Xác định vị trí sự cố trên đường dây truyền tải bằng phương pháp không sử dụng thông số đường dây
XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ SỰ CỐ TRÊN ĐƯỜNG DÂY TRUYỀN TẢI BẰNG
PHƯƠNG PHÁP KHÔNG SỬ DỤNG THÔNG SỐ ĐƯỜNG DÂY
NEW APPROACH FOR FAULT LOCATION ON TRANSMISSION LINES
NOT REQUIRING LINE PARAMETERS
Nguyễn Thanh Nhàn1
1Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
TÓM TẮT
Bài báo này đưa ra một phương pháp xác định vị trí sự cố trên đường dây truyền tải mà không
yêu cầu biết trước thông số đường dây. Hiện nay có nhiều phương pháp để xác định vị trí sự cố
trên đường dây truyền tải, tuy nhiên những phương pháp đó lại yêu cầu thông số đường dây và
kết quả tính toán phụ thuộc vào tổng trở sự cố. Tác giải xây dựng mô hình mô phỏng trên phần
mềm Matlab và xây dựng chương trình tính toán vị vị trí sự cố. Kết quả tính toán dựa trên dữ
liệu được thu thập từ quá trình giả định sự cố và phần mềm đã xây dụng sẽ xử lý dữ liệu đó.
Trong quá trình giả định sự cố có xét đến một số đường dây thực tế, khoảng cách đường dây
được lựa chọn có độ dài từ vài chục đến hằng trăm km. Đường dây như vậy có thể xem là một
đường dây có độ dài trung bình. Sau khi xây dựng mô hình mô phỏng và giả định sự cố có thể
đưa ra một chương trình tính toán vị trí sự cố mà không yêu cầu biết trước thông số đường dây.
Tuy nhiên trong phương pháp này yêu cầu các thiết bị thu thập dữ liệu sự cố phải đồng bộ về
thời gian tại thời điểm xuất hiện sự cố. Do đó tác giả áp dụng công nghệ đồng bộ hóa đo lường
(SMT) và sử dụng hệ thống định vị toàn cầu (GPS) để đồng bộ thời gian cho thiết bị đo lường.
Từ khóa: Công nghệ đồng bộ hóa đo lường (SMT); xác định vị trí sự cố trên đường dây truyền
tải; hệ thống định vị toàn cầu (GPS).
ABSTRACT
This paper presents a new numerical algorithm for fault location on transmission lines.
There are currently many methods for locating faults on transmission lines, but these methods
require wire parameters and calculation results depending on the total faults. Simulation model
building on Matlab software and building program to calculate incident location. The results are
based on the data collected from the incident and the software developed will process that data. In
the process of assuming the incident to consider some actual lines, the selected line distance ranges
from a few dozen to hundreds of kilometers. Such a line can be considered as a medium length line.
After modeling the simulation and assuming the fault, a program can be used to calculate the fault
location without requiring a prior knowledge of the line parameters. However, in this method
requires the device to collect incident data must be synchronized in time at the time of occurrence
of the problem. Thus, the author applies the technology of synchronization measurement (SMT)
and use the global positioning system (GPS) to synchronize time for measurement equipment.
Keywords: Synchronization Measurement Technology (SMT); Fault location; transmission lines;
Global Positioning System (GPS).
1. GIỚI THIỆU
xảy ra tình huống mất cân bằng khi có sự cố
bất thường xảy ra. Sự cố trong một hệ thống
điện có thể được tạo ra bởi các sự kiện tự nhiên
như ngã đổ cây, gió, bão, sét đánh,… làm hư
hại đường dây truyền tải và đôi khi là sự cố
phần cứng như máy biến thế và các thiết bị
trong hệ thống, một hệ thống điện có thể được
Điện năng được sản xuất tại các nhà máy
điện được truyền tải và phân phối đến các thiết
bị tiêu thụ điện. Điện năng được tiêu thụ thông
qua qua các đường dây truyền tải bởi hệ thống
đường dây truyền tải. Trong quá trình hoạt
động, hệ thống điện là một hệ cân bằng và sẽ
phân tích bằng cách tính toán điện áp và dòng
điện dưới tình huống bình thường và bất
thường. Một sự cố lớn mà có thể làm hỏng
thiết bị, nó có thể dẫn đến gián đoạn năng
lượng điện. Hơn nữa, điện áp thay đổi mà có
thể ảnh hưởng đến thiết bị khác. Điện áp dưới
mức tối thiểu có thể đôi khi gây ra sự cố cho
thiết bị. Đó là vấn đề quan trọng để nghiên cứu
một hệ thống điện trong điều kiện sự cố để
cung cấp phương án vận hành và bảo vệ hệ
thống [1].
Hình 1. Minh họa phương pháp KATAGI trên
mạch điện một pha hai nguồn
Khoảng cách đến vị trí sự cố tính từ đầu
nguồn A được xác định theo biểu thức (1)
Im (UA.I ''*A )
Trong bài báo này trình phương pháp mới
trong việc xác định vị trí sự cố trên đường
dây truyền tải mà không yêu cầu biết trước
thông số của đường dây và tổng trở ngắn
mạch, ứng dụng công nghệ đồng bộ đo lường
(SMT) để thu thập dữ liệu sự cố, ứng dụng hệ
thống định vị toàn cầu (GPS) để đồng bộ thời
gian tại thời điểm xảy ra sự cố.
lsuco
=
(1)
Im (ZL.LA.I ''*A )
a. Ưu điểm phương pháp
- Có độ chính xác cao hơn phương pháp
điện kháng đơn
- Giảm được sự ảnh hưởng của điện trở sự
cố
2. CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH VỊ
TRÍ SỰ CỐ
b. Nhược điểm phương pháp
- Tính toán dòng điện xếp chồng trước và
sau sự cố
2.1 Phương pháp tính toán dựa trên
trở kháng [2], [3]
- Vị trí sự cố bị ảnh hưởng điện trở sự cố
và dòng tải
Phương pháp trở kháng được dùng phổ
biến nhất trong các rơle khoảng cách kỹ thuật
số được đặt trong trạm biến áp để bảo vệ cho
các đường dây. Ngoài trở kháng, khi xảy ra sự
cố rơle còn tính toán và ghi lại các thông số
sự cố trong bản ghi của rơle như: dạng sự cố,
vùng sự cố, vị trí sự cố, giá trị tức thời của
điện áp và dòng điện xung quanh thời điểm sự
cố
2.3 Phương pháp không sử dụng thông số
đường dây
Để khắc phục được nhược điểm của
phương các phương pháp yêu cầu thông số
đường dây và kết quả bị ảnh hưởng bởi tổng
trở ngắn mạch. Trong bài báo này áp dụng
một phương pháp để xác định vị trí sự cố mà
không yêu cầu biết trước thông số đường dây.
a. Ưu điểm phương pháp
- Xác định được dạng sự cố tại thời điểm
xảy ra sự cố
a. Ưu điểm phương pháp
- Có độ chính xác cao hơn các phương
pháp mà yêu cầu thông số đường dây
- Chi phí đầu tư thấp
- Không bị ảnh hưởng bởi tổng trở ngắn
mạch
b. Nhược điểm phương pháp
- Phụ thuộc vào điện trở quá độ
- Không yêu cầu biết trước thông số của
đường dây
- Kết quả bị ảnh hưởng bởi biến điện áp
(BU) và biến dòng điện (BI)
b. Nhược điểm phương pháp
2.2 Phương pháp TAKAGI [4], [5]
- Đòi hỏi phải đồng bộ về thời gian tại
thời điểm xảy ra sự cố
Phương pháp Takagi cần cả các tín hiệu trước
khi xuất hiện sự cố và sau khi xuất hiện sự cố.
Phương pháp này cũng nâng cao được độ
chính xác hơn so với phương pháp điện kháng
đơn như giảm bớt ảnh hưởng của điện trở sự
cố và làm giảm ảnh hưởng của dòng tải. Sơ
đồ minh họa như hình 1.2
- Cấu hình đường dây không đổi trong
phạm vi hai đầu thiết bị định vị sự cố
3. CÔNG NGHỆ ĐỒNG BỘ ĐO LƯỜNG
Công nghệ đồng bộ đo lường (SMT) đây
là một khái niệm mới, công nghệ này dựa trên
nền tảng hệ thống định vị toàn cầu (The
Global Positioning System – GPS), công nghệ
này sẽ đồng bô hóa các thiết bị điện tử làm
việc trên diện rộng khoảng cách xa sẽ được
đồng bộ về thời gian. Hệ thống bao gồm
khối xây dựng chính sau đây:
a) Đơn vị đồng bộ đo lường (SMUs, cũng
thường được gọi là các đơn vị đo lường pha
PMUs
b) Các bộ tập trung dữ liệu
c) Mạng giao tiếp
d) Các ứng dụng
Thuật toán mới cho giả lập vị trí sự cố
sẽ được trình bày trong luận văn này, ứng
dụng SMT, trong đó giả thiết các thiết bị là
sẵn có và các khối cũng như các thiết bị được
được sử dụng từ Matlab. Việc xây dựng mô
hình mô phỏng sẽ không đề cập chi tiết trong
luận văn này.
Hình 2. Minh họa công nghệ đồng bộ thời
gian dùng GPS
Các thiết bị lấy mẫu đồng bộ (CT– biến
đổi dòng, VT – biến đổi áp, CB – cầu
dao, SMU – đơn vị đồng bộ đo lường, DC –
bộ tập trung dữ liệu).
4. THUẬT TOÁN ĐỊNH VỊ SỰ CỐ
Hệ thống định vị toàn cầu (GPS) là một
không gian dựa trên định vị và dẫn đường, hệ
thống thời gian, bao gồm 24 vệ tinh liên tục
xoay quanh trái đất. PMUs sử dụng GPS đồng
bộ hóa trong hệ thống điện có thể được áp
dụng thành công để phân tích vị trí sự cố
và các bảo vệ đường dây trên không GPS
được sử dụng để đồng bộ hóa thời gian của
thiết bị đo đó là điện áp và dòng điện mẫu
tại các đầu cuối đường dây. Mục đích của
thuật toán xác định vị trí sự cố là khả năng
đồng bộ đạt được ở cấp độ lấy mẫu.
Trong phần này trình bày một thuật
toán mới giả lập vị trí sự cố. Điển hình là các
dạng sự cố ngắn mạch, đây là dạng sự cố phổ
biến ở đường dây truyền tải điện trên không.
Có thể giả thuyết một pha chạm đất trên
l
đường dây một khoảng cách
từ phía bên
trái đường dây, như trình bày trong hình 3.
Giả sử chiều dài đường dây trong khoảng 100
km, dung kháng và cảm kháng trên đường
dây xem như bỏ qua. Trong hình 3 vị trí sự cố
được ký hiệu là F. Trong hình 2 vị trí sự
cố được kí hiệu bằng F, khoảng cách sự
Trong hình 2 hai đơn vị đồng bộ đo
lường (SMUs) được đưa ra tại đầu mỗi đường
dây. Đồng thời SMUs liên tục thu được điện
áp và dòng điện mẫu từ điện áp và dòng điện
từ các thiết bị chuyển đổi đã đặt tại mỗi đầu
đường dây. Điện áp và dòng điện mẫu được
thu thập từ các SMUs chuyển tiếp đến một
trung tâm dữ liệu tập tập trung (DC), trong đó
các xử lý cùng một lúc lấy mẫu điện áp và
dòng điện thực hiện. Quá trình xử lý này
mới thực sự là thuật toán mới cho vị trí sự
cố. Nếu điều kiện sự cố được phát hiện, thuật
toán vị trí sự cố khởi động ngay lập tức và
trong thời gian từ 20-40 ms vị trí sự cố được
xác định. Phát hiện vị trí sự cố nhanh thế nào
phụ thuộc vào phương pháp trích xuất điện áp
và dòng điện các pha. Trong luận văn này sử
dụng lý thuyết biến đổi sóng Fourier (FFT) để
phân tích vị trí sự cố và dạng sự cố từ bộ thu
thập dữ liệu
l
cố , D là chiều dài đường dây, S và R là
gửi và nhận thông tin đầu cuối đường dây
tương ứng.
Sử dụng các kỹ thuật xử lý tín hiệu
tiêu chuẩn xử lý tín hiệu các pha tương ứng
để tính từ cấp điện áp và dòng điện mẫu.
Trong bài báo này phép biến đổi nhanh chuỗi
Fourier (FFT) được sử dụng để lọc tín hiệu
điện áp và dòng điện từ tín hiệu. Một cách
tiếp cận cổ điển thì dòng điện áp mẫu
ls = 3,2Khz
với các tần
số lấy
mẫu
(64 mẫu mỗi 20ms) được sử dụng, thiết lập
các kích thước cửa sổ dữ liệu (TDW), tương
ứng với giai đoạn cơ bản, T0 = 20ms [13].
•
V Sp,n
,
V Rp,n là thứ tự điện áp pha
thuận và nghịch ở cả hai đầu đường
dây;
•
•
ISp,n , IRp,n là thứ tự dòng điện thuận và
nghịch ở cả hai đầu đường dây;
là trở kháng đường dây thứ tự
z
thuận hoặc nghịch, và bằng nhau
Trong phương trình (2) và (3)
và
zl
không được biết. Do đó có thể
z(D −l)
dễ dàng được xác định bằng cách giải
phương trình (2) và (3). Hai giải pháp
được đưa ra trong theo hai công thức:
Hình 3. Ba pha điển hình của đường dây bị sự
cố.
(V p −V p )In − (V n −V n )I Rp
Trên cở sở điện áp và dòng điện
pha, bằng cách sử dụng phương pháp các
thành phần thuận, nghịch và không (0) tương
ứng, để có thể xác định các thành phần điện
áp và dòng điện. Phương pháp mới đòi hỏi
thứ tự các thành phần thuận và nghịch tương
ứng, tức là mạch tương đương. Như đã
nêu, chỉ các thành phần hay mạch điện tương
đương được sử dụng.
S
R
R
S
R
zl =
(4)
I Sp InR − InS I Rp
(V p −V p )In − (V n −V n )I Rp
S
R
R
S
R
z(D −l) =
(5)
I Sp InR − InS I Rp
Thông thường phương pháp xác định
vị trí sự cố dựa trên một hoặc hai thiết bị
đo tổng trở ngắn mạch được giải quyết
bằng cách sử dụng các phương trình (4)
và (5), thông tin về các thông số
dòng R (Ω/km) và X (Ω/km). Như đã
trình bày ở trên, có thể xây dựng được
một giải pháp linh hoạt hơn khi có thể
loại bỏ thông số cấu trúc của đường dây.
Các phép biến đổi được trình bày phía
dưới đây:
Chúng được trình bày trong hình 3, hình 4,
hình 5.
l
Khi tính được khoảng cách sự cố
,
chiều dài phần trăm sự cố tính theo chiều
dài đường dây
D
thông qua công thức
sau:
Hình 4. Mạch điện thuận tương đương đường
dây sự cố từ hình 2.
l
l% = 100
(6)
D
Công thức trên có thể trình bày theo
dạng sau:
l% =
zl
100
(7)
zl + z(D −l)
Thay (4) và (5) vào (7) có thể xác định
được khoảng cách vị trí sự cố bằng công
thức sau:
Hình 5. Mạch điện nghịch tương đương
đường dây sự cố từ hình 2.
Trong cả hai mạch tương đương hình
4 và hình 5, trở kháng thuận và nghịch đều
bằng nhau, chúng được biểu diễn dưới dạng
các phương trình sau đây:
(V p −V p )In −(V n −V n )I Rp
S
R
R
S
R
l% =100
(8)
(V p −V p )(InS + InR ) −(V n −V n )(I Sp + I Rp )
S
R
S
R
V p − zlISp =V p − z(D −l)I Rp
(2)
5. MÔ PHỎNG
S
R
V n − zlInS =V n − z(D −l)InR
(3)
Bài báo sử dụng phần mềm Matlab để
xây dụng các mô hình thay cho thiết bị thực tế,
trong đó mô hình sự cố được xem như hoạt
động thật sự hiệu quả trong thực tế. Sau khi
xây dụng mô hình mô phỏng trên phần mềm,
S
R
Khi đó:
dat
Pha C
cham
dat
Thuận
An Biên
–Vĩnh
tiếp theo sẽ giả định sự cố trên đường dây
truyền tải. Trong đó một máy tính sẽ làm
nhiệm vụ tạo ra sự cố giả định theo các dạng
sự cố có trong thực tế. Máy tính thứ hai sẽ xử
lý dữ liệu thu thập được và cho ra kết quả.
Bài báo tập trung xây dựng mô hình trên phần
mềm mô phỏng và tạo ra dữ liệu sự cố cũng
như xử lý tín hiệu sự cố để tính toán ra vị trí
sự cố, mà không tập trung vào nghiên cứu cấu
tạo của các mô hình trên Matlab.
38
38
38
38
15
20
10
20
14.99
19.99
10.18
19.99
3
4
5
Thuận
Pha C
cham
dat
An Biên
–Vĩnh
Thuận
3 pha
ABC
cham
nhau
3 pha
ABC
cham
nhau
2 pha
AB
An Biên
–Vĩnh
Thuận
Quá trình giả định sự cố được thực hiện
trên phần mềm Matlab và các khối trong mô
hình được xem như hoạt động tốt và hiệu quả
như trên thực tế.
An Biên
–Vĩnh
6
Thuận
38
38
38
38
38
38
20
15
25
30
15
20
19.99
14.99
An Biên
–Vĩnh
7
cham
dat
Thuận
Hình 6. Mô hình mô phỏng sự cố được
xây dựng trên Matlab
2 pha
AB
An Biên
–Vĩnh
8
6. KẾT QUẢ
cham
dat
Thuận
2 pha
AC
25.00
7
An Biên
–Vĩnh
9
cham
nhau
2 pha
AC
Thuận
30.02
14.99
19.99
An Biên
–Vĩnh
10
11
12
Hình 7. Mô hình đơn tuyến đường dây sự cố
cham
nhau
2 pha
BC
Thuận
Thông số của đường dây ban đầu được
nhập vào phần mềm mô phỏng. Sau đó phần
mềm sẽ tạo ra dữ liệu sự cố và trong quá trình
tính toán sẽ không yêu cầu thông số của
đường dây. Một đường dây cụ thể sẽ được sử
dụng để thực hiện mô phỏng trên phần mềm.
An Biên
–Vĩnh
cham
dat
Thuận
2 pha
BC
An Biên
–Vĩnh
Bảng 1. Kết quả cụ thể một số đường dây
Chiều
dài
Vị trí
sự cố
giả
Kết
quả
cham
dat
Thuận
STT
Loại
sự cố
giả
Tên tuyến
đường
dây
so với
vị trí
giả
Pha A
cham
dat
Hưng Phú –
Châu Thành
– Phụng
định
(Km)
(Km)
định
55.6
55.6
10
15
10
15
13
14
định
Hiệp
Pha A
cham
dat
An Biên
–Vĩnh
Pha A
cham
dat
Hưng Phú –
Châu Thành
– Phụng
38
38
10
15
9.99
1
2
Thuận
Pha A
cham
An Biên
–Vĩnh
Hiệp
14.99
7. KẾT LUẬN
chuỗi Fourier (FFT), đồng thời để biết được
dạng sự cố trong luận văn đã trình bày
phương pháp dùng thứ tự pha dòng điện và
điện áp để giải quyết vấn đề này. Luận văn
không tập trung vào vấn đề phân tích cấu tạo,
nguyên lý của các thiết bị trong bài toán định
vị sự cố mà chủ yếu tập trung vào vấn đề xử
lý dữ liệu trên cơ sở mô hình hóa mô phỏng.
Như vậy các thiết bị được sử dụng được xem
là hoạt động tốt trên cơ sở sử dụng phần mềm
matlab để giả định và mô phỏng. Trong quá
trình thu thập dữ liệu sự cố điều quan trọng để
thuật toán hoạt hiệu quả và chính xác nhất thì
đòi hỏi phải đồng bộ chính xác về thời gian
và cấu hình đường dây là không đổi khi thiết
bị định vị được lắp ở hai đầu đường dây đó.
Luận văn đã trình bày khái quát một số
phương pháp giải quyết bài toán định vị sự cố
trên đường dây truyền tải và nêu ra các ưu,
nhược điểm của từng phương pháp từ đó đề
xuất phương pháp mới để giải bài toán hiệu
quả hơn so với những phương pháp đã thực
hiện trước đó.
Luận văn đã trình bày được một phương
pháp xác định vị trí sự cố mới mà trong đó
không yêu cầu biết trước thông số đường dây.
Trong luận văn có đề cập đến một ứng dụng –
một thuật ngữ mới đó là công nghệ đồng bộ
đo lường (SMT), dựa trên cơ sở hệ thống định
vị toàn cầu (GPS). Công nghệ mới này không
chỉ có thể áp dụng trong bài toán mà luận văn
này trình bày mà nó còn có thể ứng dụng cho
nhiều lĩnh vực khác và đặc biệt là trong ngành
điện, điện tử như đồng bộ mốc thời gian, vị trí.
Với độ chính xác rất cao công nghệ đồng bộ
đo lường và hệ thống định vị toàn cầu được
ứng dụng rất rộng rãi trong ngành khoa học
kỹ thuật nói chung hiện nay.
Với những điểm mới trong phương pháp
xác định sự cố trên đường dây truyền tải nếu
có thể thực hiện tốt và phát triển thành thiết bị
thực tế sẽ có thể mang lại hiệu quả về thời
gian tiếp cận sự cố đặc biệt là vị trí sự cố ở
những nơi có địa hình hiểm trở và thiết bị
cũng tiết kiệm được chi phí trong quá trình
tiếp cận nơi xảy ra sự cố.
Trong thuật toán này phương pháp chủ
yếu là sử dụng phép phân tích biến đổi nhanh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Lã Văn Út (1999) Phân tích và điều khiển ổn định hệ thống điện, Nhà xuất bản Khoa học
và Kỹ thuật, Hà Nội.
[2] Girgis A.A., Hart D. G., Peterson W.L. (1992) A new fault location technique for two-and
three terminal lines, IEEE Transactions on Power Delivery, vol. 7, no. 1, January 1992.
[3] Karl Zimmerman, David Costello, “Impedance-based fault location experience”,
Schweitzer Engineering Laboratories, Inc. Pullman, WA USA
[4] Takagi K, Yamakoshi Y, Yamaura M, Kondow R, T. Matsushima (1982) Development of a
new type fault locator using the one terminal voltage and current data, IEEE Trans. Power
Apparatus and Systems, PAS-101(8), 1982, 2892-2898.
[5] Suhaas Bhargava Ayyagari (2011) Artificial neural networkbased fault location
for transmission line, University of Kentucky, 2011.
[6] K. Takagi, Y. Yomakoshi, M. Yamaura, R. Kondow, and T. Matsushima, “Development of
a new type fault locator using the one terminal voltage and current data,” IEEE Trans.
Power App. Syst., vol. PAS-101, pp.2892–2898, Aug. 1982.
[7] A. Girgis, D. Hart, andW. Peterson, “A new fault location technique for
two- and three-terminal lines,” IEEE Trans. Power Delivery, vol. 7,pp.98–107, Jan. 1992.
[8] M. Abe, T. Emura, N. Otsuzuki, and M. Takeuchi, “Development of a new fault location
system for multi-terminal single transmission lines,” IEEE Trans. Power Delivery, vol. 10,
pp. 159–168, Jan. 1995
[9] J.-A. Jiang, J.-Z. Yang, Y.-H. Lin, C.-W. Liu, and J.-C. Ma, “An adaptive PMU based fault
detection/location technique for transmission lines part I: Theory and algorithms,” IEEE
Trans. Power Delivery, vol.15, pp.486–493, Apr. 2000.
[10] Paul M. Anderson, “Analysis of Faulted Power Systems”, the Institute of Electrical and
Electronics Engineers, Inc., 1995.
[11] Arthur R. Bergen, Vijaya Vittal, “Power Systems Analysis”
[12] C. Sidney Burrus, Matteo Frigo, Steven G. Johnson, Markus Pueschel, Ivan Selesnick,
''Fast Fourier Transforms''
[13] S. Santoso, E. Powers, W. Grady, and P. Hoffmann, “Power Quality Assessment via
Wavelet Transform Analysis”, IEEE Transactions on Power Delivery, Vol.11, N0.2, pp.
924-930, April1996
[14] V. Terzija, "Improved Recursive Newton Type Algorithm for Frequency and Spectra
Estimation in Power Systems", IEEE Trans. On Instrumentation and Measurement, Vol.
52, No. 5, October 2003, pp. 1654-1659.
[15] J. Röhrig, “Location of faulty places by measuring with cathode ray oscillographs”,
Elektrotech Zeits, 8, 241-242 (1931)
[16] David W., Guide to GPS positioning, Canadian GPS Associates, 5-1987, Bản dịch của Lê
Văn Hưng, NXB KHKT, 1997.
[17] Michael Kennedy, ‘Global Positioning System and GIS: An Introduction’, Ann
Arbor Press, Inc.
[18] Amara Graps, An Introduction to Wavelets.
Họ tên: Nguyễn Thanh Nhàn
Đơn vị: Trường Đại Học SPKT TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0939774114
Email: [email protected]m
Xác nhận của cán bộ hướng dẫn
BÀI BÁO KHOA HỌC
THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ
Bài báo khoa học của học viên
có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn
Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ
Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ bởi Luật xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.
Nghiêm cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý
của tác giả và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh.
ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN!
Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2018-2019 của Thư viện Trường Đại học
Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.
Bạn đang xem tài liệu "Xác định vị trí sự cố trên đường dây truyền tải bằng phương pháp không sử dụng thông số đường dây", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
xac_dinh_vi_tri_su_co_tren_duong_day_truyen_tai_bang_phuong.pdf

