Một số vấn đề về bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng cho lao động di cư vùng biên

Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật  
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH CHÍNH ĐÁNG  
CHO LAO ĐỘNG DI CƯ VÙNG BIÊN  
Nguyễn Hồng Nhung*  
TÓM TẮT  
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, xuất phát từ nhu cầu tìm kiếm cơ hội  
việc làm và cải thiện cuộc sống đã tạo nên sự gia tăng nhanh chóng của tình trạng di cư lao động  
quốc tế. Bên cạnh sự đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của cả nước xuất khẩu và nước nhập  
khẩu lao động, vấn đề này cũng tạo ra nhiều khó khăn, thách thức với việc thực thi pháp luật và bản  
thân người lao động di trú. Từ thực tiễn cho thấy, tính chất đặc thù về vị thế và quyền lợi của người  
lao động di cư tại vùng biên giới chưa được ghi nhận, quan tâm đúng mức dẫn đến tình trạng họ bị  
phân biệt đối xử, bóc lột, bị xâm phạm các quyền và lợi ích cơ bản. Bài viết tập trung phân tích thực  
trạng vấn đề lao động di cư quốc tế tại vùng biên nước ta hiện nay, qua đó đề xuất một số khuyến  
nghị trong quản lý, bảo vệ, hỗ trợ lao động Việt Nam di trú tại vùng tiếp giáp với đường biên giới  
trên đất liền của Việt Nam.  
Từ khóa: lao động di cư, pháp luật, tính chất đặc thù, văn kiện, vùng biên  
SOME ISSUES ON PROTECTING LEGITIMATE RIGHTS AND INTERESTS  
FOR BORDER MIGRANT WORKERS  
ABSTRACT  
In the trend of globalization and international economic integration, the need to seek  
employment opportunities and improve lives has created a rapid increase in international labor  
migration. Besides the positive contribution to the economic development of both the exporting  
country and the labor-importing country, this issue also creates many difficulties and challenges  
with law enforcement and migrant workers themselves. From reality shows, the specificity of the  
position and interests of migrant workers in the border areas has not been recognized, paid due  
attention. Resulting in discrimination, exploitation and infringement of basic rights and interests. The  
paper focuses on analyzing the current situation of international migration labor in the border areas  
of our country today. thereby proposing recommendations in anaging, protecting and supporting  
Vietnamese workers to migrate in areas adjacent to roads land border of Vietnam.  
Keywords: migrant workers, law, specific characteristics, documents, border areas  
* Phân hiệu Học viện phụ nữ Việt Nam. Email: [email protected]  
Điện thoại: 0908.013.550  
38  
Một số vấn đề về bảo vệ...  
1. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG DI  
CƯ QUỐC TẾ TẠI VÙNG BIÊN NƯỚC  
TA HIỆN NAY  
kiện cho các địa phương và nhân dân phát huy  
tiềm năng, thế mạnh để phát triển kinh tế với  
nhiều hình thức khác nhau. Biên giới giữa Việt  
Nam và các nước láng giềng được thông thương,  
việc xuất nhập cảnh qua lại biên giới dễ dàng,  
thuận lợi, đường biên giới dài, nhiều đường, lối  
mở, sông suối, địa hình phức tạp, hiểm trở cùng  
với nhiều cơ hội việc làm đã thu hút lao động  
Việt Nam di chuyển qua biên giới làm việc, trao  
đổi, buôn bán. Theo Hoàng Mạnh (2018) khoảng  
139.000 lao động Việt Nam thường xuyên qua  
lại biên giới trên bộ để tìm việc làm. Trong đó,  
địa bàn giáp Trung Quốc khoảng 100.000 người,  
Thái Lan khoảng 20.000 và Lào khoảng 13.000  
người...Hoạt động di trú quốc tế của lao động tại  
vùng biên với những tính chất đặc thù, đa dạng  
hơn so với các khu vực khác.  
Quyền của người lao động được coi là  
một trong những quyền cơ bản nhất trong phạm  
trù quyền con người đã được các quốc gia ghi  
nhận trong các văn bản pháp lý quốc tế và trong  
hệ thống pháp luật của từng nước. Việt Nam đã  
từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật nói  
chung, cũng như các chính sách liên quan đến  
việc ghi nhận, bảo đảm, bảo vệ quyền làm việc,  
tự do lựa chọn việc làm và các quyền cơ bản  
khác của người lao động Việt Nam cả trong nước  
và ở nước ngoài. Theo Bộ Lao động – Thương  
binh và xã hội (2015) có trên 500 ngàn lao động  
Việt Nam đang làm việc tại hơn 40 quốc gia và  
số lượng này có xu hướng tăng dần qua các  
năm. Giai đoạn 2016-2020, nước ta tiếp tục hội  
nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới, tạo điều kiện  
thúc đẩy việc thiết lập cơ cấu lao động theo định  
hướng thị trường, mang lại nhiều cơ hội thay  
đổi công việc và tăng thu nhập cho một bộ phận  
lớn lao động nông nghiệp.  
Lao động di cư có hai hình thức, lao động  
di cư nội địa và di cư quốc tế. Trong bài viết,  
khái niệm “lao động di cư” hay “lao động di  
trú” được sử dụng để chỉ những người ra nước  
ngoài làm việc. Bên cạnh đó, khái niệm “vùng  
biên” dùng để chỉ vùng tiếp giáp với đường  
biên giới trên đất liền của Việt Nam với các  
nước láng giềng.  
Việt Nam có vùng biên giới đất liền dài  
khoảng 4.610 km tiếp giáp ba nước Trung Quốc,  
Lào, Campuchia, nằm trên địa bàn 98 huyện  
thuộc 25 tỉnh; trên cả ba tuyến biên giới đều có  
các cửa khẩu thông thương với các nước láng  
giềng (trong đó, biên giới Việt-Trung có 4 cửa  
khẩu quốc tế, biên giới Việt –Lào có 7 cửa khẩu  
quốc tế, biên giới Việt Nam-Campuchia có 10  
cửa khẩu quốc tế) và tại một số khu vực đã hình  
thành khu kinh tế cửa khẩu (theo Bùi Xuân Đính  
và Nguyễn Ngọc Thanh, 2013). Các cửa khẩu  
quốc tế và các khu kinh tế cửa khẩu đã tạo điều  
Số liệu thu được từ mô hình hồi quy của  
Đặng Thị Hoa (2016) cho thấy ngoại trừ yếu tố  
yếu tố “Gia đình gặp khó khăn trong sản xuất do  
thiếu đất sản xuất/đất xấu” ít có ảnh hưởng đến  
khả năng lao động xuyên biên giới. Khả năng  
lao động xuyên biên giới tỉ lệ nghịch với độ tuổi,  
trình độ học vấn. Khi một cá nhân tăng thêm  
một tuổi, khả năng đi làm việc ở bên kia biên  
giới chỉ bằng 0,9 lần so với nhóm ít hơn 1 tuổi.  
Số liệu phân tích cũng khẳng định tình trạng lao  
động xuyên biên giới phổ biến ở các tỉnh phía  
Bắc so với các tỉnh khu vực miền Trung Việt  
Nam. Có nghĩa là tình trạng này phổ biến hơn ở  
các khu vực thuộc biên giới Việt Nam – Trung  
Quốc so với các khu vực biên giới khác.  
Về lĩnh vực lao động: tại vùng biên người  
lao động Việt Nam di cư sang nước ngoài làm  
việc trên các lĩnh vực như: lao động phổ thông,  
làm thuê tại các khu kinh tế cửa khẩu cho cá  
doanh nghiệp hoặc cá nhân trong các lĩnh vực  
như xây dựng, khai thác; lao động nông nghiệp  
có tính chất giản đơn, thủ công (như trồng, khai  
thác rừng, trồng-thu hoạch nông sản và các công  
việc liên quan đến sản xuất nông nghiệp,…);  
công việc giúp việc gia đình; hộ lý cho người  
lớn tuổi, mất sức lao động… Theo kết quả khảo  
39  
Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật  
Việt Nam sang Trung Quốc xuất phát từ chính  
sách hạn chế dân số, cùng tư tưởng trọng nam  
khinh nữ, lựa chọn giới tính khi sinh dẫn đến  
tình trạng thiếu hụt trầm trọng phụ nữ, một bộ  
phận lớn nam giới không lấy được vợ. Bên cạnh  
đó, theo Đặng Thị Hoa (2016), 15-23% lao động  
tình dục ở Campuchia có nguồn gốc từ Việt Nam  
với các cá nhân tham gia hoạt động mại dâm là  
tự nguyện hoặc bị bắt buộc, tuy nhiên nguyên  
nhân nợ nần là phổ biến nhất.  
Về hình thức đi làm việc, lao động: Theo  
Bùi Xuân Đính và Nguyễn Ngọc Thanh (2013),  
thông thường các lao động Việt Nam đi thành  
từng tốp 5-10 người, người dẫn đường là chủ  
thuê lao động, người môi giới hoặc tự đi. Đối  
với phương thức “tự đi”, do người lao động sau  
quá trình đi làm việc ở bên kia biên giới hay dựa  
vào các quan hệ (hôn nhân, huyết thống, bạn  
bè…) đã thông thuộc địa bàn, chủ động đến chủ  
thuê lao động tìm, nhận việc không cần qua vai  
trò của người môi giới.  
Về thời gian làm việc, một bộ phận lao  
động có thời gian làm việc ổn định, lâu dài.  
Bên cạnh đó, do đặc thù về vị trí địa lý, tại vùng  
biên phổ biến tình trạng lao động di cư làm việc  
ngắn ngày theo mùa vụ, thường xuyên trở về  
nước hàng ngày, hàng tuần hoặc tháng. Theo  
Bùi Xuân Đính và Nguyễn Ngọc Thanh (2013),  
thời gian làm thuê một đợt từ 1-2 tuần rồi về vì  
một số công việc như chặt mía, trồng rừng là các  
công việc nặng nhọc, rất tốn sức phải về để có  
thời gian dưỡng sức.  
Về vị thế pháp lý, một bộ phận người  
lao động lao động ra nước ngoài làm việc theo  
cách thức hợp pháp, thông qua các đơn vị dịch  
vụ việc làm; một số khác theo con đường bất  
hợp pháp, vi phạm các quy định về xuất, nhập  
cảnh và hầu hết không có giấy phép làm việc,  
hành nghề, không có hợp đồng lao động… Năm  
2017, tỉnh Điện Biên phát hiện 1.737 trường  
hợp xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc, tăng  
400 trường hợp so với năm 2016; Công an tỉnh  
tổ chức 25 đợt tiếp nhận 99 trường hợp xuất  
sát và phân tích của Đặng Thị Hoa (2016), phạm  
vi hoạt động kinh tế của các hộ gia đình vùng  
biên giới thường diễn ra trong phạm vi nội địa,  
xu hướng di cư nội địa và di cư xuyên biên giới  
của các gia đình như làm thuê 43,8%, công nhân  
26,6% và các lĩnh vực khác sản xuất nông lâm  
nghiệp, kinh doanh-dịch vụ. Thực tế này đã  
phản ánh tình trạng người dân ở vùng biên có  
nhu cầu tìm việc ở bên kia biên giới và đang dần  
trở thành xu hướng việc làm khá phổ biến tại  
vùng biên.  
Tiếp cận góc độ giới:  
Từ kết quả khảo sát và phân tích của Đặng  
Thị Hoa (2016) cho thấy khả năng đi làm việc ở  
vùng biên giới của nhóm nam giới cao hơn 2,2  
lần so với nhóm nữ giới. Đối với người đi làm  
thuê ở bên kia biên giới, đặc biệt là lao động nữ  
trong các công việc như giúp việc gia đình, hộ lý  
cho người lớn tuổi, mất sức lao động…tiềm ẩn  
nhiều rủi ro, nguy cơ cao với những tác động tiêu  
cực, mang lại hậu quả nghiêm trọng: bị quấy rối,  
làm dụng tình dục; bị lừa đảo, lợi dụng bán vào  
các ổ mại dâm, bán làm vợ, một số người mất  
tích; tình trạng ép buộc mang thai; lựa chọn giới  
tính thai nhi, nạo phá thai nhiều lần. Bên cạnh  
đó, trẻ em được sinh ra có nguyên nhân từ việc  
lừa đảo, buôn người, nô lệ tình dục…phải sống  
trong điều kiện thiếu thốn, không được đảm bảo  
những yêu cầu thiết yếu về chăm sóc y tế, giáo  
dục, không được khai sinh, những vấn đề liên  
quan các quyền của người mẹ Việt Nam đối với  
con. Bên cạnh đó, vấn đề buôn bán phụ nữ, trẻ  
em từ Việt Nam sang Trung Quốc, Campuchia  
và đến các quốc gia khác có xu hướng ngày càng  
gia tăng, diễn biến phức tạp ảnh hưởng đến đời  
sống và việc đảm bảo an ninh trật tự trên địa  
bàn. Hành lang kinh tế Đông Tây nối liền ba  
nước Việt Nam, Lào, Việt Nam đã góp phần làm  
gia tăng cả việc di cư và nạn buôn bán người.  
Theo Chấm dứt buôn bán người (2015), phụ nữ  
bị buôn bán sang Trung Quốc chiếm 70% tổng  
số phụ nữ bị buôn bán ra nước ngoài. Về nguyên  
nhân, tình hình buôn bán phụ nữ, trẻ em gái từ  
40  
Một số vấn đề về bảo vệ...  
trong đó có Khuyến nghị Diễn đàn ASEAN lần  
thứ 7 năm 2014 triển khai Tuyên bố của ASEAN  
về Bảo vệ và Thúc đẩy Quyền của lao động di  
cư đã đề cập nhiều giải pháp cụ thể, thiết thực  
góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc  
trong quản lý, bảo vệ quyền, lợi ích cho người  
lao động di cư nhưng đến nay chưa được triển  
khai thực hiện hiệu quả.  
Xuất phát từ nhu cầu của thị trường lao  
động các nước đã hình thành xu hướng nữ giới  
hóa lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc,  
nhưng hiện vẫn chưa có những chính sách, quy  
định dựa trên cơ sở giới hay gắn kết với bình  
đẳng giới nhằm bảo vệ quyền lợi và phúc lợi cho  
lao động nữ đi làm việc ở nước ngoài.  
Công tác quản lý dân cư của chính quyền  
cơ sở còn hạn chế; lực lượng chức năng làm  
công tác quản lý, tuần tra biên giới còn thiếu  
nên chưa ngăn chặn hiệu quả việc xuất cảnh trái  
phép sang các quốc gia khác lao động làm thuê.  
Đời sống kinh tế -xã hội tại vùng biên còn nhiều  
khó khăn, hạn chế về cơ hội việc làm, hoạt động  
lao động sản xuất thu nhập chưa ổn định, chưa  
đảm bảo đời sống. Hệ thống y tế, giáo dục, bảo  
trợ xã hội và các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ người  
lao động nói chung và người lao động di cư nói  
riêng chưa phát triển.  
Trong pháp luật Việt Nam, theo Luật  
người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước  
ngoài (2006) đối với các hình thức theo người  
Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp  
đồng với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ, tổ  
chức sự nghiệp; doanh nghiệp trúng thầu, nhận  
thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài;  
Hợp đồng theo hình thức thực tập nâng cao tay  
nghề với doanh nghiệp: được quy định cụ thể về  
quyền, nghĩa vụ của các chủ thể là doanh nghiệp,  
tổ chức cá nhân làm cơ sở để giám sát, thực hiện  
các chế tài đảm bảo cho quá trình thực hiện như  
tổ chức bồi dưỡng kiến thức cho người lao động  
trước khi đi làm việc; tổ chức quản lý, bảo vệ  
quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động đi  
làm việc ở nước ngoài; bảo đảm các điều kiện  
cảnh trái phép bị bắt trả về địa phương (dẫn theo  
Lam Hạnh, 2017). Cũng trong năm 2017, trên  
địa bàn tỉnh Nghệ An có 12.408 người lao động  
đang làm việc ở vùng biên giới không có hợp  
đồng theo quy định của Luật Người lao động  
Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài như: Lào -  
5.693 người; Trung Quốc - 5.488 người; Thái  
Lan - 564 người; Campuchia - 663 người (dẫn  
theo nhóm P.V, 2017). Vị thế pháp lý bất hợp  
pháp đã tạo cho họ nhiều khó khăn, rủi ro như  
không được trả tiền công, bị trục xuất về nước  
do không đủ giấy tờ hợp pháp; bị lực lượng chức  
năng nước sở tại bắt, giam giữ, phạt tiền. Đặc  
biệt là dễ bị các đối tượng xấu lợi dụng lừa đảo,  
tiềm ẩn nhiều hệ lụy khác khi tính mạng, tài sản  
khi không được pháp luật bảo hộ. Tình trạng  
người lao động vượt biên trái phép có nhiều diễn  
biến phức tạp đã ảnh hưởng an ninh trật tự và  
đời sống của nhân dân trên địa bàn.  
Từ một số phân tích từ thực trạng lao động  
di cư quốc tế tại vùng biên nước ta cho thấy,  
những vấn đề phát sinh từ thực tiễn phản ánh  
tính chất đặc thù, sự đa dạng về vị thế và những  
vấn đề bảo vệ lao động di cư quốc tế tại vùng  
biên đang có xu hướng gia tăng nhưng chưa có  
hành lang pháp lý chặt chẽ dẫn đến tình trạng  
người lao động (nhất là lao động nữ, trẻ em) bị  
xâm phạm các quyền, lợi ích cơ bản.  
2. ĐÁNH GIÁ VỀ NHỮNG HẠN CHẾ  
CỦA LAO ĐỘNG DI CƯ QUỐC TẾ TẠI  
VÙNG BIÊN NƯỚC TA HIỆN NAY  
2.1. Hạn chế  
Quản lý quá trình di cư lao động và bảo vệ  
lao động di cư, nhất là tại vùng biên là yêu cầu  
tất yếu và rất cần thiết, tuy nhiên vấn đề này yêu  
cầu sự hợp tác chặt chẽ của nhiều quốc gia liên  
quan, nhất là các quốc gia nhận và gửi lao động.  
Trên thực tế, một số quốc gia nhận lao động  
không hưởng ứng sự kêu gọi hợp tác trong cải  
thiện khuôn khổ pháp luật, cụ thể như trong cải  
thiện điều kiện sống và làm việc cho người lao  
động, xử lý vi phạm pháp luật (tệ buôn người,  
lừa đảo,…). Mặc dù một số văn kiện quốc tế,  
41  
Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật  
2.2. Một số nguyên nhân  
lao động, sinh hoạt, bảo hiểm xã hội; phối hợp  
bên nước ngoài giải quyết những vấn đề phát  
sinh khi người lao động chết, bị tai nạn lao động,  
tai nạn rủi ro, bị bệnh nghề nghiệp, bị xâm hại  
sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, tài  
sản… Tuy nhiên, đối với hình thức người Việt  
Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cá  
nhân, vấn đề quyền và nghĩa vụ của người lao  
động chỉ gắn với các cơ quan chức năng như:  
Sở Lao động -Thương binh và xã hội, cơ quan  
đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước  
ngoài để được bảo vệ các quyền, lợi ích hợp  
pháp; được tư vấn, hỗ trợ thực hiện các quyền,  
lợi ích trong hợp đồng cá nhân. Với những hạn  
chế, khó khăn đặc thù của khu vực vùng biên,  
các quy định vừa nêu chưa thực sự khả thi trong  
hỗ trợ, bảo vệ người lao động khi đi làm việc  
theo hình thức hợp đồng cá nhân.  
Theo Bùi Xuân Đính và Nguyễn Ngọc  
Thanh (2013), dân cư sống hai bên biên giới đa  
phần là các dân tộc ít người; bên cạnh đó, các  
tỉnh biên giới tỉ lệ hộ nghèo còn cao, tỉ lệ hộ  
nghèo ở các huyện biên giới đều cao hơn so với  
các huyện xa biên giới, tỉ lệ phát sinh nghèo và  
cận nghèo vùng biên giới, vùng đồng bào DTTS  
cao hơn vùng xa biên giới và vùng người Việt.  
Tình trạng thiếu việc làm, thu nhập thấp, đời  
sống kinh tế khó khăn là những yếu tố thúc đẩy  
người dân đi làm việc bên kia biên giới.  
Tâm lý gắn với nông nghiệp, làng bản và  
tạo nên sự e ngại trước cơ hội việc làm tại địa  
bàn khác như đô thị hay xuất khẩu lao động.  
Đồng thời tác phong sống, lao động thiếu kỷ luật  
của người lao động nhỏ tác động đến tính ổn  
định, bền vững trong việc làm tại các khu vực  
chính thức như doanh nghiệp, trang trại.  
Thủ tục xuất khẩu lao động cồng kềnh,  
Sự dư thừa lao động nông nghiệp trong  
thời kỳ nông nhàn đã đáp ứng nhu cầu lao động  
phổ thông ở các vùng sản xuất nông lâm nghiệp  
hàng hóa của các quốc gia láng giềng ở biên  
giới, việc làm thuê ở nước láng giềng đối với  
đồng bào dân tộc thiểu số lại có ưu thế: địa bàn  
gần hơn so với đô thị, có cảnh quan làng-bản  
miền núi tạo tâm lý yên tâm khi làm việc (theo  
Bùi Xuân Đính và Nguyễn Ngọc Thanh, 2013).  
Về điều kiện tự nhiên các vùng biên có  
địa hình chia cắt phức tạp, dân cư phân tán, giao  
thông đi lại khó khăn tạo ra áp lực và nhiều khó  
khăn, hạn chế trong quản lý, theo dõi diễn biến,  
hỗ trợ các tình huống khẩn cấp liên quan đến lao  
động di cư trên địa bàn  
nhiều chi phí trung gian và các khoản đóng góp  
cho đơn vị tuyển dụng, mạng lưới môi giới như:  
tiền môi giới, tiền ký quỹ, tiền dịch vụ (theo Bộ  
Lao động-Thương binh và xã hội-Bộ Tài chính,  
2007); ngoài ra còn tiềm ẩn nguy cơ không an  
toàn khi người lao động có trình độ hiểu biết  
thấp, ít có cơ hội tiếp cận một cách đầy đủ, cập  
nhật với những thông tin chính sách, pháp luật.  
Bộ Lao động Thương binh & xã hội Việt  
Nam đã hỗ trợ, hướng dẫn cho 7 tỉnh giáp biên  
phía Bắc ký biên bản ghi nhớ với các tỉnh của  
Trung Quốc để đảm bảo quản lý và tạo điều kiện  
cho lao động qua lại làm việc và cũng nhằm  
tránh những rủi ro không đáng có (theo Hoàng  
Mạnh, 2018). Sự hợp tác giữa các tỉnh đã tạo  
điều kiện cho người lao động vùng giáp biên có  
giấy tờ thông hành hợp pháp, việc đi hay ở đều  
được hai bên kiểm tra, giám sát, lương bổng của  
người lao động được trả đúng hợp đồng. Tuy  
nhiên, đây mới chỉ là biện pháp mang tính chất  
tình thế, về lâu dài, cần có hành lang pháp lý  
thống nhất và quy định rõ ràng trong phối hợp sẽ  
tạo điều kiện quản lý chặt chẽ cả người lao động  
và chủ sử dụng lao động.  
3. MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ  
Một là, vấn đề cốt lõi nhất đóng vai trò  
chủ đạo chính là tạo sự chuyển biến về nhận  
thức và hành động của bản thân người lao động  
song song với việc tăng cường khả năng bảo vệ  
họ cũng chính là đảm bảo lợi ích cho các bên  
liên quan. Trong đó, cần tiếp tục phát huy vai trò  
trách nhiệm của các cơ quan Chính phủ, chính  
quyền địa phương và các tổ chức chính trị-xã  
42  
Một số vấn đề về bảo vệ...  
và duy trì hoạt động hiệu quả các dịch vụ hỗ trợ,  
tư vấn xã hội.  
hội, phát huy vai trò những người có uy tín trong  
cộng đồng, nhất là cộng đồng của đồng bào dân  
tộc thiểu số để tiếp cận, phối hợp thực hiện nỗ  
lực trang bị cho người lao động di cư vùng biên  
kiến thức, thông tin về quyền lợi, những rủi ro,  
nguy cơ mà họ cần biết; đào tạo ở nhiều mức độ,  
cấp độ khác nhau tùy thuộc theo điều kiện cụ thể  
để giúp họ thích nghi điều kiện sống, làm việc  
ở nước ngoài; hỗ trợ họ khả năng kết nối, tiếp  
cận với các kênh, địa chỉ trợ giúp trong những  
trường hợp khẩn cấp.  
Ba là, tiếp tục quan tâm cụ thể hóa các  
giải pháp thực hiện Tuyên bố của ASEAN về  
Bảo vệ và thúc đẩy quyền của lao động di cư để  
tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quản  
lý, bảo vệ quyền, lợi ích cho người lao động di  
cư tại vùng biên. Cụ thể như: yêu cầu chuẩn hóa  
Hợp đồng lao động với các điều khoản, điều  
kiện rõ ràng về việc làm, quyền lợi và trách  
nhiệm của nam, nữ lao động di cư và người sử  
dụng lao động, chú trọng các ngành nghề, lĩnh  
vực mà người lao động dễ bị tổn thương hoặc  
khó tiếp cận như hộ lý, giúp việc gia đình. Xử  
phạt nghiêm người sử dụng lao động không tuân  
thủ các điều khoản đã ký kết trong hợp đồng  
lao động cũng như pháp luật về lao động, dữ  
liệu thông tin về những chủ sử dụng lao động vi  
phạm này phải được các quốc gia thành viên của  
ASEAN lưu giữ trong cơ sở dữ liệu quốc gia.  
Các dịch vụ một cửa và trung tâm hỗ trợ người  
lao động di cư cần được thành lập tại cấp địa  
phương, cấp quốc gia và khu vực để bảo đảm cơ  
chế tốt hơn trong công tác bảo vệ lao động di cư.  
Bốn là, bên cạnh việc xây dựng, bổ sung  
Hai là, trong pháp luật Việt Nam, cụ thể là  
Luật lao động và các văn bản dưới luật cần xem  
xét khả năng bổ sung việc thừa nhận tính chất  
đặc thù và sự đa dạng về nguồn gốc, vị thế của  
người lao động di cư một cách phù hợp để đảm  
bảo các quyền, lợi ích chính đáng của họ. Trên  
cơ sở đó xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hành  
lang pháp lý để đảm bảo các quyền và lợi ích  
cơ bản liên quan đến những khía cạnh người lao  
động thường gặp khó khăn và dễ dẫn đến những  
tổn thương nghiêm trọng như: quyền về giấy tờ  
tùy thân, về tiếp cận hệ thống tư pháp, các quyền  
về dịch vụ y tế, xã hội thiết yếu nhất là đối với  
phụ nữ mang thai, trẻ em được sinh ra do lừa  
đảo, buôn người, nô lệ tình dục… và quan tâm  
đến đối tượng lao động nữ trong các công việc  
như phụ giúp việc gia đình, hộ lý.  
chính sách, pháp luật cần quan tâm xây dựng cơ  
chế giám sát, chế tài và động viên, khuyến khích  
cụ thể để đảm bảo quá trình thực hiện đồng bộ,  
hiệu quả nhất là trong đặc thù vùng biên giới,  
miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng cao. Hoàn  
thiện cơ chế khiếu nại trong đó có thông tin để  
liên hệ trong trường hợp cần thiết, hệ thống trợ  
giúp pháp lý để khiếu nại.  
Các quy định của pháp luật Việt Nam đối  
với xuất khẩu lao động theo hợp đồng có các chi  
phí: tiền môi giới, tiền ký quỹ, tiền dịch vụ…  
không phù hợp và không mang tính khả thi với  
mức sống, thu nhập thực tế của người lao động  
nông nghiệp vùng biên, cần quan tâm nghiên  
cứu quy định đặc thù phù hợp hơn nhằm giảm  
thiểu tình trạng lao động di cư bất hợp pháp.  
Cần bổ sung những chính sách, quy định  
dựa trên cơ sở giới hay gắn kết với bình đẳng  
giới nhằm bảo vệ quyền lợi và phúc lợi cho lao  
động nữ đi làm việc ở nước ngoài. Xây dựng  
tài liệu, cơ chế tuyên truyền vận động, thông tin  
nhạy cảm giới thông qua: cơ hội việc làm, dạy  
nghề, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, phát triển  
Năm là, lao động di cư quốc tế nói chung  
và tại vùng biên nói riêng vẫn có xu hướng gia  
tăng trong thời gian tới. Theo Hoàng Mạnh  
(2018) nếu Việt Nam có thể cùng Thái Lan thống  
nhất cơ chế nâng thời hạn visa lên 2 năm thì cơ  
hội làm việc của lao động Việt Nam tại Thái Lan  
sẽ là 50.000 người (hiện nay là 20.000 người).  
Do đó, Việt Nam cần tiếp tục thúc đẩy đàm phán  
và thực hiện ký kết các thỏa thuận song phương  
với các quốc gia bên cạnh việc tiếp tục duy trì,  
43  
Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Asean. (2014). Khuyến nghị diễn đàn Asean lần  
thứ 7 về lao động di cư.  
đảm bảo chất lượng, hiệu quả thực thi của hoạt  
động ký kết thỏa thuận giữa các tỉnh trong nước  
với các nước láng giềng.  
Bùi Xuân Đính & Nguyễn Ngọc Thanh.  
(2013). Một số vấn đề cơ bản về kinh tế các  
vùng biên giới Việt Nam hiện nay. Hà Nội:  
Nxb Khoa học xã hội.  
Đặng Thị Hoa. (2016). Hôn nhân xuyên biên  
giới với phát triển xã hội. Hà Nội: Nxb Khoa  
học xã hội.  
Chấm dứt buôn bán người: Dự án Liên minh các  
tổ chức Liên hợp quốc về phòng chống buôn  
bán người Việt Nam– UNIAP. (2015). Lấy từ  
ban-nguoi-du-an-lien-minh-cac-to-chuc-lien-  
hop-quoc-ve-phong-chong-buon-ban-nguoi-  
viet-nam-uniap/  
Bộ Lao động-Thương binh và xã hội – Bộ  
Tài chính. (2007). Thông tư liên tịch số  
16/2007/TTLT-BLĐTBXH-BTC quy định cụ  
thể về tiền môi giới và tiền dịch vụ trong  
hoạt động đưa lao động Việt Nam đi làm  
việc ở nước ngoài theo hợp đồng, ban hành  
ngày 04/9/2007.  
4. KẾT LUẬN  
Bài viết tập trung xem xét những thách  
thức cần được quan tâm trong vấn đề lao động  
di cư quốc tế tại vùng biên trong thời gian qua  
với mong muốn hướng đến những chính sách  
lâu dài, giải quyết căn cơ những khó khăn đang  
đặt ra. Trong đó, vấn đề giới mặc dù chưa được  
phân tích sâu nhưng đã phản ánh những thực  
trạng cần được quan tâm cải thiện trong điều  
kiện, ngành nghề lao động, làm việc dễ tổn  
thương và những vụ việc thực tế đau lòng đang  
diễn ra tại vùng biên.  
Nhân dân các địa bàn giáp biên, trong đó  
người lao động đóng vai trò then chốt, là lực  
lượng quan trọng trong bảo vệ đường biên, mốc  
giới của Tổ quốc. Do vậy, việc quan tâm, ghi  
nhận tính chất đặc thù, đa dạng về vị thế và vấn  
đề bảo vệ quyền lợi của lao động di cư quốc tế  
trên địa bàn là hết sức cần thiết để góp phần phát  
triển kinh tế-xã hội vùng biên.  
Bài viết cũng đã đề xuất một số giải pháp  
trong cơ chế, chính sách một số khuyến nghị  
trong quản lý, bảo vệ, hỗ trợ lao động di cư vùng  
biên hướng đến việc tạo sự quan tâm, hỗ trợ cho  
các đối tượng lao động di cư tại vùng tiếp giáp  
biên giới để đảm bảo những quyền con người cơ  
bản, tránh những tổn thương về tính mạng, tài  
sản. Tuy nhiên, giải pháp lâu dài, bền vững bên  
cạnh xu hướng di cư lao động tự phát sang biên  
giới hiện nay phải là việc khuyến khích các địa  
phương đầu tư tạo việc làm tại chỗ thông qua  
thu hút, phát triển các mô hình, chương trình, dự  
án thúc đẩy phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội  
vùng biên; tiếp tục hỗ trợ nhân dân địa phương,  
đồng bào dân tộc thiểu số ổn định sản xuất, áp  
dụng được khoa học kỹ thuật, tạo việc làm và  
thu nhập bền vững từ đó góp phần quan trọng  
trong bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn  
xã hội tại khu vực trọng điểm như các vùng biên  
giới nước ta.  
Bộ Lao động-Thương binh và xã hội – Bộ Tài  
chính. (2007). Thông tư liên tịch số 17/2007/  
TTLT-BLĐTBXH-BTC quy định việc quản lý  
và sử dung tiền ký quỹ của doanh nghiệp và  
tiền ký quỹ của người lao động Việt Nam đi  
làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, ban  
hành ngày 04/9/2007.  
Bộ Lao động-Thương binh và xã hội – Bộ Tài  
chính. (2009). Thông tư liên tịch số 31/2009/  
TTLT-BLĐTBXH-BTC hướng dẫn thi hành  
Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg, ban hành  
ngày 09/9/2009.  
Bộ Lao động-Thương binh và xã hội. (2015).  
Những thành tựu nổi bật trong lĩnh vực lao  
động, người có công và xã hội giai đoạn 2011  
Pages/chitiettin.aspx?IDNews=24052  
Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc. (1990). Công  
ước quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả những  
người lao động di trú và các thành viên gia  
đình họ.  
44  
Một số vấn đề về bảo vệ...  
Đỗ Ngân Bình & Nguyễn Thị Bích. (2012). Tra  
cứu Bộ luật lao động 2012 và các văn bản  
hướng dẫn thi hành. Hà Nội: Nxb Lao động  
xã hội.  
Lam Hạnh. (ngày 13 tháng 4 năm 2018). Hệ lụy  
từ ‘canh bạc’ lao động ‘chui’ vùng biên: Chờ  
giấy thông hành hợp pháp. Báo Pháp luật. Lấy  
canh-bac-lao-dong-chui-vung-bien-cho-giay-  
thong-hanh-hop-phap-388231.html  
Hoàng Mạnh. (ngày 05 tháng 6 năm 2018).  
Khoảng 100.000 lao động vùng biên sang  
Trung Quốc tìm việc. Báo Dân trí. Lấy từ:  
100000-lao-dong-vung-bien-sang-trung-  
quoc-tim-viec-20180605124910371.htm  
Nhóm P.V. (ngày 10 tháng 11 năm 2017). Hơn  
12.000 lao động dịch chuyển qua biên giớiBáo  
hon-12000-lao-dong-dich-chuyen-qua-bien-  
gioi-569314.ldo  
Thủ tướng Chính phủ. (2015). Quyết định 964/  
QĐ-TTg về Chương trình phát triển thương  
mại miền núi, vùng sâu, vùng xa và hải đảo  
giai đoạn 2015-2020, ban hành ngày 30 tháng  
06 năm 2015.  
Thủ tướng Chính phủ. (2009). Quyết định số  
71/2009/QĐ-TTG của phê duyệt đề án hỗ  
trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao  
động góp phần giảm nghèo bền vững giai  
đoạn 2009-2020, ban hành ngày 29 tháng 04  
năm 2009.  
Trung tâm nghiên cứu quyền con người, quyền  
công dân. (2009). Bảo vệ người lao động di  
trú, tập hợp các văn kiện quan trọng của  
quốc tế, khu vực ASEAN và của Việt Nam  
liên quan đến vị thế và việc bảo vệ người lao  
động di trú. Hà Nội: Nxb Lao động.  
Trung tâm nghiên cứu quyền con người, quyền  
công dân. (2011). Lao động di trú trong pháp  
luật quốc tế và Việt Nam. Hà Nội: Nxb Lao  
động xã hội.  
Hội Luật gia Việt Nam. (2008). Những điều  
cần biết về lao động di trú. Hà Nội: Nxb  
Hồng Đức.  
45  
pdf 8 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 15440 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số vấn đề về bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng cho lao động di cư vùng biên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_van_de_ve_bao_ve_quyen_loi_ich_chinh_dang_cho_lao_don.pdf