Biện pháp thúc đẩy hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học quốc tế Hồng Bàng

BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ HỒNG BÀNG  
SOLUTIONS TO PROMOTE SELF-STUDYING OF STUDENTS AT HONG  
BANG INTERNATIONAL UNIVERSITY  
TS. Đặng Văn Thành, Trương Minh Hoài  
Học viên Cao học trường ĐH SPKT Tp. Hồ Chí Minh  
TÓM TẮT  
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ là một thách thức lớn đối với các trường Đại học ở Việt  
Nam nói chung và trường Đại học ĐHQT Hồng Bàng nói riêng. Để SV hoàn thành  
được các nhiệm vụ học tập, đáp ứng được nhu cầu học vấn của thời đại, mỗi SV cần  
phải tìm cho mình phương pháp học tập phù hợp. Trong đó quan trọng hơn hết là  
phương pháp tự học. Mục tiêu của nghiên cứu đề tài là mô tả thực trạng hoạt động  
tự học của sinh viên trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng từ đó đề xuất một số biện  
pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tự học của sinh viên trong quá trình đào  
tạo, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường ngày một tốt hơn.  
Đóng góp của luận văn: Đưa ra một số giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả  
hoạt động tự học và công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên, góp phần nâng  
cao chất lượng đào tạo của trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng.  
Từ khóa: hoạt động tự học  
ABSTRACT  
Education in academic credit systems is a great challenge for universities in Vietnam  
in general and the University of Hong Bang International University (HIU) in  
specific. To complete learning tasks and meet the demand of the educational era,  
students need to find appropriate methods. In particular, self-studying is the most  
important. To describe the current self-studying status activities in HIU students is  
the main objective of this topic research. Accordingly, the following research  
methods to enhance the condition of self-studying is proposed to contribute to the  
improvement of the university teaching quality. Contribution of the thesis: Provide  
some feasible solutions to enhance the effectiveness of self-studying and the  
management of self-studying in students as well as to improve the education quality  
of Hong Bang International University.  
Keywords: self - study  
1. Đặt vấn đề  
Hoạt động học tập của sinh viên trong trường Đại học là một hoạt động phức tạp  
không giống như bậc học phổ thông. Sinh viên cần phải tích cực chủ động sáng tạo và tự  
giác trong suốt quá trình học để chiếm lĩnh được tri thức cũng như những kỹ năng, kỹ xão  
phục vụ cho quá trình học tập của mình. Để đạt được kết quả học tập như mong muốn đòi  
hỏi sinh viên không chỉ học mà còn tích cực tự học. Trong lý luận dạy học, tổ chức hoạt  
động tự học cho sinh viên được coi là một hình thức tổ chức dạy học ở đại học, việc tìm  
kiếm các biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên đã trở thành một yêu cầu cấp  
bách trong các trường Đại học. Điều 5 của Luật Giáo dục 2005 quy định "Phương pháp  
giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi  
dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí  
vươn lên"; "… đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh phát triển phong trào  
tự học, tự đào tạo..."; "… tạo ra năng lực tự học sáng tạo của mỗi học sinh" [1]. Trường  
ĐHQT Hồng Bàng đã chuyển từ phương thức đào tạo theo niên chế học phần sang phương  
thức đào tạo theo học chế tín chỉ từ năm 2010, điều này vừa đồng thời tạo ra, vừa đòi hỏi  
một sự thay đổi lớn về công tác quản lý đào tạo của Nhà trường. Đối với phương thức đào  
tạo theo học chế tín chỉ, việc tự học, tự nghiên cứu của sinh viên được coi là nhân tố quan  
trọng, quyết định việc đẩy mạnh chất lượng đào tạo của nhà Trường.  
2. Các khái niệm  
2.1. Dạy học  
Dạy học là một hoạt động diễn ra trên hai tuyến song hành giữa người dạy và người  
học. Quá trình dạy – học chỉ đạt được hiệu quả cao khi có sự phối hợp chặt chẽ nhịp nhàng  
giữa giáo viên và học sinh trên các khâu cơ bản nhất là mục tiêu, nội dung, phương pháp  
hay nói cách khác là khi có sự hợp tác ăn ý giữa người dạy và người học [2, tr.61].  
Dạy - học bao gồm hai hoạt động: hoạt động dạy và hoạt động học.  
Người thầy giáo với hoạt động dạy có chức năng tổ chức, điều khiển tối ưu quá trình  
người học chiếm lĩnh tri thức và qua đó hình thành và phát triển nhân cách.  
Hoạt động học của trò là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh tri thức, dưới  
sự điều khiển sư phạm của thầy. Như vậy, hoạt động học có chức năng là lĩnh hội thông  
tin dạy của thầy và tự điều khiển quá trình chiếm lĩnh tri thức khoa học của mình một cách  
tự giác, tích cực, tự lực.  
Tự học của sinh viên là một mặt hoạt động trong quá trình dạy học, nó không thể  
tách rời với hoạt động dạy của GV, vì vậy tự học chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi nó được  
diễn ra trong mối quan hệ thống nhất biện chứng với hoạt động dạy của thầy. Nghĩa là, tự  
học có hiệu quả cao khi có sự hướng dẫn tổ chức của thầy.  
Vì vậy, muốn nâng cao hiệu quả của hoạt động tự học của SV đòi hỏi người thầy  
giáo ngoài chức năng tổ chức, hướng dẫn, truyền đạt... cần phải dạy cách thao tác với đối  
tượng, cách chiếm lĩnh đối tượng cho SV, hay nói cách khác là hướng dẫn phương pháp  
học, cách học cho SV.  
2.2. Hoạt động tự học  
Theo Từ điển Giáo dục học: “Tự học là quá trình tự mình lĩnh hội tri thức khoa học  
và rèn luyện kỹ năng thực hành không có sự hướng dẫn của giáo viên và sự quản lý trực  
tiếp của cơ sở giáo dục đào tạo” [2, tr.466].  
Theo tác giả Nguyễn Quang Đạo: “Tự học là công việc tự giác của mỗi người do  
nhận thức đúng vai trò quyết định của nó đến sự tích lũy kiến thức cho bản thân, cho chất  
lượng công việc của mình đảm nhiệm, cho sự tiến bộ xã hội [3, tr.92].  
Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng  
các năng lực trí tuệ và có cả cơ bắp cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ tình cảm,  
nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến  
lĩnh vực đó thành sở hữu của mình. Việc tự học sẽ được tiến hành khi người học có nhu  
cầu muốn hiểu biết một kiến thức nào đó và bằng nổ lực của bản thân cố gắng chiếm lĩnh  
được kiến thức đó” [4, tr.59].  
Từ những cơ sở lý luận nên trên với những góc độ tiếp cận khác nhau, theo tác giả:  
“Tự học là quá trình do chính bản thân người học chủ động, tự giác bằng chính nội lực,  
năng lực trí tuệ của bản thân nhằm chiếm lĩnh những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cũng như  
giải quyết các nhiệm vụ học tập dưới sự điều khiển trực tiếp, gián tiếp của GV”.  
Như vậy, hoạt động tự học của sinh viên có phạm vi rất rộng. Nó có thể diễn ra ở  
trên lớp dưới sự tổ chức và điều khiển trực tiếp của GV và tự học ở nhà dưới sự tổ chức và  
điều khiển gián tiếp của GV. Ngoài ra sinh viên còn tiến hành hoạt động tự học nhằm đáp  
ứng nhu cầu hiểu biết của cá nhân, bổ sung và mở rộng kiến thức ngoài chương trình đã  
học.  
3. Hình thức tự học của sinh viên  
Để hoạt động tự học thật sự có hiệu quả thì SV phải biết lựa chọn những hình thức tự  
học phù hợp với năng lực và điều kiện hiện có của bản thân.  
Hình thức 1: Tự học độc lập  
Nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết riêng, mở rộng tri thức ở bên ngoài. Đây là hình  
thức tự học ở mức độ cao nhất, đòi hỏi tính tự giác cao của người học, dựa trên nền tảng  
một niềm khao khát, say mê khám phá tri thức mới và đồng thời phải có một vốn tri thức  
vừa rộng vừa sâu.  
Hình thức 2: Tự học có sự điều khiển trực tiếp của GV  
Tự học diễn ra dưới sự điều khiển trực tiếp của GV và những phương tiện kỹ  
thuật trên lớp, trong đó người học phát huy hết những năng lực, phẩm chất như nghe  
giảng, ghi chép bài, phân tích, khái quát hoá để tiếp thu những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo  
mà GV định hướng . Sau đó, người học về nhà tự học dưới sự hướng dẫn gián tiếp của  
giáo viên.  
Hình thức 3: Tự học có sự điều khiển gián tiếp của GV  
Tự học diễn ra dưới sự điều khiển gián tiếp của người dạy, lúc này người học phải  
tự sắp xếp thời gian, điều kiện cơ sở vật chất để tự học, tự củng cố, tự đào sâu những tri  
thức hoặc tự hình thành những kỹ năng, kỹ xảo theo yêu cầu của nội dung đã được hướng  
dẫn.  
Đây là hình thức tự học diễn ra ngoài giờ lên lớp dưới sự quản lý của các lực lượng giáo  
dục trong và ngoài nhà trường. Các lực lượng trong nhà trường chủ yếu đóng vai trò gián  
tiếp thông qua yêu cầu các nội dung tự học.  
4. Vai trò của tự học trong giáo dục đào tạo  
Thông qua quá trình tự học còn hình thành cho người học được những phẩm chất  
quan trọng như tính tích cực, sự chủ động sáng tạo, hình thành nên phương pháp tư duy  
độc lập trong học tập, người học cảm thấy có trách nhiệm với cá nhân và xã hội hơn khi  
tham gia vào thị trường lao động sau khi rời khỏi ghế nhà trường. Và, một trong những  
nhiệm vụ quan trọng của giáo dục là hình thành phẩm chất đó cho người học. Bởi từ đó  
nền giáo dục mới mong đào tạo ra những lớp người năng động, sáng tạo, thích ứng với mọi  
thị trường lao động, góp phần phát triển cộng đồng.  
Chỉ có tự học mới có thể giúp người học thông hiểu, bổ sung, hoàn thiện vào vốn  
tri thức và kinh nghiệm của mình, giúp họ vững vàng hơn trong học tập và cả trong công  
tác sau này. Tự học còn giúp người học khắc phục những nét tính cách không phù hợp,  
giúp họ tiến hành được hoạt động học tập ở mức độ khó khăn cao hơn. Tự học góp phần  
bồi dưỡng hứng thú học tập, giúp người học biết suy nghĩ sâu sắc, tinh tế và có những cảm  
nhận theo cách riêng của mỗi người [3, tr.126].  
Tự học còn là cơ sở cho tính tích cực nhận thức của người học. Tự học sẽ rèn luyện  
cho người học đức kiên trì, lòng dũng cảm vượt khó, tính tự lực, chủ động trong công việc.  
Bởi vì, trong quá trình tự học, người học phải tự chủ động lập kế hoạch, bố trí, phân phối  
thời gian theo một trình tự hợp lí, lựa chọn địa điểm thích hợp, tự huy động năng lực cá  
nhân một cách cao nhất để hoàn thành nhiệm vụ học tập. “Tự học có kế hoạch, nề nếp sẽ  
tạo thói quen trong cuộc sống và phong cách làm việc của từng cá nhân” [3, tr.126].  
Tự học còn giúp cho người học có thể chủ động học tập suốt đời, không chỉ đáp ứng  
quá trình học tập khi còn trên ghế nhà trường mà để hòa nhập trong cộng đồng và xã hội  
sau này. Với sự phát triển không ngừng của xã hội thì năng lực tự học và tự học suốt đời  
sẽ giúp cho mỗi con người có khả năng thích ứng với sự phát triển của xã hội [3, tr.131].  
5. Nội dung biện pháp thúc đẩy hoạt động tự học cho sinh viên  
5.1. Lập kế hoạch tự học  
Lập kế hoạch bao gồm: Xác định mục tiêu, xác định kế hoạch; lựa chọn thực hiện,  
đánh giá và điều chỉnh các phương pháp…sau khi có kế hoạch tự học điều quan trọng là  
làm cho sinh viên tuân thủ trình tự đã ghi trong kế hoạch cho đến khi hoàn thành, không đi  
chệch hướng với kế hoạch đề ra.  
5.2. Xác định nội dung tự học  
Trong mục tiêu đào tạo của các trường cao đẳng, đại học, mỗi ngành học đều có  
mục tiêu đào tạo riêng, bao gồm khối kiến thức về khoa học cơ sở, cơ bản và khối kiến  
thức về khoa học chuyên ngành SV theo học. Nội dung tự học cũng là một trong những  
yếu tố quan trọng quyết định đến kết quả học tập của SV vì khi đã xác định nội dung tự  
học SV sẽ có kế hoạch tự học và thực hiện kế hoạch đã đề ra. Do vậy, nội dung chương  
trình học tập cần phải phong phú, đa dạng và cập nhật liên tục phù hợp với mục tiêu,  
chương trình đào tạo.  
5.3. Rèn luyện phương pháp tự học cho sinh viên  
Để việc học tập nói chung và tự học nói riêng có hiệu quả thì SV phải có phương  
pháp học tập. Phương pháp học tập phải phù hợp với nội dung học tập. Mỗi nội dung tự  
học có phương pháp tự học tương ứng, phù hợp với điều kiện tố chất và năng lực học tập  
của mỗi SV. Đó là các phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, trừu tượng  
hóa, khái quát hóa  
5.4. Rèn luyện kỹ năng tự học cho sinh viên  
Kỹ năng ghi chép trong và ngoài lớp học  
Ghi chép là một hình thức học tập giúp sinh viên có thể tóm lược lại nội dung kiến  
thức đã học trên lớp bằng sự tương tác thông qua bài giảng của giáo viên, các bài thảo luận,  
làm việc nhóm và bài tập trên lớp.  
Kỹ năng đọc sách và nghiên cứu tài liệu học tập  
Trong quá trình tự học của SV, đọc sách được coi là khâu quan trọng đầu tiên  
giúp SV tiếp thu tri thức và phát triển phương pháp tự học hiệu quả. Đọc sách cũng cần  
xác định mục tiêu cho chính mình như đọc sách gì? liên quan đến chuyên ngành của mình  
như thế nào? mục đích của việc đọc sách này là gì? chúng có giúp giải quyết vấn đề mình  
đang tìm kiếm hay không?  
Kỹ năng ôn tập và tự kiểm tra, đánh giá  
Kỹ năng ôn tập là hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong phương pháp tự học của  
SV, giúp SV chiếm lĩnh kiến thức bài giảng của thầy cô và biến chúng thành của mình. Đó  
là hoạt động tái nhận bài giảng như xem lại bài ghi, mối quan hệ giữa các đoạn rời rạc, bổ  
sung bài ghi bằng những thông tin nghiên cứu được ở các tài liệu khác, nhận diện cấu trúc  
từng phần và toàn bài.  
5.5. Kiểm tra, đánh giá hoạt động tự học  
Kiểm tra đánh giá hoạt động tự học của sinh viên có vai trò rất quan trọng, nó vừa  
giữ vai trò động lực thúc đẩy quá trình dạy học, giúp giáo viên điều chỉnh phương pháp  
dạy và giúp sinh viên thay đổi phương pháp học tập để phù hợp với hình thức, phương  
pháp kiểm tra nhằm đạt kết quả cao.  
5.6. Đảm bảo các điều kiện hổ trợ cho hoạt động tự học  
Nhằm tạo điều kiện tốt nhất đáp ứng nhu cầu tự học của sinh viên cần phải đảm bảo các  
điều kiện như sau:  
- Đảm bảo thời gian tự học của sinh viên.  
- Thư viện của trường được nối mạng, có đầy đủ sách, giáo trình, tài liệu tham khảo  
tiếng Việt và tiếng nước ngoài.  
- Có đủ số phòng học, giảng đường lớn, phòng thực hành, thí nghiệm phục vụ cho  
giảng dạy, học tập, tự học.  
- Có đủ trang thiết bị giảng dạy và học tập để hỗ trợ cho các hoạt động đào tạo và  
nghiên cứu khoa học.  
- Cung cấp đầy đủ thiết bị tin học để hỗ trợ hiệu quả các hoạt động tự học.  
- Có trang thiết bị và sân bãi cho các hoạt động văn hoá, nghệ thuật, sinh hoạt tập thể.  
- Có quy hoạch tổng thể về sử dụng và phát triển cơ sở vật chất trong kế hoạch chiến  
lược của trường…  
6. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự học của sinh viên  
6.1. Yếu tố khách quan  
Giảng viên  
Giảng viên cần phải đưa ra những quan điểm của mình làm sao để người học thấy  
được tầm quan trọng của quá trình tự học. Trong mỗi môn học cần xác định được những  
lợi ích và ứng dụng của nó vào trong hoạt động thực tiễn, làm sao để người học nhận thức  
đúng đắn về tầm quan trọng của môn học đó, từ đó sẽ hình thành thái độ tích cực hơn trong  
việc học.  
Giảng viên cần có kế hoạch và hướng dẫn chi tiết về quá trình tự học để người thực  
hiện hoạt động tự học một cách dễ dàng, thuận lợi. Ngoài ra, còn phải tổ chức những hoạt  
động tự học trong nhà trường thường xuyên nhằm nâng cao ý thức cũng như tác động vào  
hoạt động tự học đối với SV.  
Chương trình, nội dung đào tạo  
Theo phương thức đào tạo tín chỉ như hiện nay, để học được 1 giờ lý thuyết hay 2  
giờ thực hành, thực tập trên lớp sinh viên cần phải có 2 hay 1 giờ chuẩn bị ở nhà. Đó là yêu  
cầu bắt buộc trong cơ cấu giờ học của sinh viên. Nhưng thực tế cho thấy, đa số sinh viên  
vẫn rất thụ động, không có phương pháp tự học hiệu quả, không biết sử dụng quỹ thời gian  
tự học của mình vào việc gì, không xây dựng được kế hoạch tự học phù hợp, chưa phát  
huy tốt năng lực, trí tuệ, công sức, tự giác trong quá trình tự học.  
Ngoài ra cần phải xây dựng một chương trình đào tạo có tính toán và phù hợp với  
năng lực của người học, trên mỗi đề cương chi tiết môn học cần liệt kê cụ thể nội dung,  
cách thức thực hiện cũng như nguồn tài liệu giáo trình, sách tham khảo có chất lượng và  
được biên soạn khoa học để người học dễ tiếp thu.  
Cơ sở vật chất  
CSVC là một trong những yếu tố quan trọng của quá trình tự học, là điều kiện không  
thể thiếu trong nhà trường. Đầu tư và khai thác triệt để cho CSVC được coi là biện pháp ưu  
tiên hàng đầu nhằm đáp ứng tốt nhất hoạt động tự học của sinh viên.  
Hiện nay, thư viện là không gian học tập lý tưởng được sinh viên lựa chọn nhằm  
phục vụ cho quá trình tự học của bản thân. Tự học phải gắn liền với sách, giáo trình, tài  
liệu tham khảo… Sách được xem là người thầy thứ hai sau GV của SV. Nguồn tài liệu  
càng phong phú, dồi dào càng giúp ích cho SV tích lũy kiến thức đa chiều, sâu sắc hơn.  
Ngoài ra cần đầu tư xây các khu tự học hiện đại với đầy đủ trang thiết bị: hệ thống  
ánh sáng, máy tính được kết nối internet, wifi tốc độ mạnh và phủ sóng trên phạm vi rộng,  
hệ thống máy chiếu và phòng thuyết trình … nhằm phục vụ tốt nhất cho hoạt động tự học  
của SV.  
6.2. Yếu tố chủ quan  
Thái độ, động cơ học tập  
Ngạn ngữ có câu “Gieo suy nghĩ gặt hành động, gieo hành động gặt thói quen, gieo  
thói quen gặt tính cách, gieo tính cách gặt số phận”. Tác giả (Samuel Smiles).  
Vì thế, trước tiên bản thân sinh viên phải ý thức được tầm quan trọng của việc tự  
học từ đó hình thành nên cho mình được thái độ và động cơ học tập đúng đắn thì mới đem  
lại kết quả tốt nhất trong quá trình học tập.  
Người học chỉ có thể nhận thức được đúng về ý nghĩa, vai trò của tự học khi họ bắt  
tay vào hành động với một thái độ và nhu cầu tích cực, tất nhiên với sự định hướng tích  
cực của người lớn (cha mẹ, thầy cô giáo…) [3, tr.131].  
Yếu tố về thể chất  
Học tập là hoạt động trí óc, là kết quả của sự quan sát, lắng nghe có chọn lọc. Vì  
thế, học tập chịu sự tác động của sức khỏe, sức khoẻ không tốt ảnh hưởng rất lớn đến quá  
trình tiếp thu. Do vậy, yếu tố thể chất chiếm một phần quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động  
học tập của sinh viên, những sinh viên khỏe mạnh về thể lực thường đạt được những kết  
quả học tập tốt hơn những sinh viên có sức khỏe yếu.  
Yếu tố tâm lý  
Trong mỗi khoảng thời gian nhất định, bản thân lại có tâm lý khác nhau. Tâm lý ảnh  
hưởng lớn đến việc tự học. Khi đối mặt với một môn học mà mình thích thú, trước sẽ có  
tâm lý hưng phấn. Còn đối với những môn khó so với khả năng của bản thân, người học sẽ  
có tâm lý lo sợ, né tránh.  
7. Kết luận  
Đối với phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, việc tự học, tự nghiên cứu của  
sinh viên được coi là nhân tố quan trọng, quyết định việc đẩy mạnh chất lượng đào tạo  
của nhà Trường. Tầm quan trọng của vấn đề tự học trong công cuộc đổi mới giáo dục  
đại học hiện nay là làm thế nào để cải tiến được chương trình đào tạo theo đúng với  
mục tiêu “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”. Người học phải ý thức,  
chủ động bằng chính nội lực của bản thân, đây cũng là nhân tố quyết định đến sự hình  
thành nhân cách của người học.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Nguyễn Hiến Lê (2003), Tự học một nhu cầu thời đại, NXB Văn hóa thông tin,  
Hà Nội.  
2. Bùi Hiền (2015), Từ điển Giáo dục học, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.  
3. Hoàng Anh, Đỗ Thị Châu (2008), Tự học của sinh viên, NXB Giáo dục, Hà Nội.  
4. Phạm Văn Tuân (2013), Một số vấn đề lý luận và hoạt động về dạy tự học tại  
trường đại học Trà Vinh, Tạp chí Khoa học Đại học An Giang số 01.  
THÔNG TIN LIÊN HỆ TÁC GIẢ  
Họ và tên: Trương Minh Hoài  
Đơn vị công tác: Đại học Quốc tế Hồng Bàng  
Số điện thoại: 0938.084.083  
pdf 8 trang Mãnh Khiết 09/01/2024 11900 Free
Bạn đang xem tài liệu "Biện pháp thúc đẩy hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học quốc tế Hồng Bàng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbien_phap_thuc_day_hoat_dong_tu_hoc_cua_sinh_vien_truong_dai.pdf