Giáo trình Hệ thống thông tin quang

2. Thông tin vô tuyến  
2.2.1. Phân loại tần số vô tuyến  
2.2.2. Đường truyền lan của sóng vô tuyến  
2.5. Hệ thống thông tin di động  
1. Hệ thống thông tin quang  
1.1 Thông tin quang  
Khác với thông tin hữu tuyến và vô tuyến - các loại thông tin sử dụng các môi trường truyền dẫn tương  
ứng là dây dẫn và không gian - thông tin quang là một hệ thống truyền tin thông qua sợi quang. Điều đó  
có nghĩa là thông tin được chuyển thành ánh sáng và sau đó ánh sáng được truyền qua sợi quang. Tại  
nơi nhận, nó lại được biến đổi trở lại thành thông tin ban đầu. Hình 1.1. Giới thiệu một hệ thống truyền  
dẫn sợi quang digital được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay. Trong phần này chúng ta sẽ xem xét các giai  
đoạn phát triển của hệ thống này và so sánh các đặc tính của nó với các đặc tính của những hệ thống  
đang tồn tại. Cuối cùng, chúng ta sẽ giải thích các tính chất của ánh sáng.  
Hình 1.1. Hệ thống truyền dẫn sợi quang digital  
1.1.1. Sự phát triển của thông tin quang  
Các phương tiện sơ khai của thông tin quang là khả năng nhận biết của con người về chuyển động, hình  
dáng và màu sắc của sự vật thông qua đôi mắt. Tiếp đó, một hệ thống thông tin điều chế đơn giản xuất  
hiện bằng cách sử dụng các đèn hải đăng các đèn hiệu. Sau đó, năm 1791, VC.Chape phát minh ra một  
máy điện báo quang.  
Thiết bị này sử dụng khí quyển như là một môi trường truyền dẫn và do đó chịu ảnh hưởng của các điều  
kiện về thời tiết. Để giải quyết hạn chế này, Marconi đã sáng chế ra máy điện báo vô tuyến có khả năng  
thực hiện thông tin giữa những người gửi và người nhận ở xa nhau.  
Đầu năm 1980, A.G.Bell - người phát sinh ra hệ thống điện thoại - đã nghĩ ra một thiết bị quang thoại có  
khả năng biến đổi dao động của máy hát thành ánh sáng. Tuy nhiên, sự phát triển tiếp theo của hệ thống  
này đã bị bỏ bễ do sự xuất hiện hệ thống vô tuyến.  
( Bảng 1.1) Các giai đoạn phát triển của thông tin cáp sợi quang  
Năm  
1960  
Nguồn quang  
Cáp sợi quang  
Triển khai máy laser Ruby (HUGHES)  
1962  
1965  
1966  
Máy laser Ga As  
Máy laser Co2 (BL)  
Khả năng sử dụng đường truyền dẫn cáp  
quang (ST, tổn thất 1000dB/km)  
1970  
1973  
1976  
1977  
1979  
1980  
1981  
Máy laser GaAIAS tạo dao động liên tục  
(BL, Nga, NEC)  
Triển khai thành công sợi sáp quang sử  
dụng abaston (Corning, 20 dB/km)  
Phương pháp sản xuất sợi quang có độ  
tổn thất thấp (MCVD, BL, 1 dB/km)  
Máy laser GalnAsP dao động liên tục  
(MIT, KDD, TIT, NTT)  
Đề xuất khả năng sản xuất sợi quang  
florua (France, Lucas).  
Máy laser GaAIAs có tuổi thọ ước lượng  
là 100 năm (BL, NTT)  
Máy laser GalnAsP 1,55 um (KDD, BL,  
TIT) dao động liên tục  
Chế tạo sợi quang có Abastoes có độ tổn  
thất tối thiểu (NTT, 0.18 dB/km (1.55um))  
Cấu trúc laser giếng lượng tử được chế  
tạo (Bell Lab).  
Chế tạo sợi quang Flo (NRL) độ tổn thất  
1000 dB/km  
GalnAsP LD (1.6 um) Continuous  
Oscillation (TIT)  
1982  
1983  
1986  
1989  
LD Array High Power  
(2.5 W Continuous Osciltation)  
Single Mode, Single Frequency LD  
(KDD, Bel Lab.)  
Sợi quang fluor có độ tổn thất thấp (NRT,  
NTT) độ tổn thất 10 dB/km  
Single Mode, Single Frequency LD  
Commercialization (NEC, Hitachi etc.)  
GaAI/AIGa Laser Develoment  
Sợi quang fluor có độ tổn thất thấp,  
Độ tổn thất 1dB/km (khoảng 2.5 um)  
Sự nghiên cứu hiện đại về thông tin quang được bắt đầu bằng sự phát minh thành công của Laser năm  
1960 và bằng khuyến nghị của Kao và Hockham năm 1966 về việc chế tạo sợi quang có độ tổn thất thấp.  
4 năm sau, Kapron đã có thể chế tạo các sợi quang trong suốt có độ suy hao truyền dẫn khoảng 20  
dB/km. Được cổ vũ bởi thành công này, các nhà khoa học và kỹ sư trên khắp thế giới đã bắt đầu tiến  
hành các hoạt động nghiên cứu và phát triển và kết quả là các công nghệ mơi về giảm suy hao truyền  
dẫn, về tăng giải thông về các Laser bán dẫn ... đã được phát triển thành công trong những năm 70. Như  
được chỉ ra trong <bảng 1.1>, độ tổn thất của sợi quang đã được giảm đến 0,18 dB/km. Hơn nữa, trong  
những năm 70 Laser bán dẫn có khả năng thực hiện dao động liên tục ở nhiệt độ khai thác đã được chế  
tạo. Tuổi thọ của nó được ước lượng hơn 100 năm. Dựa trên các công nghệ sợi quang và Laser bán dẫn  
giờ đây đã có thể gửi một khối lượng lớn các tín hiệu âm thanh / dữ liệu đến các địa điểm cách xa hàng  
100 km bằng một sợi quang có độ dày như một sợi tóc, không cần đến các bộ tái tạo. Hiện nay, các hoạt  
động nghiên cứu nghiêm chỉnh đang được tiến hành trong lĩnh vực được gọi là photon học - là một lĩnh  
vực tối quan trọng đối với tất cả các hệ thống thông tin quang, có khả năng phát hiện, xử lý, trao đổi và  
truyền dẫn thông tin bằng phương tiện ánh sáng. Photon học có khả năng sẽ được ứng dụng rộng rãi  
trong lĩnh vự điện tử và viễn thông trong thế kỷ 21.  
1.1.2. Các đặc tính của thông tin quang  
Trong thông tin sợi quang, các ưu điểm sau của sợi quang được sử dụng một cách hiệu quả: độ suy hao  
truyền dẫn thấp và băng thông lớn. Thêm vào đó, chúng có thể sử dụng để thiết lập các đường truyền  
dẫn nhẹ và mỏng (nhỏ), không có xuyên âm với các đường sợi quang bên cạnh và không chịu ảnh  
hưởng của nhiễm cảm ứng sóng điện tử. Trong thực tế sợi quang là phương tiện truyền dẫn thông tin  
hiệu quả và kinh tế nhất đang có hiện nay  
Trước hết, vì có băng thông lớn nên nó có thể truyền một khối lượng thông tin lớn như các tín hiệu âm  
thanh, dữ liệu, và các tín hiệu hỗn hợp thông qua một hệ thống có cự ly đến 100 GHz-km. Tương ứng,  
bằng cách sử dụng sợi quang, một khối lượng lớn các tín hiệu âm thanh và hình ảnh có thể được truyền  
đến những địa điểm cách xa hàng 100 km mà không cần đến các bộ tái tạo.  
Thứ hai, sợi quang nhỏ nhẹ và không có xuyên âm. Do vậy, chúng có thể được lắp đặt dễ dàng ở các  
thành phố, tàu thuỷ, máy bay và các toà nhà cao tầng không cần phải lắp thêm các đường ống và cống  
cáp.  
Thứ ba, vì sợi quang được chế tạo từ các chất điện môi phí dẫn nên chúng không chịu ảnh hưởng bởi  
can nhiễu của sóng điện từ và của xung điện từ. Vì vậy, chúng có thể sử dụng để truyền dẫn mà không  
có tiếng ồn. Điều đó có nghĩa là nó có thể lắp đặt cùng với cáp điện lực và có thể sử dụng trong môi  
trường phản ứng hạt nhân.  
Thứ tư, do nguyên liệu chủ yếu để sản xuất sợi quang là cát và chất dẻo - là những thứ rẻ hơn đồng  
nhiều - nên nó kinh tế hơn cáp đồng trục nhiều. Giá thành của sợi quang sẽ giảm nhanh một khi công  
nghệ mới được đưa ra. Ngoài ra, như đã đề cập ở trên, do đặc trưng là có độ tổn thất thấp giá thành lắp  
đạt ban đầu cũng như giá thành bảo dưỡng và sửa chữa thấp bởi vì chúng cần ít các bộ tái tạo hơn.  
Ngoài những ưu điểm đã nêu trên, sợi quang có độ an toàn, bảo mật cao, tuổi thọ dài và có khả năng đề  
kháng môi trường lớn. Nó cũng dễ bảo dưỡng, sửa chữa và có độ tin cậy cao. Hơn nữa, nó không bị rò rỉ  
tín hiệu và dễ kéo dài khi cần và có thể chế tạo với giá thành thấp. Trong bảng 1.2, chúng ta tổng hợp  
các ưu điểm trên. Nhờ những ưu điểm này, sợi quang được sử dụng cho các mạng lưới điện thoại, số  
liệu/ máy tính, và phát thanh truyền hình (dịch vụ băng rộng) và sẽ được sử dụng cho ISDN, điện lực, các  
ứng dụng y tế và quân sự, cũng như các thiết bị đo.  
Bảng 1.2 Các ưu nhược điểm của sợi quang  
Đặc tính  
Độ tổn thất thấp  
Ưu điểm  
Cự ly tái tạo xa chi phí thiết  
bị đường dây dẫn  
Nhược điểm  
Dải thông lớn  
Truyền dẫn dung lượng lớn  
Giảm kích thước đường  
truyền dẫn  
Dễ lắp đặt và bảo dưỡng  
Giảm chi phí lắp đặt cống  
Ngăn ngừa xuyên âm  
Thông tin an toàn  
Khó đấu nối  
Phi dẫn  
Cần có các đường dây  
Cấp nguồn cho tiếp phát  
Cần có các phương thức  
chỉnh lõi mới (cáp)  
Nguồn - cát  
Đánh giá  
Nguyên liệu phong phú  
Chi phí sản xuất rẻ  
Dường truyền dẫn tuyệt vời  
Có thể giải quyết bằng các  
tiến bộ công nghệ mới  
.2 Cáp sợi quang  
Sợi quang là những dây nhỏ và dẻo truyền các ánh sáng nhìn thấy được và các tia hồng ngoại. Như đã  
được trình bày trong hình 1.4, chúng có lõi ở giữa và có phần bao bọc xung quanh lõi. Để ánh sáng có  
thể phản xạ một cách hoàn toàn trong lõi thì chiết suất của lõi lớn hơn chiết suất của áo một chút.  
Vỏ bọc ở phía ngoài áo bảo vệ sợi quang khỏi bị ẩm và ăn mòn, đồng thời chống xuyên âm với các sợi đi  
bên cạnh và làm cho sợi quang dễ xử lý. Để bọc ngoài ta dùng các nguyên liệu mềm và độ tổn thất năng  
lượng quang lớn.  
Hình 1.4. Cấu trúc cáp sợi quang  
Lõi và áo được làm bằng thuỷ tinh hay chất dẻo (Silica), chất dẻo, kim loại, fluor, sợi quang kết tinh).  
Ngoài ra chúng được phân loại thành các loại sợi quang đơn mode và đa mode tương ứng với số lượng  
mode của ánh sáng truyền qua sợi quang. Ngoài ra chúng còn được phân loại thành sợi qaung có chỉ số  
bước và chỉ số lớp tuỳ theo hình dạng và chiết suất của các phần của lõi sợi quang. Các vấn đề này sẽ  
được trình bày tỉ mỉ ở mục 1.2.2  
1.3. Hệ thống cáp quang  
Nhờ kết quả của các hoạt động nghỉên cứu và phát triển cường độ cao trong những năm 1970, hiện nay  
công nghệ thông tin quang đa mode đang được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Cũng đúng như vậy  
đối với hệ thống thông tin quang đơn mode. Dựa trên kỹ thuật đã được phát triển, ngày càng nhiều cáp  
quang đã được sử dụng trong nhiều lĩnh vực. Trong phần này, các đặc tính chung của cáp quang được  
giải thích và tiếp đó, chúng tôi sẽ giới thiệu việct hiết kế một hệ thống số và tương tự cũng như công  
nghệ ghép kênh phân chia bước sóng.  
1.3.1. Tổng quan về hệ thống thông tin quang  
1. Cấu hình của hệ thống thông tin quang.  
Để thiết lập một hệ thống truyền dẫn hợp lý, việc lựa chọn môi trường truyền dẫn, phương pháp truyền  
dẫn và phương pháp điều chế/ ghép kênh phải được xem xét trước tiên. Cho đến nay thì không gian  
được sử dụng một cách rộng rãi cho thông tin vô tuyến, còn cáp đối xứng và cáp đồng trục cho thông tin  
hữu tuyến. Trong phần dưới đây, chúng tôi chỉ bàn đến các phương pháp truyền dẫn hiện đang sẵn có  
dựa trên việc sử dụng cáp quang. Sự điều chế sóng mang quang của hệ thống truyền dẫn quang hiện  
nay được thực hiện với sự điều chế theo mật độ vì các nguyên nhân sau:  
(1) Sóng mang quang, nhận được từ các phần tử phát quang hiện có, không dủ ổn định để phát thông tin  
sau khi có sự thay đổi về pha và độ khuyếch đại và phần lớn không phải là các sóng mang đơn tần. Đặc  
biệt các điốt phát quang đều không phải là nhất quán và vì vậy có thể coi ánh sáng đại loại như tiếng ồn  
thay vì sóng mang. Do đó, chỉ có năng lượng là cường độ ánh sáng tức thời được sử dụng.  
(2) Hiện nay, các Laser bán dẫn được chế tạo đã có tính nhất quán tuyệt vời và do đó có khả năng cung  
cấp sóng mang quang ổn định. Tuy nhiên, công nghệ tạo phách - Một công nghệ biến đổi tần số cần thiết  
để điều chế pha - còn chưa được phát triển đầy đủ.  
(3) Nếu một sóng mang đơn tần có tần số cao được phát đi theo cáp quang đa mode - điều mà có thể xử  
lý một cách dễ dàng - thì các đặc tính truyền dẫn thay đổi tương đối phức tạp và cáp quang bị dao động  
do sự giao thoa gây ra bởi sự biến đổi mode hoặc do phản xạ trong khi truyền dẫn và kết quả là rất khó  
sản xuất một hệ thống truyền dẫn ổn định. Vì vậy, trong nhiều ứng dụng, việc sử dụng phương pháp điều  
chế mật độ có khả năng sẽ được tiếp tục.  
Đối với trường hợp đều chế quang theo mật độ (IM) có rất nhiều phương pháp để biến đổi tín hiệu quang  
thông qua việc điều chế và ghép kênh các tín hiệu cần phát. Một trong những ví dụ điển hình được trình  
bày trong hình 1.19  
Hình 1.19. Quá trình ghép kênh điện  
Phương pháp phân chia theo thời gian (TDM) được sử dụng một cách rộng rãi khi ghép kênh các tín hiệu  
như số liệu, âm thanh điều chế xung mã PCM (64kb/s) và số liệu video digital. Tuy nhiên, trong truyền  
dẫn cự ly ngắn, của các tín hiệu video băng rộng rãi cũng có thể sử dụng phương pháp truyền dẫn  
analog. Phương pháp điều chế mật độ số DIM - phương pháp truyền các kênh tín hiệu video bằng IM -  
và phương pháp thực hiện điều chế tần số (FM) và điều chế tần số xung (PFM) sớm để tăng cự ly truyền  
dẫn có thể được sử dụng cho mục tiêu này.  
Ngoài TDM và FDM, phương pháp phân chia theo bước sóng (WDM) - phương pháp điều chế một số  
sóng mang quang có các bước sóng khác nhau thành các tín hiệu điện khác nhau và sau đó có thể  
truyền chúng qua một sợi cáp quang - cũng đang được sử dụng. Hơn nữa, khi truyền nhiều kênh thông  
qua cáp quang, một số lượng lớn các dữ liệu có thể được gửi đi nhờ gia tăng số lõi cáp sau khi đã ghép  
các kênh trên. Phương pháp này được gọi là ghép kênh SDM. Hệ thống truyền dẫn quang có thể được  
thiết lập bằng cách sử dụng hỗn hợp TDM/FDM, WDM và SDM. Chúng ta có thể thấy rằng hệ thống  
truyền dẫn quang cũng tương tự như phương pháp truyền dẫn cáp đôi và cáp đồng trục truyền thống, chỉ  
có khác là nó biến đổi các tín hiệu điện thành tín hiệu quang và ngược lại tại đầu thu. Hình 1.20 trình bày  
cấu hình của hệ thống truyền dẫn cáp quang.  
Hình 1.20. Cấu hình của hệ thống truyền dẫn cáp quang  
Phương pháp truyền dẫn analog có thể được tiến hành chỉ với một bộ khuyếch đại tạo điều kiện để phía  
thu nhận được mức ra theo yêu cầu bằng cách biến đổi các tín hiệu điện thành các tín hiệu quang và  
ngược lại. Khi sử dụng phương pháp điều chế PCM thì mọi chức năng giải điều chế tương ứng với nó  
cần được gán cho phía thu. Cho tới đây, chúng ta đã mô tả các chức năng cơ bản của hệ thống truyền  
dẫn quang. Ngoài những phần đã trình bày ở trên hệ thống hoạt động thực tế còn có thêm một mạch ổn  
định đầu ra của các tín hiệu quang cần phát, một mạch AGC để duy trì tính đồng nhất của đầu ra tín hiệu  
điện ở phía thu và một mạch để giám sát mỗi phía.  
2. những thành phần cơ bản của hệ thống truyền dẫn quang.  
Hệ thống truyền dẫn quang bao gồm các phần tử phát xạ ánh sáng (nguồn sáng), các sợi quang (môi  
trường truyền dẫn) và các phần tử thu để nhận ánh sáng truyền qua sợi quang.  
Các phần tử sau đây được chọn để sử dụng:  
1. Phần tử phát xạ ánh sáng  
a. Điôt Laser (LD)  
b. Điôt phát quang (LED)  
c. Laser bán dẫn  
2. Sợi quang  
a. Sợi quang đa mode chỉ số bước  
b. Sợi quang đa mode chỉ số lớp  
c. Sợi quang đơn mode  
3. Phần tử thu ánh sáng  
a. Điôt quang kiểu thác (APD)  
b. Điôt quang PIN (PIN - PD)  
1.4. Phương pháp truyền dẫn đồng bộ  
1.4.1. Cơ sở của tiêu chuẩn hoá  
Trước khi phương pháp truyền dẫn đồng bộ có được dạng thức cao cấp của các đặc trưng đơn nhất,  
Metrobus và SONET đã có những đóng góp to lớn. Metrobus là hệ thống thông tin quang đồng bộ nội tại  
mà bell Communications Research của AT & T ở Hợp chúng quốc Hoa Kỳ nghiên cứu và phát triển. Còn  
SONET là tiêu chuẩn kết nối của hệ thống thông tin quang mà sau đó Bell communications reseach  
(Bellcore) đề xuất và rồi được uỷ ban T1 chấp nhận sử dụng và phát triển cho tiêu chuẩn Bắc Mỹ.  
Metrobus đã chống lại quan điểm của thông tin quang cổ điển, đã sử dụng sự ghép tầng đầu tiên, đã  
chấp nhận sử dụng khái niệm container (công tenơ), đã sử dụng Overhead (mào đầu) một cách hiệu quả  
và đã thiết lập khái niệm hệ thống thông tin quang đồng bộ nội tại, hệ thống này coi tín hiệu cấp 150  
Mbit/s làm cấp tiêu chuẩn. Do vậy, trên cơ sở cấp 50 Mbit/s, SONET bổ sung quan niệm về cấu trúc  
phân cấp và phương pháp đồng bộ nhờ con trỏ để hệ thống hoá đoạn mào đầu và sau đó mở ra chân  
trời mới cho thông tin toàn cầu. Dựa trên những cái đó, chính phân cấp của đồng bộ (SDH) hiện nay đã  
lấy tín hiệu cấp 150 Mbit/s làm tiêu chuẩn, kể cả phân cấp số kiểu Châu Âu, và được phổ cập hoá để mở  
ra khả năng thông tin toàn cầu.  
1. Metrobus  
Metrobus là một hệ thống thông tin quang do J.D.Spalink, một nhà nghiên cứu tại Bellcore của AT & T,  
đề xuất năm 1982. Nó đã được triển khai theo quy mô đầy đủ vào đầu năm 1984, được công bố vào  
tháng chín năm 1985 và được thử nghiệm để thương mại hoá vào đầu năm 1987. Chính sách cơ bản  
của Metrobus là phát triển hệ thống thông tin quang tối ưu nhất, có cân nhắc đến khía cạnh tốc độ cao,  
dung lượng lớn, vốn là đặc trưng của một hệ thống thông tin quang, phương hướng tiến triển của mạng  
thông tin, quá trình phát triển của công nghệ cốt yếu và xu hướng đổi mới dịch vụ. Tên gọi của Metrobus  
có nguồn gốc từ mục tiêu ứng dụng của nó nhằm vào vùng thành phố lớn (metropolitan). Trong quá trình  
R&D cho ứng dụng đó đã nổi lên một số khái niệm. Điển hình là khái niệm về mạng thông tin quang điểm  
- đa điểm, khái niệm về hệ thống đồng bộ nội tại, tầm nhìn của DS-O, khái niệm ghép kênh tầng đầu tiên,  
điều chỉnh đồng thời những tín hiệu nhiều cấp bằng việc điều khiển số hiệu công tenơ, thiết lập tín hiệu  
tiêu chuẩn nội tại 150Mbit/s và sử dụng đủ mào đầu.  
Do tất cả các hệ thống thông tin quang trước đây đều đã được đề xuất trong bối cảnh của các hệ thống  
điểm - nối điểm, cho nên khái niệm của thông tin quang đã được xem như một khái niệm có tính chất  
cách mạng.  
Những khái niệm khác đã đóng vai trò không thể thiếu được để thể hiện khái niệm này. Với việc cân  
nhắc đến dải thông vô hạn mà thông tin quang cung cấp, ta thấy nó đủ bảo đảm khoảng trống cho mào  
đầu, và bằng việc sử dụng nó cũng như bằng việc hình thành kênh truyền thông mào đầu, cho phép ứng  
dụng liên kết của toàn bộ các tuyến thông tin quang. Tuy nhiên, do tỷ lệ của mào đầu đã vượt quá 4,5%  
của toàn bộ, cho nên khái niệm này khó có thể được chấp nhận trong bối cảnh đó.  
Việc lựa chọn 150 Mbit/s (cụ thể là 146,432, Mbit/s) làm tín hiệu nội bộ của mạng đã thực sự là một quan  
điểm tiên phong. Sở dĩ như vậy là vì những điều sau đây được dự kiến : khi được xem xét theo khía  
cạnh phân lớp tín hiệu digital, tốc độ bít mà tất cả các tín hiệu có thể bao gồm là 150 Mbit/s; theo khía  
cạnh dịch vụ, tín hiệu thoại, số liệu và video (kể cả tín hiệu HDTV có nén) hiện tại đều có thể được sử  
dụng trong cấp 150Mbit/s này; về khía cạnh công nghệ bán dẫn cơ bản, công nghệ CMOS có thể được  
sử dụng trong phạm vi 150 Mbit/s chẳng khó khăn gì. Ngoài ra, về khía cạnh thuê bao thì còn có một số  
lợi thế: với cấp phân tử 150 Mbit/s, các ánh sáng có thể được sử dụng nhờ sự kết hợp với điốt LED và  
PIN rẻ tiền, và cáp sợi quang có thể tạo điều kiện cho sự kết hợp hiệu quả này nhờ việc sử dụng sợi  
quang đa mode có chỉ số tăng dần thay cho đơn mode.  
Khái niệm ghép kênh tầng đầu tiên cũng là một khái niệm mang tính cách mạng. Nó cho phép ghép kênh  
trực tiếp tín hiệu DS -1 thành tín hiệu tiêu chuẩn150 Mbit/s mà không cần chuyển qua tín hiệu DS-2 hoặc  
DS-3 điều không thể có trong hệ thống ghép kênh không đồng bộ trước đây. Nó trở thành nền tảng để  
thực hiện kết nối tách/nhập và nối kết chéo là những nối kết thường thấy trong mạng thông tin quang.  
Được giới thiệu như một phương tiện thực hiện ghép kênh tầng thứ nhất, khái niệm này giúp cho việc  
ghép kênh tín hiệu phân cấp bằng việc điều khiển số hiệu của các công tenơ. Nghĩa là, bằng việc xác  
định các ô có kích thước cố định, làm cho các tín hiệu DS -1. DS -1C, DS-2, DS-3 v.v...lấp đầy vào các ô  
tương ứng của các khối 1, các khối 2, các khối 4, các khối 28 trong cùng một đơn vị thời gian. Như vậy,  
kết nối tách nhập và kết nối chéo rất tiện lợi, bởi vì tất cả các tín hiệu đều được xử lý với đơn vị của số  
hiệu ô.  
Tín hiệu tiêu chuẩn nội bộ bao gồm 13Wx88 (1W=16 bít) như trong hình 1.37. Tốc độ bit là 146,432  
Mbit/s (13x88x16x8 kbit/s). 88 đơn vị của từ mã (thuộc về 88 ô) xuất hiện trong 125m s/13, trong dó 4  
đơn vị được sử dụng cho mào đầu và mỗi tín hiệu DS-n chiếm số hiệu tương ứng của ô.  
Hình 1.37. Cấu trúc khung của Metrobus  
Việc giới thiệu khái niệm đồng bộ nội tại cũng đã là một tiền đề cho mạng thông tin đồng bộ. Có nghĩa là,  
do phạm vi mục tiêu đã chỉ được giới hạn cho khu vực thành phố, dựa trên tiêu chuẩn nội bộ của mạng,  
biện pháp đối phó trong trường hợp vượt quá giới hạn cận đồng bộ đã không được chuẩn bị chút nào.  
Trong trường hợp này tín hiệu định thời sẽ sử dụng tần số chuẩn đồng bộ hoá cơ bản BSRF và cũng có  
thể sử dụng tín hiệu định thời được đón nhận từ bộ dao động nội và từ tín hiệu thu được.  
Độ nhìn rõ của tín hiệu DS-O đã được tạo ra với đơn vị 125 m s. Khi việc chuyển từ mỗi tín hiệu phân  
cấp sang công tenơ cũng được thực hiện với đơn vị 125 m s, thì các tín hiệu DS-O nhận được qua lấy  
mẫu 8 kbit/s có thể xuất hiện một cách trong suốt ngay tại tín hiệu phân cấp mức cao.  
Theo cách như vậy, việc phân tách kênh DS-O 64 kbit/s khỏi tín hiệu tiêu chuẩn nội bộ 150 Mbit/s có thể  
được thực hiện một cách dễ dàng .  
Hình 1.38 biểu diễn cấu trúc của hệ thống Metrobus. Phần được trình bày như bus nội bộ trong hình vẽ  
tương ứng với tín hiệu tiêu chuẩn nội bộ 146,432 Mbit/s. Tín hiệu được tạo ra từ DS-1 đến DS-3 qua  
PMB (băng ghép kênh có thể lập trình). Thông tin quang 146 Mbit/s có thể phối hợp trực tiếp với tín hiệu  
này, và đi qua thiết bị truyền dẫn sóng quang LTE-Lightwave Transmission Equipment). có thể tạo nên  
thông tin quang 876 Mbit/s hoặc 1,7 Gbit/s bằng việc đưa 6 hoặc 12 đơn vị của tín hiệu này vào WIM  
(ghép kênh xen từ mã - Word Interleaved Multiplexing), rồi sau đó đưa qua LTE. Những quá trình này  
được mô tả trong hình vẽ. Ngoài ra, hệ thống PCCS (hệ thống kết nối chéo có thể lập trình) thực hiện  
chức năng nối kết chéo qua các công tenơ do tiêu chuẩn của tốc độ bit DS-1 tạo ra bằng cách đưa vào  
tín hiệu 146 Mbit/s.  
Hình 1.38. Cấu trúc của hệ thống Metrobus  
2. SONET  
Sonet là một từ viết tắt của Synchronous Optical Network (mạng quang đồng bộ). Nó đã được  
R.J.Boehm và Y.J.Ching ở viện nghiên cứu truyền thông Bell đệ trình lên uỷ ban T1- tổ chức tiêu chuẩn  
truyền thông của Bắc Mỹ - vào cuối năm 1984 như một đề án tiêu chuẩn về đấu nối hệ thống thông tin  
quang. Vào thời gian đó, khung được đề xuất có dạng 3x8x33B như trong hình 1.39, và tốc độ bit là  
50,688 Mbit/s (=3x8x33x8 kbit/s). Tín hiệu này được gọi là STS-1 (Synchronous Transport Signal - 1 - Tín  
hiệu chuyển giao đồng bộ - 1) và DS - 3 hoặc SYNTRAN DS-3, mà nó đã được chấp nhận như tín hiệu  
phân cấp cơ bản và được ấn định đưa vào quá trình ghép kênh xen byte qua STS-1.  
Tầng đầu tiên của SONET đã được đề nghị cho mục đích "gặp gỡ giữa chặng" và quan điểm nghi ngờ  
về tính khả thi của nó đã chiếm ưu thế. Kết quả là việc tiêu chuẩn hoá nó hầu như không được tiến hành  
trong khoảng một năm, sau khi khái niệm SONET đã được giới thiệu. Tuy nhiên, việc tiêu chuẩn hoá đã  
bỗng nhiên được đưa ra cùng với thông báo của Metrobus vào tháng chín năm 1985, và khái niệm về hệ  
thống phân cấp và kỹ thuật đồng bộ hoá bằng con trỏ đã được các thành viên của uỷ ban T1 đề xuất  
thêm. Những người đề xuất SONET đã phát triển và hệ thống hoá cấu trúc khung của tầng đầu tiên và  
đưa ra công thức (28+L) (24+M) (8+N). Điều này dự tính tôn mào đầu của mức DS-3 lên kích thước  
DS-1 của L đơn vị; mào đầu của mức DS-1 lên kích thước DS-O của M đơn vị và mào đầu của mức  
DS-O lên Nbit. Tầng giữa của khung SONET có cấu trúc 26Bx30 và 49,92 Mbit/s (30x26x8x8 kbit/s)  
được điều chỉnh với L=2, M=2 N=0 dựa trên công thức miêu tả trong hình 1.39. Vào khoảng thời gian đó  
viện nghiên cứu truyền thông Bell của AT&T đề nghị rằng tín hiệu tiêu chuẩn nội bộ của Metrobus (có  
cấu trúc 26x88W và 146,432 Mbit/s) cần được chấp nhận là tín hiệu tiêu chuẩn. Tín hiệu này được biểu  
thị bằng công thức của Viện Nghiên cứu truyền thông Bell sẽ là: J+K (28+L) (24+M), (8+N), J=1, K=3;  
L=1, M=2; N=0; và L, M và N trong số đó có cùng một ý nghĩa như được xác định trước, K có nghĩa là số  
hiệu của tín hiệu mức DS-3, còn J là kích thước của DS-1 đại diện cho mào đầu gắn vào toàn bộ chúng.  
Hình 1.39. Cấu trúc khung của SONET  
Mặc dù uỷ ban T1 đã xem xét kỹ những cuộc thảo luận liên quan đến hai dự án này, nó vẫn không thể  
phán quyết được tính ưu việt theo kết quả đối chiếu và kiểm nghiệm. Điểm bàn cãi sôi nổi nhất là trong  
đánh giá giữa 150Mbit/s và 50 Mbit/s thì tốc độ bit nào ưu việt hơn.  
Tuy nhiên, do sự cạnh tranh vì phân chia thị trường viễn thông và vai trò giữa các công ty, đầu năm  
1986, uỷ ban T1 đã đi tới một quyết định là tín hiệu tiêu chuẩn STS -1 sẽ là 49,92 Mbit/s. Trong khi ITU -  
T cũng đang hoạt động nhằm tiêu chuẩn hoá băng kênh rộng vào cùng thời gian đó thì uỷ ban T1 quyết  
định đề nghị lấy 149,976 Mbit/s làm dự án của Bắc Mỹ, nó gấp ba lần 49,92 Mbit/s; có nghĩa là uỷ ban  
T1, người đã quyết định chọn cấp 50 Mbit/s, đã thừa nhận về mặt kỹ thuật tính thích hợp của 150 Mbit/s.  
Sau đó, những hoạt động tiêu chuẩn hoá SONRT được tiến hành một cách suôn sẻ, chủ yếu nhờ uỷ ban  
ngang cấp T1X1, và đã đi đến một thoả thuận về một tiêu chuẩn thậm chí khá chi tiết. Mặc dù nó đã tiến  
hành hoạt động phối hợp ngay tức khắc mang tính chất bề mgoài, với ITU-T về vấn đề tiêu chuẩn kết nối  
NNI của B-ISDN, song đã có rất nhiều mặt hạn chế trong việc điều tiết với các tín hiệu digital kiểu Châu  
Âu, bởi vì 13Bx60 và 49,92 Mbit/s (hoặc 146,976 Mbit/s) chỉ chủ yếu phù hợp với các tín hiệu digital của  
Bắc Mỹ.  
Do vậy, cấu trúc 9Bx270 và tốc độ 155,520 Mbit/s, cái được tăng lên ba lần cấu trúc khung và tốc độ bít  
của SONET chính là phân cấp đồng bộ số mà nó đã được quy định như khuyến nghị G.707-G.709 của  
ITU-T.  
3. Phân cấp số đồng bộ  
ITU-T đã thiết lập các kênh H1, H2, H3, H4 như đối với kênh tốc độ cao của khách hàng trong quá trình  
tiêu chuẩn hoá ISDN vào đầu năm 1980. Trong số đó, kênh H1, đã được tiêu chuẩn hoá bằng việc phân  
chia nhỏ thành kênh H11 của 1,536 Mbit/s dựa trên cơ sở tín hiệu DS-1 kiểu Bắc Mỹ, và kênh H12 của  
1,920 Mbit/s dựa trên cơ sở tín hiệu DS-1 kiểu châu Âu. Mới đang chỉ có những nét đại cương mang tính  
chất khái niệm tương ứng với phân cấp số hiện có liên quan đến các kênh H2, H3, H4, nó đã bắt đầu đề  
cập đến tiêu chuẩn của một kênh băng rộng dựa trên các kênh đó. Đầu tiên nó nghiên cứu các tốc độ bit  
30-40, 45, 60-70 Mbit/s, sau đó đề án 149,976 Mbit/s đã được đưa ra, dựa trên tiêu chuẩn SONET của  
uỷ ban T1.  
Trong khi đó, ITU-T bắt đầu hoạt động để tiêu chuẩn hoá phân cấp đồng bộ số cho NNI (giao diện nút  
mạng) vào tháng bảy năm 1986, khác biệt với UNI (giao diện khách hàng - mạng) của ISDN. Điều này đã  
bắt đầu một giai đoạn tiêu chuẩn hoá đích thực hướng tới phân cấp số đồng bộ và ITU-T cùng uỷ ban T1  
đã duy trì mối quan hệ hợp tác chặt chẽ cho mục đích đó, Hoa kỳ đã chính thức đưa ra cấp 50 Mbit/s  
dựa trên tín hiệu STS-1 đang được sử dụng của SONET tại hội nghị ở Brazin vào tháng Hai năm 1987  
còn CEPT tìm cách chứng minh sự cần thiét của cấp tốc độ 150Mbit/s vì nó có thể thích hợp với cả hai  
hệ phân cấp số kiểu Bắc Mỹ và kiểu Châu Âu.  
Kết quả là, đề án của Mỹ đã được thay đổi thành 149,976 Mbit/s của cấu trúc 13Bx180, dựa trên tín hiệu  
STS-3, tại Hội nghị ở Hamburg vào tháng 7 cùng năm đó, còn CEPT đề xuất tín hiệu 155,520 Mbit/s của  
9Bx270 đối lập với của Mỹ. Người ta đã tranh cãi suốt một thời gian dài về hai cấu trúc này và điểm tranh  
cãi sôi nổi nhất là sự chung hoà giữa tín hiệu DS-2 của 8,448 Mbit/s và DS-3E của 34,368 Mbit/s thoả  
thuận cuối cùng qua hội nghị ở Seoul vào tháng Hai năm 1988 là cấu trúc 9Bx270. Tiêu chuẩn NNI được  
thoả thuận là tiêu chuẩn trong các khuyến nghị G-707 - G.709 của ITU-T và phân cấp số đồng bộ, tập  
trung trên tín hiệu STM-1 của cấu trúc khung 9Bx270 và tốc độ bít 155,520Mbit/s, đã được chính thức  
hoá.  
Ngay cả sau khi khuyến nghị của ITU-T đã được ổn định thì các hoạt động nghiên cứu và đổi mới về  
phân cấp số đồng bộ vẫn được tiếp tục. Vào thời điểm khi tiêu chuẩn phân cấp số đồng bộ lần đầu tiên  
được quy định, hệ thống ghép kênh đồng bộ đã có một cấu trúc hoàn chỉnh như hình 1.40. Tuy nhiên, khi  
những khuyến nghị G.781 - 784 và G.957 - 958 (đều dựa trên cơ sở phân cấp số đồng bộ) đã được tiêu  
chuẩn hoá để hoàn chỉnh trong quá trình nghiên cứu hai năm sau đó, thì hệ thống ghép kênh đồng bộ đã  
được đơn giản hoá như cấu trúc trong hình 1.41. Có thể thấy được rằng các đường ghép kênh phân cấp  
kiểu châu Âu tương đồng một cách đáng kể với các đường ghép kênh phân cấp kiểu Mỹ, và rằng đã bổ  
sung các khái niệm mới, chẳng hạn như AUG, TUG-3. Hiểu theo đúng nghĩa của nó thì phạm vi mà  
Metrobus đóng góp cho việc tiêu chuẩn hoá SONET và SONET đóng góp cho việc tiêu chuẩn hoá phân  
cấp số đồng bộ là cực kỳ to lớn. Rất nhiều đặc trưng của phân cấp đồng bộ có nguồn gốc từ tiêu chuẩn  
của hệ thống Metrobus, chẳng hạn như quan điểm về mạng thông tin quang, khái niệm về hệ thống đồng  
bộ (một cách nội tại), độ rõ của DS-O qua khung 125m s, khái niệm về ghép kênh tầng thứ nhất, phối  
hợp tín hiệu tốc độ ghép kênh bằng việc điều khiển số hiệu của công tenơ, thiết lập tín hiệu cấp 150  
Mbit/s tiêu chuẩn, và nâng cao độ linh hoạt và độ tin cậy của hệ thống nhờ sử dụng mào đầu một cách  
hiệu quả. Cũng như vậy, cấu trúc hệ thống phân cấp, hệ thống hoá cấu trúc mào đầu, đồng bộ hoá bằng  
con trỏ, và khả năng cấu trúc mạng thông tin liên tục địa, đều xuất phát từ tiêu chuẩn kết nối của SONET.  
Dựa trên những cơ sở đó, tiêu chuẩn phân cấp số đồng bộ là tiêu chuẩn cho phép cấu trúc nên mạng  
thông tin toàn cầu qua việc điều chỉnh kết hợp hai kiểu phân cấp số của Bắc Mỹ và của Châu Âu.  
Hình 1.40 Cấu trúc ghép kênh đồng bộ số giai đoạn đầu tiên  
Hình 1.41. Cấu trúc ghép kênh đồng bộ  
Mặt khác, phân cấp số đồng bộ vốn được khởi đầu vì mục đích tiêu chuẩn hoá NNI của B-ISDN, đã có  
ảnh hưởng rất lớn đến tiêu chuẩn UNI của B-ISDN. Trước hết, ảnh hưởng trực tiếp của NNI của B-ISDN  
là đã quy định 155,520 Mbit/s cho tốc độ bít tiêu chuẩn của NNI của B-ISDN và trong số quy định tốc độ  
bít trường tin thấp hơn 149,760 Mbít/s. Ngoài ra, ảnh hưởng có tính chất cơ bản khác nữa là nó có các tế  
bào ATM được ánh xạ trong đường bao của trường tin VC-4 để phát đi cơ sở phân cấp số đồng bộ của  
UNI của B-ISDN. Nói một cách chính xác, phân cấp số đồng bộ đã đóng một vai trò chủ chốt trong việc  
hình thành khái 1.4.2. SHD và SONET  
Như trên đã giải thích về quá trình tiêu chuẩn hoá phương thức truyền dẫn đồng bộ, SDH và SONET, có  
một mối quan hệ hết sức mật thiết. Đó chính là: hoạt động tiêu chuẩn hoá SONET tạo điều kiện thuận  
tiện cho tiêu chuẩn SDH và nó cũng mở rộng SONET để SONET được sử dụng cho thông tin hoàn cầu.  
Do vậy cần phải hiểu rằng giải thích SDH là đã bao hàm cả việc giải thích SONET. Tuy nhiên vẫn có một  
số khác biệt nhỏ giữa SDH và SONET. Nếu những sự khác biệt tiêu biểu giữa chúng ta có thể đếm trên  
đầu ngón tay thí điểm bắt đầu cơ bản của SDH là cấp 150Mbít/s, trong khi SONET là cấp 50Mbít/s. Có  
nghĩa là, trong khi SDH kết hợp DS-4E với tín hiệu mức thấp thành tín hiệu cấp cao nhất thì SONET có  
DS-3 như tín hiệu cấp cao nhất. Do có một khái niệm về giao diện, cho nên, đương nhiên, đây chẳng  
phải là một sự khác biệt đáng kể. Có nghĩa là nếu ba lần của tín hiệu STS-1 (Tín hiệu chuyển giao đồng  
bộ cấp 1) là 51,840 Mbít/s tín hiệu truyền dẫn cơ bản của SONET - được phối ghép để tạo thành STS-3C  
thì nó cũng có thể bằng với tín hiệu STM-1-155,520 Mbít/s của SDH, SDH và SONET có sự khác biệt  
nào đó về các loại tốc độ truyền dẫn. STM (155,520 Mbít/s, là một khối cơ bản, STM - 4 (622,080 Mbít/s),  
gấp bốn lần của STM-1 và STM-16 (2.488,320 Mbít/s), gấp bốn lần của STM-4, là những đối tượng quan  
tâm chính trong SDH. Trong khi đó, ở trường hợp SONET, STS-1 (51,840 Mbít/s) là tốc độ cơ bản,  
STS-3 (155,520 Mbít/s) STS-9, STS-12 (622,080 Mbít/s)STS-18, STS-24, STS-36, STS-36, STS-48  
(2.488,320 Mbít/s) là các đối tượng quan tâm (tham khảo bảng 1.9); khi đó, nói chung, tín hiệu STM-n  
bằng với tín hiệu STS-3n trong tốc độ truyền dẫn :  
Bảng 1.9 Tốc độ truyền dẫn của SDH và của SONET  
SDH  
SONET  
N
STM - N  
N
1
STS - N  
51.840 Mbps  
1
4
155.520 Mbps  
622.080 Mbps  
3
9
155.520 Mbps  
466.560 Mbps  
12  
18  
622.080 Mbps  
933.120 Mbps  
24  
36  
48  
1,244.160 Mbps  
1,866.240 Mbps  
2,488.320 Mbps  
16  
2,488.320 Mbps  
Về mặt cấu trúc khung, SONET giảm đi ba lần so với SDH. Nếu SDH là STM-1, nó có cấu trúc 9x270B  
và STS-1 của SONET có cấu trúc 9x90B, bằng một phần ba kích thước của SDH. Cũng như vậy, mào  
đầu đoạn của STM-1 trong dạng 9x9B được bố trí ở hàng đầu của khung STM - 1, mào đầu đoạn của  
STS-1 dưới dạng 9x3B được bố trí ở hàng đầu của khung STS-1. Sau đó, trong cả hai trường hợp, hàng  
thứ tư được dành riêng cho con trỏ (pointer). Cụ thể là, việc lựa chọn hàng thứ nhất, thứ tư và thứ bảy  
của mào đầu đoạn trong STS-1 tương ứng với mào đầu đoạn của STS-1 và việc sử dụng các thành phần  
này là như nhau trong cả hai trường hợp.  
SDH và SONET có một số khác biệt trong khối tín hiệu cấu thành. Gốc gác của vấn đề như vậy là vì  
STM-1 là cấp 155Mbít/s và STS - 1 là cấp 50Mbít/s. Do đó, trong trường hợp STM - 1 cần phải ghép  
kênh một cách có hệ thống tất cả các tín hiệu phân cấp từ DS-1 đến DS-4E, trong khi đó, ở trường hợp  
STS-1 chỉ cần thiết ghép kênh có hiệu quả năm loại tín hiệu phân cấp là DS-1, DS-1E, DS-1C  
(3,152Mbít/s), DS-2 và DS-3. Do vậy, trong trường hợp STM-1, các khối tín hiệu ở giữa, chẳng hạn như  
C, VC, TU, TUG, AU, AUG v.v.... sẽ được thiết lập và thủ tục ghép kênh đồng bộ toàn bộ hệ thống như  
trong hình 1.41 là cần thiết. Ngược lại, trong trường hợp STS-1 chỉ có một khối tín hiệu trung gian, gọi là  
một nhánh ảo (VT-virtual tributary) là sẽ được thiết lập. VT nayf tương ứng với VC của SDH. Các VT  
tương đương với VC-11, VC-12 VC-2 được gọi tương ứng là VT 1,5, VT2 và VT6, còn VT3 được bổ  
sung cho DS-1C.  
Vì đơn vị tín hiệu trung gian liên quan có khác nhau, cho nên SDH và SONET cũng khác nhau về cấu  
trúc ghép kênh. Trong trường hợp SDH cấu trúc thống kê hệ thống như trong hình 1.41 là cần thiết ,  
trong đó nó nối kết C, VC, TU, TUG, AU, AUG ATM-n với nhau, còn trong trường hợp SONET, chỉ cần  
đến một thủ tục ghép kênh đơn giản là đấu nối DS-m, VT và STS-1. Sau đó, phương pháp ánh xạ các tín  
hiệu phân cấp thành VT-1,5 VT 2 và VT 6 cũng giống như phương pháp ánh xạ mỗi tín hiệu phân cấp  
thành VC-11, VC-12 và VC-2, và phương pháp ánh xạ DS-1C thành VT3 sẽ sử dụng phép ánh xạ tuân  
theo căn chỉnh dương, không và âm. Phương pháp dùng để ghép kênh các VT này thành đường bao  
trường tin STS-1, tức là SPE (Synchronous Payload Envelope - Đường bao trường tin đồng bộ) cũng  
giống như phương pháp ghép kênh VC liên quan thành VC-3 qua TUG-2. Trong trường hợp thứ hai, việc  
ánh xạ DS-3 thành SPE cũng giống như phương pháp ánh xạ DS-3 thanh VC-3, nhưng phép ánh xạ  
SYNTRAN DS-3 thì được cung cấp phụ thêm.  
Về phương diện thuật ngữ, khi mối quan hệ tương ứng giữa SONET và STM được tóm lược, thì VT 1,5  
VT2, VT6 lần lượt tương ứng với VC-11, VC-12, VC-2, STS-1SPE tương ứng với VC-3 và STS-3C với  
STM-1. Khi các thuật ngữ liên quan đến phân cấp cần đối sánh, phương tiện vật lý, đoạn tái tạo, đoạn  
ghép kênh và lớp đường truyền được đặt ra trong SDH sẽ được gọi là lớp quang, lớp đoạn, lớp đường  
dây và lớp đường truyền trong SONET. Các thuật ngữ xác định khác liên quan đến ánh xạ, ghép kênh,  
mào đầu và đồng bộ hoá thì hầu như giống nhau.  
SONET cũng như SDH đều dựa trên khái niệm phân cấp, sử dụng khung 125 m s, dùng mào đầu hệ  
thống, và có tốc độ truyền dẫn cơ bản giống nhau. Nhưng nó được điều tiết nhờ sự liên kết tất cả các tín  
hiệu phân cấp số Bắc Mỹ kể cả tín hiệu DS-1E kiểu Châu Âu, và nó chứa đựng cả thủ tục ghép kênh  
tầng thứ nhất.  
Ngoài ra, SONET sử dụng đồng bộ hoá liên quan tới phương pháp con trỏ, giống như của SDH, cho nên  
có thể kết nối toàn bộ nước Mỹ bằng mạng truyền dẫn đồng bộ.  
niệm B-ISDN cũng như đi tới một phương pháp truyền dẫn đồng bộ mới.  
1.4.3 Phân cấp số cận đồng bộ so với đồng bộ  
Lớp (mức) số hiện có bao gồm các tín hiệu DS-1-DS-4 của hệ thông Châu Âu/ Bắc Mỹ, đã được bộ phận  
tiêu chuẩn hoá viễn thông của ITU và Bell System quy định. Trong số đó, các tín hiệu của hệ thống Bắc  
Mỹ đã được uỷ ban T1 của Bắc Mỹ thừa nhận trở lại như tiêu chuẩn Bác Mỹ, đồng thời, tiêu chuẩn đó  
cũng được biết đến như là tiêu chuẩn do Bell System thiết lập lại.  
Để phân biệt lớp số này với phân cấp số đồng bộ được thực thi gần đây, nó được gọi là phân cấp số cận  
đồng bộ.  
Phân cấp số cận đồng bộ, một hệ phân cấp số tiêu chuẩn đang được sử dụng, được phân loại thành hệ  
thống Châu Âu và hệ thống Bắc Mỹ như (a) và (b) trong Hình 1.42 Phân cấp số cận đồng bộ của Bắc Mỹ  
được hình thành từ DS-1 (1,544 Mbít/s), DS-1C (3,152 Mbít/s), DS-2 (6,312 Mbít/s) và DS-3 (44,736  
Mbít/s), DS-4E (139,264 Mbít/s). Phân cấp số cận đồng bộ Châu Âu bao gồm DS-1E (2,048 Mbít/s),  
DS-2E (8,448 Mbít/s), DS03E (34,368 Mbít/s) và DS-4E (139,264 Mbít/s), DS-5E (564,992 Mbít/s).  
Ghép kênh theo mỗi giai đoạn là ghép kênh cận đồng bộ và nó được đồng bộ hoá nhờ cân chỉnh dương  
- đó là một loại nhồi bít.  
Phân cấp số đồng bộ, như được trình bày trong (c) của hình 1.42, được hình thành từ các tín hiệu  
STM-n. Đồng thời, n là một số nguyên lần, mà 1,4 và 16 là các số được quan tâm chủ yếu. Các tốc độ bít  
tương ứng với các số này là 155,520 Mbít/s, 622,080 Mbít/s và 2.488,320 Mbít/s. Một tín hiệu STM-n  
được hình thành thông qua ghép kênh đồng bộ từ các tín hiệu phân cấp DS-1, DS-2, DS-3 và DS-4E,  
DS3E, DS-2E, DS-1E. Đồng thời, các tín hiệu DS-1C hoặc DS-5E không được sử dụng. Tín hiệu STM-n  
được cấu thành từ n lần các tín hiệu STM-1 mà nó đã là sự ghép kênh xen byte (BIM).  
Tuy nhiên, cấu trúc mào đầu của nó được tiến hành một cách hơi khác.  
Khi so sánh (a), (b) trong Hình 1.42 với (c) trong cùng hình đó chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng  
phân cấp số đồng bộ có một cấu trúc đơn giản hơn nhiều so với cấu trúc của phân cấp số cận đồng bộ.  
Có nghĩa là, tất cả các tín hiệu phân cấp của hệ thống Bắc Mỹ và Châu Âu chỉ có một giai đoạn ghép  
kênh. Trong một hệ thống phân cấp số câu đồng bộ việc ghép kênh không đồng bộ được thực hiện khi  
tín hiệu trong một cấp được ghép kênh thành cấp của giai đoạn kế sau. Trong một hệ thống phân cấp  
đồng bộ, việc ghép kênh đồng bộ được thực hiện khi tín hiệu phân cấp được ghép thành tín hiệu STM-n.  
Vả lại, trong phân cấp số cận đồng bộ tín hiệu DS-m thuộc về cấp của giai đoạn kế sau của tín hiệu  
DS-(m-1); nhưng tất cả các tín hiệu này có mối quan hệ ngang bằng trong phân cấp số đồng bộ.  
(a) Phân cấp không đồng bộ (Bắc Mỹ)  
(b) Phân cấp không đồng bộ (Châu Âu)  
(c) Phân cấp không đông bộ  
Hình 1.42. Phân cấp số  
1.4.4. Khái niệm phân cấp và mào đầu  
Nói chung, các tín hiệu số được gửi đi qua đường truyền, đoạn tái tạo, đoạn ghép kênh và môi trường  
vật lý như được minh hoạ trong hình 1.43. Khi áp dụng các khái niệm phân cấp cho quá trình truyền dẫn  
số thì đường truyền dẫn có thể được phân chia thành một lớp, đường truyền, một lớp đoạn ghép kênh,  
một lớp đoạn tái tạo và một lớp môi trường vật lý (hoặc lớp quang học).  
Cấu trúc của ghép kênh đồng bộ có một sự sắp xếp theo không gian có hệ thống phù hợp với các khái  
niệm phân lớp. Trong Hình 1.44, khung STM-n được phân loại theo chức năng; mào đầu của đoạn ghép  
kênh được áp dụng trên lớp của đoạn tái tạo và trên lớp của đoạn ghép kênh. Hơn nữa, mào đầu đường  
truyền được áp dụng cho lớp đường truyền và các mào đầu cho bất kỳ các đường có mức thấp hơn nào  
khác thì hiện diện trong hình bao trường tin bên trong STM.  
Các mào đầu được sử dụng trong ghép kênh đồng bộ được phân chia thành mào đầu đoạn  
(SOH-Section overhead) và mào đầu đường truyền (POH - Path Over-head), dựa trên những khái niệm  
phân cấp như mô tả ở trên. Trong số chúng, SOH bao gồm một mào đầu đoạn đường trục và đầu đoạn  
ghép kênh.  
Hình 1.43. Đường truyền dẫn (một đường) và khái niệm phân lớp của tín hiệu số  
Mào đầu đoạn tái tạo  
Con trỏ  
Mào đầu đường  
truyền của lớp có của lớp có mức thấp  
mức cao  
Mào đầu đường truyền  
Mào đầu đoạn tái tạo  
Hình 1.44. Cấu trúc khung và các khái niệm phân lớp của STM-n  
SOH được chèn vào trong giai đoạn cuối cùng khi tín hiệu STM-n được hình thành còn POH được chèn  
vào bất kỳ khi nào tín hiệu công tenơ ảo được tạo thành.  
SOH được chèn vào và được tách ra trong đoạn tái tạo hoặc đoạn ghép kênh để chỉ thị hiệu năng truyền  
dẫn cũng như hoạt động và bảo dưỡng tín hiệu STM-n. Như được minh hoạ trong hình 1.44, các SOH  
nằm bên trên và bên dưới của con trỏ được sử dụng tương ứng cho đoạn tái tạo và đoạn ghép kênh. Có  
nghĩa là B1, SOH cho BIP-8 (Bit Interleaved Parity-8) được bố trí trên phần phía trên của PTR và nó  
được kiểm tra và tính toán lại trong mỗi bộ tái tạo.  
Tuy nhiên, ba byte của B2-SOH cho BIP-24- được bố trí ở phần phía dưới của PTR và chúng chỉ được  
kiểm tra ở cuối đường dây. Như đã đề cập ở trên, POH được phân chia thành POH của lớp có mức cao  
cho VC-4 hoặc VC-3 và POH của lớp có mức thấp hơn dùng cho VC-11, VC-12 và VC-3. Trong bất kỳ  
trường hợp nào POH cũng được sử dụngcho truyền thông đầu cuối - tới - đầu cuối giữa những điểm, nơi  
các VC tương ứng được hình thành và giải toả.  
Để giải thích cấu trúc của mào đầu đoạn và mào đầu đường hãy xem khung STM-1 trong hình 1.45, (a),  
(b). Việc sử dụng mỗi loại mào đầu trong hình này như sau: A1, A2 dùng cho bít sắp xếp khung; B1, B2;  
B3 dùng để kiểm tra ngang bằng chẵn lẻ, C1, C2 dùng cho số lượng tín hiệu và D1-D12 dùng cho kênh  
truyền số liệu, còn E1 và E2 dùng cho kênh nghiệp vụ; F1, F2 dùng cho kênh khách hàng; G1 là để kiểm  
tra trạng thái đường truyền, H4 dùng để chỉ thị đa khung; J1 dùng để ghi dấu tích đường truyền; K1, K2  
dùng cho chuyển mạch bảo vệ tự động; Z1~ Z5 là các mào đầu dự phòng cho các mục đích khác.  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
J1  
1
2
3
4
A1*  
B1  
D1  
A1*  
A1*  
A2*  
E1  
D2  
A2*  
A2*  
C1*  
F1  
D3  
X*  
X
X*  
X
B3  
C2  
G1  
F2  
con  
trỏ  
5
6
7
8
9
B2  
B2  
B2  
K1  
K2  
H4  
Z3  
Z4  
Z5  
D4  
D7  
D10  
Z1  
D5  
D8  
D11  
Z2  
D6  
D9  
D12  
E2  
Z1  
Z1  
Z2  
Z2  
X
X
Hình 1.45. Cấu trúc mào đầu  
* Các byte không được pha trộn  
(a) Mào đầu đoạn (b) Mào đầu đường truyền  
1.4.5. Cấu trúc của khung STM-n  
Khung STM-n có một cấu hình như được trình bày trong hình 1.46, dựa trên cơ sở các khái niệm phân  
lớp định nghĩa trong phần trước. Do cấu trúc này chiếm một vùng 9Bxnx270 (B=Byte) trong vòng 125 m  
s, cho nên nó có một tốc độ bít là n x 155,520 Mbít/s (=9 x n x 270 x 8 x 8 kbit/s). Trong đó, 9B x n x 9  
được phân bố cho vùng mào đầu SOH và con trỏ AU (Khối quản lý) và phần còn lại của 9B x n x 261  
được phân bố cho đường bao trường tin của STM-1.  
Do vậy, STM-1, một tín hiệu cơ bản của phân cấp số đồng bộ, sẽ có kích thước là 9B x 270. Cũng như  
vậy, 9B x 9 trong số đó là cùng của mào đầu đoạn và con trỏ AU, và cũng chừng ấy 9B x 261 là đường  
bao trường tin, và tốc độ bít trở thành 155,520 Mbít/s.  
Theo quan điểm cấu trúc khung STM-1, SOH được tạo thành từ hai khu vực 3 x 9B và 5 x 9B, con trỏ  
AUPTR bao gồm khu vực 1 x 9B và cấu hình của nó như được trình bày trong hình 1.45. Một VC-4 được  
ánh xạ trong vùng còn lại, hoặc ba tín hiệu VC-3 có thể được ánh xạ sang vùng đó cùng vói mào đầu cố  
định (FOH-Fixed Overhead). Các tín hiệu VC-4 và VC-3 đều bao gồm hình bao trường tin và vùng POH  
có kích thước 9 x 1B được bố trí ở trước mỗi hình bao trường tin. Đồng thời, cấu hình bên trong của  
POH như trong (b) của hình 1.45. VC-4 hoặc VC-3 mà được gán con trỏ AUPTR thì được gọi là AU-4  
hoặc AU-3.  
Hình 1.46. Cấu trúc của khung STM-n  
Do vậy, trong cấu trúc của khung STM-1, AU-4 là tổ hợp của vùng trường tin STM-1 và vùng con trỏ AU,  
và cấu trúc cuối cùng của STM-1 có thể đạt được khi các vùng SOH tương ứng được đặt lần lượt vào  
phần phía trên/ phía dưới của AU-4.  
1.4.6 Cấu trúc ghép kênh đồng bộ  
Như đã được mô tả, quá trình ghép kênh đồng bộ xử lý tất cả các tín hiệu phân cấp số một cách ngang  
bằng và nó sẽ thiết lập nên các tín hiệu STM-n. Trong hình 1.41, sơ đồ tổng thể của cấu trúc ghép kênh  
đồng bộ trên các tín hiệu phân cấp đã được đưa ra.  
Trong hình này, các con số nằm trong ngoặc chỉ rõ số lượng tín hiệu cần thiết cho qúa trình ghép kênh  
tương ứng. Qua trình ghép kênh đồng bộ nằm trong hình chữ nhật in chấm (được chỉ thị bằng chữ SM),  
trong khi đó, hình chữ nhật phía bên trái được chỉ thị bằng chữ AM, biểu thị cho quá trình ghép kênh  
không đồng bộ mà trong đó các tín hiệu phân cấp được hìn thành.  
Tại bước đầu tiên của quá trình ghép kênh đồng bộ, các tín hiệu của mỗi cấp được ánh xạ sang các  
công tenơ tương ứng. Đồng thời, phương pháp chèn dương/không/âm hoặc chỉ chèn dương trong khối  
bít được sử dụng để đồng bộ hoá. Một VC (Công tenơ) được hình thành nếu đưa thêm POH vào  
côngtenơ, và một TU (khối phân nhánh) được hình thành nếu gắn thêm PTR vào nó. Tuy nhiên, như  
trong trường hợp VC-4, VC-3, TU sẽ trở thành AU (Khối quản lý) nếu tín hiệu được ánh xạ thẳng sang  
STM-1 mà không qua các VC khác. Khi đó, số m (m=1, 2, 3, 4) gán cho mỗi khối tín hiệu sẽ chỉ thị rằng  
mỗi tốc độ bít của khối tín hiệu liên quan sẽ tương ứng với cấp DS-m. Khi m=1, nó được chia nhỏ thành  
11 và 12 và chúng biểu thị tương ứng cho tốc độ bít của hệ thống Bắc Mỹ DS-1 và hệ thống Châu Âu  
DS-1E.  
Hình 1.47. Qúa trình ghép kênh trên đường truyền  
Tuy nhiên, trong trường hợp STM-n, tốc độ bít gấp n lần 155,520 Mbít/s  
Trường hợp TU-1 (TU - 11 hoặc TU-12) nó được ghép kênh thành VC-3 và VC-4 thành kiểu TUG (nhóm  
của khối phân nhánh) sau khi được gộp lại thành bốn. TU-2 có thể được xem như tương đồng với  
TUG-2. Ngoài ra, TU-3 có thể được xem như bằng với TUG-3. VC-3 có thể được ghép kênh thành VC-4  
sau khi đã được định tuyến với TU-3, hoặc nó có thể được ghép thẳng vào AU (khối quản lý -  
Administrative Unit) nhờ định tuyến cho AU-3. Nhóm đơn vị quản lý AUG- Administrative Unit Group) có  
thể được xem như tương đồng với AU-4. Sẽ đạt được tín hiệu STM-n khi gán mào đầu đoạn (SOH) vào  
n nhóm AUG đã được ghép kênh.  
Ghép kênh đồng bộ được đưa ra như một trong các thí dụ trong hình 1.47 là quá trình ghép kênh trên  
các đường truyền của DS-1\C-11\VC-11\TU-11\TUG-2\TUG-3\VC-4\TU-4\AUG\STM-n, được chỉ dẫn  
bằng các đường kẻ đậm trong Hình 1.41. Như được trình bày trong hình 1.47, tín hiệu DS-1 được ánh xạ  
trước hết thành C-11 và sau đó VC-11 POH được nạp vào đó để biến đổi nó thành VC-11. Đạt được  
TUG-2 khi TU-11 PTR được gán tới VC-11, và sau đó nó được ghép thành bốn. Ngay đối với các tín hiệu  
TUG-2 chúng ta có thể thấy rằng các con trỏ TU-11 PTR của các TU-11 được gộp lại với nhau và được  
đưa ra ngoài. Ngoài ra, TUG-3 đạt được nhờ ghép kênh một TUG-2 thành 7 TUG-2 và sau đó, gán FOH  
vào đầu của chúng. TUG-3 lại được ghép thành 3 TUG-3 và các FOH cùng các VC-4 POH sẽ được gán  
vào phía trước chúng để đạt được VC-4.  
Theo bề ngoài, tín hiệu VC-4 cũng giống như tín hiệu thu được nhờ ghép TUG-2 thành 21 TUG và sau  
đó gán VC-4 POH và FOH vào phía trước chúng.  
Khi kiểm tra các kết quả ghép kênh chúng ta có thể biết rằng mỗi một trong 84 tín hiệu TU-11 có thể  
được truy nhập trên VC-4. Đồng thời, FOH chỉ được sử dụng như một mào đầu được điền tạm để điều  
chỉnh kích thước.  
Có thể thu được AU-4 nhờ gán AU-4 PTR vào VC-4 và nó cũng giống như tín hiệu AUG. Cuối cùng có  
thể thu được tín hiệu STM-n khi một AUG được ghép thành n AUG và sau đó. một mào đầu đoạn được  
gắn trên chúng.  
1.4.7 Con trỏ và đồng bộ hoá  
Trong SDH, kỹ thuật con trỏ được sử dụng để đồng bộ hoá. Con trỏ này được sử dụng để chỉ thị sự thay  
đổi mối quan hệ khi VC được đồng chỉnh theo tín hiệu TU hoặc AU và khi VC chỉ thị địa chỉ xuất phát  
trong một khung TU hoặc AU và điểm xuất phát của nó bị thay đổi.  
Như được trình bày trong hình 1.41 các loại con trỏ khả dụng là AU-4 PTR, AU-3 PTR, TU-3 PTR, và  
TU-11 PTR, TU-2 PTR, TU-12 PTR v.v.... Trong số đó AU-4 PTR, AU-3 PTR xuất hiện trên vị trí của AU  
PTR được chỉ rõ trong hình 1.46 và TU-3 PTR được bố trí trên đỉnh của hàng đầu tiên trong phạm vi  
khung TU-3.  
Các con trỏ của lớp có mức cao nói trên được đánh dấu với H1, H2 và H3. các con trỏ của lớp có mức  
thấp, chẳng hạn như TU-11 PTR, TU-2 PTR và TU-12 PTR được đánh dấu bằng V1, V2 và V3. Các con  
trỏ của lớp mức thấp này được cấu trúc như sau: ba trong số các byte đầu tiên của mỗi đoạn sẽ đạt  
được nhờ phân chia TU tương ứng thành một đoạn 125 m s. Trong số đó, việc ứng dụng các đoạn mà  
ba byte đầu tiên của chúng là các con trỏ V1, V2 và V3, còn byte thứ tư là V4, thì còn chưa được xác  
định. Đồng thời, vùng trường tin của mỗi TU sẽ bố trí các địa chỉ trên byte đứng ngay đằng sau V2 và  
sau đó, theo trình tự 0, 1, 2 ....  
Các con trỏ H1, H2, H3 và V1, V2, V3 có cùng một chức năng như nhau, trong khi chúng được dánh dấu  
một cách khác nhau. Hình 1.48 chỉ rõ phải xác định cách sử dụng ba byte này như thế nào. Bốn bít của  
cờ hiệu số liệu mới (NDF-New Data Flag) chỉ thị trạng thái của số liệu mới, còn bít SS được sử dụng để  
phân định loại của TU hoặc AU tương ứng. Địa chỉ bắt đầu của VC tương ứng được ghi trên 10 bít sau  
đó. 10 bít này được phân chia thành 5 bít I (Increment - gia tăng) và 5 bít D (Decrement - giảm) như  
được trình bày trong hình. Trong số đó, bít I sẽ bị huỷ bỏ mỗi khi địa chỉ của điểm xuất phát được gia  
tăng và bít D bị huỷ bỏ mỗi khi địa chỉ của điểm xuất phát giảm đi. Cuối cùng, byte H3 (hoặc V3) được sử  
dụng để nạp các số liệu hợp lệ khi thực hiện việc chèn âm.  
Hình 1.48. Cấu hình và chức năng của con trỏ  
Khi thực hiện một ghép chèn dương, các số liệu hợp lệ được phát đi bằng cách nạp tải cho byte đứng  
ngay đằng sau H3 (V3). Khi xảy ra sự khác nhau về tần số giữa khung TU và AU hoặc giữa các VC (là  
các trường tin của chúng) thì các byte con trỏ có thể được sử dụng để giải quyết các vấn đề này nhờ sử  
dụng phép chèn dương/ không/âm. Nếu tần số của VC tương ứng bắt đầu lớn hơn so với khung TU/AU  
thì trường tin cần phát sẽ được gia tăng. Đồng thời, đợi cho tới khi tổng số các dữ liệu được tích tụ do sự  
khác biệt tần số trở nên bằng 1 byte (trong trường hợp VC-4 là ba byte), rồi khi đó nạp chúng cho một  
byte H3 hoặc V3 (trong trường hợp VC-4 là 3 byte), đồng thời huỷ bỏ các bít D. Khi đó, trên khung kế  
sau, ghi lại địa chỉ mới mà nó đã được giảm đi 1 tương ứng với địa chỉ đã được ghi trước đó trên một  
con trỏ 10 bít để tiến hành chèn âm. Sử dụng các phương pháp tương tự để tiến hành chèn âm khi tần  
số của VC tương ứng bắt đầu thấp hơn so với khung TU/AU. Tuy nhiên, khi đó các bít I sẽ bị huỷ bỏ và  
các số liệu không hợp lệ sẽ được nạp sang byte tiếp sau của H3 hoặc V3 và địa chỉ sẽ được gia tăng 1.  
1.4.8 Các đặc điểm của Phương pháp Truyền dẫn Đồng bộ  
Như đã phân tích cho tới lúc này, khi được so sánh với truyền dẫn không đồng bộ có một số đặc điểm  
nổi bật. Trong phần sau đây sẽ giải thích đặc điểm này.  
Khung 125 às  
Có thể thấy đặc điểm đầu tiên của truyền dẫn đồng bộ trong cấu trúc khung của nó; đó là cấu  
trúc khung được hình thành bằng các khối 125. Đặc điểm này không có trong phân cấp số không  
đồng bộ hiện dùng. Trong phân cấp số đồng bộ nó cho phép việc truy nhập từ các tín hiệu phân  
cấp mức cao tới các tín hiệu phân cấp mức thấp; đặc biệt là xuống tới tín hiệu DS-O được thực  
hiện một cách dễ dàng. Bằng đặc điểm này, toàn bộ quá trình xử lý số liệu có thể được thực hiện  
nhờ một đơn vị byte. Tuy nhiên đặc điểm này làm nảy sinh vấn đề trong phân cấp số không đồng  
bộ hiện tại. Do đó mà biến động (jitter) thời gian đợi trở nên nặng nề. Có nghĩa là việc chèn  
dương/không/âm là cần thiết khi các tín hiệu C-1 và C-2 được hình thành từ các tín hiệu số DS-1  
và DS-2. Nhờ đó, các vấn đề liên quan đến jitter có thể được giải quyết.  
Sự hợp nhất các phân cấp số  
Cấu trúc ghép kênh đồng bộ có khả năng hoà hợp các tín hiệu số Bắc Mỹ và Châu Âu. Có nghĩa  
là, các tín hiệu STM-n có cùng hình dạng bề ngoài có thể được hình thành qua thủ tục ghép kênh  
đồng bộ ngay cả khi được gán bất kỳ tín hiệu nào trong số các DS-1, DS-2, DS-3 của Bắc Mỹ và  
các DS-1E, DS-2E, DS-3E, và DS-4E của Châu Âu. Ngoài ra, các tín hiệu Bắc Mỹ có thể kết hợp  
được với các tín hiệu Châu Âu trong quá trình ghép kênh đồng bộ, và ngược lại. Trước đây,  
không thể thực hiện được điều này. Ghép kênh tất cả các đường là phi thực tế và khả năng sử  
dụng phương thức đó cần phải được xác định để chuẩn bị cho sự liên kết mạng toàn cầu.  
Cấu trúc phân lớp  
Một trong những đặc điểm nổi bật của truyền dẫn đồng bộ là nó có thể thoả hiệp các khái niệm  
phân lớp khác nhau. Dựa trên khái niệm này, các mào đầu được phân loại thành SOH và POH  
trong cấu trúc khung. Có nghĩa là mạng thông tin chủ yếu được phân lớp thành các đường và  
các đoạn. Các mào đầu cần thiết cho các đường sẽ không được xử lý tại các đoạn mà chúng  
được truyền đi một cách trong suốt. Các SOH nằm ở phần phía trên hoặc phần phía dưới của  
con trỏ sẽ được phân loại theo chức năng - chúng được gán tương ứng với chức năng đoạn tái  
tạo và chức năng đoạn ghép kênh. Có nghĩa là các đoạn lại được phân lớp một lần nữa thành  
các đoạn ghép kênh mức cao và các đoạn tái tạo mức thấp.  
Sử dụng một cách hệ thống các mào đầu  
Trong các tín hiệu STM-1, mào đầu đoạn và con trỏ chiếm một không gian 9x9B. Mào đầu thực  
tế sẽ tăng lên khi các mào đầu và con trỏ của đường đang xét bị vượt quá trên một số các tầng.  
Chúng ta có thể biết rằng các mào đầu trong STM-1 vượt quá 105 khi tốc độ báo hiệu DS-4E là  
139,264 Mbit/s. Đây là một điều cải tiến to lớn so với mạng phân cấp số không đồng bộ hiện nay.  
Các mào đầu được sử dụng đầy đủ sau khi được phân loại thành SOH, POH và PTR. Chúng  
được sử dụng để tạo điều kiện dễ dàng cho công tác quản lý điều hành và sửa chữa mạng thông  
tin.  
Đồng bộ hoá bằng con trỏ.  
Trong quá trình ghép kênh đồng bộ, mạng thông tin được đồng bộ hoá nhờ việc thỉnh thoảng gài  
vào các con trỏ. Có nghĩa là sự xê dịch tần số giữa đồng hồ hệ thống và các tín hiệu thu có thề  
được xử lý phù họp với con trỏ và chèn dương/không/âm. Thông qua việc sử dụng bộ nhớ cơ  
động, phương pháp đồng bộ hoá kiểu này tạo điều kiện khả thi cho đồng bộ hoá băng rộng nhờ  
việc đưa ra khả năng quan hệ với môi trường cận đồng bộ. Phương pháp đồng bộ hoá bằng con  
trỏ tương ứng với việc nhồi byte, nếu chúng ta nghiên cứu nó trong bối cảnh của đồng bộ hoá  
nhồi bit. Vì lý do đó, phương pháp đồng bộ hoá con trỏ tạo ra jitter tần số thấp và jitter biên độ  
cao. Một trong những vấn đề quan trọng là phải giải quyết jitter này.  
Ghép kênh một bước  
Trong quá trình ghép kênh đồng bộ, các đường truyền trên đó các tín hiệu TUG-2 được ánh xạ  
trực tiếp thành các tín hiệu VC-4, hoặc các tín hiệu AU-3 được ánh xạ trực tiếp thành các tín  
hiệu. Cái đó gọi là ghép kênh một bước; tầng trung gian bị bỏ qua trong quá trình ghép kênh.  
Khái niệm này không hề được ứng dụng đối với quá trình ghép kênh không đồng bộ đang được  
sử dụng.  
Ngoài ra, khi áp dụng trên một mạng thông tin, nơi một số lượng lớn các tín hiệu được gửi đi nhờ  
tiến hành một số quá trình ghép kênh, khái niệm này tạo điều kiện dễ dàng và kinh tế cho kết nối  
phân chia và kết nối chéo. Ghép kênh một bước trở nên khả thi nhờ dựa vào khái niệm  
côngtenơ.  
Khái niệm Mạng thông tin.  
Phương pháp truyền dẫn đồng bộ đã được thiết lập dựa trên cơ sở của khái niệm mạng thông  
tin. Do bởi các hệ thống thông tin quang hiện nay đã được thiết kế dựa trên quan niệm truyền  
dẫn điểm nối điểm cho nên sẽ không có hiệu quả khi thực hiện các kết nối tách/nhập hoặc nối kết  
chéo thường xuyên xảy ra đối với các tín hiệu đã được tạo ra trên các nút ở giữa, sau khi hình  
thành mạng truyền thông. Tuy nhiên, khi số lượng các hệ thống thông tin quang được sử dụng  
ngày một nhiều thì các hệ thống và các tiêu chuẩn dựa trên khái niệm của mạng quang đã trở  
nên cần thiết và khái niệm ghép kênh một bước đã được áp dụng. Hơn nữa, về mặt các mào  
đầu thì các SOH cần cho các đoạn và POhH cần cho các đường đã được phân loại và một vài  
loại mào đầu trong số đó đã được gán cho việc khai thác và bảo dưỡng mạng thông tin được  
hiệu quả.  
Mạng thông tin toàn cầu  
Một đặc điểm khác của mạng truyền dẫn đồng bộ là nó được dựa trên cơ sở khái niệm thông tin  
toàn cầu. Việc đồng bộ hoá được tiến hành một số lần qua việc sử dụng các con trỏ là yếu tố cho  
phép mạng truyền dẫn đồng bộ được đồng bộ hoá với mạng thông tin toàn cầu. Vì mục đích đó,  
phân cấp số của Bắc Mỹ và của Châu Âu đã kết nối với nhau. Nếu các mào đầu từ bên ngoài và  
cấu trúc ghép kênh được sử dụng đều dựa trên khái niệm này của mạng thông tin thì mạng  
thông tin toàn cầu có thể trở thành hiện thực.  
1.6.6 Các mạch vòng tự hàn gắn (SHR)  
1. Lợi ích của việc sử dụng các SHR  
Các mạng hiện tại với công nghệ cáp sợi quang đang sử dụng phương pháp định tuyến bảo vệ phân tập  
tự động và tìm hướng kép để bảo vệ mạng trong những trường hợp đứt cáp hoặc hư hỏng các trung tâm  
chính. Những mạng như vậy có thể được phát triển thành các vòng SHR nếu như SHR chứng tỏ được là  
Tải về để xem bản đầy đủ
doc 49 trang myanh 21420 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Hệ thống thông tin quang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docgiao_trinh_he_thong_thong_tin_quang.doc