Xác định vị trí sự cố trên đường dây truyền tải bằng phương pháp không sử dụng thông số đường dây

XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ SỰ CỐ TRÊN ĐƯỜNG DÂY TRUYỀN TẢI BẰNG  
PHƯƠNG PHÁP KHÔNG SỬ DỤNG THÔNG SỐ ĐƯỜNG DÂY  
NEW APPROACH FOR FAULT LOCATION ON TRANSMISSION LINES  
NOT REQUIRING LINE PARAMETERS  
Nguyễn Thanh Nhàn1  
1Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM  
TÓM TẮT  
Bài báo này đưa ra một phương pháp xác định vị trí sự cố trên đường dây truyền tải mà không  
yêu cầu biết trước thông số đường dây. Hiện nay có nhiều phương pháp để xác định vị trí sự cố  
trên đường dây truyền tải, tuy nhiên những phương pháp đó lại yêu cầu thông số đường dây và  
kết quả tính toán phụ thuộc vào tổng trở sự cố. Tác giải xây dựng mô hình mô phỏng trên phần  
mềm Matlab và xây dựng chương trình tính toán vị vị trí sự cố. Kết quả tính toán dựa trên dữ  
liệu được thu thập từ quá trình giả định sự cố và phần mềm đã xây dụng sẽ xử lý dữ liệu đó.  
Trong quá trình giả định sự cố có xét đến một số đường dây thực tế, khoảng cách đường dây  
được lựa chọn có độ dài từ vài chục đến hằng trăm km. Đường dây như vậy có thể xem là một  
đường dây có độ dài trung bình. Sau khi xây dựng mô hình mô phỏng và giả định sự cố có thể  
đưa ra một chương trình tính toán vị trí sự cố mà không yêu cầu biết trước thông số đường dây.  
Tuy nhiên trong phương pháp này yêu cầu các thiết bị thu thập dữ liệu sự cố phải đồng bộ về  
thời gian tại thời điểm xuất hiện sự cố. Do đó tác giả áp dụng công nghệ đồng bộ hóa đo lường  
(SMT) và sử dụng hệ thống định vị toàn cầu (GPS) để đồng bộ thời gian cho thiết bị đo lường.  
Từ khóa: Công nghệ đồng bộ hóa đo lường (SMT); xác định vị trí sự cố trên đường dây truyền  
tải; hệ thống định vị toàn cầu (GPS).  
ABSTRACT  
This paper presents a new numerical algorithm for fault location on transmission lines.  
There are currently many methods for locating faults on transmission lines, but these methods  
require wire parameters and calculation results depending on the total faults. Simulation model  
building on Matlab software and building program to calculate incident location. The results are  
based on the data collected from the incident and the software developed will process that data. In  
the process of assuming the incident to consider some actual lines, the selected line distance ranges  
from a few dozen to hundreds of kilometers. Such a line can be considered as a medium length line.  
After modeling the simulation and assuming the fault, a program can be used to calculate the fault  
location without requiring a prior knowledge of the line parameters. However, in this method  
requires the device to collect incident data must be synchronized in time at the time of occurrence  
of the problem. Thus, the author applies the technology of synchronization measurement (SMT)  
and use the global positioning system (GPS) to synchronize time for measurement equipment.  
Keywords: Synchronization Measurement Technology (SMT); Fault location; transmission lines;  
Global Positioning System (GPS).  
1. GIỚI THIỆU  
xảy ra tình huống mất cân bằng khi có sự cố  
bất thường xảy ra. Sự cố trong một hệ thống  
điện có thể được tạo ra bởi các sự kiện tự nhiên  
như ngã đổ cây, gió, bão, sét đánh,… làm hư  
hại đường dây truyền tải và đôi khi là sự cố  
phần cứng như máy biến thế và các thiết bị  
trong hệ thống, một hệ thống điện có thể được  
Điện năng được sản xuất tại các nhà máy  
điện được truyền tải và phân phối đến các thiết  
bị tiêu thụ điện. Điện năng được tiêu thụ thông  
qua qua các đường dây truyền tải bởi hệ thống  
đường dây truyền tải. Trong quá trình hoạt  
động, hệ thống điện là một hệ cân bằng và sẽ  
phân tích bằng cách tính toán điện áp và dòng  
điện dưới tình huống bình thường và bất  
thường. Một sự cố lớn mà có thể làm hỏng  
thiết bị, nó có thể dẫn đến gián đoạn năng  
lượng điện. Hơn nữa, điện áp thay đổi mà có  
thể ảnh hưởng đến thiết bị khác. Điện áp dưới  
mức tối thiểu có thể đôi khi gây ra sự cố cho  
thiết bị. Đó là vấn đề quan trọng để nghiên cứu  
một hệ thống điện trong điều kiện sự cố để  
cung cấp phương án vận hành và bảo vệ hệ  
thống [1].  
Hình 1. Minh họa phương pháp KATAGI trên  
mạch điện một pha hai nguồn  
Khoảng cách đến vị trí sự cố tính từ đầu  
nguồn A được xác định theo biểu thức (1)  
Im (UA.I ''*A )  
Trong bài báo này trình phương pháp mới  
trong việc xác định vị trí sự cố trên đường  
dây truyền tải mà không yêu cầu biết trước  
thông số của đường dây và tổng trở ngắn  
mạch, ứng dụng công nghệ đồng bộ đo lường  
(SMT) để thu thập dữ liệu sự cố, ứng dụng hệ  
thống định vị toàn cầu (GPS) để đồng bộ thời  
gian tại thời điểm xảy ra sự cố.  
lsuco  
=
(1)  
Im (ZL.LA.I ''*A )  
a. Ưu điểm phương pháp  
- Có độ chính xác cao hơn phương pháp  
điện kháng đơn  
- Giảm được sự ảnh hưởng của điện trở sự  
cố  
2. CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH VỊ  
TRÍ SỰ CỐ  
b. Nhược điểm phương pháp  
- Tính toán dòng điện xếp chồng trước và  
sau sự cố  
2.1 Phương pháp tính toán dựa trên  
trở kháng [2], [3]  
- Vị trí sự cố bị ảnh hưởng điện trở sự cố  
và dòng tải  
Phương pháp trở kháng được dùng phổ  
biến nhất trong các rơle khoảng cách kỹ thuật  
số được đặt trong trạm biến áp để bảo vệ cho  
các đường dây. Ngoài trở kháng, khi xảy ra sự  
cố rơle còn tính toán và ghi lại các thông số  
sự cố trong bản ghi của rơle như: dạng sự cố,  
vùng sự cố, vị trí sự cố, giá trị tức thời của  
điện áp và dòng điện xung quanh thời điểm sự  
cố  
2.3 Phương pháp không sử dụng thông số  
đường dây  
Để khắc phục được nhược điểm của  
phương các phương pháp yêu cầu thông số  
đường dây và kết quả bị ảnh hưởng bởi tổng  
trở ngắn mạch. Trong bài báo này áp dụng  
một phương pháp để xác định vị trí sự cố mà  
không yêu cầu biết trước thông số đường dây.  
a. Ưu điểm phương pháp  
- Xác định được dạng sự cố tại thời điểm  
xảy ra sự cố  
a. Ưu điểm phương pháp  
- Có độ chính xác cao hơn các phương  
pháp mà yêu cầu thông số đường dây  
- Chi phí đầu tư thấp  
- Không bị ảnh hưởng bởi tổng trở ngắn  
mạch  
b. Nhược điểm phương pháp  
- Phụ thuộc vào điện trở quá độ  
- Không yêu cầu biết trước thông số của  
đường dây  
- Kết quả bị ảnh hưởng bởi biến điện áp  
(BU) và biến dòng điện (BI)  
b. Nhược điểm phương pháp  
2.2 Phương pháp TAKAGI [4], [5]  
- Đòi hỏi phải đồng bộ về thời gian tại  
thời điểm xảy ra sự cố  
Phương pháp Takagi cần cả các tín hiệu trước  
khi xuất hiện sự cố và sau khi xuất hiện sự cố.  
Phương pháp này cũng nâng cao được độ  
chính xác hơn so với phương pháp điện kháng  
đơn như giảm bớt ảnh hưởng của điện trở sự  
cố và làm giảm ảnh hưởng của dòng tải. Sơ  
đồ minh họa như hình 1.2  
- Cấu hình đường dây không đổi trong  
phạm vi hai đầu thiết bị định vị sự cố  
3. CÔNG NGHỆ ĐỒNG BỘ ĐO LƯỜNG  
Công nghệ đồng bộ đo lường (SMT) đây  
là một khái niệm mới, công nghệ này dựa trên  
nền tảng hệ thống định vị toàn cầu (The  
Global Positioning System – GPS), công nghệ  
này sẽ đồng bô hóa các thiết bị điện tử làm  
việc trên diện rộng khoảng cách xa sẽ được  
đồng bộ về thời gian. Hệ thống bao gồm  
khối xây dựng chính sau đây:  
a) Đơn vị đồng bộ đo lường (SMUs, cũng  
thường được gọi là các đơn vị đo lường pha  
PMUs  
b) Các bộ tập trung dữ liệu  
c) Mạng giao tiếp  
d) Các ứng dụng  
Thuật toán mới cho giả lập vị trí sự cố  
sẽ được trình bày trong luận văn này, ứng  
dụng SMT, trong đó giả thiết các thiết bị là  
sẵn có và các khối cũng như các thiết bị được  
được sử dụng từ Matlab. Việc xây dựng mô  
hình mô phỏng sẽ không đề cập chi tiết trong  
luận văn này.  
Hình 2. Minh họa công nghệ đồng bộ thời  
gian dùng GPS  
Các thiết bị lấy mẫu đồng bộ (CT– biến  
đổi dòng, VT – biến đổi áp, CB – cầu  
dao, SMU – đơn vị đồng bộ đo lường, DC –  
bộ tập trung dữ liệu).  
4. THUẬT TOÁN ĐỊNH VỊ SỰ CỐ  
Hệ thống định vị toàn cầu (GPS) là một  
không gian dựa trên định vị và dẫn đường, hệ  
thống thời gian, bao gồm 24 vệ tinh liên tục  
xoay quanh trái đất. PMUs sử dụng GPS đồng  
bộ hóa trong hệ thống điện có thể được áp  
dụng thành công để phân tích vị trí sự cố  
và các bảo vệ đường dây trên không GPS  
được sử dụng để đồng bộ hóa thời gian của  
thiết bị đo đó là điện áp và dòng điện mẫu  
tại các đầu cuối đường dây. Mục đích của  
thuật toán xác định vị trí sự cố là khả năng  
đồng bộ đạt được ở cấp độ lấy mẫu.  
Trong phần này trình bày một thuật  
toán mới giả lập vị trí sự cố. Điển hình là các  
dạng sự cố ngắn mạch, đây là dạng sự cố phổ  
biến ở đường dây truyền tải điện trên không.  
Có thể giả thuyết một pha chạm đất trên  
l
đường dây một khoảng cách  
từ phía bên  
trái đường dây, như trình bày trong hình 3.  
Giả sử chiều dài đường dây trong khoảng 100  
km, dung kháng và cảm kháng trên đường  
dây xem như bỏ qua. Trong hình 3 vị trí sự cố  
được ký hiệu là F. Trong hình 2 vị trí sự  
cố được kí hiệu bằng F, khoảng cách sự  
Trong hình 2 hai đơn vị đồng bộ đo  
lường (SMUs) được đưa ra tại đầu mỗi đường  
dây. Đồng thời SMUs liên tục thu được điện  
áp và dòng điện mẫu từ điện áp và dòng điện  
từ các thiết bị chuyển đổi đã đặt tại mỗi đầu  
đường dây. Điện áp và dòng điện mẫu được  
thu thập từ các SMUs chuyển tiếp đến một  
trung tâm dữ liệu tập tập trung (DC), trong đó  
các xử lý cùng một lúc lấy mẫu điện áp và  
dòng điện thực hiện. Quá trình xử lý này  
mới thực sự là thuật toán mới cho vị trí sự  
cố. Nếu điều kiện sự cố được phát hiện, thuật  
toán vị trí sự cố khởi động ngay lập tức và  
trong thời gian từ 20-40 ms vị trí sự cố được  
xác định. Phát hiện vị trí sự cố nhanh thế nào  
phụ thuộc vào phương pháp trích xuất điện áp  
và dòng điện các pha. Trong luận văn này sử  
dụng lý thuyết biến đổi sóng Fourier (FFT) để  
phân tích vị trí sự cố và dạng sự cố từ bộ thu  
thập dữ liệu  
l
cố , D là chiều dài đường dây, S và R là  
gửi và nhận thông tin đầu cuối đường dây  
tương ứng.  
Sử dụng các kỹ thuật xử lý tín hiệu  
tiêu chuẩn xử lý tín hiệu các pha tương ứng  
để tính từ cấp điện áp và dòng điện mẫu.  
Trong bài báo này phép biến đổi nhanh chuỗi  
Fourier (FFT) được sử dụng để lọc tín hiệu  
điện áp và dòng điện từ tín hiệu. Một cách  
tiếp cận cổ điển thì dòng điện áp mẫu  
ls = 3,2Khz  
với các tần  
số lấy  
mẫu  
(64 mẫu mỗi 20ms) được sử dụng, thiết lập  
các kích thước cửa sổ dữ liệu (TDW), tương  
ứng với giai đoạn cơ bản, T0 = 20ms [13].  
•
V Sp,n  
,
V Rp,n là thứ tự điện áp pha  
thuận và nghịch ở cả hai đầu đường  
dây;  
•
•
ISp,n , IRp,n là thứ tự dòng điện thuận và  
nghịch ở cả hai đầu đường dây;  
là trở kháng đường dây thứ tự  
z
thuận hoặc nghịch, và bằng nhau  
Trong phương trình (2) và (3)  
và  
zl  
không được biết. Do đó có thể  
z(D −l)  
dễ dàng được xác định bằng cách giải  
phương trình (2) và (3). Hai giải pháp  
được đưa ra trong theo hai công thức:  
Hình 3. Ba pha điển hình của đường dây bị sự  
cố.  
(V p −V p )In − (V n −V n )I Rp  
Trên cở sở điện áp và dòng điện  
pha, bằng cách sử dụng phương pháp các  
thành phần thuận, nghịch và không (0) tương  
ứng, để có thể xác định các thành phần điện  
áp và dòng điện. Phương pháp mới đòi hỏi  
thứ tự các thành phần thuận và nghịch tương  
ứng, tức là mạch tương đương. Như đã  
nêu, chỉ các thành phần hay mạch điện tương  
đương được sử dụng.  
S
R
R
S
R
zl =  
(4)  
I Sp InR − InS I Rp  
(V p −V p )In − (V n −V n )I Rp  
S
R
R
S
R
z(D −l) =  
(5)  
I Sp InR − InS I Rp  
Thông thường phương pháp xác định  
vị trí sự cố dựa trên một hoặc hai thiết bị  
đo tổng trở ngắn mạch được giải quyết  
bằng cách sử dụng các phương trình (4)  
và (5), thông tin về các thông số  
dòng R (Ω/km) và X (Ω/km). Như đã  
trình bày ở trên, có thể xây dựng được  
một giải pháp linh hoạt hơn khi có thể  
loại bỏ thông số cấu trúc của đường dây.  
Các phép biến đổi được trình bày phía  
dưới đây:  
Chúng được trình bày trong hình 3, hình 4,  
hình 5.  
l
Khi tính được khoảng cách sự cố  
,
chiều dài phần trăm sự cố tính theo chiều  
dài đường dây  
D
thông qua công thức  
sau:  
Hình 4. Mạch điện thuận tương đương đường  
dây sự cố từ hình 2.  
l
l% = 100  
(6)  
D
Công thức trên có thể trình bày theo  
dạng sau:  
l% =  
zl  
100  
(7)  
zl + z(D −l)  
Thay (4) và (5) vào (7) có thể xác định  
được khoảng cách vị trí sự cố bằng công  
thức sau:  
Hình 5. Mạch điện nghịch tương đương  
đường dây sự cố từ hình 2.  
Trong cả hai mạch tương đương hình  
4 và hình 5, trở kháng thuận và nghịch đều  
bằng nhau, chúng được biểu diễn dưới dạng  
các phương trình sau đây:  
(V p −V p )In −(V n −V n )I Rp  
S
R
R
S
R
l% =100  
(8)  
(V p −V p )(InS + InR ) −(V n −V n )(I Sp + I Rp )  
S
R
S
R
V p − zlISp =V p − z(D −l)I Rp  
(2)  
5. MÔ PHỎNG  
S
R
V n − zlInS =V n − z(D −l)InR  
(3)  
Bài báo sử dụng phần mềm Matlab để  
xây dụng các mô hình thay cho thiết bị thực tế,  
trong đó mô hình sự cố được xem như hoạt  
động thật sự hiệu quả trong thực tế. Sau khi  
xây dụng mô hình mô phỏng trên phần mềm,  
S
R
Khi đó:  
dat  
Pha C  
cham  
dat  
Thuận  
An Biên  
–Vĩnh  
tiếp theo sẽ giả định sự cố trên đường dây  
truyền tải. Trong đó một máy tính sẽ làm  
nhiệm vụ tạo ra sự cố giả định theo các dạng  
sự cố có trong thực tế. Máy tính thứ hai sẽ xử  
lý dữ liệu thu thập được và cho ra kết quả.  
Bài báo tập trung xây dựng mô hình trên phần  
mềm mô phỏng và tạo ra dữ liệu sự cố cũng  
như xử lý tín hiệu sự cố để tính toán ra vị trí  
sự cố, mà không tập trung vào nghiên cứu cấu  
tạo của các mô hình trên Matlab.  
38  
38  
38  
38  
15  
20  
10  
20  
14.99  
19.99  
10.18  
19.99  
3
4
5
Thuận  
Pha C  
cham  
dat  
An Biên  
–Vĩnh  
Thuận  
3 pha  
ABC  
cham  
nhau  
3 pha  
ABC  
cham  
nhau  
2 pha  
AB  
An Biên  
–Vĩnh  
Thuận  
Quá trình giả định sự cố được thực hiện  
trên phần mềm Matlab và các khối trong mô  
hình được xem như hoạt động tốt và hiệu quả  
như trên thực tế.  
An Biên  
–Vĩnh  
6
Thuận  
38  
38  
38  
38  
38  
38  
20  
15  
25  
30  
15  
20  
19.99  
14.99  
An Biên  
–Vĩnh  
7
cham  
dat  
Thuận  
Hình 6. Mô hình mô phỏng sự cố được  
xây dựng trên Matlab  
2 pha  
AB  
An Biên  
–Vĩnh  
8
6. KẾT QUẢ  
cham  
dat  
Thuận  
2 pha  
AC  
25.00  
7
An Biên  
–Vĩnh  
9
cham  
nhau  
2 pha  
AC  
Thuận  
30.02  
14.99  
19.99  
An Biên  
–Vĩnh  
10  
11  
12  
Hình 7. Mô hình đơn tuyến đường dây sự cố  
cham  
nhau  
2 pha  
BC  
Thuận  
Thông số của đường dây ban đầu được  
nhập vào phần mềm mô phỏng. Sau đó phần  
mềm sẽ tạo ra dữ liệu sự cố và trong quá trình  
tính toán sẽ không yêu cầu thông số của  
đường dây. Một đường dây cụ thể sẽ được sử  
dụng để thực hiện mô phỏng trên phần mềm.  
An Biên  
–Vĩnh  
cham  
dat  
Thuận  
2 pha  
BC  
An Biên  
–Vĩnh  
Bảng 1. Kết quả cụ thể một số đường dây  
Chiều  
dài  
Vị trí  
sự cố  
giả  
Kết  
quả  
cham  
dat  
Thuận  
STT  
Loại  
sự cố  
giả  
Tên tuyến  
đường  
dây  
so với  
vị trí  
giả  
Pha A  
cham  
dat  
Hưng Phú –  
Châu Thành  
– Phụng  
định  
(Km)  
(Km)  
định  
55.6  
55.6  
10  
15  
10  
15  
13  
14  
định  
Hiệp  
Pha A  
cham  
dat  
An Biên  
–Vĩnh  
Pha A  
cham  
dat  
Hưng Phú –  
Châu Thành  
– Phụng  
38  
38  
10  
15  
9.99  
1
2
Thuận  
Pha A  
cham  
An Biên  
–Vĩnh  
Hiệp  
14.99  
7. KẾT LUẬN  
chuỗi Fourier (FFT), đồng thời để biết được  
dạng sự cố trong luận văn đã trình bày  
phương pháp dùng thứ tự pha dòng điện và  
điện áp để giải quyết vấn đề này. Luận văn  
không tập trung vào vấn đề phân tích cấu tạo,  
nguyên lý của các thiết bị trong bài toán định  
vị sự cố mà chủ yếu tập trung vào vấn đề xử  
lý dữ liệu trên cơ sở mô hình hóa mô phỏng.  
Như vậy các thiết bị được sử dụng được xem  
là hoạt động tốt trên cơ sở sử dụng phần mềm  
matlab để giả định và mô phỏng. Trong quá  
trình thu thập dữ liệu sự cố điều quan trọng để  
thuật toán hoạt hiệu quả và chính xác nhất thì  
đòi hỏi phải đồng bộ chính xác về thời gian  
và cấu hình đường dây là không đổi khi thiết  
bị định vị được lắp ở hai đầu đường dây đó.  
Luận văn đã trình bày khái quát một số  
phương pháp giải quyết bài toán định vị sự cố  
trên đường dây truyền tải và nêu ra các ưu,  
nhược điểm của từng phương pháp từ đó đề  
xuất phương pháp mới để giải bài toán hiệu  
quả hơn so với những phương pháp đã thực  
hiện trước đó.  
Luận văn đã trình bày được một phương  
pháp xác định vị trí sự cố mới mà trong đó  
không yêu cầu biết trước thông số đường dây.  
Trong luận văn có đề cập đến một ứng dụng –  
một thuật ngữ mới đó là công nghệ đồng bộ  
đo lường (SMT), dựa trên cơ sở hệ thống định  
vị toàn cầu (GPS). Công nghệ mới này không  
chỉ có thể áp dụng trong bài toán mà luận văn  
này trình bày mà nó còn có thể ứng dụng cho  
nhiều lĩnh vực khác và đặc biệt là trong ngành  
điện, điện tử như đồng bộ mốc thời gian, vị trí.  
Với độ chính xác rất cao công nghệ đồng bộ  
đo lường và hệ thống định vị toàn cầu được  
ứng dụng rất rộng rãi trong ngành khoa học  
kỹ thuật nói chung hiện nay.  
Với những điểm mới trong phương pháp  
xác định sự cố trên đường dây truyền tải nếu  
có thể thực hiện tốt và phát triển thành thiết bị  
thực tế sẽ có thể mang lại hiệu quả về thời  
gian tiếp cận sự cố đặc biệt là vị trí sự cố ở  
những nơi có địa hình hiểm trở và thiết bị  
cũng tiết kiệm được chi phí trong quá trình  
tiếp cận nơi xảy ra sự cố.  
Trong thuật toán này phương pháp chủ  
yếu là sử dụng phép phân tích biến đổi nhanh  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Lã Văn Út (1999) Phân tích và điều khiển ổn định hệ thống điện, Nhà xuất bản Khoa học  
và Kỹ thuật, Hà Nội.  
[2] Girgis A.A., Hart D. G., Peterson W.L. (1992) A new fault location technique for two-and  
three terminal lines, IEEE Transactions on Power Delivery, vol. 7, no. 1, January 1992.  
[3] Karl Zimmerman, David Costello, “Impedance-based fault location experience”,  
Schweitzer Engineering Laboratories, Inc. Pullman, WA USA  
[4] Takagi K, Yamakoshi Y, Yamaura M, Kondow R, T. Matsushima (1982) Development of a  
new type fault locator using the one terminal voltage and current data, IEEE Trans. Power  
Apparatus and Systems, PAS-101(8), 1982, 2892-2898.  
[5] Suhaas Bhargava Ayyagari (2011) Artificial neural networkbased fault location  
for transmission line, University of Kentucky, 2011.  
[6] K. Takagi, Y. Yomakoshi, M. Yamaura, R. Kondow, and T. Matsushima, “Development of  
a new type fault locator using the one terminal voltage and current data,” IEEE Trans.  
Power App. Syst., vol. PAS-101, pp.2892–2898, Aug. 1982.  
[7] A. Girgis, D. Hart, andW. Peterson, “A new fault location technique for  
two- and three-terminal lines,” IEEE Trans. Power Delivery, vol. 7,pp.98–107, Jan. 1992.  
[8] M. Abe, T. Emura, N. Otsuzuki, and M. Takeuchi, “Development of a new fault location  
system for multi-terminal single transmission lines,” IEEE Trans. Power Delivery, vol. 10,  
pp. 159–168, Jan. 1995  
[9] J.-A. Jiang, J.-Z. Yang, Y.-H. Lin, C.-W. Liu, and J.-C. Ma, “An adaptive PMU based fault  
detection/location technique for transmission lines part I: Theory and algorithms,” IEEE  
Trans. Power Delivery, vol.15, pp.486–493, Apr. 2000.  
[10] Paul M. Anderson, “Analysis of Faulted Power Systems”, the Institute of Electrical and  
Electronics Engineers, Inc., 1995.  
[11] Arthur R. Bergen, Vijaya Vittal, “Power Systems Analysis”  
[12] C. Sidney Burrus, Matteo Frigo, Steven G. Johnson, Markus Pueschel, Ivan Selesnick,  
''Fast Fourier Transforms''  
[13] S. Santoso, E. Powers, W. Grady, and P. Hoffmann, “Power Quality Assessment via  
Wavelet Transform Analysis”, IEEE Transactions on Power Delivery, Vol.11, N0.2, pp.  
924-930, April1996  
[14] V. Terzija, "Improved Recursive Newton Type Algorithm for Frequency and Spectra  
Estimation in Power Systems", IEEE Trans. On Instrumentation and Measurement, Vol.  
52, No. 5, October 2003, pp. 1654-1659.  
[15] J. Röhrig, “Location of faulty places by measuring with cathode ray oscillographs”,  
Elektrotech Zeits, 8, 241-242 (1931)  
[16] David W., Guide to GPS positioning, Canadian GPS Associates, 5-1987, Bản dịch của Lê  
Văn Hưng, NXB KHKT, 1997.  
[17] Michael Kennedy, ‘Global Positioning System and GIS: An Introduction’, Ann  
Arbor Press, Inc.  
[18] Amara Graps, An Introduction to Wavelets.  
Họ tên: Nguyễn Thanh Nhàn  
Đơn vị: Trường Đại Học SPKT TP. Hồ Chí Minh  
Điện thoại: 0939774114  
Xác nhận của cán bộ hướng dẫn  
BÀI BÁO KHOA HỌC  
THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ  
Bài báo khoa học của học viên  
có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn  
Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ  
Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ bởi Luật xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.  
Nghiêm cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý  
của tác giả và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh.  
ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN!  
Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2018-2019 của Thư viện Trường Đại học  
Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.  
pdf 8 trang Mãnh Khiết 09/01/2024 18780 Free
Bạn đang xem tài liệu "Xác định vị trí sự cố trên đường dây truyền tải bằng phương pháp không sử dụng thông số đường dây", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfxac_dinh_vi_tri_su_co_tren_duong_day_truyen_tai_bang_phuong.pdf