5m chụp tháng 10/2017, ảnh landsat chụp  
tháng 11/2017. Chúng tôi đã sử dụng bộ mẫu  
khoá ảnh MKA là căn cứ để giải đoán ảnh sử  
dụng các thông số như phổ, cấu trúc… trên các  
MKA để phân loại cho các khu vực còn lại có  
đặc điểm tương tự. Mỗi điểm mẫu khóa ảnh  
(mẫu ảnh) gồm một đối tượng (object) trên ảnh  
vệ tinh và một điểm mẫu đối tượng (kiểu quần  
xã) tương ứng tại thực địa có cùng tọa độ.  
Chúng tôi đã điều tra, xây dựng và sử dụng 180  
mẫu khóa ảnh - MKA (mỗi trạng thái 10-20  
MKA) trong việc xây dựng bản đồ phân bố  
rừng ngập mặn xã Đồng Rui. Bảo Huy (2014)  
[4], Trần Quang Bảo (2014) [1].  
Tổng số 50 tuyến nghiên cứu phân bố đồng  
đều quanh xã (hình 1) đã được thiết lập và khảo  
sát theo phương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn  
(2007) [13] để nghiên cứu đặc điểm của các  
kiểu quần xã thực vật ngập mặn và thu thập các  
mẫu thực vật để định danh. Thiết lập trên mỗi  
quần xã 3 ô tiêu chuẩn (OTC), diện tích 100 m2  
(10 m × 10 m), để thu thập các thông tin về  
thành phần loài, mật độ các cá thể của loài để  
đánh giá mức độ ưu thế của các loài trong các  
quần xã và phân loại các kiểu quần xã thực  
vật khu vực nghiên cứu, tổng số OTC đã thiết  
lập là 42.  
Phương pháp phân tích mẫu thực vật  
Mẫu thực vật được định danh dựa theo các  
tài liệu của Phạm Hoàng Hộ [6] Nguyễn Hoàng  
Trí (1996) [14]). Phân tích phổ dạng sống của  
hệ thực vật theo Raunkiær C. (1934) [6]. Phân  
tích giá trị nguồn gen quý hiếm theo “Sách Đỏ  
Việt Nam” của Bộ Khoa học và Công nghệ  
(2007) [2]. Giá trị sử dụng của các loài được đánh  
giá theo Võ Văn Chi (1996) [3], Đỗ Tất Lợi  
(1999) [10], Triệu Văn Hùng và cs (2007) [9].  
Trên cơ sở bản đồ đã giải đoán, tiến hành rà  
soát bổ sung trạng thái ngoài thực địa. Kết hợp  
sử dụng thiết bị bay không người lái Flycam  
chụp ảnh (hình 2), tiến hành xử lý các ảnh chụp  
và đưa lên bản đồ để rà soát và hoàn chỉnh bản  
đồ phân bố quần xã thực vật rừng ngập mặn  
khu vực nghiên cứu năm 2018.  
Các kiểu quần xã thực vật nghiên cứu, sắp  
xếp, mô tả theo Phan Nguyên Hồng (1999) [8]  
và tổ hợp loài ưu thế theo Thái Văn Trừng [15].  
Hình 2. Một số hình ảnh Flycam tại xã Đồng Rui.  
N.H. Hanh, M.S. Tuấn / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
4
2015) [12], (Nguyễn Quang Hùng, 2011) [5].  
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
Thành phần loài thực vật ngập mặn ở Đồng  
Rui kém đa dạng hơn so với VQG Xuân Thủy  
và RNM Long Sơn và VQG Đất Mũi nhưng có  
16 loài cây ngập mặn thực sự chiếm 11,11%,  
đối với RNM VQG Xuân Thủy, Long Sơn và  
VQG Đất Mũi lần lượt là 17 loài, 28 loài và 28  
loài, trong đó, có duy nhất loài Ráng biển  
(Acrostichum aureum) thuộc ngành Dương xỉ  
có mặt ở các khu vực trên. Có 1 loài chỉ có ở  
RNM Đồng Rui mà không có tại RNM Vườn  
quốc gia Xuân Thủy, RNM Hưng Hòa, RNM  
Long Sơn và RNM Vườn quốc gia Đất Mũi là  
Mắm quăn (Avicennia lanata).  
3.1. Hệ thực vật  
Phân tích thành phần loài thực vật bậc cao  
có mạch phân bố tại Đồng Rui cho thấy có 144  
loài thuộc 115 chi, 53 họ và hai ngành thực vật  
có mạch là ngành Dương xỉ (Pteridophyta) và  
ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) (bảng 1).  
Trong ngành Ngọc Lan, lớp Ngọc Lan  
(Magnoliopsida) có số loài ghi nhận được  
chiếm ưu thế vượt trội so với lớp Hành  
(Liliopsida) bởi các tỉ lệ 33/1 ở bậc họ, 5,47/1 ở  
bậc chi và 3,79/1 ở bậc loài.  
Với tổng số 144 loài được ghi nhận, thảm  
thực vật ngập mặn xã Đồng Rui có số loài thấp  
hơn so với các địa điểm khác thuộc khu vực I  
như Vườn Quốc gia Xuân Thủy (202 loài),  
nhưng cao hơn so với các địa điểm thuộc khu  
vực II như Hưng Hòa (142 loài), Long Sơn (119  
loài) và khu vực III như Vườn Quốc gia Đất  
Mũi (121 loài) (Cục Bảo tồn đa dạng sinh học,  
3.2. Phổ dạng sống  
Kết quả phân tích phổ dạng sống của hệ  
thực vật theo thang phân chia phổ dang sống  
của các loài thực vật của Raunkiær (1934) [11],  
cho thấy thực vật ngập mặn xã Đồng Rui được  
phân thành 10 dạng sống khác nhau (hình 3).  
Bảng 1. Cấu trúc hệ thống hệ thực vật ngập mặn bậc tại xã Đồng Rui  
Họ  
Chi  
Loài  
TT Tên khoa học  
Tên Tiếng Việt  
Số  
lượng  
Tỉ lệ  
%
Số  
lượng  
Tỉ lệ  
%
Số  
lượng  
Tỉ lệ %  
1
2
Pteridophyta  
Magnoliophyta Ngành Ngọc lan 48  
Ngành Dương xỉ  
5
9
6
109  
92  
17  
115  
5,2  
6
4,2  
91  
74  
17  
100  
94,8  
80,0  
14,8  
100  
138  
109  
29  
95,8  
75,7  
20,1  
100  
2.1 Magnoliopsida Lớp Ngọc lan  
2.2 Liliopsida  
Tổng  
39  
9
53  
Lớp Hành  
144  
Hình 3. Tỉ lệ % các dạng sống trong hệ thực vật RNM Đồng Rui.  
N.H. Hanh, M.S. Tuấn / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
5
Nhóm cây chồi trên (Phanerophytes) có 6  
dạng sống chiếm 47,50% tổng số loài. Nhóm loài  
chiếm ưu thế là các cây dây leo (Li) với 20 loài  
(chiếm 13,89% tổng số loài) có các loài đại diện:  
Muống biển (Ipomoea pes-caprae); Móc hùm  
(Caesalpinia bonduc); Mây nước (Flagellaris  
indica),... các loài chồi lùn (Na) có 18 loài (chiếm  
12,50% tổng số loài) với các đại diện Côi  
(Scyphiphora hydrophyllacea); Thầu dầu (Ricinus  
communis); Hếp hải nam (Scaevola hainanense),  
Bồng bồng (Calotropis gigantea),... các loài chồi  
trên trung bình (Me) có 13 loài (chiếm 9,03%  
tổng số loài) có đại diện là Giá (Excoecaria  
agallocha), Xu ổi (Xylocarpus granatum), Trang  
(K. obovata), Đâng (R. stylosa), Mắm biển (A.  
marina),... các loài chồi trên nhỏ (Mi) có 12 loài  
(chiếm 8,33% tổng số loài) gồm Cóc vàng  
Trong nhóm dạng sống Cr, Hm và Th của  
hệ thực vật xuất hiện nhiều loài thuộc họ Lúa  
(Poaceae) và họ Cói (Cyperaceae). Các cá thể  
thuộc nhóm loài này phân bố rộng khắp ở các  
vùng đất cao không chịu tác động của thủy  
triều, hoặc ở những bãi đất trống nơi ít nhiều có  
tác động của thủy triều. Đây là nhóm cây có vai  
trò giảm tác động xói mòn đất do mưa và sóng.  
Trong nhóm cây chồi ẩn có một số loài  
thuộc dạng sống thủy sinh đã được ghi nhận và  
phát hiện tại hệ thực vật này như các loài cỏ  
biển (Halophila spp.). Mặc dù đã điều tra rất kỹ  
nhưng chỉ phát hiện được 1 loài cỏ xoan  
(Halophila ovalis) còn phân bố, song rất khó  
gặp trong khi các loài khác mới chỉ được ghi  
nhận từ các tư liệu đã có.  
Phổ dạng sống của hệ thực vật:  
(Lumnitzera  
racemosa),  
Sú  
(Aegiceras  
SB = 47 Ph + 9 Ch + 20 Hm + 13 Cr + 10 Th  
Giá trị nguồn gen quý hiếm: được phân  
tích theo thang phân loại tại Sách Đỏ Việt Nam  
- Phần Thực vật (2007) cho thấy hệ thực vật  
loài Cỏ ngạn (Scirpus kimsonensis) là loài Nguy  
cấp - EN B1+2a,b,c,d. Đây là nguồn gen quý  
hiếm cần phải có biện pháp, kế hoạch bảo tồn  
và phát triển.  
corniculatum), Na biển (Annona glabra), Bách  
sao (Myoporum bontioides),... các loài chồi trên  
lớn (Mg) có 4 loài (chiếm 2,78% tổng số loài) gồm  
Vẹt dù (B. gymnorrhiza), Bần chua (Sonneratia  
caseolaris); Phi lao (Casuarina equisetifolia);  
Xoan (Melia azedarach) và loài bì sinh (Ep) có 1  
loài là Dây tơ hồng (Cuscuta chinensis).  
Các loài cây thân gỗ gồm các dạng sống cây  
chồi trên lớn, trung bình và nhỏ mặc dù chỉ  
chiếm tỷ lệ không lớn nhưng lại là những loài  
quan trọng trong hệ sinh thái. Nhiều loài cây  
ngập mặn thực sự là những cây gỗ như Trang  
(K. obovata), Đâng (R. stylasa), Vẹt dù (B.  
gymnorrhiza), các loài Mắm (Avicennia spp.)…  
Những loài cây thân gỗ này thường phân bố ở  
những khu vực chịu tác động của thủy triều, và  
có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đê biển  
cũng như là những thành phần chính trong rừng  
ngập mặn. Một số loài tham gia hoặc di cư vào  
rừng ngập mặn cũng đã góp phần ổn định bờ, ít  
bị tác động của thủy triều như Tra (Hibiscus  
tiliaceus), Na biển (A. glabra)...  
Các nhóm dạng sống còn lại đều xuất hiện  
với số lượng loài khá phong phú với nhóm cây  
chồi sát đất (Ch) có 13 loài, nhóm cây chồi nửa  
ẩn (Hm) có 30 loài, chiếm tỉ trọng cao nhất  
trong các nhóm dạng sống của hệ thực vật,  
nhóm cây chồi ẩn (Cr) có 19 loài và nhóm cây  
một năm (Th) có 14 loài.  
Giá trị sử dụng  
Kết quả phân tích số liệu về giá trị sử dụng  
của hệ thực vật xã Đồng Rui dựa trên các tài  
liệu của Võ Văn Chi (1996), Đỗ Tất Lợi (1999)  
và Triệu Văn Hùng (2007) đã xác định được  
126 loài có giá trị sử dụng (chiếm 87,5% tổng  
số loài toàn hệ) có 10 nhóm công dụng (hình 4).  
Nhóm làm thuốc có số loài cao nhất với 114  
loài (chiếm 79,2%). Tiếp theo là nhóm loài ăn  
được có 28 loài (chiếm 19,4%) ). Các giá trị sử  
dụng khác chiếm tỉ trọng thấp hơn. Nhiều loài  
được sử dụng đa mục đích (2 đến 4) như một số  
loài đặc trưng của HTV RNM Đồng Rui là Vẹt  
dù (B. gymnorrhiza) vừa có giá trị làm thuốc  
vừa cho gỗ đóng đồ, làm nhà; cho tanin nhuộm  
vải, nhuộm lưới đánh cá, thuộc da và chồi non  
dùng làm rau ăn sống; Bần chua (S. caseolaris)  
làm thuốc chữa viêm tấy, ngăn chặn chứng xuất  
huyết, bí tiểu tiện, cho gỗ, quả chua ăn được và  
hoa thơm nuôi ong mật; Đâng (R. stylosa) cho gỗ  
đóng thuyền và cho tanin nhuộm lưới, thuộc da,....  
N.H. Hanh, M.S. Tuấn / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
6
Hình 4. Tỉ lệ % theo các giá trị sử dụng của thực vật ngập mặn xã Đồng Rui  
Ghi chú: Ad - Ăn được; Ca - Cây cảnh; G - Gỗ; K – Công dụng khác (Nuôi ong, làm hàng rào, làm đồ uống…);  
T - Thuốc; Ta - thức ăn; Td - Thuộc da; Tgs – Thức ăn gia súc; S - Sợi; Nhu - Nhuộm  
3.3. Đa dạng các kiểu quần xã thực vật n  
gập mặn  
Trang (K. obovata) tổ hợp quần xã này chiếm  
tỷ lệ trên 53% thành phần và cấu trúc của quần  
xã với các cây gỗ có chiều cao đến 2,3m, quần  
xã chiếm diện tích 118,38 ha và có phân bố tập  
trung ở phía Tây Bắc của đảo, tại các vùng  
ngập triều trung bình. Vẹt dù (B. gymnorrhiza),  
Đâng (R. stylosa) là hai loài chiếm ưu thế hơn  
so với Mắm biển (A. marina) và Trang (K.  
obovata) trong tổ thành loài.  
Tại xã Đồng Rui, 14 kiểu quần xã thực vật  
ngập mặn đã được xác định với tổng diện tích  
2.129,6 ha (hình 5). Các loài gồm Vẹt dù (B.  
gymnorrhiza), Đâng Đâng (R. stylosa), Sú (A.  
corniculatum), Trang (K. obovata) và Mắm  
biển (A. marina)là đặc trưng cho khu vực  
nghiên cứu.  
4. Quần xã Sú (Ae. corniculatum) + Mắm  
biển (A. marina) + Trang (K. obovata) + Đâng  
(R. stylosa) + Vẹt dù (B. gymnorrhiza) các loài  
ưu thế chiếm tỷ lệ trên 60%, thành phần và cấu  
trúc quần xã, trong đó chủ yếu các loài cây gỗ  
cao khoảng 1,2-1,4m. Diện tích 200,66 ha, , phân  
bố từ phía Đông Bắc đến Tây Bắc, tại các vùng  
ngập triều thấp đến ngập triều trung bình rải rác  
ven sông, ven lạch.  
1. Quần xã Vẹt dù (B. gymnorrhiza) +  
Đâng (R. stylosa) tổ hợp hai loài ưu thế chiếm  
tỷ lệ cao nhất trên 70% thành phần cấu trúc  
quần xã. Quần xã có diện tích trên 138,04 ha,  
phân bố tập trung ở phía Đông Nam và Tây Bắc  
của đảo, tại các vùng ngập triều trung bình đến  
ngập triều cao. Chiều cao vút ngọn quần xã đạt  
2,8m. Một số loài tham gia cấu trúc tán như Sú  
(A. corniculatum), Trang (K. obovata), Mắm  
biển (A. marina) nhưng với tỷ lệ thấp.  
5. Quần xã Đâng (R. stylosa) + Vẹt dù (B.  
gymnorrhiza) + Sú (Ae. corniculatum) + Trang  
(K. obovata) + Mắm biển (A. marina) có diện  
tích 122,33 ha, trong đó gồm hầu hết các cây gỗ  
có chiều cao đạt đến khoảng 3m và tổ hợp các  
loài ưu thế chiếm 58% trong thành phần và cấu  
trúc của quần xã, là quần xã ổn định nhất của  
thảm thực vật ngập mặn Đồng Rui, phân bố tập  
trung từ phía Đông Bắc đến Tây Bắc của đảo,  
tại các vùng ngập triều trung bình.  
2. Quần xã Vẹt dù (B. gymnorrhiza) +  
Đâng (R. stylosa) + Sú (Ae. corniculatum) +  
Trang (K. obovata) tổ hợp loài ưu thế này  
chiếm tỷ lệ 55% thành phần và cấu trúc của  
quần xã, với cây thân gỗ cao đến 2,2m. Diện  
tích quần xã đạt 184,84 ha, phân bố tập trung từ  
phía Đông Nam đến Tây Nam của đảo, tại các  
vùng ngập triều trung bình  
3. Quần xã Vẹt dù (B. gymnorrhiza) +  
Đâng (R. stylosa) + Mắm biển (A. marina) +  
N.H. Hanh, M.S. Tuấn / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
7
Hình 5. Bản đồ phân bố thảm thực vật ngập mặn xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh năm 2018 (thu  
từ tỉ lệ 1/10.000).  
6. Quần xã Mắm biển (A. marina), đơn ưu  
này có trên 76% số cây mắm Biển (A. marina)  
với chiều cao trung bình khoảng 1,9m. Quần xã  
có diện tích là 75,69 ha, có phân bố rải rác toàn  
khu vực nghiên cứu. Mắm biển (A. marina) là  
loài cây tiên phong tại các vùng ngập triều thấp,  
ven sông phía bãi Lòng Vàng. Ngoài ra, Mắm  
biển (A. marina) còn phân bố ở các bãi ngập  
triều cao sát bờ đê.  
7. Quần xã Sú (Ae. corniculatum) + Trang  
(K. obovata) + Đâng (R. stylosa) + Vẹt dù (B.  
gymnorrhiza): Tổ hợp loài ưu thế chiếm tỷ lệ  
N.H. Hanh, M.S. Tuấn / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
8
trên 62% thành phần và cấu trúc của quần xã,  
(A. marina) chiếm ưu thế một số loài cây khác  
như Cóc vàng (L. racemosa), Giá (E.  
agallocha) và Vẹt dù cũng tham gia rải rác, bên  
cạnh đó cũng có thêm một số loài cỏ và cây  
trồng bổ sung như Trang (K. obovata), Đâng  
(R. stylosa).  
gồm các cây gỗ cao trung bình khoảng 2,0m,  
phân bố từ phía Đông Bắc đến Tây Bắc của  
đảo, tại các vùng ngập triều thấp đến ngập triều  
trung bình ngay sau quần xã Sú (A.  
corniculatum), Trang (K. obovata) và có diện  
tích là 99,22 ha.  
12. Quần xã Vẹt dù (B. gymnorrhiza): Vẹt  
dù chiếm ưu thế với hơn 90% số cá thể tỏng  
quần xã, đa số cây gỗ đạt chiều cao đến 2,6m,,  
là 1 trong 3 quần xã rừng ngập mặn tự nhiên có  
diện tích nhỏ nhất tại khu vực nghiên cứu, diện  
tích tổng thể của quần xã này chỉ đạt 23,41 ha.  
Quần xã này phân bố chủ yếu tại khu vực Đông  
Nam của đảo, tại các vùng ngập triều trung bình  
đến ngập triều cao. Trong quần xã vẫn thấy xuất  
hiện một số loài khác như Đâng (R. stylosa),  
Trang (K. obovata) với số lượng không  
đáng kể.  
8. Quần xã Sú (Ae. corniculatum) + Trang  
(K. obovata) + Mắm biển (A. marina): Tổ hợp  
loài ưu thế chiếm trên 59% thành phần và cấu  
trúc của quần xã, trên diện tích gần 12,16ha,  
quần xã này có phân bố tập trung ở khu vực  
phía Đông của đảo, tại các vùng ngập triều  
thấp, rải rác ven sông, ven lạch với hầu hết cây  
gỗ đạt chiều cao trung bình khoảng 2,1m.  
9. Quần xã Sú (Ae. corniculatum) + Trang  
(K. obovata): Tổ hợp loài ưu thế chiếm tỷ lệ  
trên 65% trong thành phần và cấu trúc của quần  
xã, với hầu hết các cây gỗ đạt chiều cao trung  
bình khoảng 2,5m, là quần xã có diện tích lớn  
nhất với 360,4 ha, có phân bố tập trung từ phía  
Đông Nam đến Tây Nam của đảo, tại các vùng  
ngập triều thấp rải rác ven sông, ven lạch.  
13. Quần xã Cóc vàng (L. racemosa) + Giá  
(E. agallocha) + Mắm biển (A. marina) các loài  
trong tổ hợp ưu thế chiếm tỷ lệ trên 60% về  
thành phần và cấu trúc và thường gồm các cây  
gỗ có chiều cao đến 1,4m. Quần xã này có diện  
tích quần xã là 43,95 ha, phân bố từ phía Đông  
Nam đến Tây Nam của đảo, trên các vùng ngập  
triều cao, hoặc ít khi ngập triều. Có một số loài  
tham gia như Tra (H. tiliaceus), Ráng biển (A.  
aureum), Dứa dại (Pandanus tonkinensis) và  
các loài cỏ.  
10. Quần xã Sú (Ae. corniculatum) + Bần  
chua (S. caseolaris) + Trang (K. obovata): Tổ  
hợp loài ưu thế chiếm tỷ lệ trên 55% trong  
thành phần và cấu trúc của quần xã với các cây  
gỗ cao trung bình 1,8m, đây là quần xã cây  
ngập mặn tự nhiên có diện tích nhỏ nhất tại khu  
vực nghiên cứu với 4,49 ha và có phân bố tập  
trung từ khu vực phía Tây của đảo, dọc theo  
đường đê vào trong đảo, tại các vùng ngập triều  
thấp rải rác ven sông Ba Chẽ.  
14. Rừng trồng ngập mặn Trang (K.  
obovata) và Đâng (R. stylosa): Hai loài này  
chiếm tỷ lệ 80% trong thành phần và cấu trúc  
của quần xã với các cây gỗ có chiều cao trung  
bình đạt 2,5m. Quần xã chiếm diện tích khá lớn  
tại khu vực nghiên cứu với diện tích trên 549,97  
ha. Tập trung rừng trồng ngập mặn tại các khu  
vực rải rác quanh đảo và trong các đầm nuôi  
trồng thủy sản đã bỏ hoang.  
11. Quần xã Mắm biển (A. marina) ở các  
đầm tôm bỏ hoang: Khác với quần xã mắm biển  
tự nhiên, tại các đầm nuôi tôm bị bỏ hoang,  
Mắm biển (A. marina) chiếm đến 85% trong  
thành phần và cấu trúc của quần xã, cũng hình  
thành nên đơn ưu với các cây gỗ đạt chiều cao  
trung bình chỉ 1,3m nhưng chưa ổn định như  
đơn ưu Mắm biển tại những nơi khác. Đây là  
loài ưu thế thứ sinh do được hình thành sau khi  
đầm bị bỏ hoang. Diện tích của quần xã này  
khoảng 196,03 ha, quần xã phân bố tập trung từ  
phía Đông Bắc của đảo, tại các vùng ngập triều  
thấp và ngập triều trung bình. Ngoài Mắm biển  
Ngoài các quần xã thực vật ngập mặn ra, ở  
Đồng Rui còn có các quần xã khác phân bố  
hoàn toàn trên cạn như rừng trồng và đất canh  
tác nông nghiệp, đất khác (bao gồm cả trảng  
bụi, trảng cỏ),…với tổng diện tích 30,91ha.  
Kết quả phân chia một số quần xã theo phân  
bố tại khu vực rừng ngập mặn Đồng Rui theo  
bảng 2 sau:  
N.H. Hanh, M.S. Tuấn / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
Bảng 2. Chiều cao và phân bố các quần xã rừng ngập mặn khu vực Đồng Rui  
9
Quần  
xã số  
Tên quần xã  
Chiều cao (m)  
Phân bố  
Đâng (R. stylosa) + Vẹt dù (B. gymnorrhiza) + Sú  
(Ae. Corniculatum) + Trang (K. obovata) + Mắm  
biển (A. marina)  
Các vùng ngập triều trung  
bình  
5
3,0  
2,8  
2,6  
Các vùng ngập triều trung  
bình đến ngập triều cao  
1
Vẹt dù (B. gymnorrhiza) + Đâng (R. stylosa):  
Tại các vùng ngập triều  
trung bình đến ngập triều  
cao  
12  
Vẹt dù (B. gymnorrhiza)  
Tại các vùng ngập triều  
thấp rải rác ven ong,  
ven lạch  
Tại các vùng ngập triều  
thấp, rải rác ven ong, ven  
lạch  
9
8
Sú (Ae. Corniculatum) + Trang (K. obovata)  
2,5  
2,1  
Sú (Ae. Corniculatum) + Trang (K. obovata) + Mắm  
biển (A. marina)  
Vẹt dù (B. gymnorrhiza) + Đâng (R. stylosa) + Sú  
(Ae. Corniculatum) + Trang (K. obovata)  
Tại các vùng ngập triều  
trung bình  
2
3
7
6
2,0  
2,3  
2,0  
1,9  
Vẹt dù (B. gymnorrhiza) + Đâng (R. stylosa) + Mắm  
biển (A. marina) + Trang (K. obovata)  
Sú (Ae. Corniculatum) + Trang (K. obovata) +  
Đâng (R. stylosa) + Vẹt dù (B. gymnorrhiza)  
Các vùng ngập triều trung  
bình  
Các vùng ngập triều thấp  
đến ngập triều trung bình  
Các vùng ngập triều thấp,  
Mắm biển (A. marina)  
ven sông  
Dọc theo đường đê vào  
trong đảo, tại các vùng  
ngập triều thấp rải rác ven  
sông  
Sú (Ae. Corniculatum) + Bần chua (S. caseolaris) +  
Trang (K. obovata)  
10  
1,8  
1.4  
Cóc vàng (L. racemosa) + Giá (E. agallocha) +  
Mắm biển (A. marina)  
Sú (Ae. Corniculatum) + Mắm biển (A. marina) +  
Trang (K. obovata) + Đâng (R. stylosa) + Vẹt dù (B. 1,2-1,4  
gymnorrhiza)  
Các vùng ngập triều cao,  
hoặc ít khi ngập triều  
Các vùng ngập triều thấp đến  
ngập triều trung bình rải rác  
ven ong, ven lạch  
13  
4
Tại các vùng ngập triều  
thấp và ngập triều trung  
bình  
Tại các vùng triều trung  
bình  
11  
14  
Mắm biển (A. marina) ở các đầm tôm bỏ hoang  
1,3  
2,5  
Rừng trồng ngập mặn Trang (K. obovata) và Đâng  
(R. stylosa)  
Qua bảng trên nhận thấy sự thay đổi của  
loài theo chiều hướng từ khu vực bãi bồi có chế  
độ ngập triều thấp (đơn ưu hoặc các quần xã có  
chiều cao từ 1m đến 1,5m), đặc trưng ở khu vực  
này là quần xã tiên phong Mắm biển, ở chế độ  
ngập triều trung bình đại diện các quần xã đang  
phát triển như Sú, Trang, Bần chua. Sự phân bố  
các quần xã ổn định như Đâng, Vẹt dù ở vùng  
ngập triều cao. Khu vực bãi bồi ít ngập triều đại  
diện quần xã Cóc vàng và Giá.  
Chuỗi diễn thế sinh thái được chúng tôi xây  
dựng dựa trên kết quả nghiên cứu trên như sau:  
N.H. Hanh, M.S. Tuấn / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
10  
[2] Bộ Khoa học và Công nghệ (2007), Sách Đỏ Việt  
Mắm biển Mắm biển + Sú + Trang +  
Bần chua Vẹt, Đâng Đâng, Vẹt dù, Sú,  
Trang Vẹt dù, Cóc vàng, Giá.  
Nam, phần Thực vật., Nhà xuất bản Khoa học Tự  
nhiên và Công nghệ Hà Nội.  
[3] Võ Văn Chi (1996), Từ điển cây thuốc Việt Nam,  
Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.  
[4] Bảo Huy, Nguyễn Thị Thanh Hương, 2014. Sử  
dụng ảnh vệ tinh SPOT 5 và GIS để ước tính và  
giám sát sinh khối, carbon ở rừng lá rộng thường  
xanh vùng Tây nguyên. Tạp chí Khoa học Công  
nghệ Việt Nam, số 9, tr. 52-58.  
[5] Nguyễn Quang Hùng (2011), Nghiên cứu, đánh  
giá nguồn lợi thuỷ sản và đa dạng sinh học của  
một số vùng rừng ngập mặn điển hình để khai  
thác hợp lý và phát triển bền vững.  
4. Kết luận  
Hệ thực vật ngập mặn Đồng Rui có tổng số  
144 loài thuộc 115 chi, 53 họ và hai ngành ,  
trong đó có 16 loài thuộc nhóm cây ngập mặn  
thực sự. Các loài Trang (K. obovata), Đâng (R.  
stylosa), Vẹt dù (B. gymnorrhiza), Mắm biển  
(A. marina) Sú (A.corniculatum) là nhóm loài  
ưu thế trong thảm thực vật rừng ngập mặn. Ghi  
nhận một loài thực vật sẽ nguy cấp và nguy cấp  
được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam là Cỏ ngạn  
(S. kimsonensis). Kết quả nghiên cứu cũng cho  
thấy có 87,5% tổng số loài là những loài có  
công dụng, chủ yếu được sử dụng làm dược liệu  
và làm thức ăn. Đã xác định được 14 quần xã  
thực vật thuộc thảm thực vật rừng ngập mặn tại  
khu vực xã Đồng Rui, các quần xã này có sự  
phân bố thay đổi theo chiều cao trung bình loài  
và theo không gian từ khu vực bãi bồi có chế độ  
ngập triều thấp như quần xã Mắm biển (A.  
marina) đến các quần xã Trang (K. obovata),  
[6] Phạm Hoàng Hộ (1991-1993), Cây cỏ Việt Nam,  
Tập 1-3, Nhà xuất bản Trẻ, thành phố Hồ Chí  
Minh.  
[7] Phan Nguyên Hồng (1991), Thảm Thực vật rừng  
ngập mặn Việt Nam, Đại học Tổng hợp Hà Nội.  
Luận án Tiến sĩ Sinh học.  
[8] Phan Nguyên Hồng (1999), Rừng ngập mặn Việt  
Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.  
[9] Triệu Văn Hùng (chủ biên) (2007), Lâm sản ngoài  
gỗ, Dự án hộ trợ chuyên ngành Lâm sản ngoài gỗ  
tại Việt Nam – Pha 2. Nhà xuất bản Bản đồ, Hà  
Nội.  
[10] Đỗ Tất Lợi (1999), Những cây thuốc và vị thuốc  
Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, Hà  
Nội.  
[11] Raunkiær C., (1934). The Life Forms of Plants  
and Statistical Plant Geography. Introduction by  
A.G. Tansley. Oxford University Press, Oxford.  
[12] Tổng cục Môi trường – Cục Bảo tồn đa dạng sinh  
học (2015), Hiện trạng đa dạng sinh học của Vườn  
Quốc gia Xuân Thủy tỉnh Nam Định, Nhà xuất  
bản Hồng Đức.  
Bần chua  
(
S. caseolaris), Sú (Ae.  
corniculatum), Đâng (R. Stylosa), Cóc vàng (L.  
racemosa), Giá (E. agallocha) ở các khu vực có  
chế độ ngập triều trung bình đến cao hoặc ít khi  
ngập triều. Tổng hợp kết quả phân tích ảnh vệ  
tinh, chúng tôi đã xây dựng được bản đồ phân  
bố của các quần xã và chuỗi diễn thế sinh thái  
của rừng ngập mặn Đồng Rui.  
[13] Nguyễn Nghĩa Thìn (2007), Các phương pháp  
nghiên cứu thực vật, Nhà xuất bản Đại học Quốc  
gia Hà Nội.  
[14] Nguyễn Hoàng Trí (1999), Sinh thái học rừng  
Tài liệu tham khảo  
ngập mặn, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.  
[1] Trần Quang Bảo, Nguyễn Văn Thị, Phạm Văn  
Duẩn (2014), Ứng dụng GIS trong quản lý tài  
nguyên thiên nhiên. Nhà xuất bản Nông nghiệp,  
Hà Nội.  
[15] Thái Văn Trừng (1999), Những hệ sinh thái rừng  
nhiệt đới ở Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học và  
Kĩ thuật, Tp. Hồ Chí Minh.  
N.H. Hanh, M.S. Tuấn / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
11  
Status of Mangrove Vegetation in Dong Rui Commune,  
Tien Yen District, Quang Ninh Province  
Nguyen Hoang Hanh1, Mai Sy Tuan2  
1Institute of Ecology and Works Protection  
2Hanoi University of Education  
Abstract: The methods as field survey, aerial photo analysis, Flycam were used for study and  
assess the current status of mangrove vegetation in Dong Rui commune, Tien Yen district, Quang  
Ninh province. The survey data was also used for distribution mapping of mangrove plant  
communities. A total of 144 plant species belonging to 115 genera, 53 families and two vascular plant  
divisions, including Pteriophyta and Magnoliophyta were recorded in Dong Rui mangroves and 16 of  
which are true mangroves species. Kandelia obovata, Rhizophora stylosa, Bruguiera gymnorrhiza,  
Avicennia spp., A. corniculatum, are dominant species in Dong Rui mangroves. Scirpus kimsonensis  
was identified as EN species based on the Red Data Book of Vietnam (2007). About 87.5% of the total  
species have potential in use such as as medicine and edible and ect.. 14 plant communities of Dong  
Rui mangroves was identified and mapped.  
Keywords: Mangrove forest, Dong Rui, plant communities.  
pdf 11 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 20780 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hiện trạng thảm thực vật ngập mặn xã đồng rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhien_trang_tham_thuc_vat_ngap_man_xa_dong_rui_huyen_tien_yen.pdf