Bài báo khoa học nâng cao chất lượng dạy học môn Toán Lớp 5 tại các Trường Tiểu học Quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh

BÀI BÁO KHOA HỌC  
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 5  
TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN THỦ ĐỨC, TP. HỒ CHÍ MINH  
IMPROVING QUALITY OF TEACHING CLASS 5  
AT PRIMARY SCHOOLS OF THU DUC DISTRICT, HO CHI MINH CITI  
PGS.TS Dương Thị Kim Oanh  
Học viên Cao học: Phan Kiêm Phát  
Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Thủ Đức  
TÓM TẮT  
Mục tiêu của việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực hiện nay nhằm phát huy  
được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Phương pháp dạy học giải quyết vấn  
đề (trong môn Toán lớp 5) là phương pháp tạo ra được sự say mê, hứng thú học tập cho  
người học. Thông qua các tình huống có vấn đề của phương pháp dạy học giải quyết vấn đề  
các kĩ năng lĩnh hội tri thức, phân tích đề bài toán, tóm tắt đề bài toán, đặt câu lời giải cho  
bài toán, chọn và thực hiện phép tính, trình bày bài giải toán của học sinh được củng cố và  
phát huy hiệu quả. Bài viết trình bày về việc nâng cao chất lượng dạy học môn toán lớp 5  
tại các trường Tiểu học quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.  
Từ khóa : phương pháp, dạy học, tình huống có vấn đề, kĩ năng giải quyết vấn đề, môn  
Toán lớp 5  
ABSTRACT  
The objective of applying current active teaching methods to promote the positive, proactive  
and creative nature of students. The method of teaching problem solving (in Grade 5 Math)  
is a method to create the passion and interest in learning for learners. Through problematic  
situations of teaching methods to solve the problems of knowledge acquisition skills,  
analyzing problem problems, summarizing problem problems, placing solution sentences  
for problems, choosing and performing spells Calculating and presenting students' math  
problems is strengthened and promoted effectively. The paper presents the improvement of  
the quality of teaching 5th grade math at the primary schools in Thu Duc District, Ho Chi  
Minh City.  
Keywords: methods, teaching, problematic situation, problem skills, Grade 5 Math  
vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc  
xây dựng thế hệ người Việt Nam mới, đáp  
ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Bậc  
Tiểu học, bậc học nền tảng trong hệ thống  
giáo dục quốc dân nói chung có ý nghĩa vô  
cùng quan trọng vì bước đầu hình thành  
1. Đặt vấn đề  
Trong thế kỉ XXI, thế kỉ của nền kinh tế  
tri thức trên phạm vi toàn cầu, nguồn lực  
con người trở nên có ý nghĩa quan trọng,  
quyết định sự thành công của công cuộc  
phát triển đất nước. Giáo dục ngày càng có  
1
nhân cách, kĩ năng học tập tích cực cho học  
sinh, hình thành những cơ sở ban đầu cho sự  
phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí  
tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản  
để học sinh tiếp tục học bậc Trung học cơ  
sở. Để đạt được mục tiêu trên đòi hỏi giáo  
viên Tiểu học phải có kiến thức sâu và sự  
hiểu biết nhất định về nội dung, phương  
pháp, hình thức tổ chức dạy học. Đồng thời  
người dạy có khả năng sử dụng một cách  
linh hoạt các phương pháp dạy họctích cực  
và hình thức tổ chức trong quá trình dạy học  
đáp ứng từng đối tượng học sinh.  
tạo ở học sinh. Vì vậy, vận dụng phương  
pháp dạy học tích cực trong đó có phương  
pháp giải quyết vấn đề sẽ góp phần phát  
huy được tính tích cực khám phá, chủ động  
lĩnh hội tri thức, nâng cao hiệu quả xử lý  
các tình huống có vấn đề theo yêu cầu của  
Bộ Giáo dục và Đào tạo.  
Xuất phát từ lý do nêu trên, người nghiên  
cứu chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng dạy  
học môn toán lớp 5 tại các trường tiểu học  
quận Thủ Đức, tp. Hồ Chí Minh”.  
2. Thực trạng dạy học môn Toán lớp 5  
tại các trường Tiểu học quận Thủ Đức,  
tp Hồ Chí Minh  
Trong những năm học qua, chất lượng  
dạy học môn Toán lớp 5 tại các trường Tiểu  
học quận Thủ Đức, tp Hồ Chí Minh còn  
nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu  
thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội trong  
thời đại mới. Việc vận dụng các phương  
pháp dạy học và kĩ thuật dạy học tích cực  
chưa thu hút được sự quan tâm của nhiều  
giáo viên, chưa tạo ra những điều kiện  
thuận lợi cho việc tự học ở học sinh. Bên  
cạnh đó, hệ thống trường lớp, cơ sở vật chất  
đã được quan tâm đầu tư đúng mức, tuy  
nhiên sự gia tăng cơ học về dân số ở các  
phường tập trung khu công nghiệp, khu chế  
xuất rất nhanh dẫn đến hệ thống trường lớp  
quá tải, sĩ số học sinh/lớp quá cao (trên  
45hs/lớp) tạo nên nguyên nhân chưa đáp  
ứng được yêu cầu đổi mới tích cực các môn  
học trong đó có môn Toán. Điều này dẫn  
đến kết quả học tập của học sinh ở các kĩ  
năng toán học (phân tích đề bài, tóm tắt đề  
bài, đặt câu lời giải toán, chọn và thực hiện  
đúng phép tính, trình bày bài giải toán)  
chưa cao, chưa phát huy tính hiệu quả sáng  
Sau 16 năm thực hiện đổi mới chương  
trình SGK, đổi mới PPDH, giáo dục Tiểu  
học đã có nhiều chuyển biến tích cực về  
chất lượng và hiệu quả giáo dục, đáp ứng  
mục tiêu cơ bản của cấp học trong giai đoạn  
CNH, HĐH thời kỳ hội nhập.  
Hiện nay, Phòng Giáo dục và Đào tạo  
trực thuộc UBND quận Thủ Đức là cơ quan  
chuyên môn quản lý nhà nước về lĩnh vực  
Giáo dục và Đào tạo, gồm 25 trường Tiểu  
học công lập, 827 lớp học với hơn 36.770  
học sinh và gần 986 giáo viên, trong đó có:  
66 cán bộ quản lý và 920 giáo viên đạt  
chuẩn chuyên môn và 8 cán bộ quản lý, 7  
giáo viên đạt chuẩn cao (Thạc sĩ). Hầu hết  
các giáo viên đều tâm huyết với nghề, yêu  
thương học trò, tận tụy với công việc, nắm  
vững mục tiêu giáo dục, tiếp cận và vận  
dụng có hiệu quả công cuộc đổi mới PPDH  
ở Tiểu học.  
Quá trình dạy học môn Toán ở Tiểu học,  
giáo viên đã từng bước nắm vững chuẩn  
kiến thức kĩ năng trong dạy học cũng như  
2
trong công tác kiểm tra đánh giá kết quả  
học tập của học sinh, đã có nhiều giải pháp  
phù hợp nâng cao chất lượng dạy học. Giáo  
viên đã sử dụng thành thạo công nghệ thông  
tin, chủ động nghiên cứu và làm thêm đồ  
dùng dạy học, khắc phục tình trạng dạy  
chay, không còn tình trạng đọc chép, đáp  
ứng yêu cầu trực quan trong dạy học. Một  
số giáo viên thuộc các trường trọng điểm,  
có điều kiện về cơ sở vật chất và trang thiết  
bị dạy học đã tích cực sử dụng CNTT, phần  
mềm dạy học, giáo án điện tử, bảng tương  
tác trong dạy học. Các trường Tiểu học đã tổ  
chức Hội thi đồ dùng dạy học tự làm cho  
giáo viên, tạo nên phong trào thi đua sôi nổi.  
Tuy nhiên, giáo viên chưa thường xuyên tổ  
chức nhiều hoạt động dạy học theo hướng  
tích cực cho học sinh. Đa số giáo viên chưa  
tạo cơ hội và điều kiện cho học sinh tham  
gia các hoạt động một cách tích cực, chủ  
động, sáng tạo vào quá trình khám phá và  
lĩnh hội tri thức. Giáo viên bước đầu có nhận  
thức đúng về các kĩ năng cần hình thành cho  
HS tuy nhiên việc bồi dưỡng phát triển các  
kĩ năng toán học cho các em chưa được chú  
trọng. Bên cạnh đó, phần lớn giáo viên chưa  
nhận thức đúng cũng như xây dụng các tình  
huống dạy học có vấn đề. Một số giáo viên  
còn xem nhẹ các dấu hiệu khuyến khích HS  
phát triển các kĩ năng học tập.  
vận dụng kiến thức giải quyết các tình huống  
có vấn để trong học tập và trong cuộc sống.  
Các kĩ năng đạt được khi học môn Toán của  
học sinh lớp 5 vẫn còn hạn chế và cần phải  
được luyện tập nhiều đề trở thành kĩ xảo.  
3. Đề xuất biện pháp nâng cao chất  
lượng dạy học môn Toán lớp 5 tại các  
trường Tiểu học quận Thủ Đức, tp. Hồ  
Chí Minh  
Để nâng cao chất lượng dạy học môn  
toán lớp 5 tại các trường Tiểu học quận Thủ  
Đức, tp. Hồ Chí Minh, sau đây tôi đề xuất  
tiến trình dạy học và các tình huống có vấn  
đề trong dạy học môn Toán lớp 5:  
3.1. Đề xuất quy trình dạy học tình  
huống có vấn đề môn Toán lớp 5  
Bước 1: Tạo tình huống gợi vấn đề.  
Nêu vấn đề là tình huống do giáo viên chủ  
động đưa ra như là một cách dẫn nhập vào  
bài học. Tình huống xuất phát này cần ngắn  
gọn, gần gũi dễ hiểu đối với học sinh. Tình  
huống xuất phát nhằm lồng ghép câu hỏi  
nêu vấn đề. Tình huống xuất phát càng rõ  
ràng thì việc dẫn nhập cho câu hỏi nêu vấn  
đề càng dễ. Tuy nhiên có những trường hợp  
không nhất thiết phải có tình huống xuất  
phát mới đề xuất được câu hỏi nêu vấn đề.  
Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài  
học và cần bảo đảm yêu cầu phù hợp với  
trình độ học sinh, gây mâu thuẫn nhận thức  
và kích thích tính tò mò, thích tìm tòi của  
học sinh nhằm chuẩn bị tâm thế cho các em  
trước khi khám phá, lĩnh hội kiến thức.  
Giáo viên nên dùng câu hỏi mở không dùng  
câu hỏi đóng đối với câu hỏi nêu vấn đề.  
Câu hỏi nêu vấn đề càng đảm bảo các yêu  
Học sinh nhận thức đúng về vai trò  
môn Toán lớp 5. Các em có thái độ học tập  
(trước - trong - sau) tiết học Toán tích cực.  
Tuy nhiên, ý thức tự học của các em chưa  
cao. Các hành động trong và sau giờ học  
môn Toán lớp 5 chưa tích cực, các em chưa  
biết tìm hiểu kiến thức cũng như chưa biết  
3
câu nêu ra ở trên thì ý đồ dạy học của giáo  
viên càng dễ thực hiện thành công.  
trực tiếp trên mô hình trực quan, vật thật.  
Một số trường hợp không thển tiến hành  
trên vật thật thì cho HS quan sát trên tranh  
vẽ, sơ đồ. Khi HS thực hành, GV cần bao  
quát lớp, quan sát từng em, từng nhóm. Nếu  
thấy HS hoặc nhóm nào làm sai yêu cầu thì  
GV nhắc nhở riêng, không nên thông báo  
chung cho cả lớp vì làm như vậy sẽ phân  
tán tư tưởng và ảnh hưởng đến công việc  
của các HS, nhóm khác.  
Bước 2: Bộc lộ ý tưởng ban đầu. Bộc  
lộ ý tưởng ban đầu của học sinh là bước  
quan trọng của dạy học giải quyết vấn đề.  
Bước này khuyến khích học sinh nêu những  
suy nghĩ, nhận thức ban đầu của mình trước  
khi học kiến thức. Để hình thành ý tưởng  
ban đầu, giáo viên yêu cầu học sinh nhắc lại  
kiến thức cũ đã học có liên quan kiến thức  
mới của bài học. Khi yêu cầu học sinh trình  
bày ý tưởng ban đầu, giáo viên yêu cầu  
nhiều hình thức biểu hiện của học sinh có  
thể bằng lời nói, có thể bằng cách viết hay  
vẽ sơ đồ để biểu hiện suy nghĩ.  
Bước 5: Kết luận, hợp thức hóa kiến  
thức, đề xuất vấn đề mới. Sau khi thực  
hiện hoạt động giải quyết vấn đề, các câu  
hỏi dần dần được giải quyết, kiến thức được  
hình thành tuy nhiên vẫn chưa có hệ thống  
hoặc chưa chuẩn xác một cách khoa học.  
GV có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ  
thống lại để HS ghi vào vở coi như là kiến  
thức của bài học. Trước khi kết luận chung,  
GV nêu yêu cầu một vài ý kiến của HS cho  
kết luận sau khi thực hiện giải quyết vấn đề,  
rút ra kiến thức bài học.  
Bước 3: Đề xuất phương án thực  
hành, giải quyết vấn đề. Từ những khác  
biệt và phong phú về ý tưởng ban đầu của  
học sinh, giáo viên giúp các em đề xuất đề  
xuất những câu hỏi từ sự khác biệt đó. Chú  
ý xoáy sâu vào những sự khác biệt có liên  
quan đến kiến thức trọng tâm của bài học. ở  
bước này, giáo viên cần chọn lựa một số ý  
tưởng ban đầu khác biệt trong lớp để giúp  
học sinh so sánh, từ đó học sinh đặt câu hỏi  
liên quan đến nội dung bài học. Đây là bước  
khó khăn vì giáo viên cần phải chọn lựa các  
ý tưởng ban đầu tiêu biểu của học sinh một  
cách nhanh chóng theo mục đích dạy học,  
đồng thời linh hoạt điều khiển thảo luận của  
học sinh nhằm giúp học sinh đề xuất câu  
hỏi từ sự khác biệt đó theo ý đồ dạy học.  
Bước 4: Tiến hành giải quyết vấn đề.  
Từ các phương án thực hành, giải quyết vấn  
đề mà HS nêu ra, GV khéo léo nhận xét và  
gợi ý để HS lựa chọn phương án tiến hành.  
Ưu tiên thực hiện các phương án thực hành  
3.2. Đề xuất các tình huống có vấn đề  
trong dạy học môn Toán lớp 5 tại các  
trường Tiểu học quận Thủ Đức, tp.Hồ  
Chí Minh  
Tình huống có vấn đề là tình huống gợi  
cho HS những khó khăn về lí luận hay thực  
tiễn mà HS thấy cần thiết và có khả năng  
vượt qua, nhưng không phải ngay tức khắc  
mà nhờ một thuật toán hay dựa theo một  
cách làm nào đó đã biết mà phải trải qua một  
quá trình tích cực suy nghĩ, hoạt động để  
biến đổi đối tượng hoặc điều chỉnh kiến thức  
sẵn có. Trong dạy học GV có thể xây dựng  
tình huống có vấn đề qua các cách sau đây:  
4
Tình huống: Dạy nội dung Phép cộng  
số thập phân.  
3.2.1.Tình huống có vấn đề xuất phát  
từ thực tiễn  
Các tình huống xuất phát từ thực tiễn và  
có chứa những vấn đề về toán học thường  
được xây dựng khi dạy các loại bài hình  
thành kiến thức mới cho HS. Ví dụ: Tình  
huống có vấn đề khi dạy nội dung Phép  
cộng số thập phân (SGK Toán 5, tr.49)  
Tình huống: Cắt một sợi dây thành hai  
đoạn. Biết đoạn thứ nhất dài 3,2dm và đoạn  
thứ hai dài 4,3dm. Sợi dây lúc đầu dài bao  
nhiêu đề-xi-mét?. Giáo viên đưa ra một sợi  
dây dài 7,5dm, dùng kéo cắt sợi dây đó  
thành hai đoạn 3,2dm và 4,3dm. Nêu độ dài  
của hai đoạn cắt ra và yêu cầu HS tính độ  
dài của sợi dây.  
- GV cho 2 phép tính: 1,23 + 12,3 (phần  
thập phân có số chữ số khác nhau) hay: 2  
+ 2,5 (số tự nhiên cộng với số thập  
phân). Các số hạng trong phép tính có gì  
giống và khác với các số hạng trong những  
phép tính gì?  
Tình huống có vấn đề xuất hiện ở  
đây chính là số chữ số ở phần thập phân  
của hai số khác nhau. Tuỳ theo từng đối  
tượng HS mà GV định hướng cách giải  
quyết vấn đề. Đối với trường hợp thứ  
nhất, GV cần định hướng cho hs viết  
thêm 1 chữ số 0 vào bên phải số 12,3  
để được số 12,30. Đối với trường hợp  
thứ hai, cần định hướng viết 2 dưới  
dạng 2,0.  
Tính thực tiễn của tình huống có vấn đề  
là vấn đề hoàn toàn có thể xảy ra đối với  
HS trong thực tế. Đối với HS lớp 5, việc  
biết được muốn tính độ dài sợi dây thì cần  
phải tính tổng độ dài của hai đoạn cắt ra là  
một việc làm đơn giản. Tuy nhiên tình  
huống được đặt ra ở đây đối với HS là: độ  
dài của hai đoạn dây cắt ra đều là những  
số thập phân.  
3.2.3.Tình huống có vấn đề được xây  
dựng bằng cách yêu cầu học sinh dùng  
cách tương tự để giải quyết vấn đề  
Khi dạy một số kiến thức mới, GV có thể  
hướng dẫn học sinh thông qua những vấn đề  
tương tự đã được học trước đó. Tình huống  
đưa ra ở đây cần dựa vào một kết quả tương  
tự mà học sinh đã biết trước đó nhằm khơi  
dậy niềm tin vào khả năng của bản thân.  
Ví dụ: Tình huống dạy nội dung Phép  
trừ số thập phân (SGK Toán 5, tr.53)  
Một sợi dây dài 2,4m. Cắt sợi dây đó  
thành hai đoạn. Biết độ dài đoạn thứ nhất là  
1,05m. Tính độ dài sợi dây thứ hai.GV đưa  
ra một sợi dây dài 2,4m sau đó cắt từ sợi  
dây ra một đoạn dài 1,05m. Cho HS biết độ  
dài sợi dây và độ dài đoạn cắt ra, hỏi HS về  
độ dài của đoạn còn lại.  
Trong tình huống nêu trên, HS mới chỉ  
dừng lại ở việc giải quyết tìm ra độ dài của  
sợi dây hay kết quả của phép cộng 2 số thập  
phân 3,2 + 4,3. Để tìm ra quy tắc cộng hai  
số thập phân thì ta cần đưa tiếp vấn đề và  
yêu cầu HS giải quyết.  
3.2.2.Tình huống có vấn đề gắn kết từ  
các kiến thức đã học  
Các tình huống đưa ra ở đây là những  
bài tập dạng nâng cao mà khi giải quyết, HS  
cần dựa vào kiến thức đã học.  
5
Vấn đề tương tự ở đây là: Cách thực  
hiện Phép trừ và Phép cộng hai số thập  
phân hoàn toàn giống nhau. Việc HS phát  
hiện: Muốn tính độ dài của đoạn dây còn lại  
thì phải thực hiện phép trừ 2,4 - 1,05 là một  
tình huống các em cần phải giải quyết.  
Từ cách thực hiện phép cộng hai số thập  
phân đã được học, yêu cầu học sinh áp dụng  
để thực hiện phép trừ 2,4 - 1,05. Tình huống  
đặt ra cho học sinh ở đây là: Các em phải  
thực hiện phép trừ (2,4 – 1,05) dựa vào cách  
thực hiện phép cộng hai số thập phân.  
Trong tình huống này, HS hoàn toàn có thể  
tìm ra quy tắc trừ hai số thập phân thông  
qua việc thực hiên phép trừ tương tự như  
đối với phép cộng.  
của hỗn số luôn khác 0 mà phần nguyên của  
số thập phân lại có thể bằng 0.  
3.2.5. Xây dựng tình huống có vấn đề  
bằng khái quát hoá vấn đề  
Trong dạy học về số thập phân, GV  
cũng có thể đưa ra những đối tượng cụ thể,  
yêu cầu HS quan sát, phân tích và tìm ra nét  
chung của các đối tượng đó và khái quát  
hoá thành những tính chất hay một khái  
niệm cụ thể. Tình huống đưa ra ở đây là  
những những kiến thức riêng lẻ đã học  
trước đó nhằm khắc sâu kiến thức và phát  
triển tư duy.  
Ví dụ: Tình huống dạy nội dung Nhân  
một số thập phân với 10, 100, 1000,....  
(SGK Toán 5, tr. 55)  
- Sau khi có kết quả phép nhân một số  
thập phân với 10 và 100, GV nêu vấn đề:  
Muốn nhân một số thập phân với 10,  
100, 1000,... ta có thể làm thế nào?  
Sau khi HS nhân và có kết của phép  
nhân một số thập phân với 10 và 100, giáo  
viên đưa ra tình huống nêu trên.  
3.2.4. Xây dựng tình huống có vấn đề  
bằng cách lật ngược vấn đề  
Tình huống ở đây là một mệnh đề đảo  
của một mệnh đề hay một sự mâu thuẫn với  
những tri thức có sẵn.  
Ví dụ: Tình huống dạy nội dung Khái  
niệm số thập phân (SGK Toán 5, tr.33)  
- Từ mệnh đề: Mọi hỗn số đều có thể viết  
được dưới dạng số thập phân, giáo viên có  
thể đưa ra một câu khác như: Mọi số thập  
phân đều có thể viết được dưới dạng hỗn số.  
Cách thực hiện: Sau khi cho HS viết các  
hỗn số dưới dạng số thập phân, GV đưa ra kết  
luận: Mọi hỗn số đều có thể viết được dưới  
dạng số thập phân. Sau đó nêu vấn đề: Mọi  
số thập phân đều viết được dưới dạng hỗn số.  
Từ vấn đề đặt ra trên đây, HS sẽ suy  
nghĩ, liệu có phải mọi số thập phân đều có  
thể viết được dưới dạng hỗn số. Với tình  
huống trên, HS hoàn toàn có thể suy luận và  
giải quyết được vì các em có thể dựa vào  
các kiến thức đã học về hỗn số và số thập  
phân: Phần nguyên của hỗn số là phần  
nguyên của số thập phân. Vì phần nguyên  
3.2.6. Xây dựng tình huống có vấn đề  
từ những sai lầm thường gặp trong  
tính toán  
Việc tạo ra những tình huống chứa đựng  
những sai lầm, yêu cầu HS tìm ra chỗ sai  
cũng là một việc làm nhằm củng cố, khắc  
sâu kiến thức đã học giúp HS tránh  
những sai lầm tương tự.  
Ví dụ: Tình huống dạy nội dung: Cách  
tìm số dư trong phép chia hai số thập phân.  
- GV đưa ra cách thực hiện phép chia:  
12,5 : 0,4 như sau:  
6
+ Vậy: 12,5 : 0,4 = 31,2 (dư 2)  
GV gọi HS nhận xét về số dư trong phép  
chia. GV đưa ra cách thực hiện phép chia và  
nêu vấn đề như trên. Trong tình huống trên,  
HS có thể dễ dàng nhận thấy số dư không  
thể bằng 2 vì lớn hơn số chia (0,4) hoặc  
cũng có thể thử lại. (Lấy thương nhân với  
số chia rồi cộng với số dư).Tình huống đặt  
ra ở đây là số dư trong phép chia có phải  
bằng 2 không nếu không bằng 2 thì bằng  
5.Thực nghiệm và kết quả  
mấy và làm thế nào để tìm được số dư đúng  
của phép chia.  
4. Tổ chức dạy học giải quyết vấn đề  
môn Toán lớp 5 tại các trường Tiểu  
học quận Thủ Đức, tp.Hồ Chí Minh  
(đính kèm giáo án)  
Vận dụng các tình huống có vấn đề  
được nêu trên, tôi đã thiết kế bài giảng  
“Diện tích hình thang” SGK Toán 5, trang  
93 theo bảng dưới đây:  
giảng dạy thực nghiệm bài Diện tích hình  
thang, học sinh được làm bài kiểm tra  
nhằm đánh giá các kĩ năng đạt được khi  
vận dụng dạy học tình huống có vấn đề.  
Kết quả thực nghiệm như sau:  
Đề tài được tiến hành thực nghiệm sư  
phạm tại trường Tiểu học Nguyễn Trung  
Trực trên hai lớp đối chứng (Lớp 5/1- 40  
học sinh) và lớp thực nghiệm (Lớp 5/2 -  
42 học sinh). Trước và sau khi tiến hành  
Giỏi  
Khá  
Trung bình  
Yếu  
Kĩ năng  
(9-10 đ)  
(7-8 đ)  
(5-6 đ)  
(dưới 5 đ)  
SL (%)  
Sĩ  
Lớp  
số SL (%) SL (%)  
Kĩ năng lĩnh hội tri thức  
SL  
(%)  
Trước thực nghiệm  
40  
42  
3
7.5  
8
20.0  
23.8  
12  
5
30.0  
11.9  
17  
3
42.5  
7.1  
Sau thực nghiệm  
24 57.1 10  
Kĩ năng phân tích đề bài môn toán lớp 5  
Trước thực nghiệm  
Sau thực nghiệm  
40  
42  
3
7.5  
11  
27.5  
40.5  
13  
3
32.5  
7.1  
13  
7
32.5  
16.5  
15 35.7 17  
Kĩ năng tóm tắt đề bài toán lớp 5  
Trước thực nghiệm  
Sau thực nghiệm  
40  
42  
2
5.0  
16  
40.0  
23.8  
13  
16  
57.5  
38.1  
9
2
22.5  
4.8  
12 28.6 10  
Kĩ năng đặt câu lời giải bài toán lớp 5  
Trước thực nghiệm  
Sau thực nghiệm  
40  
42  
8
20.0  
5
12.5  
33.3  
10  
3
25.0  
7.1  
17  
9
42.5  
21.4  
16 38.1 14  
Kĩ năng chọn và thực hiện phép tính giải  
Trước thực nghiệm  
Sau thực nghiệm  
40  
42  
7
17.5 12  
30.0  
28.6  
10  
5
25.0  
11.9  
11  
2
27.5  
4.8  
21 50.0 12  
Kĩ năng trình bày bài giải toán lớp 5  
10.0 15 37.5 17.5  
42.9 7.1  
Trước thực nghiệm  
Sau thực nghiệm  
40  
42  
4
7
13 47.5  
4.8  
19 45.2 18  
7
3
2
Thông qua thực nghiệm sư phạm, tôi  
có thể đưa ra những nhận xét sau đây:  
sang loại trung bình và loại khá; KN chọn  
và thực hiện phép tính: tỉ lệ phần trăm  
giỏi (50.0%) và yếu (chỉ có 4.8%) đáng  
khích lệ. Loại giỏi: tăng 32.5% và loại yếu  
giảm xuống 12.7%; KN trình bày bài giải  
môn Toán lớp 5: tỉ lệ phần trăm giỏi tăng  
35.2%, tỉ lệ phần trăm yếu giảm mạnh  
42.7%. Tất cả các kĩ năng học toán nêu  
trên của HS lớp 5 được cải thiện nhờ vào  
việc GV đã vận dụng tốt, sáng tạo các tình  
huống dạy học có vấn đề. Nhờ vậy, chất  
lượng học tập của HS được nâng lên.  
- Việc vận dụng tình huống có vấn đề  
trong dạy học môn Toán lớp 5 đã thu được  
nhiều kết quả khả quan. Dễ dàng nhận  
thấy ở PPDH tình huống có vấn đề là đã  
giúp HS hứng thú học tập, kích thích khả  
năng tư duy, hoạt động giải quyết các tình  
huống có vấn đề trong học tập. Quan trọng  
hơn, phương pháp giải quyết vấn đề đã cải  
thiện các kĩ năng học toán cho HS. Từ đó  
giúp HS tự chiếm lĩnh kiến thức, phát triển  
khả năng suy luận, năng lực tư duy độc  
lập, phát triển năng lực giải quyết vấn đề  
và xử lí tình huống có vấn đề.  
6. Kết luận  
Việc xây dựng các tình huống có vấn  
đề trong dạy học môn Toán lớp 5 tại các  
trường Tiểu học quận Thủ Đức, tp.Hồ Chí  
Minh như một công cụ, một biện pháp phát  
triển năng lực giải quyết vấn đề cho HS  
trong quá trình dạy học môn Toán lớp 5,  
đồng thời góp phần nâng cao các kĩ năng  
học toán, phát huy được tính tích cực của  
HS trong quá trình học tập. Bên cạnh đó,  
việc xây dựng các tình huống có vấn đề  
trong dạy học môn Toán lớp 5 phát huy nội  
lực ở HS trong việc vận dụng nhiều nguồn  
kiến thức khác nhau để giải quyết một vấn  
đề thực tiễn trong quá trình học tập.  
-Sau thực nghiệm sư phạm, kết quả về  
các kĩ năng học toán lớp 5 đã có sự thay  
đổi rõ rệt: Sau khi thực nghiệm, tỉ lệ phần  
trăm giỏi, khá, trung bình và yếu ở tất cả  
các kĩ năng đều tăng lên tiến bộ: KN lĩnh  
hội tri thức: giỏi: 49,6%, khá: 3,8%; yếu:  
chỉ còn 7,1% và số lượng HS trung bình  
cũng được giảm đi chỉ còn 3 em so với 17  
em lúc trước khi thực nghiệm; KN phân  
tích đề bài môn Toán lớp 5: giỏi: 28.2%,  
khá 13.0%, số HS trung bình giảm đi 6 em  
so với 13 em lúc trước khi thực nghiệm,  
điểm chú ý ở số lượng HS yếu giảm 6 em  
so với 13 em lúc ban đầu; KN tóm tắt bài  
toán lớp 5: có bước tăng vọt về tỉ lệ phần  
trăm giỏi: 23.6%, số lượng HS yếu còn 2  
em so với 9 em lúc ban đầu; KN đặt câu  
lời giải cho bài toán lớp 5: tỉ lệ phần trăm  
giỏi tăng gấp 2 lần, khá tăng gấp 3 lần so  
với lúc ban đầu, số lượng HS trung bình  
giảm còn 3em so với lúc đầu 10 em, riêng  
tỉ lệ phần trăm yếu còn 21.4% chuyển  
8
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường (2014), Lí luận dạy học hiện đại – Cơ sở đổi  
mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội.  
[2] Nguyễn Lăng Bình (chủ biên) – Đỗ Hương Trà, Dạy và học tích cực Một số  
phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực, NXB Đại học Sư phạm.  
[3] Nguyễn Phúc Chỉnh, Dạy học theo vấn đề và các tình huống tích hợp trong dạy  
học, Sách chuyên khảo trường ĐHSP Thái Nguyên.  
[4] Đỗ Hoàng Mai, Thiết kế tình huống dạy học hiệu quả môn Toán ở Tiểu học,  
Luận án Tiến sĩ Khoa học giáo dục trường ĐHSP Hà Nội.  
[5] Nguyễn Thị Kim Thoa, Dạy Toán ở Tiểu học theo hướng phát triển năng lực  
người học, Tạp chí Khoa học ĐHSP TPHCM.  
[6] Lê Đình Trung (chủ biên)- Phan Thị Thanh Hội (2016), Dạy học theo định  
hướng hình thành và phát triển năng lực người học ở trường phổ thông, NXB Đại  
học Sư phạm.  
[7] Bộ GD-ĐT (2017), Chương trình giáo dục phổ thông (Chương trình tổng thể).  
Thông tin liên hệ tác giả  
Họ và tên: Phan Kiêm Phát  
Đơn vị: Trường Tiểu học Vinschool Central Park  
Điện thoại: 0903.153.809  
Xác nhận của giảng viên hướng dẫn  
PGS.TS Dương Thị Kim Oanh  
9
TOÁN  
DIỆN TÍCH HÌNH THANG (SGK Toán 5, tr. 93)  
I. MỤC TIÊU BÀI HỌC Sau khi học xong bài này:  
1. HS hình thành được công thức và quy tắc tính diện tích hình thang; vận dụng công thức và quy tắc tính diện tích hình thang để  
giải các bài tập có liên quan.  
2. Rèn kĩ năng quan sát, thực hành, giải quyết vấn đề, thảo luận nhóm.  
3. HS yêu thích môn Toán, có tinh thần và thái độ tích cực trong học tập.  
II. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC  
1.Giáo viên: Bài giảng điện tử,  
2.Học sinh: Bảng cá nhân, bảng nhóm, các hình thang bằng giấy bìa theo yêu cầu giáo viên, kéo, thước, bút chì, SGK Toán 5.  
III. CÁC HỌC ĐỘNG DẠY HỌC CHỦ YẾU  
HOẠT ĐỘNG  
GIÁO VIÊN HỌC SINH  
GV đề nghị HS HS hát đầu giờ  
hát đầu giờ  
NỘI  
DUNG  
Ổn định lớp Khởi động  
học  
Ôn lại kiến Kiểm  
THỜI  
GIAN  
1’  
TT MỤC TIÊU  
PPDH  
PHƯƠNG TIỆN  
1
2
tra PP trực quan GV yêu cầu HS HS xác định các đặc  
2’  
thức bài cũ  
bài  
cũ: + hỏi đáp  
xác định lại các điểm hình thang  
đặc điểm của  
Hình thang  
b
A
B
hình  
thang  
và  
h
(thường  
1’  
vuông): Đáy lớn,  
đáy bé, cạnh  
bên, đường cao,  
...  
a
D
C
10  
HS nắm được Bài mới  
tình huống có -Giới thiệu  
vấn đề: Cần bài  
xây dựng cách  
PP động não  
GV đặt vấn đề:  
HS suy nghĩ và đưa  
3
6’  
- Em đã biết các ra các nhận định:  
đặc điểm của -Dựa vào đáy lớm  
hình thang, dựa đáy bé, chiều cao?  
vào các đặc điểm -Dựa vào hình chữ  
này, ta xây dụng nhật, vuông, tam  
công thức và quy giác?  
tắc tính diện tích - ...  
hình thang.  
tính diện tích  
hình thang.  
- Làm thế nào  
xây dựng được  
công thức và quy  
tắc tính diện tích  
hình thang?  
GV gợi ý HS  
đưa về dạng hình  
học quen thuộc.  
HS hình thành -Xây dựng PP giải quyết  
HS thực hành cắt,  
ghép hình: xác định  
1. Cắt, ghép  
15’  
được công thức công thức  
tính diện tích tính diện  
vấn đề + thực  
hình  
hành + thảo GV tổ chức cho trung điểm M trên  
hình thang.  
tích hình  
luận nhóm  
HS thực hiện cắt, cạnh bên BC, nối  
11  
thang  
ghép hình  
đỉnh A với trung  
điểm M, cắt đoạn  
AM, ghép tam giác  
ABM vào cạnh MC.  
2.So sánh diện HS nêu nhận xét về:  
+Diện tích hình tam  
tích hình thang  
+Diện tích hình giác bằng  
hình  
tam giác và hình thang- giải thích.  
thang-  
thích?  
giải Diện tích hình tam  
giác = DK x AH : 2  
+Các đặc điểm của  
+Các đặc điểm hình tam giác: Đáy,  
của hình tam chiều cao-giải thích  
giác: Đáy, chiều Độ dài DK=DC+ CK  
cao-giải thích?  
Độ dài CK = AB  
Độ dài DK=DC+ AB  
Diện tích hình thang  
=Diện tích hình tam  
giác=(DC+AB)x AH  
: 2  
3.Rút ra công HS nêu quy tắc và  
viết công thức tính  
thức tính diện  
12  
diện tích hình thang:  
tích hình thang  
-HS nhận xét về  
+đoạn DC, AB  
của hình thang?  
+ đoạn AH?  
S=(a+b):2  
-GV giới thiệu  
độ dài đáy lớn là  
a, đáy bé là b,  
chiều cao là h.  
GV lưu ý về đơn  
vị đo của đáy  
lớn, đáy bé và  
chiều cao.  
Thực hành quy  
tắc và công  
thức tính diện  
tích hình thang.  
PP  
trắc GV tổ chức cho HS thực hành các bài Chiếu Slide  
HS thực hành tập: Thẻ trắc nghiệm ABCD  
các bài tập Bài 1: Tính diện tích  
3
Luyện tập  
7’  
nghiệm  
hình thang biết:  
a) Độ dài hai đáy lần  
lượt là 12cm và 8cm;  
chiều cao là 5cm  
A. 0,5cm2  
GV lưu ý HS về B. 0,05cm2  
13  
đơn vị đo của C. 5cm2  
D. 50cm2  
đáy lớn, đáy bé,  
chiều cao.  
a) Độ dài hai đáy lần  
lượt là 9,8m và  
6,6m; chiều cao là  
10,5m  
A. 840m2  
B. 84m2  
Chiếu Slide  
9’  
C. 0,84m2  
HS giải trên bảng nhóm  
Giải được bài  
toán có lời văn  
về diện tích  
hình thang  
D. 0,084m2  
Phiếu học tập  
PP thảo luận GV nêu bài toán, Bài 2: Một thửa  
nhóm  
yêu cầu HS phân ruộng hình thang có  
tích đề, tóm tắt, độ dài hai đáy lần  
giải bài toán.  
lượt là 110m và  
90,2m. Chiều cao  
bằng trung bình cộng  
hai đáy. Tính diện  
tích thửa ruộng đó.  
Tóm tắt  
3’  
a = 110 m  
b = 90,2 m  
h = (a+b): 2 ?  
14  
S = ? m2  
Giải  
Chiều cao thửa  
ruộng  
(110+90,2):2=100,1(m)  
Chiều cao thửa  
ruộng  
(110+90,2)x100,1=  
20060,04 (m2)  
Đáp số: 20060,04 m2  
HS ôn củng cố,  
mở rộng quy  
tắc và công  
thức tính diện  
tích hình thang.  
PP động não GV cho HS nêu HS thêm lại quy tắc  
3’  
1’  
4
5
Củng cố  
+ đàm thoại  
lại quy tắc và và công thức tính  
công thức tính diện tích hình thang:  
diện tích hình S = (a+b) x h : 2  
(a b)  
thang.  
S =  
x h  
2
GV nhận xét tiết  
học GV dặn dò  
BT về nhà: Bài  
2/94  
Dặn dò  
15  
pdf 15 trang Mãnh Khiết 09/01/2024 13260 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bài báo khoa học nâng cao chất lượng dạy học môn Toán Lớp 5 tại các Trường Tiểu học Quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_bao_khoa_hoc_nang_cao_chat_luong_day_hoc_mon_toan_lop_5.pdf