Bài báo khoa học nâng cao chất lượng dạy học môn Toán Lớp 5 tại các Trường Tiểu học Quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh
BÀI BÁO KHOA HỌC
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 5
TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN THỦ ĐỨC, TP. HỒ CHÍ MINH
IMPROVING QUALITY OF TEACHING CLASS 5
AT PRIMARY SCHOOLS OF THU DUC DISTRICT, HO CHI MINH CITI
PGS.TS Dương Thị Kim Oanh
Học viên Cao học: Phan Kiêm Phát
Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Thủ Đức
TÓM TẮT
Mục tiêu của việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực hiện nay nhằm phát huy
được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Phương pháp dạy học giải quyết vấn
đề (trong môn Toán lớp 5) là phương pháp tạo ra được sự say mê, hứng thú học tập cho
người học. Thông qua các tình huống có vấn đề của phương pháp dạy học giải quyết vấn đề
các kĩ năng lĩnh hội tri thức, phân tích đề bài toán, tóm tắt đề bài toán, đặt câu lời giải cho
bài toán, chọn và thực hiện phép tính, trình bày bài giải toán của học sinh được củng cố và
phát huy hiệu quả. Bài viết trình bày về việc nâng cao chất lượng dạy học môn toán lớp 5
tại các trường Tiểu học quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
Từ khóa : phương pháp, dạy học, tình huống có vấn đề, kĩ năng giải quyết vấn đề, môn
Toán lớp 5
ABSTRACT
The objective of applying current active teaching methods to promote the positive, proactive
and creative nature of students. The method of teaching problem solving (in Grade 5 Math)
is a method to create the passion and interest in learning for learners. Through problematic
situations of teaching methods to solve the problems of knowledge acquisition skills,
analyzing problem problems, summarizing problem problems, placing solution sentences
for problems, choosing and performing spells Calculating and presenting students' math
problems is strengthened and promoted effectively. The paper presents the improvement of
the quality of teaching 5th grade math at the primary schools in Thu Duc District, Ho Chi
Minh City.
Keywords: methods, teaching, problematic situation, problem skills, Grade 5 Math
vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc
xây dựng thế hệ người Việt Nam mới, đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Bậc
Tiểu học, bậc học nền tảng trong hệ thống
giáo dục quốc dân nói chung có ý nghĩa vô
cùng quan trọng vì bước đầu hình thành
1. Đặt vấn đề
Trong thế kỉ XXI, thế kỉ của nền kinh tế
tri thức trên phạm vi toàn cầu, nguồn lực
con người trở nên có ý nghĩa quan trọng,
quyết định sự thành công của công cuộc
phát triển đất nước. Giáo dục ngày càng có
1
nhân cách, kĩ năng học tập tích cực cho học
sinh, hình thành những cơ sở ban đầu cho sự
phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí
tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản
để học sinh tiếp tục học bậc Trung học cơ
sở. Để đạt được mục tiêu trên đòi hỏi giáo
viên Tiểu học phải có kiến thức sâu và sự
hiểu biết nhất định về nội dung, phương
pháp, hình thức tổ chức dạy học. Đồng thời
người dạy có khả năng sử dụng một cách
linh hoạt các phương pháp dạy họctích cực
và hình thức tổ chức trong quá trình dạy học
đáp ứng từng đối tượng học sinh.
tạo ở học sinh. Vì vậy, vận dụng phương
pháp dạy học tích cực trong đó có phương
pháp giải quyết vấn đề sẽ góp phần phát
huy được tính tích cực khám phá, chủ động
lĩnh hội tri thức, nâng cao hiệu quả xử lý
các tình huống có vấn đề theo yêu cầu của
Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Xuất phát từ lý do nêu trên, người nghiên
cứu chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng dạy
học môn toán lớp 5 tại các trường tiểu học
quận Thủ Đức, tp. Hồ Chí Minh”.
2. Thực trạng dạy học môn Toán lớp 5
tại các trường Tiểu học quận Thủ Đức,
tp Hồ Chí Minh
Trong những năm học qua, chất lượng
dạy học môn Toán lớp 5 tại các trường Tiểu
học quận Thủ Đức, tp Hồ Chí Minh còn
nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu
thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội trong
thời đại mới. Việc vận dụng các phương
pháp dạy học và kĩ thuật dạy học tích cực
chưa thu hút được sự quan tâm của nhiều
giáo viên, chưa tạo ra những điều kiện
thuận lợi cho việc tự học ở học sinh. Bên
cạnh đó, hệ thống trường lớp, cơ sở vật chất
đã được quan tâm đầu tư đúng mức, tuy
nhiên sự gia tăng cơ học về dân số ở các
phường tập trung khu công nghiệp, khu chế
xuất rất nhanh dẫn đến hệ thống trường lớp
quá tải, sĩ số học sinh/lớp quá cao (trên
45hs/lớp) tạo nên nguyên nhân chưa đáp
ứng được yêu cầu đổi mới tích cực các môn
học trong đó có môn Toán. Điều này dẫn
đến kết quả học tập của học sinh ở các kĩ
năng toán học (phân tích đề bài, tóm tắt đề
bài, đặt câu lời giải toán, chọn và thực hiện
đúng phép tính, trình bày bài giải toán)
chưa cao, chưa phát huy tính hiệu quả sáng
Sau 16 năm thực hiện đổi mới chương
trình SGK, đổi mới PPDH, giáo dục Tiểu
học đã có nhiều chuyển biến tích cực về
chất lượng và hiệu quả giáo dục, đáp ứng
mục tiêu cơ bản của cấp học trong giai đoạn
CNH, HĐH thời kỳ hội nhập.
Hiện nay, Phòng Giáo dục và Đào tạo
trực thuộc UBND quận Thủ Đức là cơ quan
chuyên môn quản lý nhà nước về lĩnh vực
Giáo dục và Đào tạo, gồm 25 trường Tiểu
học công lập, 827 lớp học với hơn 36.770
học sinh và gần 986 giáo viên, trong đó có:
66 cán bộ quản lý và 920 giáo viên đạt
chuẩn chuyên môn và 8 cán bộ quản lý, 7
giáo viên đạt chuẩn cao (Thạc sĩ). Hầu hết
các giáo viên đều tâm huyết với nghề, yêu
thương học trò, tận tụy với công việc, nắm
vững mục tiêu giáo dục, tiếp cận và vận
dụng có hiệu quả công cuộc đổi mới PPDH
ở Tiểu học.
Quá trình dạy học môn Toán ở Tiểu học,
giáo viên đã từng bước nắm vững chuẩn
kiến thức kĩ năng trong dạy học cũng như
2
trong công tác kiểm tra đánh giá kết quả
học tập của học sinh, đã có nhiều giải pháp
phù hợp nâng cao chất lượng dạy học. Giáo
viên đã sử dụng thành thạo công nghệ thông
tin, chủ động nghiên cứu và làm thêm đồ
dùng dạy học, khắc phục tình trạng dạy
chay, không còn tình trạng đọc chép, đáp
ứng yêu cầu trực quan trong dạy học. Một
số giáo viên thuộc các trường trọng điểm,
có điều kiện về cơ sở vật chất và trang thiết
bị dạy học đã tích cực sử dụng CNTT, phần
mềm dạy học, giáo án điện tử, bảng tương
tác trong dạy học. Các trường Tiểu học đã tổ
chức Hội thi đồ dùng dạy học tự làm cho
giáo viên, tạo nên phong trào thi đua sôi nổi.
Tuy nhiên, giáo viên chưa thường xuyên tổ
chức nhiều hoạt động dạy học theo hướng
tích cực cho học sinh. Đa số giáo viên chưa
tạo cơ hội và điều kiện cho học sinh tham
gia các hoạt động một cách tích cực, chủ
động, sáng tạo vào quá trình khám phá và
lĩnh hội tri thức. Giáo viên bước đầu có nhận
thức đúng về các kĩ năng cần hình thành cho
HS tuy nhiên việc bồi dưỡng phát triển các
kĩ năng toán học cho các em chưa được chú
trọng. Bên cạnh đó, phần lớn giáo viên chưa
nhận thức đúng cũng như xây dụng các tình
huống dạy học có vấn đề. Một số giáo viên
còn xem nhẹ các dấu hiệu khuyến khích HS
phát triển các kĩ năng học tập.
vận dụng kiến thức giải quyết các tình huống
có vấn để trong học tập và trong cuộc sống.
Các kĩ năng đạt được khi học môn Toán của
học sinh lớp 5 vẫn còn hạn chế và cần phải
được luyện tập nhiều đề trở thành kĩ xảo.
3. Đề xuất biện pháp nâng cao chất
lượng dạy học môn Toán lớp 5 tại các
trường Tiểu học quận Thủ Đức, tp. Hồ
Chí Minh
Để nâng cao chất lượng dạy học môn
toán lớp 5 tại các trường Tiểu học quận Thủ
Đức, tp. Hồ Chí Minh, sau đây tôi đề xuất
tiến trình dạy học và các tình huống có vấn
đề trong dạy học môn Toán lớp 5:
3.1. Đề xuất quy trình dạy học tình
huống có vấn đề môn Toán lớp 5
Bước 1: Tạo tình huống gợi vấn đề.
Nêu vấn đề là tình huống do giáo viên chủ
động đưa ra như là một cách dẫn nhập vào
bài học. Tình huống xuất phát này cần ngắn
gọn, gần gũi dễ hiểu đối với học sinh. Tình
huống xuất phát nhằm lồng ghép câu hỏi
nêu vấn đề. Tình huống xuất phát càng rõ
ràng thì việc dẫn nhập cho câu hỏi nêu vấn
đề càng dễ. Tuy nhiên có những trường hợp
không nhất thiết phải có tình huống xuất
phát mới đề xuất được câu hỏi nêu vấn đề.
Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài
học và cần bảo đảm yêu cầu phù hợp với
trình độ học sinh, gây mâu thuẫn nhận thức
và kích thích tính tò mò, thích tìm tòi của
học sinh nhằm chuẩn bị tâm thế cho các em
trước khi khám phá, lĩnh hội kiến thức.
Giáo viên nên dùng câu hỏi mở không dùng
câu hỏi đóng đối với câu hỏi nêu vấn đề.
Câu hỏi nêu vấn đề càng đảm bảo các yêu
Học sinh nhận thức đúng về vai trò
môn Toán lớp 5. Các em có thái độ học tập
(trước - trong - sau) tiết học Toán tích cực.
Tuy nhiên, ý thức tự học của các em chưa
cao. Các hành động trong và sau giờ học
môn Toán lớp 5 chưa tích cực, các em chưa
biết tìm hiểu kiến thức cũng như chưa biết
3
câu nêu ra ở trên thì ý đồ dạy học của giáo
viên càng dễ thực hiện thành công.
trực tiếp trên mô hình trực quan, vật thật.
Một số trường hợp không thển tiến hành
trên vật thật thì cho HS quan sát trên tranh
vẽ, sơ đồ. Khi HS thực hành, GV cần bao
quát lớp, quan sát từng em, từng nhóm. Nếu
thấy HS hoặc nhóm nào làm sai yêu cầu thì
GV nhắc nhở riêng, không nên thông báo
chung cho cả lớp vì làm như vậy sẽ phân
tán tư tưởng và ảnh hưởng đến công việc
của các HS, nhóm khác.
Bước 2: Bộc lộ ý tưởng ban đầu. Bộc
lộ ý tưởng ban đầu của học sinh là bước
quan trọng của dạy học giải quyết vấn đề.
Bước này khuyến khích học sinh nêu những
suy nghĩ, nhận thức ban đầu của mình trước
khi học kiến thức. Để hình thành ý tưởng
ban đầu, giáo viên yêu cầu học sinh nhắc lại
kiến thức cũ đã học có liên quan kiến thức
mới của bài học. Khi yêu cầu học sinh trình
bày ý tưởng ban đầu, giáo viên yêu cầu
nhiều hình thức biểu hiện của học sinh có
thể bằng lời nói, có thể bằng cách viết hay
vẽ sơ đồ để biểu hiện suy nghĩ.
Bước 5: Kết luận, hợp thức hóa kiến
thức, đề xuất vấn đề mới. Sau khi thực
hiện hoạt động giải quyết vấn đề, các câu
hỏi dần dần được giải quyết, kiến thức được
hình thành tuy nhiên vẫn chưa có hệ thống
hoặc chưa chuẩn xác một cách khoa học.
GV có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ
thống lại để HS ghi vào vở coi như là kiến
thức của bài học. Trước khi kết luận chung,
GV nêu yêu cầu một vài ý kiến của HS cho
kết luận sau khi thực hiện giải quyết vấn đề,
rút ra kiến thức bài học.
Bước 3: Đề xuất phương án thực
hành, giải quyết vấn đề. Từ những khác
biệt và phong phú về ý tưởng ban đầu của
học sinh, giáo viên giúp các em đề xuất đề
xuất những câu hỏi từ sự khác biệt đó. Chú
ý xoáy sâu vào những sự khác biệt có liên
quan đến kiến thức trọng tâm của bài học. ở
bước này, giáo viên cần chọn lựa một số ý
tưởng ban đầu khác biệt trong lớp để giúp
học sinh so sánh, từ đó học sinh đặt câu hỏi
liên quan đến nội dung bài học. Đây là bước
khó khăn vì giáo viên cần phải chọn lựa các
ý tưởng ban đầu tiêu biểu của học sinh một
cách nhanh chóng theo mục đích dạy học,
đồng thời linh hoạt điều khiển thảo luận của
học sinh nhằm giúp học sinh đề xuất câu
hỏi từ sự khác biệt đó theo ý đồ dạy học.
Bước 4: Tiến hành giải quyết vấn đề.
Từ các phương án thực hành, giải quyết vấn
đề mà HS nêu ra, GV khéo léo nhận xét và
gợi ý để HS lựa chọn phương án tiến hành.
Ưu tiên thực hiện các phương án thực hành
3.2. Đề xuất các tình huống có vấn đề
trong dạy học môn Toán lớp 5 tại các
trường Tiểu học quận Thủ Đức, tp.Hồ
Chí Minh
Tình huống có vấn đề là tình huống gợi
cho HS những khó khăn về lí luận hay thực
tiễn mà HS thấy cần thiết và có khả năng
vượt qua, nhưng không phải ngay tức khắc
mà nhờ một thuật toán hay dựa theo một
cách làm nào đó đã biết mà phải trải qua một
quá trình tích cực suy nghĩ, hoạt động để
biến đổi đối tượng hoặc điều chỉnh kiến thức
sẵn có. Trong dạy học GV có thể xây dựng
tình huống có vấn đề qua các cách sau đây:
4
Tình huống: Dạy nội dung Phép cộng
số thập phân.
3.2.1.Tình huống có vấn đề xuất phát
từ thực tiễn
Các tình huống xuất phát từ thực tiễn và
có chứa những vấn đề về toán học thường
được xây dựng khi dạy các loại bài hình
thành kiến thức mới cho HS. Ví dụ: Tình
huống có vấn đề khi dạy nội dung Phép
cộng số thập phân (SGK Toán 5, tr.49)
Tình huống: Cắt một sợi dây thành hai
đoạn. Biết đoạn thứ nhất dài 3,2dm và đoạn
thứ hai dài 4,3dm. Sợi dây lúc đầu dài bao
nhiêu đề-xi-mét?. Giáo viên đưa ra một sợi
dây dài 7,5dm, dùng kéo cắt sợi dây đó
thành hai đoạn 3,2dm và 4,3dm. Nêu độ dài
của hai đoạn cắt ra và yêu cầu HS tính độ
dài của sợi dây.
- GV cho 2 phép tính: 1,23 + 12,3 (phần
thập phân có số chữ số khác nhau) hay: 2
+ 2,5 (số tự nhiên cộng với số thập
phân). Các số hạng trong phép tính có gì
giống và khác với các số hạng trong những
phép tính gì?
Tình huống có vấn đề xuất hiện ở
đây chính là số chữ số ở phần thập phân
của hai số khác nhau. Tuỳ theo từng đối
tượng HS mà GV định hướng cách giải
quyết vấn đề. Đối với trường hợp thứ
nhất, GV cần định hướng cho hs viết
thêm 1 chữ số 0 vào bên phải số 12,3
để được số 12,30. Đối với trường hợp
thứ hai, cần định hướng viết 2 dưới
dạng 2,0.
Tính thực tiễn của tình huống có vấn đề
là vấn đề hoàn toàn có thể xảy ra đối với
HS trong thực tế. Đối với HS lớp 5, việc
biết được muốn tính độ dài sợi dây thì cần
phải tính tổng độ dài của hai đoạn cắt ra là
một việc làm đơn giản. Tuy nhiên tình
huống được đặt ra ở đây đối với HS là: độ
dài của hai đoạn dây cắt ra đều là những
số thập phân.
3.2.3.Tình huống có vấn đề được xây
dựng bằng cách yêu cầu học sinh dùng
cách tương tự để giải quyết vấn đề
Khi dạy một số kiến thức mới, GV có thể
hướng dẫn học sinh thông qua những vấn đề
tương tự đã được học trước đó. Tình huống
đưa ra ở đây cần dựa vào một kết quả tương
tự mà học sinh đã biết trước đó nhằm khơi
dậy niềm tin vào khả năng của bản thân.
Ví dụ: Tình huống dạy nội dung Phép
trừ số thập phân (SGK Toán 5, tr.53)
Một sợi dây dài 2,4m. Cắt sợi dây đó
thành hai đoạn. Biết độ dài đoạn thứ nhất là
1,05m. Tính độ dài sợi dây thứ hai.GV đưa
ra một sợi dây dài 2,4m sau đó cắt từ sợi
dây ra một đoạn dài 1,05m. Cho HS biết độ
dài sợi dây và độ dài đoạn cắt ra, hỏi HS về
độ dài của đoạn còn lại.
Trong tình huống nêu trên, HS mới chỉ
dừng lại ở việc giải quyết tìm ra độ dài của
sợi dây hay kết quả của phép cộng 2 số thập
phân 3,2 + 4,3. Để tìm ra quy tắc cộng hai
số thập phân thì ta cần đưa tiếp vấn đề và
yêu cầu HS giải quyết.
3.2.2.Tình huống có vấn đề gắn kết từ
các kiến thức đã học
Các tình huống đưa ra ở đây là những
bài tập dạng nâng cao mà khi giải quyết, HS
cần dựa vào kiến thức đã học.
5
Vấn đề tương tự ở đây là: Cách thực
hiện Phép trừ và Phép cộng hai số thập
phân hoàn toàn giống nhau. Việc HS phát
hiện: Muốn tính độ dài của đoạn dây còn lại
thì phải thực hiện phép trừ 2,4 - 1,05 là một
tình huống các em cần phải giải quyết.
Từ cách thực hiện phép cộng hai số thập
phân đã được học, yêu cầu học sinh áp dụng
để thực hiện phép trừ 2,4 - 1,05. Tình huống
đặt ra cho học sinh ở đây là: Các em phải
thực hiện phép trừ (2,4 – 1,05) dựa vào cách
thực hiện phép cộng hai số thập phân.
Trong tình huống này, HS hoàn toàn có thể
tìm ra quy tắc trừ hai số thập phân thông
qua việc thực hiên phép trừ tương tự như
đối với phép cộng.
của hỗn số luôn khác 0 mà phần nguyên của
số thập phân lại có thể bằng 0.
3.2.5. Xây dựng tình huống có vấn đề
bằng khái quát hoá vấn đề
Trong dạy học về số thập phân, GV
cũng có thể đưa ra những đối tượng cụ thể,
yêu cầu HS quan sát, phân tích và tìm ra nét
chung của các đối tượng đó và khái quát
hoá thành những tính chất hay một khái
niệm cụ thể. Tình huống đưa ra ở đây là
những những kiến thức riêng lẻ đã học
trước đó nhằm khắc sâu kiến thức và phát
triển tư duy.
Ví dụ: Tình huống dạy nội dung Nhân
một số thập phân với 10, 100, 1000,....
(SGK Toán 5, tr. 55)
- Sau khi có kết quả phép nhân một số
thập phân với 10 và 100, GV nêu vấn đề:
Muốn nhân một số thập phân với 10,
100, 1000,... ta có thể làm thế nào?
Sau khi HS nhân và có kết của phép
nhân một số thập phân với 10 và 100, giáo
viên đưa ra tình huống nêu trên.
3.2.4. Xây dựng tình huống có vấn đề
bằng cách lật ngược vấn đề
Tình huống ở đây là một mệnh đề đảo
của một mệnh đề hay một sự mâu thuẫn với
những tri thức có sẵn.
Ví dụ: Tình huống dạy nội dung Khái
niệm số thập phân (SGK Toán 5, tr.33)
- Từ mệnh đề: Mọi hỗn số đều có thể viết
được dưới dạng số thập phân, giáo viên có
thể đưa ra một câu khác như: Mọi số thập
phân đều có thể viết được dưới dạng hỗn số.
Cách thực hiện: Sau khi cho HS viết các
hỗn số dưới dạng số thập phân, GV đưa ra kết
luận: Mọi hỗn số đều có thể viết được dưới
dạng số thập phân. Sau đó nêu vấn đề: Mọi
số thập phân đều viết được dưới dạng hỗn số.
Từ vấn đề đặt ra trên đây, HS sẽ suy
nghĩ, liệu có phải mọi số thập phân đều có
thể viết được dưới dạng hỗn số. Với tình
huống trên, HS hoàn toàn có thể suy luận và
giải quyết được vì các em có thể dựa vào
các kiến thức đã học về hỗn số và số thập
phân: Phần nguyên của hỗn số là phần
nguyên của số thập phân. Vì phần nguyên
3.2.6. Xây dựng tình huống có vấn đề
từ những sai lầm thường gặp trong
tính toán
Việc tạo ra những tình huống chứa đựng
những sai lầm, yêu cầu HS tìm ra chỗ sai
cũng là một việc làm nhằm củng cố, khắc
sâu kiến thức đã học giúp HS tránh
những sai lầm tương tự.
Ví dụ: Tình huống dạy nội dung: Cách
tìm số dư trong phép chia hai số thập phân.
- GV đưa ra cách thực hiện phép chia:
12,5 : 0,4 như sau:
6
+ Vậy: 12,5 : 0,4 = 31,2 (dư 2)
GV gọi HS nhận xét về số dư trong phép
chia. GV đưa ra cách thực hiện phép chia và
nêu vấn đề như trên. Trong tình huống trên,
HS có thể dễ dàng nhận thấy số dư không
thể bằng 2 vì lớn hơn số chia (0,4) hoặc
cũng có thể thử lại. (Lấy thương nhân với
số chia rồi cộng với số dư).Tình huống đặt
ra ở đây là số dư trong phép chia có phải
bằng 2 không nếu không bằng 2 thì bằng
5.Thực nghiệm và kết quả
mấy và làm thế nào để tìm được số dư đúng
của phép chia.
4. Tổ chức dạy học giải quyết vấn đề
môn Toán lớp 5 tại các trường Tiểu
học quận Thủ Đức, tp.Hồ Chí Minh
(đính kèm giáo án)
Vận dụng các tình huống có vấn đề
được nêu trên, tôi đã thiết kế bài giảng
“Diện tích hình thang” SGK Toán 5, trang
93 theo bảng dưới đây:
giảng dạy thực nghiệm bài Diện tích hình
thang, học sinh được làm bài kiểm tra
nhằm đánh giá các kĩ năng đạt được khi
vận dụng dạy học tình huống có vấn đề.
Kết quả thực nghiệm như sau:
Đề tài được tiến hành thực nghiệm sư
phạm tại trường Tiểu học Nguyễn Trung
Trực trên hai lớp đối chứng (Lớp 5/1- 40
học sinh) và lớp thực nghiệm (Lớp 5/2 -
42 học sinh). Trước và sau khi tiến hành
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Kĩ năng
(9-10 đ)
(7-8 đ)
(5-6 đ)
(dưới 5 đ)
SL (%)
Sĩ
Lớp
số SL (%) SL (%)
Kĩ năng lĩnh hội tri thức
SL
(%)
Trước thực nghiệm
40
42
3
7.5
8
20.0
23.8
12
5
30.0
11.9
17
3
42.5
7.1
Sau thực nghiệm
24 57.1 10
Kĩ năng phân tích đề bài môn toán lớp 5
Trước thực nghiệm
Sau thực nghiệm
40
42
3
7.5
11
27.5
40.5
13
3
32.5
7.1
13
7
32.5
16.5
15 35.7 17
Kĩ năng tóm tắt đề bài toán lớp 5
Trước thực nghiệm
Sau thực nghiệm
40
42
2
5.0
16
40.0
23.8
13
16
57.5
38.1
9
2
22.5
4.8
12 28.6 10
Kĩ năng đặt câu lời giải bài toán lớp 5
Trước thực nghiệm
Sau thực nghiệm
40
42
8
20.0
5
12.5
33.3
10
3
25.0
7.1
17
9
42.5
21.4
16 38.1 14
Kĩ năng chọn và thực hiện phép tính giải
Trước thực nghiệm
Sau thực nghiệm
40
42
7
17.5 12
30.0
28.6
10
5
25.0
11.9
11
2
27.5
4.8
21 50.0 12
Kĩ năng trình bày bài giải toán lớp 5
10.0 15 37.5 17.5
42.9 7.1
Trước thực nghiệm
Sau thực nghiệm
40
42
4
7
13 47.5
4.8
19 45.2 18
7
3
2
Thông qua thực nghiệm sư phạm, tôi
có thể đưa ra những nhận xét sau đây:
sang loại trung bình và loại khá; KN chọn
và thực hiện phép tính: tỉ lệ phần trăm
giỏi (50.0%) và yếu (chỉ có 4.8%) đáng
khích lệ. Loại giỏi: tăng 32.5% và loại yếu
giảm xuống 12.7%; KN trình bày bài giải
môn Toán lớp 5: tỉ lệ phần trăm giỏi tăng
35.2%, tỉ lệ phần trăm yếu giảm mạnh
42.7%. Tất cả các kĩ năng học toán nêu
trên của HS lớp 5 được cải thiện nhờ vào
việc GV đã vận dụng tốt, sáng tạo các tình
huống dạy học có vấn đề. Nhờ vậy, chất
lượng học tập của HS được nâng lên.
- Việc vận dụng tình huống có vấn đề
trong dạy học môn Toán lớp 5 đã thu được
nhiều kết quả khả quan. Dễ dàng nhận
thấy ở PPDH tình huống có vấn đề là đã
giúp HS hứng thú học tập, kích thích khả
năng tư duy, hoạt động giải quyết các tình
huống có vấn đề trong học tập. Quan trọng
hơn, phương pháp giải quyết vấn đề đã cải
thiện các kĩ năng học toán cho HS. Từ đó
giúp HS tự chiếm lĩnh kiến thức, phát triển
khả năng suy luận, năng lực tư duy độc
lập, phát triển năng lực giải quyết vấn đề
và xử lí tình huống có vấn đề.
6. Kết luận
Việc xây dựng các tình huống có vấn
đề trong dạy học môn Toán lớp 5 tại các
trường Tiểu học quận Thủ Đức, tp.Hồ Chí
Minh như một công cụ, một biện pháp phát
triển năng lực giải quyết vấn đề cho HS
trong quá trình dạy học môn Toán lớp 5,
đồng thời góp phần nâng cao các kĩ năng
học toán, phát huy được tính tích cực của
HS trong quá trình học tập. Bên cạnh đó,
việc xây dựng các tình huống có vấn đề
trong dạy học môn Toán lớp 5 phát huy nội
lực ở HS trong việc vận dụng nhiều nguồn
kiến thức khác nhau để giải quyết một vấn
đề thực tiễn trong quá trình học tập.
-Sau thực nghiệm sư phạm, kết quả về
các kĩ năng học toán lớp 5 đã có sự thay
đổi rõ rệt: Sau khi thực nghiệm, tỉ lệ phần
trăm giỏi, khá, trung bình và yếu ở tất cả
các kĩ năng đều tăng lên tiến bộ: KN lĩnh
hội tri thức: giỏi: 49,6%, khá: 3,8%; yếu:
chỉ còn 7,1% và số lượng HS trung bình
cũng được giảm đi chỉ còn 3 em so với 17
em lúc trước khi thực nghiệm; KN phân
tích đề bài môn Toán lớp 5: giỏi: 28.2%,
khá 13.0%, số HS trung bình giảm đi 6 em
so với 13 em lúc trước khi thực nghiệm,
điểm chú ý ở số lượng HS yếu giảm 6 em
so với 13 em lúc ban đầu; KN tóm tắt bài
toán lớp 5: có bước tăng vọt về tỉ lệ phần
trăm giỏi: 23.6%, số lượng HS yếu còn 2
em so với 9 em lúc ban đầu; KN đặt câu
lời giải cho bài toán lớp 5: tỉ lệ phần trăm
giỏi tăng gấp 2 lần, khá tăng gấp 3 lần so
với lúc ban đầu, số lượng HS trung bình
giảm còn 3em so với lúc đầu 10 em, riêng
tỉ lệ phần trăm yếu còn 21.4% chuyển
8
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường (2014), Lí luận dạy học hiện đại – Cơ sở đổi
mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội.
[2] Nguyễn Lăng Bình (chủ biên) – Đỗ Hương Trà, Dạy và học tích cực Một số
phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực, NXB Đại học Sư phạm.
[3] Nguyễn Phúc Chỉnh, Dạy học theo vấn đề và các tình huống tích hợp trong dạy
học, Sách chuyên khảo trường ĐHSP Thái Nguyên.
[4] Đỗ Hoàng Mai, Thiết kế tình huống dạy học hiệu quả môn Toán ở Tiểu học,
Luận án Tiến sĩ Khoa học giáo dục trường ĐHSP Hà Nội.
[5] Nguyễn Thị Kim Thoa, Dạy Toán ở Tiểu học theo hướng phát triển năng lực
người học, Tạp chí Khoa học ĐHSP TPHCM.
[6] Lê Đình Trung (chủ biên)- Phan Thị Thanh Hội (2016), Dạy học theo định
hướng hình thành và phát triển năng lực người học ở trường phổ thông, NXB Đại
học Sư phạm.
[7] Bộ GD-ĐT (2017), Chương trình giáo dục phổ thông (Chương trình tổng thể).
Thông tin liên hệ tác giả
Họ và tên: Phan Kiêm Phát
Đơn vị: Trường Tiểu học Vinschool Central Park
Điện thoại: 0903.153.809
Xác nhận của giảng viên hướng dẫn
PGS.TS Dương Thị Kim Oanh
9
TOÁN
DIỆN TÍCH HÌNH THANG (SGK Toán 5, tr. 93)
I. MỤC TIÊU BÀI HỌC Sau khi học xong bài này:
1. HS hình thành được công thức và quy tắc tính diện tích hình thang; vận dụng công thức và quy tắc tính diện tích hình thang để
giải các bài tập có liên quan.
2. Rèn kĩ năng quan sát, thực hành, giải quyết vấn đề, thảo luận nhóm.
3. HS yêu thích môn Toán, có tinh thần và thái độ tích cực trong học tập.
II. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC
1.Giáo viên: Bài giảng điện tử,
2.Học sinh: Bảng cá nhân, bảng nhóm, các hình thang bằng giấy bìa theo yêu cầu giáo viên, kéo, thước, bút chì, SGK Toán 5.
III. CÁC HỌC ĐỘNG DẠY HỌC CHỦ YẾU
HOẠT ĐỘNG
GIÁO VIÊN HỌC SINH
GV đề nghị HS HS hát đầu giờ
hát đầu giờ
NỘI
DUNG
Ổn định lớp Khởi động
học
Ôn lại kiến Kiểm
THỜI
GIAN
1’
TT MỤC TIÊU
PPDH
PHƯƠNG TIỆN
1
2
tra PP trực quan GV yêu cầu HS HS xác định các đặc
2’
thức bài cũ
bài
cũ: + hỏi đáp
xác định lại các điểm hình thang
đặc điểm của
Hình thang
b
A
B
hình
thang
và
h
(thường
1’
vuông): Đáy lớn,
đáy bé, cạnh
bên, đường cao,
...
a
D
C
10
HS nắm được Bài mới
tình huống có -Giới thiệu
vấn đề: Cần bài
xây dựng cách
PP động não
GV đặt vấn đề:
HS suy nghĩ và đưa
3
6’
- Em đã biết các ra các nhận định:
đặc điểm của -Dựa vào đáy lớm
hình thang, dựa đáy bé, chiều cao?
vào các đặc điểm -Dựa vào hình chữ
này, ta xây dụng nhật, vuông, tam
công thức và quy giác?
tắc tính diện tích - ...
hình thang.
tính diện tích
hình thang.
- Làm thế nào
xây dựng được
công thức và quy
tắc tính diện tích
hình thang?
GV gợi ý HS
đưa về dạng hình
học quen thuộc.
HS hình thành -Xây dựng PP giải quyết
HS thực hành cắt,
ghép hình: xác định
1. Cắt, ghép
15’
được công thức công thức
tính diện tích tính diện
vấn đề + thực
hình
hành + thảo GV tổ chức cho trung điểm M trên
hình thang.
tích hình
luận nhóm
HS thực hiện cắt, cạnh bên BC, nối
11
thang
ghép hình
đỉnh A với trung
điểm M, cắt đoạn
AM, ghép tam giác
ABM vào cạnh MC.
2.So sánh diện HS nêu nhận xét về:
+Diện tích hình tam
tích hình thang
+Diện tích hình giác bằng
hình
tam giác và hình thang- giải thích.
thang-
thích?
giải Diện tích hình tam
giác = DK x AH : 2
+Các đặc điểm của
+Các đặc điểm hình tam giác: Đáy,
của hình tam chiều cao-giải thích
giác: Đáy, chiều Độ dài DK=DC+ CK
cao-giải thích?
Độ dài CK = AB
Độ dài DK=DC+ AB
Diện tích hình thang
=Diện tích hình tam
giác=(DC+AB)x AH
: 2
3.Rút ra công HS nêu quy tắc và
viết công thức tính
thức tính diện
12
diện tích hình thang:
tích hình thang
-HS nhận xét về
+đoạn DC, AB
của hình thang?
+ đoạn AH?
S=(a+b):2
-GV giới thiệu
độ dài đáy lớn là
a, đáy bé là b,
chiều cao là h.
GV lưu ý về đơn
vị đo của đáy
lớn, đáy bé và
chiều cao.
Thực hành quy
tắc và công
thức tính diện
tích hình thang.
PP
trắc GV tổ chức cho HS thực hành các bài Chiếu Slide
HS thực hành tập: Thẻ trắc nghiệm ABCD
các bài tập Bài 1: Tính diện tích
3
Luyện tập
7’
nghiệm
hình thang biết:
a) Độ dài hai đáy lần
lượt là 12cm và 8cm;
chiều cao là 5cm
A. 0,5cm2
GV lưu ý HS về B. 0,05cm2
13
đơn vị đo của C. 5cm2
D. 50cm2
đáy lớn, đáy bé,
chiều cao.
a) Độ dài hai đáy lần
lượt là 9,8m và
6,6m; chiều cao là
10,5m
A. 840m2
B. 84m2
Chiếu Slide
9’
C. 0,84m2
HS giải trên bảng nhóm
Giải được bài
toán có lời văn
về diện tích
hình thang
D. 0,084m2
Phiếu học tập
PP thảo luận GV nêu bài toán, Bài 2: Một thửa
nhóm
yêu cầu HS phân ruộng hình thang có
tích đề, tóm tắt, độ dài hai đáy lần
giải bài toán.
lượt là 110m và
90,2m. Chiều cao
bằng trung bình cộng
hai đáy. Tính diện
tích thửa ruộng đó.
Tóm tắt
3’
a = 110 m
b = 90,2 m
h = (a+b): 2 ?
14
S = ? m2
Giải
Chiều cao thửa
ruộng
(110+90,2):2=100,1(m)
Chiều cao thửa
ruộng
(110+90,2)x100,1=
20060,04 (m2)
Đáp số: 20060,04 m2
HS ôn củng cố,
mở rộng quy
tắc và công
thức tính diện
tích hình thang.
PP động não GV cho HS nêu HS thêm lại quy tắc
3’
1’
4
5
Củng cố
+ đàm thoại
lại quy tắc và và công thức tính
công thức tính diện tích hình thang:
diện tích hình S = (a+b) x h : 2
(a b)
thang.
S =
x h
2
GV nhận xét tiết
học GV dặn dò
BT về nhà: Bài
2/94
Dặn dò
15
Bạn đang xem tài liệu "Bài báo khoa học nâng cao chất lượng dạy học môn Toán Lớp 5 tại các Trường Tiểu học Quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
bai_bao_khoa_hoc_nang_cao_chat_luong_day_hoc_mon_toan_lop_5.pdf

