Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đói nghèo của các nông hộ ở huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình

TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 68, 2011  
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐÓI NGHÈO  
CỦA CÁC NÔNG HỘ Ở HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH  
Lê Văn Dũng, Nguyễn Quang Trường  
Trường Trung cấp Kinh tế Quảng Bình  
TÓM TẮT  
Công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình trong những năm  
qua đã có nhiều kết quả khả quan (tỷ lệ hộ nghèo bình quân hàng năm giảm 3,7%). Tuy nhiên,  
tỷ lệ hộ nghèo vẫn đang còn cao (24,12% năm 2011), nguy cơ hộ bị nghèo rất lớn (trên 22,5%  
hộ thuộc diện cận nghèo).  
Kết quả nghiên cứu cho thấy đối với những hộ nghèo, số lao động chính, vốn dùng cho  
sản xuất kinh doanh và trình độ văn hóa của chủ hộ thấp hơn những hộ không thuộc diện hộ  
nghèo.  
Có nhiều nhân tố làm cho người nông dân rơi vào diện hộ nghèo. Trong đó có các nhân  
tố thuộc về đặc điểm của hộ, kết quả nghiên cứu cho thấy, những hộ dân sống ở vùng miền núi  
và là người dân tộc Vân Kiều có nguy cơ lớn nhất, tiếp đến là những hộ thuần nông, những hộ  
thiếu lao động, thiếu vốn.  
Để đạt được mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân 2%/năm của huyện Quảng Ninh  
giai đoạn 2011 - 2015, các giải pháp để xóa đói giảm nghèo cần triển khai thực hiện theo định  
hướng: (1) Gắn giảm nghèo với đẩy mạnh tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội; (2) Nâng  
cao năng lực sản xuất của người nghèo, tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận với các dịch vụ  
sản xuất tự vươn lên thoát nghèo.  
1. Mở đầu  
Quảng Ninh là một huyện nằm trong khu vực các tỉnh duyên hải miền Trung,  
nơi thường xuyên bị thiên tai đe dọa. Trong những năm qua nhờ công tác xoá đói giảm  
nghèo, tỷ lệ hộ nghèo trong huyện đã giảm. Tuy nhiên hiện nay tỷ lệ hộ nghèo còn khá  
cao, tỷ lệ hộ nghèo giảm chưa vững chắc. Điều kiện sống như đường sá, văn hóa, giáo  
dục, y tế đang khó khăn đặc biệt là ở các xã miền núi, người dân tộc Vân Kiều. Vì vậy  
xóa đói giảm nghèo đang là mối quan tâm lớn của địa phương.  
Do nguồn lực dành cho công tác xóa đói giảm nghèo có hạn, ngoài việc xác định  
số người nghèo là một nội dung quan trọng để định hướng chính sách giảm nghèo, thì  
việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo đói nhất là các yếu tố đặc điểm của  
hộ gia đình là một vấn đề cần thiết.  
17  
Xuất phát từ những vấn đề nên trên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu các nhân  
tố ảnh hưởng đến đói nghèo của các nông hộ ở huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.  
Với mục đích là đánh giá thực trạng nghèo đói, tìm hiểu những nguyên nhân  
chính dẫn đến sự nghèo đói của các hộ gia đình, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp với  
điều kiện kinh tế - xã hội của huyện, nhằm góp phần xóa đói, giảm nghèo.  
Để đạt được mục đích trên, nghiên cứu đã tập trung phân tích số liệu thứ cấp và  
tiến hành điều tra 180 hộ theo phương pháp chọn mẫu phân loại. Cụ thể: căn cứ đặc  
điểm địa hình của huyện, đầu tiên chúng tôi tiến hành chọn 3 xã đại diện cho 3 tiểu  
vùng sinh thái đó là miền núi, ven biển và đồng bằng (xã Trường Xuân, Hải Ninh, Hiền  
Ninh). Trong giai đoạn thứ hai, ở mỗi xã chọn ra 2 thôn. Các thôn được chọn là thôn có  
tỷ lệ hộ nghèo ở mức trung bình trong xã. Sau đó số hộ nghèo và không nghèo của mỗi  
thôn được chọn theo tỷ lệ hộ nghèo trong thôn đó. Hộ điều tra được chọn ngẫu nhiên  
theo khoảng cách trong danh sách từng loại hộ của từng thôn. Hộ đầu tiên được chọn  
bằng hình thức bốc xăm ngẫu nhiên. Kết quả có 87 hộ không nghèo và 93 hộ nghèo  
được chọn. Quá trình điều tra được tiến hành bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp với  
tập câu hỏi đã được chuẩn bị trước[2]. Phương pháp phân tích chủ yếu là thống kê mô tả  
và phân tích hồi quy.  
2. Kết quả nghiên cứu  
2.1. Thực trạng hộ nghèo ở huyện Quảng Ninh  
2.1.1. Số lượng và tỷ lệ hộ nghèo giai đoạn 2006 - 2011  
Nhờ công tác xóa đói giảm nghèo triển khai nên tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ  
32,4% năm 2006 còn 14,0% năm 2010 (bình quân mỗi năm tỷ lệ hộ nghèo giảm 3,7%)  
[4]. Tỷ lệ hộ nghèo ở các vùng sinh thái cũng khác nhau. Cao nhất là ở vùng núi, tiếp  
đến là ven biển.  
Bảng 1. Số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo ở huyện Quảng Ninh thời kỳ 2006 - 2011  
Phân theo vùng  
Năm  
Tổng số  
Vùng  
Vùng  
Vùng  
đồng bằng  
miền núi  
ven biển  
1. Số hộ nghèo  
2006  
6.652  
4.248  
3.747  
3.247  
2.970  
5.432  
5.489  
3.418  
3.014  
2.628  
2.420  
4.373  
817  
591  
504  
476  
434  
791  
346  
239  
229  
143  
116  
268  
2007  
2008  
2009  
2010  
2011  
18  
2. Tỷ lệ hộ nghèo  
2006  
32,4  
19,7  
17,3  
15,3  
14,0  
24,12  
29,7  
17,8  
15,4  
14,0  
12,9  
21,9  
67,4  
43,6  
43,2  
33,0  
30,1  
53,6  
41,2  
26,2  
23,8  
18,2  
15,0  
24,7  
2007  
2008  
2009  
2010  
2011  
Nguồn: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Quảng Ninh.  
Tuy nhiên tỷ lệ hộ nghèo của huyện còn cao hơn mức bình quân chung của toàn  
tỉnh Quảng Bình (tỷ lệ hộ nghèo năm 2010 toàn tỉnh là 11,27% [5], giảm nghèo vẫn  
chưa bền vững (trung bình hàng năm có trên 600 hộ tái nghèo) [3]. Đồng thời nếu áp  
dụng theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011 - 2015 của Chính phủ thì năm 2011 sẽ có trên  
5.400 hộ nghèo (tỷ lệ hộ nghèo là 24,12%) và 5.060 hộ cận nghèo [4]. Điều đó đặt ra  
yêu cầu cần phải có những giải pháp hữu hiệu hơn nữa để thực hiện công tác xóa đói  
giảm nghèo ở địa phương, đặc biệt là đối với các xã vùng núi, ven biển.  
2.1.2. Một số đặc trưng của các hộ nghèo  
2.1.2.1. Lao động  
Lao động bình quân của nhóm hộ nghèo ít hơn nhóm hộ không nghèo (kiểm  
định T so sánh giá trị trung bình lao động 2 loại hộ có mức ý nghĩa lớn hơn 95%), cụ thể  
những hộ nghèo bình quân mỗi hộ có 1,86 lao động, trong khi đó những hộ không  
nghèo là 2,51 lao động. Sự khác biệt này thể hiện rõ ở cả 3 vùng sinh thái.  
Ở vùng đồng bằng, bình quân mỗi hộ nghèo có 1,77 lao động, hộ không nghèo  
có 2,21 lao động; ven biển, hộ nghèo có 1,56 lao động và hộ không nghèo có 2,64 lao  
động; còn ở miền núi hộ nghèo ít hơn hộ không nghèo 0,71 lao động.  
Bảng 2. Lao động chính theo loại hộ và theo vùng sinh thái  
Hộ nghèo  
Hộ không nghèo  
Số hộ Tỷ lệ (%)  
Số lao động trong hộ  
Số hộ  
Tỷ lệ (%)  
100,0  
15,4  
Vùng miền núi  
Không có lao động  
Từ 1 đến 2 lao động  
Trên 2 lao động  
39  
6
21  
0
100,0  
0
17  
16  
43,6  
7
33,3  
66,7  
41,0  
14  
Trung bình (l. động)  
Vùng đồng bằng  
2,15  
2,86 ***  
22  
1
100,0  
4,5  
38  
0
100,0  
0
Không có lao động  
Từ 1 đến 2 lao động  
19  
86,4  
26  
68,4  
19  
Trên 2 lao động  
Trung bình (l. động)  
Vùng ven biển  
2
9,1  
12  
31,6  
1,77  
1,56  
1,86  
2,21 **  
2,64 ***  
2,51 ***  
32  
7
100,0  
21,9  
62,5  
15,6  
28  
0
100,0  
0
Không có lao động  
Từ 1 đến 2 lao động  
Trên 2 lao động  
20  
5
12  
16  
42,9  
57,1  
Trung bình (l. động)  
Bình quân  
93  
14  
56  
23  
100,0  
15,1  
60,2  
24,7  
87  
0
100,0  
0
Không có lao động  
Từ 1 đến 2 lao động  
Trên 2 lao động  
45  
42  
51,7  
48,3  
Trung bình (l. động)  
Ghi chú: **, ***: Có ý nghĩa thống kê tương ứng các mức 95%, 99%.  
Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả.  
So sánh 2 loại hộ theo các quy mô lao động cho thấy, số hộ nghèo có liên quan  
mật thiết với số lao động trong hộ. Trong số 14 hộ điều tra không có lao động, hầu hết là  
những hộ bị nghèo, trong khi đó tỷ lệ hộ có trên 2 lao động rơi vào nghèo chỉ có 35%  
(23 hộ/65 hộ). Trong số các hộ nghèo được điều tra chúng ta vẫn có kết quả hộ nghèo  
tập trung ở nhóm hộ có 1 đến 2 lao động (chiếm 60,2%), hộ có từ 3 lao động trở lên chỉ  
chiếm 24,7%.  
Từ kết quả phân tích trên có thể nói, nhóm hộ có số lao động càng cao thì số hộ  
nghèo càng giảm, đặc biệt là những hộ không có lao động hoàn toàn là những hộ bị  
nghèo.  
2.1.2.2. Vốn cho sản xuất kinh doanh  
Kết quả điều tra cho thấy trên 49,4% số hộ không nghèo có số vốn trên 10 triệu  
đồng, trong khi đó 50,5% số hộ nghèo có số vốn dưới 3 triệu đồng và không có hộ  
nghèo nào có tổng số vốn trên 10 triệu đồng. Số vốn của hộ nghèo ít hơn các hộ không  
nghèo ở tất cả các vùng sinh thái cũng như bình quân chung (kiểm định T cho mức ý  
nghĩa lớn hơn 95%). Bình quân mỗi hộ nghèo điều tra có vốn bình quân là 3,156 triệu  
đồng và hộ không nghèo là 11,719 triệu đồng. Ở vùng miền núi vốn dùng cho sản xuất  
của các hộ nông dân nghèo thấp hơn của hộ nghèo ở vùng đồng bằng và ven biển. Tích  
lũy hạn chế, cùng với tập quán sản xuất lạc hậu của người Vân Kiều đã là nguyên nhân  
các hộ không đầu tư cho tài sản sản xuất. Nhiều hoạt động của người dân thực hiện  
bằng thủ công.  
20  
Bảng 3. Vốn dùng cho sản xuất kinh doanh của các loại hộ  
Đơn vị tính: triệu đồng  
Vùng  
Vùng miền núi  
Hộ nghèo  
2,262  
Hộ không nghèo  
7,212 ***  
Vùng đồng bằng  
Vùng ven biển  
Bình quân  
3,053  
9,389 ***  
18,263 ***  
11,719 ***  
4,318  
3,156  
Ghi chú: ***: Có ý nghĩa thống kê 99%.  
Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, năng lực sản xuất của các hộ nghèo hạn chế rất  
nhiều so với những hộ không nghèo. Bên cạnh đó tỷ lệ người ăn theo trong các hộ  
nghèo lại cao hơn những hộ không nghèo. Những khác biệt này sẽ ảnh hưởng đến kết  
quả sản xuất và thu nhập của các thành viên trong hộ.  
2.1.2.3. Trình độ văn hóa của chủ hộ  
Trình độ văn hóa của chủ hộ có ảnh hưỏng rất lớn trong việc tiếp thu khoa học  
kỹ thuật, đến quá trình tổ chức điều hành sản xuất cũng như chi tiêu của hộ [6]. Kết quả  
điều tra tổng hợp ở bảng 3.10 cho thấy trình độ của những hộ nghèo thấp hơn nhiều so  
với những hộ không nghèo. Trình độ trung bình của chủ hộ là nghèo là lớp 5 còn những  
hộ không nghèo là lớp 8.  
Bảng 4. Trình độ văn hóa của chủ hộ  
Hộ nghèo  
Hộ không nghèo  
Số hộ Tỷ lệ (%)  
5,7  
Trình độ chủ hộ  
Chưa tốt nghiệp TH  
Số hộ  
Tỷ lệ (%)  
34  
36  
20  
3
36,6  
38,7  
21,5  
3,2  
5
Tốt nghiệp TH  
25  
31  
26  
28,7  
35,6  
29,9  
Tốt nghiệp THCS  
Tốt nghiệp THPT  
Trung bình (năm)  
5,11  
8,05 ***  
Nguồn: Số liệu điều tra năm 2006.  
Sự khác biệt về trình độ văn hóa giữa hộ nghèo và không nghèo cho thấy học  
vấn có mối quan hệ rất chặt chẽ với tình trạng đói nghèo. Và việc nâng cao trình độ cho  
các hộ gia đình ở nông thôn, nhất là các hộ nghèo là rất cần thiết. Nâng cao trình độ sẽ  
giúp các hộ tiếp cận với trình độ kỹ thuật mới, phân tích được thông tin thị trường, để từ  
đó họ có thể áp dụng cho hoạt động sản xuất, giúp họ tự thoát nghèo.  
21  
2.2. Ảnh hưởng của các nhân tố đến đói, nghèo của các nông hộ  
Dựa trên mô hình logit:  
n
Pi  
Li = ln(  
) = β +  
β X i  
[1]  
∑
i
1− Pi  
i = 1  
Trong đó: - Pi là xác suất hộ rơi vào nghèo; 1-Pi là xác suất hộ không rơi vào  
nghèo; Li là log của tỷ số hai xác suất nghèo và không nghèo của hộ; β và βi là hệ số tự  
do và các hệ số hồi quy tương ứng của các nhân tố; Xi là các nhân tố ảnh hưởng đến khả  
năng nghèo của hộ gia đình; n là số các nhân tố có trong mô hình.  
Trong phạm vi nghiên cứu, chúng tôi xem xét mức độ ảnh hưởng của các nhân  
tố là các đặc điểm của hộ gia đình đến khả năng nghèo của hộ. Đó là vùng sinh thái, dân  
tộc, ngành nghề hoạt động sản xuất kinh doanh, quy mô nhân khẩu, số lao động, trình  
độ văn hóa của chủ hộ, giới tính của chủ hộ, vốn cho sản xuất kinh doanh, diện tích  
canh tác đất lâm nghiệp, cây lâu năm, cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản.  
Sau khi loại ra khỏi mô hình những biến không có ý nghĩa thống kê, kết quả hồi  
quy được thể hiện ở bảng 5.  
Từ số liệu ở bảng 5 cho thấy, mô hình đưa ra là hợp lý (kiểm định χ2 của mô hình là  
192,054 tại mức 10 bậc tự do với mức ý nghĩa thống kê 99%). McFadden R2 bằng 0,7703  
chứng tỏ 77,03% xác suất hộ rơi vào nghèo được giải thích bởi các biến đưa vào trong mô  
hình.  
Khả năng dự đoán đúng hộ bị nghèo của mô hình là 91,4%. Hệ số C và các hệ số  
βi của các biến độc lập đều có ý nghĩa thống kê ở mức 90%, 95% và 99%, riêng biến  
vùng ven biển (BIEN) không có ý nghĩa thống kê trong việc xem xét ảnh hưởng đến xác  
suất bị nghèo của hộ điều tra.  
Bảng 5. Ảnh hưởng của các nhân tố đến khả năng nghèo của hộ  
Chỉ tiêu  
Hệ số βi  
EXP(βi)  
211,412  
48,033  
5,137  
Hệ số C  
5,353808 **  
3,871880 **  
1,636494 ns  
4,363648 *  
2,762474 **  
2,736383 ***  
-2,266928 **  
-0,545988 ***  
-1,141693 ***  
NUI (Biến dammy, hộ sống ở miền núi =1)  
BIEN (Biến dammy, hộ sống ở ven biển =1)  
DANTOC (Biến dammy, dân tộc Vân Kiều =1)  
NONG (Biến dammy, hộ thuần nông =1)  
KHAU (Quy mô hộ gia đình)  
78,543  
15,839  
15,431  
-0,104  
-0,579  
-0,319  
LDONG (Tổng số lao động chính)  
TRINHDO (Trình độ văn hoá của chủ hộ)  
VON (Vốn cho sản xuất kinh doanh)  
22  
LAM (Diện tích canh tác đất lâm nghiệp)  
-0,995337 ***  
-0,369  
-0,186  
CHN (Diện tích canh tác cây hàng năm)  
LR statistic (10 df)  
-1,684497 ***  
192,0538 ***  
0,7703  
McFadden R-squared  
Tỷ lệ dự đoán đúng (%):  
- Hộ nghèo  
91,40  
94,25  
- Hộ không nghèo  
Ghi chú:  
- *,**,***: Có ý nghĩa thống kê tương ứng với các mức 90, 95%, 99%.  
- ns: Không có ý nghĩa thống kê.  
Nguồn: Xử lý từ số liệu điều tra.  
Các hệ số βi của biến NUI, DANTOC, KHAU, NONG là dương. Điều đó cho  
biết khi giá trị của các biến này tăng thì nguy cơ bị nghèo của hộ cũng tăng lên. Ngược  
lại các biến khác có hệ số là âm cho biết các nhân tố này ảnh hưởng ngược chiều với  
khả năng bị nghèo của hộ, nghĩa là khi giá trị của các biến tăng thì khả năng bị nghèo  
của hộ sẽ giảm xuống.  
Các hệ số β ở bảng 3 cho biết ảnh hưởng lớn nhất đến khả năng nghèo của hộ là  
sinh sống ở vùng miền núi và là người dân tộc Vân Kiều. Giả định các yếu tố khác  
không đổi, nếu hộ sống ở vùng đồng bằng chuyển lên sống ở vùng miền núi thì tỷ lệ  
giữa xác suất nghèo và không nghèo của hộ cao hơn 48,03 lần so với tỷ lệ ban đầu. Nếu  
là hộ người dân tộc Vân Kiều thì tỷ lệ giữa xác suất nghèo và không nghèo sẽ cao hơn  
78,54 lần so với người Kinh khi các yếu tố khác cố định. Tương tự nếu hộ là thuần nông  
thì tỷ lệ giữa xác suất nghèo và không nghèo sẽ cao hơn hộ có ngành nghề khác là 15,84  
lần (giả định các yếu tố khác không đổi).  
Ngược lại, khi lao động của hộ tăng lên 1 lao động thì tỷ lệ giữa xác suất nghèo  
và không nghèo sẽ giảm xuống còn 0,1036 lần so với tỷ lệ ban đầu. Điều này đồng  
nghĩa, khi lao động của hộ tăng lên 1 lao động thì tỷ lệ giữa xác suất nghèo và không  
nghèo của hộ giảm 89,64%. Tương tự các yếu tố về trình độ của chủ hộ, đất đai, vốn  
đều có ảnh hưởng tích cực đến giảm khả năng nghèo của hộ.  
Hệ số β của biến BIEN ý nghĩa thống kê nhỏ hơn mức 90%, chứng tỏ sự ảnh  
hưởng của vùng ven biển và đồng bằng chưa thật sự khác biệt. Điều này hoàn toàn đúng  
với thực tế ở địa phương. Trong những năm lại đây nhờ đầu tư của Nhà nước, trường  
học trạm xá đã được xây dựng, con em trong vùng đã thuận lợi hơn trong việc đến  
trường. Hệ thống giao thông đã được nâng cấp, đặc biệt là hai tuyến đường giao thông  
nối liền vùng biển với Quốc lộ 1A và tuyến đường đường nối với Bảo Ninh (Đồng Hới)  
đã tạo thuận lợi trong giao lưu hàng hóa. Bãi tắm Hải Ninh đã được đầu tư, các hoạt  
23  
động dịch vụ đã phát triển mạnh ở vùng này. Có thể nói bộ mặt vùng biển đã được khởi  
sắc.  
2.3. Định hướng và giải pháp xóa đói giảm nghèo ở huyện Quảng Ninh, tỉnh  
Quảng Bình  
2.3.1. Định hướng  
Gắn giảm nghèo với đẩy mạnh tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Nâng  
cao năng lực sản xuất của người nghèo, tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận với các  
dịch vụ sản xuất tự vươn lên thoát nghèo là biện pháp trọng tâm.  
2.3.2. Các giải pháp chủ yếu  
Dựa trên kết quả nghiên cứu, chúng tôi đưa ra một số giải pháp chủ yếu để xóa  
đói, giảm nghèo ở huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình như sau:  
- Tạo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ nghèo, tín dụng  
là một giải pháp có tác dụng và đưa lại hiệu quả cao. Cần đa dạng và tăng nguồn vốn  
vay cho xóa đói giảm nghèo: như Ngân hàng Chính sách xã hội cần tăng số lượng cho  
vay, hình thành các nhóm tiết kiệm từ đó hỗ trợ nhau về vốn sản xuất, hình thành và  
phát triển các quỹ tín dụng nhân dân theo mô hình của xã An Ninh, Gia Ninh...  
- Cần tăng cường hơn công tác tuyên truyền, vận động và triển khai đồng bộ, có  
hiệu quả các hoạt động thực hiện chính sách Dân số- Kế hoạch hóa gia đình. Trong đó  
cần cải tiến phương pháp tuyên truyền vận động theo hướng dễ hiểu. Nhân rộng mô  
hình tủ sách văn hóa ở các thôn, các điểm Bưu điện văn hóa xã...  
- Trình độ văn hóa của người nông dân là một nhân tố có mức độ ảnh hưởng lớn  
đến nguy cơ nghèo của hộ. Tuy nhiên, việc nâng cao trình độ của hộ nghèo không phải  
là dễ. Giải pháp trước mắt để người nông dân nghèo có khả năng tiếp cận các tiến bộ  
khoa học kỹ thuật cũng như quyết định các vấn đề của sản xuất phải bằng con đường  
khuyến nông.  
- Khuyến khích và thúc đẩy các thành phần kinh tế, ngành nghề truyền thống  
phát triển, tạo thêm nhiều việc làm, giảm thiểu tỷ lệ lao động “nông nhàn” ở nông thôn.  
- Tiếp tục đầu tư để phát triển nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt ở các xã vùng  
núi để cải thiện cơ sở hạ tầng, môi trường sống, đặc biệt là đối với vùng dân tộc Vân  
Kiều sinh sống.  
3. Kết luận và kiến nghị  
Tỷ lệ hộ nghèo của huyện trong những năm lại đây đã giảm. Tuy nhiên, vẫn còn  
cao so với mức trung bình chung của toàn tỉnh.  
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến đói, nghèo của các nông hộ. Trong đó, hộ ở  
vùng miền núi, người dân tộc Vân Kiều, quy mô nhân khẩu và hộ thuần nông có tác  
24  
động cùng chiều với nguy cơ nghèo của hộ. Ngược lại, các yếu tố như đất canh tác, lao  
động, vốn dùng cho sản xuất kinh doanh cũng như trình độ học vấn của chủ hộ có tác  
động ngược chiều với khả năng nghèo của hộ.  
Để thực hiện được mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo 2%/năm của huyện giai đoạn  
2011 - 2015 [2], cần có giải pháp đồng bộ trong đó cần quan tâm đến các giải pháp về  
vốn, việc làm, khuyến nông, các biện pháp kế hoạch hóa gia đình...  
Để thực hiện được các giải pháp trên đây, cần tăng cường vai trò lãnh đạo của  
Đảng, chính quyền các cấp, đồng thời phát huy sức mạnh của các tổ chức đoàn thể, các  
tổ chức xã hội và bản thân những hộ nghèo. Cụ thể:  
- Đối với Nhà nước: Có chủ trương đầu tư để phát triển nông nghiệp nông thôn.  
Xem đây là chìa khóa để giải quyết vấn đề nghèo đói cho các hộ nông dân. Cần tiếp tục  
đầu tư cho các xã ở vùng miền núi để cải thiện cơ sở hạ tầng, môi trường sống của các  
hộ nghèo.  
Ở huyện: Cần củng cố các tổ chức làm công tác xóa đói giảm nghèo ở các địa  
phương. Phối hợp chặt chẽ với các tổ chức đoàn thể như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ,  
Hội Cựu chiến binh trong việc hướng dẫn các hộ nghèo cách làm ăn, tương trợ nhau  
trong cuộc sống. Thông qua các trung tâm giáo dục thường xuyên ở huyện, cần mở các  
lớp học nghề cho lao động ở nông thôn. Sớm đầu tư để phát triển khu công nghiệp, tiểu  
thủ công nghiệp, làng nghề truyền thống ở Xuân Ninh và Thị trấn Quán Hàu. Hỗ trợ  
vốn để các hộ đang hoạt động ngành nghề mộc, hàng mây tre đan mở rộng sản xuất, thu  
hút lao động trong nông thôn.  
Đối với hộ nông dân nghèo: Cần xóa bỏ mặc cảm tự ty, tranh thủ sự hỗ trợ của  
Nhà nước và cộng đồng để hoạt động sản xuất, chi tiêu hợp lý để vươn lên thoát nghèo.  
Đồng thời cần nhận thức rõ tự phấn đấu của mình là chính không nên có tư tưởng trông  
chờ ỷ lại vào Nhà nước và sự giúp đỡ của xã hội.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Nguyễn Quang Dong, Bài tập kinh tế lượng, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2002.  
[2]. Nguyễn Quang Trường, Nghiên cứu vấn đề nghèo đói ở huyện Quảng Ninh, tỉnh  
Quảng Bình, Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế, Huế, 2007.  
[3]. UBND huyện Quảng Ninh, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 – 2015, 2010.  
[4]. Phòng LĐ-TBXH huyện Quảng Ninh, Báo cáo kết quả điều tra xác định hộ nghèo giai  
đoạn 2006 - 2011.  
[5]. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Bình, Báo cáo Chương trình mục  
tiêu xóa đói giảm nghèo năm 2010, 2011.  
[6]. Vũ Đình Thắng, Vấn đề việc làm cho lao động ở nông thôn, Tạp chí Kinh tế và Phát  
triển, số 57, (2002), 21-23.  
25  
STUDY ON THE FACTORS TO POVERTY  
OF FARMER HOUSEHOLDS IN QUANG NINH DISTRICT,  
QUANG BINH PROVINCE  
Le Van Dung, Nguyen Quang Truong  
School of Economics Quang Binh  
SUMMARY  
The work of eliminating hunger and reducing poverty in Quang Ninh District, Quang  
Binh Province in a past few years has achieved some satisfactory results (the rate of poor  
households reduces 3,7 % per year on average). However, the rate of poor households is still  
high (24,12% in 2011), the risk of becoming poor households is very high as well (over 22,5%  
of households is considered as near poor households)  
The results of the study show that the main labour, the capital for business producing  
and educational level of householders in poor households are lower than those in households  
that are in better conditions.  
There are many factors contributing to people falling into poor household situations,  
among which, some factors depend on household’s characteristics, according to the study,  
people who live in mountain areas and who belong to Van Kieu ethnic have greatest risks,  
beside specialized agricultural households or households which lack labour and capital.  
In order to achieve the goal of reducing the rate of poor households to an average of  
over 2% per year in Quang Ninh District in the period 2011-2015, the solutions to the  
eliminating of hunger and reducing of poverty need to deploy to the orientation: (1) Associate  
reducing poverty in promoting growth and social-economic development; (2) Raise the  
production capacity of the poor, create conditions for them approach with production services  
so that they can do their best to get rid poverty.  
26  
pdf 10 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 20120 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đói nghèo của các nông hộ ở huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_cac_nhan_to_anh_huong_den_doi_ngheo_cua_cac_nong.pdf