Nâng cao chất lượng điều khiển của thiết bị bù đồng bộ statcom trong lưới điện

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐIỀU KHIỂN  
CỦA THIẾT BỊ BÙ ĐỒNG BỘ STATCOM TRONG LƯỚI ĐIỆN  
IMPROVE THE CONTROL QUALITY OF THE SYNCHRONOUS  
COMPENSATION EQUIPMENT IN THE POWER GRID  
N               
Học viên cao học Trường ĐHSPKT TP.HCM  
1. GIỚI THIỆU  
vào để giúp nhanh chóng ổn định hệ  
thống khi có sự cố nghiêm trọng xãy ra  
như thiết bị bù tĩnh (SVC) có thể được  
dùng trong hệ thống điện có kết nối với  
trang trại gió sử dụng máy phát  
DFIG[5],thiết bị bù đồng bộ tĩnh  
(STATCOM) [6]…  
Bài báo này tập trung vào việc nâng  
cao ổn định của hệ thống điện gió sử dụng  
máy phát DFIG có kết nối với lưới điện  
bằng cách áp dụng phương pháp điều  
khiển mờ thích nghi (ANFIS) thay cho bộ  
điều khiển truyền thống PID trong bộ biến  
đổi phía lưới điên.  
Máy phát điện nguồn đôi (DFIG) được  
sử dụng rộng rãi cho các trang trại gió  
hiện nay vì có nhiều ưu điểm hơn so với  
máy phát điện đồng bộ nam châm vĩnh  
cữu (PMSG) như khả năng điều khiển độc  
lập công suất phản kháng và công suất tác  
dụng, hiệu suất cao hơn do có thể phát  
điện từ rotor…Tuy nhiên, do các cuộn dây  
stator được nối trực tiếp với lưới điện nên  
loại máy phát này nhạy cảm với các nhiễu  
từ hệ thống điện, vì thế vấn đề nâng cao  
khả năng của các bộ điều khiển nhằm  
giúp tăng độ ổn định của máy phát DFIG  
cần được quan tâm và cải tiến trong nhiều  
năm nay như trong [1], dòng điện trong  
rotor của máy phát DFIG được xem xét và  
phân tích trong nhiều trường hợp khác  
nhau liên qua đến việc tăng, giảm điện áp.  
Khả năng đáp ứng của máy phát DFIG khi  
có điện áp cao trong thời gian ngắn có thể  
được cải thiện dựa vào phương pháp điều  
khiển bộ biến đổi phía lưới (GSC) đã  
được đề cập trong [2]. Hay trong [3],  
phương pháp điều khiển hồi tiếp dương  
bù quá độ cũng được trình bày để nâng  
cao độ ổn định của máy phát DFIG trong  
cả trường hợp lưới điện cân bằng và  
không cân bằng. Bên cạnh các phương  
pháp điều khiển truyền thống, giải thuật  
điều khiển gen di truyền cũng được ứng  
dụng vào điều khiển máy phát DFIG để  
nâng cao ổn định của hệ thống trang trại  
gió kết nối với lưới khi xãy ra sự có điện  
áp thấp [4].  
2. HỆ THỐNG NGHIÊN CỨU  
Trong nghiên cứu này, hệ thông nghiên  
cứu bao gồm một trang trại gió công suất  
6 MW gồm 3 x 2 MW máy phát DFIG  
được kết nối với lưới điện. Trong đó,  
trang trại gió được thay thế tương đương  
bằng một máy phát điên gió nguồn đôi  
(DFIG), hệ thống điện được thay thế bằng  
hệ 14 bus bao gồm 3 máy phát đồng bộ và  
3 tải như trong hình 1. Cụ thể từng khối  
được mô tả như sau:  
2.1 Mô hình má  phát điện gió nguồn  
đôi  
Ngoài ra, có thể ứng dụng thiết bị  
truyền tải linh hoạt xoay chiều (FACTS)  
thức:  
s r  
s  
s   
(2)  
với  
bộ.  
r là tốc độ rotor và  
s là tốc độ đồng  
Nếu máy phát vận hành dưới tốc độ đồng  
bộ thì s> 0 nên Pr< 0 dẫn đến rotor tiêu  
thụ công suất. Ngược lại nếu máy phát  
vận hành trên tốc độ đồng bộ tức là s< 0  
và Pr> 0 thì rotor cung cấp công suất lên  
lưới.  
Hình 1.Hệ thống điện nghiên cứu  
Dưới đây là các phương trình mô tả của  
máy phát điện DFIG.  
Phương trình điện áp ở stator:  
dds  
dt  
vds Rsids sqs   
(3)  
dqs  
vqs Rsiqs sds   
dt  
(4)  
Phương trình điện áp ở rotor:  
ddr  
v R i     
r   
dr  
r dr  
s
qr  
dt  
dqr  
dt  
(5)  
(6)  
v R i     
r   
qr  
s qr  
s
dr  
Hình 2 mꢀy phꢀt không đꢁng bꢂ nguꢁn  
đôi DFIG  
Công suất P và Q trên cực stator:  
3
Hình 2 thể hiện sơ đồ nguyên lý của máy  
phát điện nguồn đôi với mạch stator được  
kết nối với lưới, trong khi mạch rotor  
được kết nối với 1 bộ biến đổi phía rotor  
(RSC) và 1 bộ biến đổi phía lưới (GSC).  
Trong cấu hình này công suất của các bộ  
biến đổi được thiết kế xấp xỉ 30% công  
suất định mức máy phát.  
P .(vds.ids vqs.iqs )  
s
2
(7)  
(8)  
3
Qs .(vqs.ids vds.iqs )  
2
Công suất P và Q trên cực rotor:  
3
P .(vdr .ir vqr .iqr )  
r
2
(9)  
3
Qr .(vqr .idr vdr .iqr )  
Máy phát điện gió DFIG là máy điện  
mà cả stator và rotor có thể phát công suất.  
Công suất phát rotor tỉ lệ với hệ số trượt s  
của máy phát và được tính bằng  
2
(10)  
Trong đó:  
là từ thông của máy phát  
Các chỉ số r, s là thông số của rotor và  
stator  
Các chỉ số d và q là thông số chiếu lên  
trục d và q của hệ trục tọa độ 0dq.  
P  s.P  
r
s
(1)  
với Pr là công suất phát của rotor.  
Ps là công suất phát của stator.  
(2.2)  
Hệ số trượt được xác định bằng công  
Ngoài ra, để hệ thống có thể làm việc  
được cần phải có các bộ điều khiển cho  
RSC và GSC. Trong phạm vi bài báo này  
tác giả quan tâm đến bộ điều khiển GSC  
nhằm điều khiển ổn định điện áp DC  
chung của 2 bộ biến đổi và điều khiển  
công suất phản kháng từ 2 thông số đặc  
trưng là Idc_ref và Vqr như lưu đồ điều  
khiển cho ở hình 3 với yêu cầu điều khiển  
Pmax tức là Q = 0 [5].  
ưu điểm hệ điều khiển mờ còn tồn tại một  
số khuyết như việc thiết kế và tối ưu hóa  
hệ logic mờ đòi hỏi phải có một số kinh  
nghiệm về điều khiển đối tượng, đối với  
những người mới thiết kế lần đầu điều đó  
hoàn toàn không đơn giản.  
Ngược lại, mạng nơron có khả năng  
học nên ta có thể huấn luyện mạng để xấp  
xỉ một hàm phi tuyến bất kỳ, đặc biệt khi  
đã biết một tập dữ liệu vào/ra. Nhưng  
nhược điểm cơ bản của mạng nơron là  
khó giải thích rõ ràng hoạt động của mạng  
nơron như thế nào. Do vậy việc chỉnh sửa  
thông số trong mạng nơron rất khó khăn.  
Do đó, việc kết hợp logic mờ và mạng  
nơron ta được một hệ nơron mờ thích nghi  
(ANFIS) sẽ phát huy được ưu điểm của cả  
hai bộ điều khiển trên.  
Vdc_ref  
+
Idc_ref  
Vdc  
-
PI/ANFIS  
Controller  
a) Khối điều khiển VDC  
Vqr  
Iqr_ref = 0  
+
PI  
Trong bài báo này, bộ điều khiển mờ  
-
thích nghi được đề xuất nhằm thay thế  
cho bộ điều khiển PID như thể hiện trong  
hình 3a. Trong đó 2 đầu vào của bộ điều  
khiển ANFIS là sai số và tích phân của sai  
số đầu vào như thể hiện trong hình 4.  
Trường hợp cụ thể là tín hiệu được lựa  
chọn là giá trị điện áp DC của bộ biến đổi.  
Iqr  
b) Khối điều khiển công suất phản kháng  
Hình 3.Lưu đꢁ điều khiển cho GSC  
2.2 Mô hình hệ thố   điện  
Hệ thống điện được sử dụng trong bài  
báo này là hệ cơ bản 3 máy 14 bus được  
sử dụng rất phổ biến trong các nghiên cứu  
về hệ thống điện. Thông số cụ thể được  
cho trong [7]. Trong đó, mô hình máy  
phát SG được sử dụng là mô hình đơn  
giản bậc 4 như trong [5].  
3. THIẾT KẾ BỘ ĐIỀU KHIỂN  
Đối với logic mờ, ta dễ dàng thiết kế  
một hệ thống mong muốn chỉ bằng các  
luật Nếu - thì gần với việc xử lý của con  
người. Với đa số ứng dụng thì điều này  
cho phép tạo ra lời giải đơn giản hơn  
trong khoảng thời gian ngắn hơn. Ngoài  
ra, ta dễ dàng sử dụng những hiểu biết của  
mình về đối tượng để tối ưu hệ thống một  
cách trực tiếp. Tuy nhiên, đi đôi với các  
Hình 4. Sơ đꢁ khối của bꢂ ANFIS  
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Các tuabin gió vận hành ở tốc độ  
0.98  
0.96  
gió 12 m/s. Kết quả mô phỏng của hệ  
thống được thực hiên bằng công cụ  
MATLAB/Simulink. Hình 5, biểu diễn kết  
quả so sánh sự cố ngắn mạch của hệ thống  
nghiên cứu khi không có STATCOM  
(đường màu xanh biển), và khi có  
STATCOM(đường màu xanh lá). Sự cố  
ngắn mạch 3 pha xảy ra tại thời điểm t =  
1s và kết thúc lúc t = (1 + 5/50) s.  
0.94  
0.92  
0.9  
0.88  
0
0.5  
1
1.5  
2
2.5  
3
Thoi gian (s)  
c) Điện áp tại bus 2  
0.88  
0.86  
0.84  
0.82  
0.8  
Có thể nhận thấy từ kết quả mô  
0.78  
0
0.5  
1
1.5  
2
2.5  
3
Thoi gian (s)  
phỏng rằng đáp ứng quá độ của hệ thống  
nghiên cứu thể hiện trong Hình 5 ( a)- (g)  
có đáp ứng tốt hơn khi STATCOM kết  
hợp với bộ điều khiển nơ- ron mờ thích  
nghi so với khi chưa có STATCOM. Do  
STATCOM có khả năng điều khiển công  
suất phản kháng nên giúp cho hệ thống ổn  
định nhanh hơn và dao động ít hơn.  
d) Dòng điện tại bus 2  
1.3  
1.25  
1.2  
1.15  
1.1  
1.05  
1
0.95  
0
0.5  
1
1.5  
2
2.5  
3
Thoi gian (s)  
e) Tốc độ rotor của DFIG  
2000  
1800  
1600  
1400  
1200  
1000  
800  
1.01  
1
0.99  
0.98  
0.97  
0.96  
0.95  
0.94  
600  
0
0.5  
1
1.5  
2
2.5  
3
Thoi gian (s)  
0
0.5  
1
1.5  
2
2.5  
3
Thoi gian (s)  
f) Điện áp Vdctrên DFIG  
a) Điện áp tại bus 1  
0.8  
0.6  
0.4  
3.2  
3.15  
0.2  
0
3.1  
3.05  
-0.2  
0
0.5  
1
1.5  
2
2.5  
3
3
Thoi gian (s)  
2.95  
0
0.5  
1
1.5  
2
2.5  
3
Thoi gian (s)  
g) Công suất tác dụng của DFIG  
b) Dòng điện tại bus 1  
Hình 5: Biểu diễn kết quả so sánh biển), và khi có bộ điều khiển ANFIS cho  
sự cố ngắn mạch ba pha tại bus số 14 khi STATCOM (đường màu xanh lá).  
không có bộ điều khiển ANFIS cho  
Từ kết quả mô phỏng trên ta thấy  
STATCOM (đường màu xanh biển), và khi có có bộ điều khiển ANFIS và khi chỉ  
khi có bộ điều khiển ANFIS cho có bộ điều khiển PID thì điện áp tại bus  
STATCOM (đường màu xanh lá).  
14 được cải thiện tốt hơn. Tuy nhiên, điện  
áp tại 2 bus máy phát là bus 1 và bus 2  
không được cải thiện. Điều này là hợp lí  
vì điểm xãy ra sự cố nằm ở giữa bus 1 và  
bus 2 cách xa bus 14 và độ dao động này  
nhỏ hơn so với sự cố ngắn mạch 3 pha.  
Điều này càng cho ta cơ sở để kết  
1.015  
1.01  
1.005  
1
0.995  
0
0.25  
0.5  
0.75  
1
1.25  
1.5  
Thoi gian (s)  
a) Điện áp tại bus 1  
luận khả năng đáp ứng của STATCOM đã  
tăng lên nhờ bộ điều khiển ANFIS.  
0.97  
0.96  
0.95  
0.94  
0.93  
0.92  
0.91  
5. KẾT LUẬN  
Bài báo đã trình bày việc cải thiện ổn  
định động của một hệ thống điện gió  
sử dụng máy phát điện nguồn đôi  
(DFIG) có kết nối với hệ thống điện.  
Để cung cấp công suất phản kháng  
thích hợp cho hệ thống thiết bị bộ bù  
đồng bộ tĩnh (STATCOM) đã được đề  
xuất và kết nối vào bus 14 của hệ  
thống.  
0
0.25  
0.5  
0.75  
1
1.25  
1.5  
Thoi gian (s)  
b) Điện áp tại bus 2  
0.97  
0.96  
0.95  
0.94  
0.93  
0.92  
0.91  
0
0.25  
0.5  
0.75  
1
1.25  
1.5  
Thoi gian (s)  
Để nâng cao đáp ứng của thiết  
bị STATCOM, bộ điều khiển nơ-ron  
mờ thích nghi (ANFIS) đã được thiết  
kế để bổ sung thêm thông tin điều  
khiển cho bộ điều khiển PID có sẵn  
của khối điều khiển dòng điện trong  
c) Điện áp tại bus 14  
Hình 6: Biểu diễn kết quả so sánh  
sự cố hở mạch trên đường dây nối giữa  
bus 1 và bus 2 khi không có bộ điều khiển  
ANFIS cho STATCOM (đường màu xanh  
Có thể kết luận từ kết quả mô phỏng rằng  
khi có STATCOM kết hợp với ANFIS đã  
cải thiện rõ rệt chất lượng điện năng cũng  
như ổn định của hệ thống nghiên cứu trong  
trường hợp sự cố xãy ra.  
STATCOM.  
Kết quả so sánh trong miền thời  
gian với sự cố ngắn mạch 3 pha và sự cố hở  
đường dây truyền tải của hệ thống đã thể  
hiện được tính hiệu quả của bộ điều khiển  
ANFIS thiết kế cho STATCOM đề xuất  
trong việc hạn chế dao động của hệ thống.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
TIẾNG VIỆT  
[1]  
[2]  
[3]  
[4]  
Phan Thanh Tùng, Vũ Chi Mai, Angelika Wasielke. Chương trình dự án năng lượng  
gió GIZ: Tình hình phát triển điện gió và khả năng cung ứng tài chính cho các dự án  
ở Việt Nam. 2012  
Nguyễn Phùng Quang. Máy điện dị bộ nguồn kép dùng làm máy phát trong hệ  
thống phát điện chạy sức gió, các thuật toán điều chỉnh bảo đảm phân ly giữa  
mômen và hệ số công suất. 1998  
Viện KHCN Môi Trường. Dự án hợp tác Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam và Hội  
đồng kỹ thuật điện quốc tế (IEC) “European Wind Energy Association – EWEA ”.  
02/2012  
Nguyễn Quốc Khánh 4/2011 “ Thông tin vể năng lượng gió VN” Dự án năng  
lượng Gió GIZ/MOIT tháng 4/2011  
NƯỚC NGOÀI  
[5]  
Tao Sun, Z Chen, Frede Blaabjerg. Transient Analysis of Grid-Connected Wind  
Turbines with DFIG After an External Short-Circuit Fault. NORDIC WIND  
POWER CONFERENCE, 1-2 March, 2004, CHALMERS university of technology  
Gilbert M. Masters, Stanford University; Wiley. Renewable and Efficient Electric  
Power Systems  
[6]  
[7]  
Toufik Bouaouiche, Mohamed Machmoum IREENA-LARGE, Saint Nazaire cedex,  
France. Control and Stability Analysis of a Doubly Fed Induction Generator  
Erickson, Al-Naseem, University of Colorado. Novel Power Electronics Systems  
for Wind Energy Application  
[8]  
[9]  
TS. Vũ Thành Tự Anh, Đàm Quang Minh, Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội.  
Năng lượng gió của Việt Nam. 2011  
[10]  
[11]  
How FACTS controllers benefits AC transmission systems: John J.  
Paserba, Fellow IEEE.  
How FACTS improve the performance of electrical grid: Rolf  
Grunbaum, Ake Petersson, Bjom Thorvaldsson (ABB Review3/2002).  
[12] Lie Xu, Yi Wang “Dynamic Modeling and control of dfig – based wind turbines  
under unbalanced network conditions” IEEE; 2007  
[13] Hee-Sang Ko, Gi-Gab Yoon, Won-Pyo Hong, 2008; “Active Use of DFIG- Based  
Variable-Speech Wind-Turbine for Voltage Regulation,” IEE transactions on  
industry applications , vol.44, no.6, November 2008.  
[14] Li Wangand Dinh- Nhon Truong, “Dynamic Stability Improvement of Four  
Parallel- Operated PMSG- Based Offshore Wind Turbine Generator Fed to a Power  
System Using a STATCOM”. IEEE Transactions on power delivery, Vol.28, No.1,  
January 2013  
[15] Li Wang and Dinh- Nhon Truong, “Stability Enhancement off DFIG- Based  
Offshore Wind Farm Fed to a Multi-Machine system Using a STATCOM”.IEEE  
Transactions on power system, Vol.28, No.3, August 2013.  
[16]  
Thông tin liên hệ tác giả chính (người chịu trách nhiệm bài viết):  
Họ tên: Nguyễn Hoàng Quân  
Đơn vị: Trường CĐ Nghề Kiên Giang  
Điện thoại: 0917 6393 92  
Giáo viên hướng dẫn  
BÀI BÁO KHOA HỌC  
THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ  
Bài báo khoa học của học viên  
có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn  
Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ  
Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ bởi Luật xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.  
Nghiêm cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý  
của tác giả và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh.  
ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN!  
Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2018-2019 của Thư viện Trường Đại học  
Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.  
pdf 8 trang Mãnh Khiết 09/01/2024 19820 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nâng cao chất lượng điều khiển của thiết bị bù đồng bộ statcom trong lưới điện", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnang_cao_chat_luong_dieu_khien_cua_thiet_bi_bu_dong_bo_statc.pdf