Điều khiển máy điện gió DFIG có Sensor tốc độ trong các miền làm việc khác nhau
ĐIỀU KHIỂN MÁY ĐIỆN GIÓ DFIG CÓ SENSOR TỐC ĐỘ TRONG CÁC MIỀN LÀM
VIỆC KHÁC NHAU
Nguyễn Hữu Phúc1, Nguyễn Quốc Hưng2
1 Khoa Điện-Điện Tử, Trường Đại Học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
2 Học viên cao học Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Tóm tắt
Máy phát điện gió nguồn kép (DFIG) hiện nay đang được triển khai ứng dụng trong thực tế cho
những nhà máy phát điện có công suất gió lớn. Do vậy việc nghiên cứu điều khiển DFIG cung cấp
năng lượng cho lưới là rất quan trọng và được nhiều người quan tâm nghiên cứu. Với mục đích
nghiên cứu điều khiển DFIG để nâng cao hiệu quả hoạt động của chúng trong các vùng hoạt động
khác nhau, bài báo đề xuất phương pháp điều khiển DFIG dựa trên thông tin về vận tốc rotor được đo
tại đầu trục máy phát gió. Mô hình được thực hiện để đánh giá hiệu quả hoạt động của phương pháp
điều khiển được thực trên phần mềm Matlab/Simulink.
Từ khóa: Máy phát điện gió nguồn kép, Matlab/Simulink.
MODELING AND CONTROL OF DFIG-BASED VARIABLE-SPEED WIND-TURBINE
Abstract:
Currently, the doubly fed induction generator (DFIG) is being implemented to use in the power
plants with a high capacity of wind. Therefore, the research on controlling DFIG providing energy for
grid is very important and is interested by many people. For the purpose of studying DFIG control to
improve their performance in different operating areas, the paper proposes a DFIG control method
based on rotor velocity information measured at the end of the wind generator shaft. The proposed
model was built in Matlab / Simulink software to evaluate the performance of the implemented control
method
Keywords: Doubly fed induction generator (DFIG), MatLab/Simulink
1. Giới thiệu
Các máy phát điện gió (Wind generator-WG) hiện đại sử dụng các hệ thống chuyển đổi phức
tạp bao gồm các hệ thống điện tử và hệ thống điều khiển tiên tiến. Sự đa dạng của công nghệ WG trên
thực tế cho thấy sự phát triển nhanh chóng của các công nghệ này và sẽ rất khó khăn để thu nhận các
dữ liệu kỹ thuật từ các nhà sản xuất WG bởi vấn đề sở hữu trí tuệ đã đưa đến kết quả là không có mô
hình WG tiêu chuẩn cho các nghiên cứu về hệ thống điện. Hơn nữa, các máy phát gió thường được
nhóm lại thành các nhà máy điện gió (wind power plant-WPP). Một WPP lớn điển hình có thể có được
vài chục WG kết nối với hệ thống thu gom bao gồm đường dây trên cao và cáp.
Do khả năng tính toán bị giới hạn, sẽ không thực tế nếu mô phỏng từng máy phát gió trong từng
nhà máy điện gió của một hệ thống điện. Yêu cầu đặt ra là phải có một mô hình tổng quan đơn giản
của cả nhà máy điện gió trong vấn đề nghiên cứu hệ thống điện. Mục tiêu nghiên cứu chính trên mô
hình máy phát điện gió cho nghiên cứu hệ thống điện được thực hiện với các mục tiêu phát triển mô
hình máy phát điện gió loại III cho nghiên cứu quá độ điện từ. Đây là loại máy phát gió thường được
trang bị cho các nhà máy gió công suất lớn bởi ưu điểm chỉ chuyển đổi một phần công suất (khoảng
30%) của máy phát lên lưới điện bằng các bộ chuyển đổi công suất.
Để đánh giá kết quả đạt được, mô hình máy phát điện gió trong phần mềm
MATLAB/SIMULINK được dùng để kiểm tra khả năng vận hành máy phát điện gió. Kết quả mô
phỏng được ghi nhận để đánh giá khả năng vận hành của hệ thống điện gió trong trạng thái xác lập
cũng như trạng thái quá độ.
2. Mô hình toán máy phát DFIG
2.1 Mô hình máy phát DFIG
Một DFIG được mô tả như trong hình 1.
Crotor
Bộ chuyển đổi AC/DC/AC được chia thành hai phần: bộ chuyển đổi phía rotor
và bộ
Cgrid
Cgrid
Crotor
chuyển đổi phía lưới
.
và
là các bộ chuyển đổi kiểu nguồn áp. Các bộ chuyển đổi này
sử dụng các linh kiện bán dẫn công suất (IGBT) để tạo nên nguồn điện áp AC từ một nguồn điện áp
C
C
DC. Các cuộn dây được dùng để nối điện áp nguồn với grid . Một tụ điện được kết nối giữa rotor và
C
Crotor
grid có nhiệm vụ như một nguồn áp DC. Các cuộn dây quấn ba pha của rotor được kết nối đến
thông qua vòng trượt và chổi than đồng thời các cuộn dây ba pha được nối trực tiếp vào nguồn điện
lưới.
Hình 1 Mô hình máy phát điện gió trang bị DFIG
Công suất cơ thu được trong tu bin gió được chuyển đổi thanh công suất điện thông qua máy
phát điện cảm ứng. Công suất điện này được truyền lên lưới nhờ vào các cuộn dây rotor và stator. Bộ
Cgrid
C
điều khiển tạo yêu cầu về góc nghiên cánh quạt (góc β) và tín hiệu điện áp cần có cho rotor và
V
V
lần lượt là r và g với mục đích điều khiển công suất tu bin, điện áp bus DC và điện áp tại điểm nối
lưới.
Mô hình trung bình của bộ chuyển đổi AC/DC/AC được dùng để mô phỏng theo thời gian thực.
Các linh kiện bán dẫn công suất trong mô hình trung bình được thay thế bằng các nguồn áp có thể điều
V
V
khiển được. r và g là các tín hiệu điều khiển cho các mô hình nguồn áp này. Bus DC được mô
phổng thông qua một nguồn dòng có điều khiển cấp cho một tụ điện. Nguồn dòng được tính toán dựa
trên định luật bảo toàn công suất tức thời: công suất chạy vào trong hai đầu bộ chuyển đổi bằng chính
công suất thu được bởi tụ DC.
Lưu đồ dòng công suất được mô tả như trong hình 2 được dùng để biểu diễn nguyên lý hoạt
động của máy phát điện gió loại DFIG.
Công suất cơ và công suất điện phát ra bởi stator được tính theo phương trình sau:
giả sử bỏ qua tổn thất trong máy phát, phương trình về cơ được đưa ra như sau:
Trong trạng thái tĩnh, bỏ qua tổn hao, ta thu được:
Khi đó,
S được định nghĩa là hệ số trượt của máy phát. Thông thường giá trị tuyệt đối của hệ số trượt
P
P
nhỏ hơn nhiều so với 1 kéo theo r nhỏ hơn rất nhiều so với s . Trong trường hợp vận hành ở chế độ
T
máy phát, m là số dương và s có giá trị dương đồng thời là tần số danh định của lưới điện thì dấu
P
P
của r sẽ là một hàm theo dấu của hệ số trượt. r sẽ dương khi hệ số trượt âm ứng với trạng thái vận
hành quá đồng bộ và nó sẽ âm cho trạng tháo hệ số trượt dương khi máy phát vận hành trong chế độ
dưới đồng bộ.
P
Ở trạng thái quá đồng bộ, công suất phát ra từ r sẽ đưa đến tụ điện tại bus DC và làm điện áp
C
trên tụ tăng lên. Lúc này bộ chuyển đổi phí lưới grid có nhiệm vụ chuyển công suất từ tụ DC ra lưới
P
điện là gc để ổn định điện áp trên tụ. Ngược lại, khi vận hành tại chế độ dưới đồng bộ, công suất tại tụ
P
DC sẽ được đưa vào phía rotor để cấp cho cuộn dây rotor, việc rút công suất gc từ tụ DC sẽ làm điện
áp trên tụ giảm đi. Nhằm ổn định điện áp trên tụ DC thì bộ chuyển đổi phí lưới sẽ đẩy công suất từ
lưới vào cấp cho tụ DC. Như vậy, cả hai bộ chuyển đổi phía rotor và phía lưới đều có khả năng chuyển
công suất theo hai chiều ngược nhau để duy trì trạng thái vận hành tối ưu cho máy phát điện gió DFIG.
Bộ chuyển đổi phía rotor có nhiệm vụ cung cấp hay thu hồi công suất từ các cuộn dây rotor, trong khi
bộ chuyển đổi phía lưới có nhiệm vụ ổn định điện áp đặt trên tụ DC.
Hình 2 Lưu đồ công suất phản kháng và công suất tác dụng trong DFIG
2.2. Phương trình toán của DFIG
Phương trình toán học của máy phát DFIG có thể được biểu diễn trong nhiều hệ trục tọa độ
khác nhau như hệ trục tọa độ abc kinh điển, hệ trục tọa độ αβ, hệ trục tọa độ quay rotor dq. Để nâng
cao khả năng điều khiển DFIG, hệ trục tọa độ quay dq được dùng để chuyển tín hiệu điều khiển ba
tham số abc xoay chiều về hệ trục tọa độ hai tham số một chiều dq đứng yên. Hình 3 miêu tả các đại
lượng điện của một DFIG trong hệ trục tọa độ dq.
Hình 3 Trục của dây quấn stator và rotor trong hệ trục dq
Phương trình toán của máy phát DFIG được biểu diễn trong hệ trục tọa độ dq như sau:
từ thông rotor và stator được biểu diễn theo
Mô men cơ và mô men điện từ được tính như sau:
Công suất tác dụng và công suất phản kháng tại đầu stator được tính theo phương trình dưới
Tương tự, công suất tác dụng và công suất phản kháng tại đầu rotor được tính như bên dưới
2.3. Hệ thống điều khiển phía rotor.
Bộ chuyển đổi phía rotor được dùng để điều khiển công suất ngõ ra tu bin gió. Công suất được
điều khiển để bám theo đường đặc tính công suất-vận tốc đã cho được gọi là đặc tính bám. đường đặc
tính này được biểu diễn qua đường gấp khúc ABCD như mô tả trong hình 4 thể hiện đặc tính cơ của tu
bin tại các vận tốc gió khác nhau. Vận tốc thực tế của tu bin đo được và đáp ứng công suất cơ của
đường đặc tính bám được dùng như là công suất tham chiếu cho vòng điều khiển công suất. Đường
đặc tuyến công suất được thể hiện qua bốn điểm A, B, C và D. Từ điểm có vận tốc gió bằng không đến
điểm A thì công suất ngõ ra bằng 0, hay nói cách khác là máy phát sẽ không khởi động được khi vận
tốc gió dưới giá trị tại điểm A. Từ điểm A đến điểm B, công suất tham chiếu của máy phát gió là một
đường thẳng. Từ điểm B đến điểm C, công suất tham chiếu là quỹ tích của các điểm công suất cực đại
của tu bin gió. Công suất này là công suất cực đại có thể thu được từ tu bin ứng với từng vận tốc gió
khác nhau. Từ điểm C đến điểm D công suất tham chiếu có quỹ đạo là một đường thẳng. Tại điểm D
là công suất cực đại 1 pu. Nếu vận tốc gió vượt hơn điểm D, lúc này máy phát sẽ lấy công suất tham
chiếu cố định là 1 pu.
Hình 4 Đường đặc tính tu bin gió và đặc tính bám theo công suất của DFIG
Vòng điều khiển công suất được mô tả như trong hình 5. Với bộ điều khiển phía rotor, trục d
của hệ trục tọa độ quay thu được sau biến đổi Park được xếp trùng với trục khe hở từ thông. Công suất
điện ngõ ra thực tế đo được tại điểm nối lưới được cộng với tổng công suất tổn thất máy phát (bao
gồm tổn thất phần điện và phần cơ) rồi so sánh với công suất tham chiếu thu được từ đường đặc tuyến
vận tốc-công suất đã xét ở phần trên. Một bộ điều chỉnh PI được dùng để giảm sai số công suất này về
I
không. Ngõ ra của bộ điều chỉnh là giá trị dòng điện tham chiếu trục q ( qr _ref ), đây là giá trị dòng
điện trên trục q cần bơm vào rotor bởi bộ chuyển đổi phía rotor. Dòng điện này có nhiệm vụ tạo ra mô
I
I
T
men điện từ em . Thành phần dòng điện trục q rotor thực tế qr được so sánh với qr _ref và sai số giữa
chúng được rút ngắn dần về 0 bằng cách dùng một bộ điều chỉnh dòng điện PI. Ngõ ra của bộ điều
V
chỉnh dòng điện chính là điện áp trên trục q qr được tạo ra từ bộ chuyển đổi phía rotor.
điện áp tại điểm kết nối được điều khiển bằng cách tạo ra hay hấp thụ công suất phản kháng bởi
bộ chuyển đổi phía rotor. công suất phản kháng này được chuyển đổi qua lại giữa bộ chuyển đổi phía
rotor và lưới điện thông qua máy phát. Trong quá trình chuyển đổi, máy phát hấp thụ công suất phản
kháng để cung cấp cho sự tương hỗ trong nó và điện cảm dòng rò. Phần dư ra so với nhu cầu sử dụng
được trả về lưới hoặc bộ chuyển đổi phía rotor. Quá trình điều khiển tổng quát của bộ điều khiển phía
rotor được miêu tả cụ thể trong hình 5 như bên dưới.
Hình 5 Bộ điều khiển phía rotor
2.4. Hệ thống điều khiển phía lưới
Bộ chuyển đổi phía lưới có nhiệm vụ điều chỉnh điện áp trên tụ DC. Trong bộ điều khiển này,
trục d của hệ trục tọa độ dq thu được sau biến đổi Park được đặt trùng với thành phần thứ tự thuận của
điện áp lưới điện. Bộ điều khiển bao gồm:
− Hệ thống đo lường dòng diện AC được tạo ra và điện áp một chiều VDC trên hai đầu tụ DC.
− Một vòng điều chỉnh điện áp VDC bằng bộ điều chỉnh điện áp PI. Ngõ ra của vòng điều
Idgc_ ref
chỉnh chính là giá trị dòng điện tham chiếu trên trục d (
) mà bộ điều khiển phía lưới
phải bơm ra (hay rút vào) lưới nhằm ổn định điện áp trên tụ DC.
− Hai bộ điều chỉnh điện áp PI nhằm điều chỉnh dòng điện trên trục d và q bơm vào lưới điện.
Bộ điều chỉnh dòng điện điều chỉnh điện áp và pha của điện áp được tạo ra bởi bộ chuyển đổi
Idgc_ ref
phía lưới từ giá trị
được tạo ra bởi bộ điều chỉnh điện áp DC và giá trị dòng điện
tham chiếu trên cực q đã được chỉ định trước (thường là bằng 0).
Kết quả của bộ điều chỉnh dòng điện chính là giá trị của điện áp dự đoán phải bơm vào lưới điện
để đạt được yêu cầu ổn định điện áp trên lưới AC. Nguyên lý làm việc của bộ điều khiển phía lưới
được tình bày chi tiết trong hình 6.
Hình 6 Bộ điều khiển phía lưới
2.5. Hệ thống điều khiển góc cánh quạt tu bin gió.
Khi vận tốc gió dưới giá trị vận tốc gió định mức, góc cánh quạt của tu bin gió (góc β) được giữ
bằng 0 để thu được công suất gió lớn nhất. khi vận tốc gió lớn hơn vận tốc gió định mức, nếu không
thay đổi góc β, lúc này công suất cơ mà tu bin gió thu được sẽ lớn hơn công suất định mức của máy
phát. Lúc này, để giữ ổn định công suất cơ thu được tại công suất định mức thì phải thay đổi giá trị
C
góc β để giảm hệ số công suất p , tức là giảm công suất cơ của tu bin gió.
Việc thay đổi góc β được thực hiện thông qua bộ điều chỉnh góc β. Quy trình thay đổi góc β
được thực hiện trong các trường hợp sau:
Khi công suất điện thu được lớn hơn công suất định mức, giá trị góc β sẽ tăng lên. Việc tăng giá
trị góc β sẽ được dừng lại khi khi công suất thu được bằng công suất định mức máy phát.
Khi công suất điện thu được nhỏ hơn công suất định mức, lúc này qua bộ so sánh sẽ hiệu chỉnh
giảm góc β để tăng giá trị hệ số công suất chuyển đổi của tu bin.
Nguyên tắc hoạt động được thể hiện cụ thể trong hình 7 như bên dưới. Qua sự hiệu chỉnh của bộ
điều chỉnh góc β, tu bin gió sẽ được phân vùng thành hai vùng rõ rệt. Vùng công suất cực đại là vùng
có vận tốc gió dưới tốc độ gió định mức. Lúc này, tu bin gió sẽ cố gắng thu được công suất cơ càng
nhiều càng tốc, góc β được hiệu chỉnh về 0 để hệ số công suất tu bin gió đạt được giá trị cực đại. Vùng
công suất định mức không đổi, khi vận tốc gió lớn hơn vận tốc gió định mức, góc kích β sẽ tăng lên để
giảm khả năng thu công suất của tu bin và giữ cho công suất này tại công suất định mức của máy phát.
Hình 7 Bộ hiệu chỉnh công suất máy phát và góc cánh tu bin
2.6. Mô hình hóa mô phỏng máy phát điện gió bằng phần mềm Matlab/Simulink
Từ các phương trình mô tả đặc tính máy phát nguồn kép DFIG và các nguyên tắc điều khiển
một DFIG đã được đề cập đến trong các phần trên, một mô hình hóa mô phỏng DFIG được xây dựng
trên phần mềm Matlab/Simulink. Để thuận tiện trong vấn đề kiểm tra, đánh giá và so sánh trong quá
trình mô phỏng, mô hình được thiết kế thành các mô hình con với các chức năng riêng biệt với nhau.
mỗi khối được xây dựng tương ứng với các phương trình toán hoặc các nguyên lý được trình bày cụ
thể bên trên. Mô hình hóa mô phỏng bao gồm các khối cụ thể như trong hình 8, 9, 10 và 11.
Hình 8 Mô hình khối máy phát gió DFIG
Hình 9 Mô hình điều khiển phía lưới của DFIG
Hình 10 Mô hình bộ điều khiển phía rotor
Hình 11 Mô hình điều khiển góc β và công suất tác dụng DFIG
3. Kết quả mô phỏng.
Nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động của mô hình được thực thi, các vận tốc gió khác nhau trong
các vùng làm việc được mô phỏng trong trạng thái quá độ khi có sự thay đổi sức gió xuất hiện. Các kết
quả đạt ghi nhận được thể hiện trong các hình bên dưới.
3.1 Khi vận tốc thay đổi trong vùng dưới vận tốc gió định mức.
Kết quả mô phỏng hoạt động của hệ thống chuyển đổi năng lượng gió khi vận tốc gió thay đổi
từ 10 xuống 8 m/s được ghi nhận qua các hình bên dưới. Hình 12 thể hiện trào lưu công suất năng
lượng được sinh ra từ máy phát DFIG trong vận tốc gió thay đổi từ 10 xuống 8 m/s. Qua hình này cho
thấy hệ thống gió đã hoạt động ổn định trở lại sau một khoảng thời gian quá độ ban đầu khi khởi động
và khi có sự thay đổi vận tốc gió bên ngoài. Công suất bơm lên lưới ổn định suốt quá trình vận hành
hệ thống gió.
Mối quan hệ giữa vận tốc gió và vận tốc rotor khi vận tốc gió thay đổi từ 10 m/s sang 8 m/s
được thể hiện qua hình 13. Nhận thấy rằng với trường hợp gió thay đổi, sau qua trình quá độ khi khởi
động, vận tốc rotor được đưa về đến giá trị ổn định như trong trường hợp vận tốc gió không đổi. Khi
có sự biến thiên vận tốc gió, vận tốc rotor cũng sẽ thay đổi theo như thể hiện trong hình.
Mối quan hệ giữa vận tốc gió và góc beta khi vận tốc gió thay đổi từ 10 xuống 8 m/s được thể
hiện qua hình 14. Nhận thấy rằng với trường hợp gió dưới định mức thì sau quá trình quá độ, góc cánh
quạt gió được hiệu chỉnh về không và giữ ổn định trong suất khoảng thời gian mô phỏng còn lại. Điều
đó chứng tỏ giải thuật hoạt động ổn định tại vận tốc gió thay đổi từ 10 xuống 8 m/s.
Hình 12 Công suất của DFIG
khi gió thay đổi từ 10 xuống 8
m/s
Hình 13 Kết quả vận tốc rotor
khi gió thay đổi từ 10 xuống 8
m/s
Hình 14 Kết quả góc beta khi
gió từ 10 xuống 8 m/s
3.2 Khi vận tốc thay đổi trong vùng trên vận tốc gió định mức.
Kết quả mô phỏng hoạt động của hệ thống chuyển đổi năng lượng gió khi vận tốc gió thay đổi
từ 12 lên 14 m/s được ghi nhận qua các hình bên dưới. Hình 15 thể hiện trào lưu công suất năng lượng
được sinh ra từ máy phát DFIG trong vận tốc gió thay đổi từ 12 lên 14 m/s. Qua hình này cho thấy hệ
thống gió đã hoạt động ổn định trở lại sau một khoảng thời gian quá độ ban đầu khi khởi động và khi
có sự thay đổi vận tốc gió bên ngoài. Công suất bơm lên lưới ổn định suốt quá trình vận hành hệ thống
gió.
Mối quan hệ giữa vận tốc gió và vận tốc rotor khi vận tốc gió thay đổi từ 12 m/s sang 14 m/s
được thể hiện qua hình 16. Nhận thấy rằng với trường hợp gió thay đổi, sau qua trình quá độ khi khởi
động, vận tốc rotor được đưa về đến giá trị ổn định như trong trường hợp vận tốc gió không đổi. Khi
có sự biến thiên vận tốc gió, vận tốc rotor cũng sẽ thay đổi theo như thể hiện trong hình.
Mối quan hệ giữa vận tốc gió và góc beta khi vận tốc gió đạt thay đổi từ 12 lên 14 m/s được thể
hiện qua hình 17. Nhận thấy rằng với trường hợp gió trên định mức thì sau quá trình quá độ, góc cánh
quạt gió được hiệu chỉnh về một giá trị cố định khác không và giữ ổn định trong suất khoảng thời gian
mô phỏng còn lại. Điều đó chứng tỏ giải thuật hoạt động ổn định tại vận tốc gió thay đổi từ 12 lên 14
m/s.
Hình 16 Kết quả vận tốc rotor
khi gió thay đổi từ 12 lên 14
m/s
Hình 15 Công suất của DFIG khi
gió thay đổi từ 12 lên 14 m/s
Hình 17 Kết quả góc beta khi
gió từ 12 lên 14 m/s
3.3 Khi vận tốc thay đổi từ dưới lên trên vận tốc gió định mức.
Kết quả mô phỏng hoạt động của hệ thống chuyển đổi năng lượng gió khi vận tốc gió thay đổi
từ 10 lên 12 m/s được ghi nhận qua các hình bên dưới. Hình 18 thể hiện trào lưu công suất, năng lượng
được sinh ra từ máy phát DFIG trong vận tốc gió thay đổi từ 10 lên 12 m/s. Qua hình này cho thấy hệ
thống gió đã hoạt động ổn định trở lại sau một khoảng thời gian quá độ ban đầu khi khởi động và khi
có sự thay đổi vận tốc gió bên ngoài. Công suất bơm lên lưới ổn định suốt quá trình vận hành hệ thống
gió.
Hình 18 Công suất của DFIG khi
gió thay đổi từ 10 lên 12 m/s
Hình 20 Kết quả góc beta khi
Hình 19 Kết quả vận tốc rotor
khi gió thay đổi từ 10 m/s sang
12 m/s
gió từ 10 lên 12 m/s
Mối quan hệ giữa vận tốc gió và vận tốc rotor khi vận tốc gió thay đổi từ 10 m/s sang 12 m/s
được thể hiện qua hình 19. Nhận thấy rằng với trường hợp gió thay đổi, sau qua trình quá độ khi khởi
động, vận tốc rotor được đưa về đến giá trị ổn định như trong trường hợp vận tốc gió không đổi. Khi
có sự biến thiên vận tốc gió, vận tốc rotor cũng sẽ thay đổi theo như thể hiện trong hình.
Mối quan hệ giữa vận tốc gió và góc beta khi vận tốc gió đạt thay đổi từ 10 lên 12 m/s được thể
hiện qua hình 20. Tại vận tốc gió dưới định mức, sau thời gian quá độ thì góc beta được giữ bằng
không để thu được nhiều năng lượng hơn từ gió. Khi vận tốc tăng cao trên định mức, góc beta cánh
quạt gió được điều chỉnh đến vị trí khác không nhằm nhanh chóng giảm công suất máy phát về công
suất định mức. Như vậy, nhận thấy rằng sau một giai đoạn quá độ ngắn do thay đổi vận tốc gió gây ra
thì bộ điều khiển góc beta đã làm việc một cách hiệu quả.
3.4 Khi vận tốc thay đổi từ trên xuống dưới vận tốc gió định mức.
Kết quả mô phỏng hoạt động của hệ thống chuyển đổi năng lượng gió khi vận tốc gió thay đổi
từ 13 xuống 10 m/s được ghi nhận qua các hình bên dưới. Hình 21 thể hiện trào lưu công suất, năng
lượng được sinh ra từ máy phát DFIG trong vận tốc gió thay đổi từ 13 xuống 10 m/s. Qua hình này
cho thấy hệ thống gió đã hoạt động ổn định trở lại sau một khoảng thời gian quá độ ban đầu khi khởi
động và khi có sự thay đổi vận tốc gió bên ngoài. Công suất bơm lên lưới ổn định suốt quá trình vận
hành hệ thống gió.
Mối quan hệ giữa vận tốc gió và vận tốc rotor khi vận tốc gió thay đổi từ 13 m/s sang 10 m/s
được thể hiện qua hình 22. Nhận thấy rằng với trường hợp gió thay đổi, sau qua trình quá độ khi khởi
động, vận tốc rotor được đưa về đến giá trị ổn định như trong trường hợp vận tốc gió không đổi. Khi
có sự biến thiên vận tốc gió, vận tốc rotor cũng sẽ thay đổi theo như thể hiện trong hình.
Mối quan hệ giữa vận tốc gió và góc beta khi vận tốc gió đạt thay đổi từ 13 xuống 10 m/s được
thể hiện qua hình 23. Nhận thấy rằng với trường hợp gió trên định mức góc cánh quạt gió được hiệu
chỉnh về một giá trị cố định khác không và giữ ổn định trong suất khoảng thời gian mô phỏng. Khi vận
tốc gió giảm dưới định mức, góc beta sẽ được đưa về không theo nhu yêu cầu điều khiển hệ thống gió
DFIG dưới định mức. Điều đó chứng tỏ giải thuật hoạt động ổn định tại vận tốc gió thay đổi từ 13
xuống 12 m/s.
Hình 21 Công suất của DFIG khi
gió thay đổi từ 13 xuống 10 m/s
Hình 23 Kết quả góc beta khi
Hình 22 Kết quả vận tốc rotor
khi gió thay đổi từ 13 m/s sang
10 m/s
gió từ 12 xuống 10 m/s
4. Kết luận
Bài báo đã đề xuất một phương pháp điều khiển tối ưu công suất tác dụng bơm lên lưới điện
trong các vùng làm việc khác nhau dựa trên vận tốc góc rotor. Việc điều khiển công suất tác dụng bơm
vào lưới điện được thực hiện thông qua sự thay đổi góc beta trong miền gió trên định mức và thay đổi
tốc độ rotor trong miền gió dưới định mức. Qua kết quả nhận thấy giải pháp được đề xuất đã có kết
quả tốt khi bám theo được công suất gió trong các miền vận tốc gió khác nhau.
Tài liệu tham khảo
[1] P.F. Gale, B.Tech., Ph.D. Cable-fault location by impulse-current method. PROC. 1EE,
Vol. 122, No. 4, APRIL 1975
[2] Qinghai Shi, Olfa Kanoun. A New Algorithm for Wire Fault Location Using Time-Domain
Reflectometry. ieee sensors journal, vol. 14, no. 4, april 2014.
[3] Aurangzeb M., Crossley P.A., Gale P., Fault location using high frequency travelling waves
measured at a single location of a transmission line, Proceedings of the International Conference on
Developments in Power System Protection, No. 479. IEE (UK), 2001.
[4]Borghetti A, Bosetti M, Nucci CA, Paolone M. Continuous-wavelet transform for fault
location in distribution power networks: definition of mother wavelets inferred from fault originated
transients. IEEE Trans Power Syst 2008;23(2):380–8.
[5]Kang M, Bo Z. Based on the distribution network fault location simulation of wavelet
modulus maxima. In: The international conference on advanced power system automation and
protection (APAP), China; 2011. p. 1517–20.
[6]Wang Y, Zeng X, Qin X, Zhao Zh, Pan H. HHT based single terminal traveling wave fault
location for lines combined with overhead-lines and cables. In: International conference on power
system technology (PowerCon ‘2010), China; 2010.
[7]Pourahmadi-Nakhli M, Safavi AA. Path characteristic frequency-based fault locating in
radial distribution systems using wavelets and neural networks. IEEE Trans Power Deliv
2011;26(2):772–81.
[8] Cook V., Fundamental aspects of fault location algorithms used in distance protection, IEE
Proceedings, Vol. 133, Pt. C, No. 6, September 1986, pp. 359–368.
[9] Djuric M.B., Radojevic Z.M., Terzija V.V., Distance protection and fault location utilizing
only phase current phasors, Transactions on Power Delivery, Vol. 13, No. 4, October 1998, pp. 1020–
1026.
[10] Das R., Novosel D., Review of fault location techniques for transmission and sub-
transmission lines, Proceedings of Georgia Tech Conference, April 2000, pp. 1–16.
[11]Iżykowski J., Rosołowski E., Saha M.M., Post-fault analysis of operation of distance
protective relays of power transmission lines, IEEE Transactions on Power Delivery, Vol. 22, No. 1,
January 2007, pp. 74–81.
[12]Jeyasurya B., Bath C.A., An accurate algorithm for transmission line fault location using
digital relay measurements, Electric Machines and Power Systems, No. 16, 1989, pp. 25–34.
[13]Saha M.M., Iżykowski J., Rosołowski E., A method of fault location based on
measurements from impedance relays at the line ends, Proceedings of IEE Eighth International
Conference on Developments in Power System Protection, Amsterdam, 2004, pp. 176–179.
[14]Takagi T., Yamakosi Y., Yamura M., Kondow R., Matsushima T., Development of new
type fault locator using the one–terminal voltage and current data, IEEE Transactions on Power
Apparatus and Systems, Vol. PAS–101, No. 8, August 1982, pp. 2892–2898.
[15]Zhang Q., Zhang Y., Song W., Yu Y., Transmission line fault location for phase-to-earth
fault using one-terminal data, IEE Proceedings – Generation Transmission Distribution, Vol. 146, No.
2, March 1999, pp. 121–124.
[16]Zimmerman K. Costello D., Impedance-based fault location experience, IEEE Rural
Electric Power Conference, April 2006, pp. 1–16.
[17] Bảng tra cứu thông số cáp ngầm cao áp của nhà sản xuất Prysmian
[18] André D. Filomena, Mariana Resener, Rodrigo H. Salim, Arturo S. Bretas. Distribution
systems fault analysis considering fault resistance estimation. Electrical Power and Energy Systems 33
(2011) 1326-1335.
[19] V.V. Terzija, H.-J. Koglin. NewApproach to Arc Resistance Calculation. 2001 IEEE
[20] Jing Ma, Xun Pei, Wei Ma, Zengping Wang. A New Transmission Line Pilot Differential
Protection Principle Using Virtual Impedance of Fault Component. Canadian journal of electrical and
computer engineering, vol. 38, no. 1, winter 2015
[21] Swagata Das, Surya Santoso, Anish Gaikwad, Mahendra Patel. Impedance-Based Fault
Location in Transmission Networks: Theory and Application. Access, IEEE Year: 2014, Volume: 2
Pages: 537 – 557
Thông tin người chịu trách nhiệm bài viết:
Họ và tên: Nguyễn Quốc Hưng
XÁC NHẬN CỦA GVHD
Đơn vị: Trường THCS Lạc Hồng, Q10, Tp.HCM.
Điện thoại: 0128 606 8288
Email: quochung1804@gmail.com
Bạn đang xem tài liệu "Điều khiển máy điện gió DFIG có Sensor tốc độ trong các miền làm việc khác nhau", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
dieu_khien_may_dien_gio_dfig_co_sensor_toc_do_trong_cac_mien.pdf

