Tối ưu hóa hoạt động của hệ thống pin mặt trời

TỐI ƯU HÓA HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG PIN MẶT TRỜI  
OPTIMIZE THE OPERATION OF THE PHOTOVOLTAIC SYSTEM  
Nguyễn Cao Danh1, Lê Chí Kiên2  
1Học viên cao học, Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM  
2Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM  
TÓM TẮT  
Bám theo điểm công suất tối đa (Maximum Power Point Tracking - MPPT) là một phần không thể  
thiếu trong hệ thống pin quang điện (Photovoltaic - PV). Đặc tính điện áp của các mảng PV hoạt  
động trong điều kiện bóng râm một phần thể hiện nhiều điểm công suất tối đa cục bộ (Local  
Maximum Power Points - LMPP). Trong bài báo này, một phương pháp mới được đề xuất để theo  
dõi điểm công suất tối đa toàn cầu (Global Maximum Power Point - GMPP) của PV. So với các kỹ  
thuật MPPT toàn cầu được đề xuất trước đây, phương pháp đề xuất trong bài viết này có ưu điểm  
là tính toán số đỉnh trên các đường cong P-V và dự đoán vị trí của GMPP và LMPP. Phương pháp  
mới có thể nhanh chóng tìm ra GMPP và tránh mất nhiều năng lượng do quét mù. Các kết quả  
thử nghiệm xác minh rằng phương pháp được đề xuất đảm bảo sự hội tụ đến MPP toàn cầu trong  
các điều kiện bóng mờ một phần.  
Từ khóa: Bám theo điểm công suất tối đa; đa điểm cực đại; điều kiện bóng mờ một phần; pin  
quang điện.  
ABSTRACT  
Maximum power point tracking (MPPT) is an integral part of a system of energy conversion using  
photovoltaic (PV) arrays. The power-voltage characteristic of PV arrays operating under partial shading  
conditions exhibits multiple local maximum power points (LMPPs). In this paper, a new method has been  
presented to track the global maximum power point (GMPP) of PV. Compared with the past proposed  
global MPPT techniques, the method proposed in this paper has the advantages of determining whether  
partial shading is present, calculating the number of peaks on P–V curves, and predicting the locations of  
GMPP and LMPP. The new method can quickly find GMPP, and avoid much energy loss due to blind scan.  
The experimental results verify that the proposed method guarantees convergence to the global MPP under  
partial shading conditions.  
Keywords: Maximum power point tracking (MPPT), multiple maxima, partial shading condition,  
photovoltaic (PV).  
Tuy nhiên, khi có nhiều cực đại công suất  
cục bộ [5][6], từ bóng mờ một phần [7], các  
kỹ thuật MPPT thông thường không hoạt  
động tốt. Nhiều cực đại có thể xảy ra do bỏ  
qua điốt [8], được sử dụng để tránh các điểm  
nóng hình thành khi một số ô trong mô-đun  
hoặc một số mô-đun trong chuỗi nhận được ít  
bức xạ hơn các loại khác [9]–[12]. Nếu không  
có sự khắc phục của các thiết bị điện tử công  
suất, năng lượng bị mất do bóng râm một phần  
có thể là đáng kể. Do đó, bắt buộc phải sử  
dụng các kỹ thuật MPPT đáng tin cậy để theo  
dõi mức tối đa công suất toàn cầu duy nhất  
hiện diện trong các mảng bóng mờ.  
1. GIỚI THIỆU  
Tế bào PV là một thiết bị điện chuyển đổi  
trực tiếp năng lượng ánh sáng thành điện  
năng thông qua hiệu ứng PV. Các tế bào PV  
có mối quan hệ phức tạp giữa bức xạ mặt trời,  
nhiệt độ và tổng trở, và thể hiện một đặc tính  
hiệu suất đầu ra phi tuyến được gọi là đường  
cong P-V. Do đó, nên phát triển các kỹ thuật  
MPPT trong các hệ thống PV để tối đa hóa  
công suất đầu ra của các hệ thống PV. Ngày  
nay, đã có nhiều phương pháp MPPT được đề  
xuất, bao gồm như leo đồi (hill climbing) [1],  
nhiễu loạn và quan sát (P&O) [2], độ dẫn tăng  
dần (INC) [3] và hiệu chỉnh nhiễu loạn [4].  
Một số nhà nghiên cứu đã đề xuất các  
thuật toán theo dõi điểm công suất tối đa toàn  
cầu (GMPPT) để giải quyết tình trạng bóng  
một phần. Trong [13], người ta quan sát thấy  
các đỉnh theo xu hướng cụ thể trong đó công  
suất tại điểm cực đại tiếp tục tăng cho đến khi  
đạt đến GMPP, và sau đó, nó liên tục giảm.  
Trong [14], thuật toán được đề xuất kết hợp  
phép đo dòng điện trực tuyến và gián đoạn  
định kỳ để giải quyết các thách thức nhất định  
liên quan đến sự thay đổi nhanh chóng. Một  
quy tắc sửa đổi để cập nhật tỉ số thời gian được  
trình bày, dựa trên các đạo hàm đầu tiên và thứ  
hai của công suất như là một chức năng của tỉ  
số thời gian. Trong [15], quét đường cong P-I  
thông minh được phát minh để phát hiện sự  
hiện diện của cực đại toàn cầu. Trong [16], bộ  
chuyển đổi dc dc điện tử được điều khiển bởi  
tín hiệu dc có biên độ điều chỉnh được sử dụng  
để theo dõi MPP toàn cầu. Sau đó, thuật toán  
MPPT nhiễu loạn và quan sát (P & O) được  
áp dụng để liên tục theo dõi các biến thể ngắn  
hạn của MPP toàn cầu được phát hiện trước  
đó. Trong [17], nó trình bày sơ đồ điều khiển  
hai vòng dựa trên mô hình mới cho một hệ  
thống chuyển đổi và PV tích hợp mô-đun cụ  
thể, trong đó bộ chuyển đổi Cuk dc-dc hai  
chiều được sử dụng làm bộ chuyển đổi nối tắt.  
Trong [18], nó sử dụng chuỗi quét định kỳ của  
đường cong PV để phát hiện MPP cục bộ do  
thời gian dài cần thiết để hoàn thành quá trình  
theo dõi này và việc sản xuất năng lượng PV  
bị giảm. Các phương pháp MPPT toàn cầu  
được trình bày trong [19], [20] dựa trên các  
phép đo điện áp mạch hở mảng PV và chiếu  
xạ mặt trời hoặc dòng điện ngắn mạch, tương  
ứng.  
trời) để tính toán trạng thái làm việc của các  
tế bào PV và mô phỏng các đường cong đặc  
tính đầu ra [21], [22]. Phương pháp này có thể  
là một giải pháp hiệu quả để giảm thiểu ảnh  
hưởng của bóng râm một phần. Tuy nhiên, kết  
quả mô phỏng thu được bằng cách đo các  
thông số môi trường và trường hợp thực tế sẽ  
khác nhau đáng kể, vì đặc tính thực tế của các  
tấm pin mặt trời phụ thuộc vào nhiều yếu tố  
(ví dụ: cường độ ánh sáng, nhiệt độ, lão hóa,  
bụi và bóng râm một phần). Ngoài ra, phương  
pháp làm tăng chi phí hệ thống PV trong các  
ứng dụng thương mại thực tế. Trong bài báo  
này, một phương pháp mới để theo dõi GMPP  
của mảng PV hoạt động trong điều kiện bóng  
râm một phần được đề xuất.  
2. HIỆN TƯỢNG BÓNG CHE MỘT  
PHẦN  
+Vpv  
+Vpv  
Vpv1  
Vpv1  
Vpv2  
Vpv2  
Vpv3  
Vpv3  
Vpv4  
Vpv4  
-Vpv  
-Vpv  
(a)  
(b)  
Các bài báo trên có thể được phân loại  
thành hai nhóm. 1) Quét toàn cầu (hoặc một  
phần) các đường cong đầu ra PV thu được  
[13] - [17]. Sau đó, một thuật toán phức tạp  
được sử dụng để tính toán GMPP của các  
đường cong. Một nhược điểm của phương  
pháp này là không có khả năng xác định liệu  
tế bào PV có hoạt động trong điều kiện bóng  
râm hay không. Bởi vì GMPP bị theo dõi một  
cách thử sai và hệ thống chuyển đổi hoạt động  
ở các điểm năng lượng thấp hầu hết thời gian  
trong quá trình theo dõi, lãng phí năng lượng  
là rất đáng kể. 2) Nhóm khác sử dụng các cảm  
biến chuyên dụng (ví dụ: để đo bức xạ mặt  
Hình 1 Cấu trúc các tấm pin mặt trời khi có  
và không có bóng che một phần.  
Thông thường, các tấm pin được sản xuất  
với kích thước và thông số giống hệt nhau từ  
các nhà sản xuất. Khi các tấm pin mặt trời  
được cung cấp cùng nguồn bức xạ mặt trời thì  
các thông số dòng điện qua pin và điện áp trên  
pin của các tấm này là giống hệt nhau giống  
như thể hiện trong Hꢀnh 1a. Như vậy, trong  
trường hợp có sự đồng nhất về điều kiện môi  
trường bên ngoài thì thuật toán MPPT thông  
thường có thể xác định được điểm công suất  
cực đại một cách nhanh chóng và chính xác.  
 
Lúc này, điện áp trên các tấm pin là bằng nhau  
và di chuyển như trong mô tả của Hꢀnh 2(a)  
điện áp trên các tấm pin được chia làm 2 mức  
khác nhau và các tấm pin có cùng mức bức xạ  
mặt trời sẽ có giá trị điện áp bằng nhau.  
+Vpv  
Vpv1  
+Vpv  
Vpv1  
+Vpv  
Vpv1  
Trường hợp 2: Điểm làm việc hiện tại có  
điện áp lớn hơn giá trị V1. Khi đó, dòng điện  
chạy trong các tấm pin bằng nhau và các diode  
bị ngắt dẫn. Sơ đồ di chuyển của dòng điện  
trong các tấm pin mặt trời trong trường hợp  
này được thể hiện như trong Hꢀnh 2(c). Lúc  
này, điện áp trên tấm pin PV4 có điện áp lớn  
hơn 0 nhưng không cao bằng các tấm pin còn  
lại vì cường độ bức xạ mặt trời chiếu vào nó  
thấp hơn các tấm khác. Điện áp trên các tấm  
pin còn lại bằng nhau và lớn hơn điện áp trên  
tấm pin PV4. Như vậy trong trường hợp này  
điện áp trên các tấm pin được chia làm 2 mức  
khác nhau và các tấm pin có cùng mức bức xạ  
mặt trời sẽ có giá trị điện áp bằng nhau. Các  
mức điện áp này không âm và khác nhau phụ  
thuộc vào cường độ bức xạ mặt trời chiếu trên  
chúng.  
Vpv2  
Vpv3  
Vpv2  
Vpv3  
Vpv2  
Vpv3  
Vpv4  
-Vpv  
Vpv4  
-Vpv  
Vpv4  
-Vpv  
(a)  
(b)  
(c)  
Hình 2 Sơ đồ dòng điện trong các tấm pin  
mặt trời.  
Tuy nhiên, bởi nhiều lý do khác nhau như  
bụi bám bề mặt, mây che nên một số tấm pin  
được chiếu một cường độ bức xạ mặt trời thấy  
hơn như trong Hꢀnh 1(b). Điều này làm cho  
đặc tính dòng điện và điện áp trên các tấm pin  
mặt trời này có sự khác biệt với các tấm pin  
còn lại. Sự khác biệt này được thể hiện rõ khi  
phân tích trạng thái làm việc của các tấm pin  
như thể hiện trong Hꢀnh 2 và Hꢀnh 3.  
Qua phân tích hai trường hợp trên, một số  
nhận xét được đưa ra như sau:  
Các tấm pin có cùng mức bức xạ mặt trời  
thì có cùng giá trị điện áp ngõ ra.  
Điện áp các tấm pin mặt trời được phân  
thành các nhóm điện áp dựa trên các mức  
bức xạ khác nhau chiếu vào chúng. Với bao  
nhiêu mức bức xạ thì sẽ có bấy nhiêu nhóm  
điện áp.  
Khi xuất hiện tình trạng bóng che, với giả  
định có hai nguồn bức xạ mặt trời khác nhau  
được chiếu lên các tấm pin như trong Hꢀnh 1,  
các giải thuật MPPT thông thường sẽ tìm đến  
điểm cực đại nào nằm cùng đường cong công  
suất. Lúc này xuất hiện hai trường hợp sau:  
Trường hợp 1: Điểm làm việc hiện tại có  
điện áp nhỏ hơn giá trị V1. Giải thuật MPPT  
sẽ kéo điểm làm việc về điểm có điện áp  
V
mppt1. Khi đó, do dòng điện chạy trong tấm  
pin mặt trời PV4 thấp hơn dòng điện chạy trên  
các tấm pin còn lại nên làm cho diode mắc  
song song với PV4 được kích dẫn và dẫn phần  
dòng điện chênh lệch giữa hai dòng điện này.  
Sơ đồ di chuyển của dòng điện trong các tấm  
pin mặt trời trong trường hợp này được thể  
hiện như trong Hꢀnh 2(b). Lúc này, điện áp  
trên tấm pin PV4 có điện áp âm và bằng điện  
áp phân cực thuận của diode mắc song song  
với nó. Điện áp trên các tấm pin còn lại bằng  
nhau và khác 0. Như vậy trong trường hợp này  
Hình 3 Sự thay đổi thông số dòng áp trên các  
tấm pin theo điện áp làm việc  
Trong quá trình bị bóng che một phần, tại  
điểm công suất cực đại cuối cùng bên phải  
có sự phân chia rõ ràng nhất. Điều này có  
được là do tại điểm này tất cả các tấm pin  
đều làm việc nên điện áp trên chúng khác  
0. Ngoài ra, với bao nhiêu mức bức xạ mặt  
   
trời khác nhau thì sẽ có bấy nhiêu nhóm  
điện áp trên toàn bộ các tấm pin  
ở trên. Giải thuật này được thực hiện qua các  
bước như sau:  
3. Phương pháp bộ điều khiển MPPT cải  
Bước 1: Xác định vị trí điểm MPP sau khi  
có hiện tượng bóng che. Việc xác định  
điểm MPP thu được dựa trên thuật toán  
P&O truyền thống sau khi có hiện tượng  
bóng che nằm bên trái hay bên phải của  
đường cong đặc tuyến P-V được thực thi  
bằng cách kiểm tra xem có tấm pin mặt trời  
nào có điện áp hai đầu bằng 0 hay không.  
Nếu có thì điểm MPP này nằm bên trái của  
đường đặc tuyến P-V. Ngược lại thì điểm  
này nằm bên phải của đường đặc tuyến P-  
V. Việc này được thực hiện trong khối 7.  
Bước 2: Xác định giá trị công suất cực đại  
và điện áp của điểm MPP còn lại. Dựa trên  
kết quả xác định vị trí điểm MPP đầu tiên  
trong bước 1 sẽ có hai trường hợp xác  
thông số cho điểm MPP còn lại tương ứng.  
Trường hợp 1: Điểm MPP còn lại nằm bên  
phải đường cong đặc tuyến P-V. Lúc này,  
các tấm pin đều có điện áp khác không và  
điểm tham chiếu điện áp được chọn là  
Vref 0.8*Voc (Khối 8). Với điện áp tham  
tiến  
3.1 Giải thuật trong chương trình chính.  
Hꢀnh 4 thể hiện lưu đồ của thuật toán  
MPPT cải tiến để theo dõi GMPP trong điều  
kiện bóng che một phần. Việc thực hiện các  
thuật toán luôn bắt đầu với giá trị điện áp tham  
Vref  
chiếu (  
) được thiết lập là 85% điện áp hở  
Voc  
mạch  
(khối 1) như trong chương trình  
chính. Dưới bức xạ mặt trời đồng nhất, chỉ có  
một đỉnh trong đường cong P-V. Các phương  
pháp MPPT truyền thống như quy trình theo  
dõi P & O có thể hoạt động tốt. Do đó, cho  
đến khi bóng che xảy ra, nó duy trì hoạt động  
tại GMPP bằng cách liên tục thực hiện phương  
pháp P & O (khối 2 và 3). Khi một MPP được  
tìm thấy, nó sẽ lưu trữ thông tin điểm cực đại  
này, ví dụ như công suất dãy PV và điện áp  
dãy PV (khối 4). Khi điện áp mô đun PV lớn  
hơn một điện áp khác trong cùng một điểm  
V V  
(
j ), điều đó có nghĩa là bóng che một  
i
chiếu này sẽ đảm bảo điểm làm việc sẽ nằm  
bên phía phải đường cong đặc tuyến. Lúc  
này, với giải thuật MPPT kiểu P&O truyền  
thống cũng sẽ đưa điểm làm việc về điểm  
MPP còn lại một cách dễ dàng như trong  
khối 9 và khối 10.  
phần đã xảy ra (khối 5). Khi sự sai số tuyệt đối  
giữa hai điện áp này lớn hơn một hằng số đã  
xác định trước (được sử dụng để loại bỏ sự  
xáo trộn của mẫu và những khác biệt nhỏ do  
sự thay đổi nhẹ), "Chương trình chính" sẽ gọi  
"chương trình con theo GMPP" (khối 6).  
"Chương trình con theo GMPP" xác định  
GMPP thực sự và sau đó chuyển quyền kiểm  
soát sang "Chương trình chính", duy trì hoạt  
động tại GMPP mới này.  
Trường hợp 2: Điểm MPP còn lại nằm bên  
trái đường cong đặc tuyến P-V. Như vậy  
chỉ có các tấm pin có bức xạ cao hơn sẽ có  
điện áp còn các tấm pin còn lại thì điện áp  
bằng 0. Do đó, điểm MPP sẽ do có điện áp  
là điện áp có công suất cực đại của các tấm  
pin này. Nếu số các tấm pin có điện áp  
3.2 Giải thuật xác định điểm GMPP được  
đề xuất.  
M
bằng 0 là  
như được đếm trong khối 11,  
Theo nhận xét ở trên, khi có hiện tượng  
bóng che, nếu điểm MPP mới thu được bằng  
giải thuật P&O có điện áp của bất cứ tấm pin  
nào bằng 0 thì điểm MPP đó sẽ nằm bên trái  
trong 2 điểm MPP của đường cong đặc tuyến  
P-V. Nhiệm vụ của mạch giải thuật MPPT là  
tìm giá trị công suất của điểm MPP còn lại rồi  
so sánh với giá trị thu được để xác định điểm  
GMPP.  
số tấm pin có điện áp khác 0 sẽ là N M  
. Điện áp hở mạch của nhóm các tấm pin  
mặt trời này là N M / N *Voc . Do đó điểm  
MPP của nó có điện áp vào khoảng  
0.8* N M / N *V . Do đó điện áp tham  
oc  
chiếu để có thể đưa điểm làm việc về điểm  
MPP được đặt là  
Vref 0.8* N M / N *V như được đề cập  
oc  
trong khối 12. Khối 13 và 14 có nhiệm vụ  
Giải thuật GMPP được đề xuất trong  
đưa điểm làm việc về điểm MPP còn lại.  
Hꢀnh 5 có nguyên tắc hoạt động như trình bày  
BEGIN  
BEGIN  
11. Count M  
number of Vi =0; i=1, , 4  
N
7. Vi =0; i=1, , 4  
Y
1. Vref=0.85Voc  
Count number of module N  
8. Vref=0.8*Voc  
12. Vref=0.8*(1-M/N)*Voc  
9. Measure Vpv, Ipv  
Call P&O  
13. Measure Vpv, Ipv  
Call P&O  
2. Measure Vpv, Ipv  
Call P&O  
N
N
10. MPP tracked?  
Y
14. MPP tracked?  
Y
N
3. MPP tracked?  
Y
15. Store new MPP:  
Pmax_new, Vmax_new  
N
16. Pmax_last > Pmax_new  
4. Store last MPP:  
Pmax_last, Vmax_last  
Y
17. Vref=Vmax_last  
18. Vref=Vmax_new  
V Vj Const  
i
N
END  
5.  
i, j 1,..., N  
Hình 5 Lưu đồ chương trình xác định điểm  
GMPP  
Y
Bước 3: Tìm điểm GMPP từ thông số của  
hai điểm MPP đã thu được ở trên. Điểm  
MPP có công suất lớn hơn chính là điểm  
GMPP và điện áp của điểm này chính là  
điện áp tham chiếu cho hệ thống để đưa hệ  
thống pin mặt trời về điểm GMPP thực sự.  
Khối 15 có nhiệm vụ lưu thông số điểm  
MPP trong bước 2. Khối 16 có nhiệm vụ  
xác nhận điểm GMPP bằng cách so sánh  
các công suất với nhau. Điện áp tham  
chiếu sẽ được đặt bằng điện áp tại điểm  
MPP trước đó (khối 17) nếu công suất tại  
điểm MPP trước đó có công suất cao hơn  
điểm MPP sau này. Và ngược lại, điện áp  
6. Call GP_MPPT  
Hình 4 Lưu đồ chương trình chính  
   
tham chiếu sẽ được đặt bằng điện áp tại  
điểm MPP sau (khối 18).  
Hꢀnh 7 thể hiện các thông số điện áp trên  
các tấm pin mặt trời tại ngõ ra theo điện áp  
làm việc của hệ thống pin được mắc như trong  
Hꢀnh 6. Tương tự các phân tích như trong  
trường hợp có hai mức bức xạ khác nhau được  
trình bày ở trên. Nhận thấy rằng điểm MPP  
nằm cuối cùng bên phải (điểm làm việc có  
Vm' ppt  
3.3 Khi số mức bức xạ mặt trời nhiều hơn  
hai  
+Vpv  
+Vpv  
mức điện áp  
) sẽ có các tấm pin mặt trời  
Vpv1  
Vpv2  
Vpv3  
Vpv1  
Vpv2  
Vpv3  
với các mức điện áp khác nhau và khác không.  
Như vậy, nếu xuất hiện bao nhiêu nhóm điện  
áp trên các tấm pin thì sẽ có bấy nhiêu bức xạ  
khác nhau được chiếu lên hệ thống pin này.  
Tương ứng với điều đó là sẽ có bấy nhiêu  
điểm MPP cần phải xác định.  
Như vậy, trong trường hợp có nhiều hơn  
hai mức bức xạ khác nhau chiếu vào các tấm  
pin mặt trời thì lưu đồ chương trình xác định  
điểm GMPP sẽ được điều chỉnh lại như trong  
Hꢀnh 8. Lưu đồ được xây dựng dựa trên các  
bước thực hiện sau:  
Bước 1: Kiểm tra vị trí MPP hiện tại có  
phải là vị trí cuối cùng bên phải hay chưa.  
Nếu còn tồn tại bất kì một tấm pin nào có  
giá trị điện áp nhỏ hơn không (tấm pin đó  
ngắn mạch) thì điểm MPP hiện tại chưa  
phải là điểm MPP bên phải (khối 1). Như  
vậy việc chia các tấm pin thành các mức  
điện áp khác nhau chưa đảm bảo sự chính  
xác vì có thể có các tấm pin khác nhau cũng  
đều có thể bị ngắn mạch như biểu diễn  
Vpv4  
-Vpv  
Vpv4  
-Vpv  
(a)  
(b)  
Hình 6 Sơ đồ các tấm pin PV được chiều  
nhiều bức xạ khác nhau  
Khi các tấm PV được chiếu nhiều mức  
bức xạ mặt trời khác nhau thì theo phân tích ở  
trên các tấm pin có cùng mức bức xạ tạo thành  
các nhóm pin có điện áp khác nhau. Giả sử  
như trên Hꢀnh 6 bốn tấm pin PV được chiếu  
bởi bốn mức bức xạ khác nhau. Các mức bức  
xạ này sẽ tạo ra các mức dòng điện và điện áp  
khác nhau tương ứng với các điện áp làm việc  
khác nhau.  
Nếu chưa phải là điểm MPP nằm tận  
cùng bên trái thì phải đưa điểm hoạt  
động của hệ thống pin về làm việc tại  
điểm này.  
Nếu điểm MPP hiện nằm bên phải thì  
khi đó sẽ bỏ qua bước xác định MPP  
nằm bên trái.  
Bước 2: Đưa điểm hoạt động về điểm MPP  
nằm tận cùng bên phải đường cong đặc  
tuyến. Bước này được thực hiện nếu như  
sau khi có hiện tượng bóng che mà điểm  
MPP thu được không phải là điểm nằm tận  
cùng bên phải. Để làm được điểm này, điện  
Vref 0.85*Voc  
áp tham chiếu được chọn là  
(khối 2). Sau khi thực hiện giải thuật  
MPPT P&O thông thường thì điểm MPP  
này sẽ nhận được xác định (khối 3 và 4).  
Như vậy, sau bước 2 thì điểm làm việc của  
Hình 7 Dạng sóng điện áp và dòng điện khi  
có bốn bức xạ khác nhau  
   
hệ thống pin sẽ được đưa về điểm MPP tận  
cùng bên phải.  
7. Set j=1  
BEGIN  
8. Set Vref=0.85(1-(N-ΣMj)/N)Voc  
N
1. Vi <0; i=1, , 4  
9. Measure Vpv, Ipv  
Call P&O  
Y
2. Vref=0.85*Voc  
N
10. MPP tracked?  
Y
3. Measure Vpv, Ipv  
Call P&O  
12. Store MPPj:  
Pmax_j, Vmax_j  
N
4. MPP tracked?  
Y
13. J=q-1?  
5. Store last MPP:  
Pmax_q, Vmax_q  
14. [Pmax, Vmax]=max{Pmax_j} j=1:q  
6. Divides all PV modules into  
q groups (G1<G2<...<Gq)  
Calculate the number of PV  
module in the every group,  
M1,M2, ,Mq  
15. Vref=Vmax  
END  
Hình 8 Lưu đồ chương trình xác định GMPP cải tiến cho nhiều mức bức xạ khác nhau  
Bước 4: Xác định giá trị điện áp và công  
suất tương ứng với q đỉnh MPP. Trong  
bước này, dựa vào số lượng các mức bức  
xạ mặt trời q xác định được trong bước 2,  
sẽ có q đỉnh công suất cực đại tương ứng.  
Các điểm MPP được xác định theo thứ tự  
từ phải sang trái (khối 7) với giá trị điện áp  
Bước 3: Xác định số lượng các bức xạ khác  
nhau và số lượng các tấm pin tương ứng  
với mỗi loại bức xạ. Với điện áp đo được  
tại hai đầu các tấm pin được gửi về bộ điều  
khiển, các mức điện áp này được phân  
thành q mức khác nhau lần lượt từ thấp lên  
cao ứng với các tên gọi lần lượt là  
Vref  
tham chiếu  
được thực hiện theo công  
thức 1N M / N *Voc (khối 8). Sau khi  
1   
G1,G2 ,...,Gq  
. Tương ứng với mỗi nhóm bức  
chọn được giá trị tham chiếu nằm trong  
đường cong chứa đỉnh MPP cần tìm, thuật  
toán P&O được sử dụng để điểm làm việc  
tiến về điểm MPP (khối 9 và 10). Cứ như  
thế lần lượt các đỉnh MPP còn lại sẽ được  
tìm thấy khi tăng giá trị biến j lên. Đến khi  
xạ này sẽ tính ra được số lượng các tấm pin  
trong mỗi nhóm với các giá trị lần lượt là  
M1,M2 ,...,Mq  
tương ứng với các mức điện  
G1,G2 ,...,Gq  
áp  
(khối 6).  
 
sẽ tác động lên các tấm pin NLMT và làm  
dòng điện đầu ra của chúng cũng thay đổi theo.  
Kết quả của sự thay đổi này sẽ thu được mối  
liên hệ giữa điện áp và dòng điện tại ngõ ra  
của các tấm pin mặt trời như được thể hiện  
trong Hꢀnh 10 bên dưới.  
nào  
(khối 11).  
thì bước lặp này kết thúc  
j q1  
Bước 5: Xác định điểm GMPP. Điểm  
GMPP được xác định bằng cách so sánh  
các giá trị công suất của các điểm MPP thu  
được trong bước 4 với nhau. Điểm MPP  
nào có giá trị lớn nhất sẽ được chọn làm  
P
max   
điểm GMPP  
(khối 14) và điện áp  
tương ứng của điểm đó được chọn làm điện  
áp tham chiếu  
Vmax (khối 15).  
V
ref  
Như vậy, qua 5 bước trên thì điểm GMPP  
được xác định một cách nhanh chóng trong  
trường hợp có số lượng bức xạ mặt trời lớn  
hơn hai.  
4. KẾT QUẢ MÔ PHỎNG  
Hình 10 Tương quan điện áp – dòng điện  
trong mô hình kiểm chứng  
4.1 Mô hình kiểm tra công suất dãy pin  
NLMT khi bị bóng che một phần.  
Kết quả thu được từ mối quan hệ dòng  
điện và điện áp đầu ra hệ thống pin NLMT sẽ  
cho ta kết quả mối liên hệ giữa điện áp và công  
suất ngõ ra của pin NLMT tại các mức bức xạ  
mặt trời tương ứng khác nhau. Một cách trực  
quan, điểm công suất cực đại toàn cục và điểm  
công suất cực đại địa phương cũng sẽ được  
xác định như được minh họa trong Hꢀnh 11.  
Để có thể đánh giá được hiệu quả và độ  
chính xác trong việc xác định điểm GMPP  
trong phương pháp MPPT trong điều kiện  
bóng che được đề xuất, một mô hình xác định  
mối tương quan giữa công suất và điện áp tại  
ngõ ra các tấm pin trong điều kiện bóng che  
một phần được thực hiện. Hꢀnh 9 mô tả chi  
tiết mô hình mô phỏng được đề xuất. trong mô  
hình bao gồm một dãy 4 pin NLMT được mắc  
nối tiếp nhau với các mức bức xạ mặt trời khác  
nhau tùy từng điều kiện mô phỏng. Ngõ ra của  
các tấm pin này được mắc vào một nguồn  
dòng có điều khiển nhằm điều chỉnh linh hoạt  
điện áp ngõ ra của các tấm pin mặt trời.  
Hình 11 Tương quan điện áp – dòng điện  
trong mô hình kiểm chứng  
4.2 Kết quả mô phỏng  
Để đánh giá tổng quan hiệu quả của  
phương pháp dò tìm điểm GMPP trong điều  
kiện bóng che một phần được đề xuất qua luận  
văn, nhiều trường hợp mô phỏng khác nhau  
được thực hiện nhằm bao quát các điều kiện  
có khả năng trong quá trình hoạt động được  
thực hiện và các kết quả thu nhận được sẽ  
được trình bày chi tiết trong các phần dưới đây.  
Hình 9 Mô hình hóa mô phỏng hệ thống pin  
NLMT kiểm chứng  
Trong mỗi trường hợp mô phỏng, mức  
bức xạ ban đầu được giữ bằng nhau tại tất cả  
Khi điện áp trên nguồn một chiều thay đổi  
     
các tấm pin, sau thời gian 0.5s sẽ xuất hiện  
hiện tượng bóng che một phần trên hệ thống  
pin này. Lúc này lượng bức xạ mặt trời mỗi  
tấm pin thu được có sự thay đổi không giống  
nhau và lần lượt nhận các mức bức xạ khác  
nhau. Khi đó giải thuật dò tìm MPPT trong  
điều kiện bóng che được đề xuất sẽ được dùng  
để xác định vị trí GMPP trên hệ thống pin này.  
Nhiều mức bức xạ mặt trời khác nhau được  
đưa ra với vị trí GMPP thay đổi khác nhau khi  
so với vị trí các LMPP sẽ được dùng để đánh  
giá khả năng dò tìm được điểm GMPP của hệ  
thống trong giải thuật được đề xuất. Các kết  
quả qua quá trình mô phỏng được ghi nhận  
trong từng trường hợp cụ thể như bên dưới.  
GMPP nên hệ thống không thể xác định điểm  
công suất cực đại mới này có phải là điểm  
GMPP hay không. Lúc này giải thuật tìm kiếm  
GMPP được khởi động sau khi có sự thay đổi  
điểm là việc của hệ thống pin. Sau quá trình  
tìm kiếm khoảng 0.8s (tại thời điểm 1.3s), hệ  
thống đã xác định đúng được điểm GMPP với  
các thông số được đưa ra như trên.  
4.3 Khi BXMT trên các tấm pin lần  
lượt là 400, 500, 600, 700 W/m2  
Trong trường hợp bức xạ mặt trời trên  
mỗi tấm pin lần lượt là 400, 500, 600, 700  
W/m2, kết quả thực thi mối liên hệ giữa công  
suất ngõ ra và điện áp trên các tấm pin được  
thể hiện như trong Hꢀnh 12. Qua hình có thể  
nhận thấy điểm GMPP đạt được tại mức điện  
áp 73.78V và có công suất cực đại lúc này là  
2135.81W  
Hình 13 Công suất và điện áp ngõ ra hệ  
thống pin NLMT trong thời gian mô phỏng  
với mức BXMT từ 1000W/m2 sang 400, 500,  
600, 700 W/m2  
Hình 14 Công suất và điện áp ngõ ra hệ  
thống pin NLMT trong thời gian mô phỏng  
với mức BXMT từ 500W/m2 sang 400, 500,  
600, 700 W/m2  
Hình 12 Mối tương quan P-V của hệ thống  
PV khi tại các mức bức xạ mặt trời lần lượt  
là 400, 500, 600, 700 W/m2  
Trong trường hợp thứ hai, bức xạ mặt trời  
ban đầu được chọn là 500 W/m2, sau 0.5s thì  
bức xạ mặt trời trên mỗi tấm pin sẽ lần lượt là  
400, 500, 600, 700 W/m2. Kết quả đạt được  
trong mô phỏng được thể hiện như trong Hꢀnh  
14. Qua kết quả này nhận thấy khi có sự thay  
đổi cường độ bức xạ mặt trời tại thời điểm 0.5s,  
hệ thống đã nhanh chóng điều chỉnh điện áp  
ngõ ra hệ thống PV nhằm đưa điểm hoạt động  
về điểm MPP mới. Tuy nhiên, do chưa có sự  
tham gia của giải thuật tìm kiếm GMPP nên  
hệ thống không thể xác định điểm công suất  
cực đại mới này có phải là điểm GMPP hay  
không. Lúc này giải thuật tìm kiếm GMPP  
Trong trường hợp thứ nhất, bức xạ mặt  
trời ban đầu được chọn là 1000 W/m2, sau  
0.5s thì bức xạ mặt trời trên mỗi tấm pin sẽ lần  
lượt là 400, 500, 600, 700 W/m2. Kết quả đạt  
được trong mô phỏng được thể hiện như trong  
Hꢀnh 13. Qua kết quả này nhận thấy khi có sự  
thay đổi cường độ bức xạ mặt trời tại thời  
điểm 0.5s, hệ thống đã nhanh chóng điều  
chỉnh điện áp ngõ ra hệ thống PV nhằm đưa  
điểm hoạt động về điểm MPP mới. Tuy nhiên,  
do chưa có sự tham gia của giải thuật tìm kiếm  
     
được khởi động sau khi có sự thay đổi điểm là  
việc của hệ thống pin. Sau quá trình tìm kiếm  
khoảng 0.8s (tại thời điểm 1.3s), hệ thống đã  
xác định đúng được điểm GMPP với các  
thông số được đưa ra như trên.  
4.4 Khi BXMT trên các tấm pin lần  
lượt là 400, 600, 800, 1000 W/m2  
Trong trường hợp bức xạ mặt trời trên  
mỗi tấm pin lần lượt là 400, 600, 800, 1000  
W/m2, kết quả thực thi mối liên hệ giữa công  
suất ngõ ra và điện áp trên các tấm pin được  
thể hiện như trong Hꢀnh 15. Qua hình có thể  
nhận thấy điểm GMPP đạt được tại mức điện  
áp 53.87V và có công suất cực đại lúc này là  
2325.48W  
Hình 16 Công suất và điện áp ngõ ra hệ  
thống pin NLMT trong thời gian mô phỏng  
với mức BXMT từ 1000W/m2 sang 400, 600,  
800, 1000 W/m2  
Trong trường hợp thứ hai, bức xạ mặt trời  
ban đầu được chọn là 500 W/m2, sau 0.5s thì  
bức xạ mặt trời trên mỗi tấm pin sẽ lần lượt là  
400, 600, 800, 1000 W/m2. Kết quả đạt được  
trong mô phỏng được thể hiện như trong Hꢀnh  
17. Qua kết quả này nhận thấy khi có sự thay  
đổi cường độ bức xạ mặt trời tại thời điểm 0.5s,  
hệ thống đã nhanh chóng điều chỉnh điện áp  
ngõ ra hệ thống PV nhằm đưa điểm hoạt động  
về điểm MPP mới. Tuy nhiên, do chưa có sự  
tham gia của giải thuật tìm kiếm GMPP nên  
hệ thống không thể xác định điểm công suất  
cực đại mới này có phải là điểm GMPP hay  
không. Lúc này giải thuật tìm kiếm GMPP  
được khởi động sau khi có sự thay đổi điểm là  
việc của hệ thống pin. Sau quá trình tìm kiếm  
khoảng 0.9s (tại thời điểm 1.4s), hệ thống đã  
xác định đúng được điểm GMPP với các  
thông số được đưa ra như trên.  
Hình 15 Mối tương quan P-V của hệ thống  
PV khi tại các mức bức xạ mặt trời lần lượt  
là 400, 600, 800, 1000 W/m2  
Trong trường hợp thứ nhất, bức xạ mặt  
trời ban đầu được chọn là 1000 W/m2, sau  
0.5s thì bức xạ mặt trời trên mỗi tấm pin sẽ lần  
lượt là 400, 600, 800, 1000 W/m2. Kết quả đạt  
được trong mô phỏng được thể hiện như trong  
Hꢀnh 16. Qua kết quả này nhận thấy khi có sự  
thay đổi cường độ bức xạ mặt trời tại thời  
điểm 0.5s, hệ thống đã nhanh chóng điều  
chỉnh điện áp ngõ ra hệ thống PV nhằm đưa  
điểm hoạt động về điểm MPP mới. Tuy nhiên,  
do chưa có sự tham gia của giải thuật tìm kiếm  
GMPP nên hệ thống không thể xác định điểm  
công suất cực đại mới này có phải là điểm  
GMPP hay không. Lúc này giải thuật tìm kiếm  
GMPP được khởi động sau khi có sự thay đổi  
điểm là việc của hệ thống pin. Sau quá trình  
tìm kiếm khoảng 0.9s (tại thời điểm 1.4s), hệ  
thống đã xác định đúng được điểm GMPP với  
các thông số được đưa ra như trên.  
Hình 17 Công suất và điện áp ngõ ra hệ  
thống pin NLMT trong thời gian mô phỏng  
với mức BXMT từ 500W/m2 sang 400, 600,  
800, 1000 W/m2  
     
phương pháp có thể tính toán số lượng đỉnh  
trên các đường cong P V V và nhanh chóng  
xác định vị trí của các GMPP và LMPP.  
5. KẾT LUẬN  
Việc phát hiện MPP toàn cầu là không thể  
thiếu trong việc tối đa hóa việc sản xuất năng  
lượng của hệ thống PV trong trường hợp bóng  
PV một phần. Trong bài báo này, một phương  
pháp đã được trình bày để theo dõi MPP toàn  
cầu của một mảng PV. Phương pháp có những  
ưu điểm sau.  
3) Bằng cách tính toán số lượng mô-đun  
PV trong mỗi nhóm, phương pháp có thể dự  
đoán vị trí của các GMPP hoặc LMPP. Điều  
này cắt giảm thời gian theo dõi.  
Các kết quả mô phỏng xác minh rằng  
phương pháp được đề xuất xác định sự hiện  
diện của bóng một phần và đảm bảo sự hội tụ  
cho MPP toàn cầu trong các điều kiện bóng  
một phần.  
1) Khi so sánh điện áp của mọi mô-đun  
PV, phương pháp có thể phát hiện sự hiện diện  
của bóng một phần và tránh quét mù.  
2) Bằng cách tách điện áp của tất cả các  
mô đun PV thành các nhóm khác nhau,  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Weidong Xiao and W. G. Dunford, “A modified adaptive hill climbing MPPT method  
for photovoltaic power systems,” in 2004 IEEE 35th Annual Power Electronics  
Specialists Conference (IEEE Cat. No.04CH37551), pp. 1957–1963.  
[2] N. Femia, G. Petrone, G. Spagnuolo, and M. Vitelli, “Optimization of Perturb and  
Observe Maximum Power Point Tracking Method,” IEEE Trans. Power Electron., vol.  
20, no. 4, pp. 963–973, Jul. 2005.  
[3]  
and Y. K. F. Liu, S. Duan, Fei Liu, B. Liu, “AVariable Step Size INCMPPT Method for  
PV Systems,” IEEE Trans. Ind. Electron., vol. 55, no. 7, pp. 2622–2628, 2008.  
[4] J. W. Kimball and P. T. Krein, “Discrete-Time Ripple Correlation Control for Maximum  
Power Point Tracking,” IEEE Trans. Power Electron., vol. 23, no. 5, pp. 2353–2362, Sep.  
2008.  
[5] H. Patel and V. Agarwal, “MATLAB-Based Modeling to Study the Effects of Partial  
Shading on PV Array Characteristics,” IEEE Trans. Energy Convers., vol. 23, no. 1, pp.  
302–310, Mar. 2008.  
[6] N. Thakkar, D. Cormode, V. P. A. Lonij, S. Pulver, and A. D. Cronin, “A simple non-  
linear model for the effect of partial shade on PV systems,” in 2010 35th IEEE  
Photovoltaic Specialists Conference, 2010, pp. 002321–002326.  
[7] A. Karavadi and R. S. Balog, “Novel non-flat photovoltaic module geometries and  
implications to power conversion,” in 2011 IEEE Energy Conversion Congress and  
Exposition, 2011, pp. 7–13.  
[8] S. Vemuru, P. Singh, and M. Niamat, “Modeling impact of bypass diodes on photovoltaic  
cell performance under partial shading,” in 2012 IEEE International Conference on  
Electro/Information Technology, 2012, pp. 1–5.  
[9] W. Herrmann, W. Wiesner, and W. Vaassen, “Hot spot investigations on PV modules-  
new concepts for a test standard and consequences for module design with respect to  
bypass diodes,” in Conference Record of the Twenty Sixth IEEE Photovoltaic Specialists  
Conference - 1997, pp. 1129–1132.  
[10] M. C. A. García, W. Herrmann, W. Böhmer, and B. Proisy, “Thermal and electrical effects  
caused by outdoor hot-spot testing in associations of photovoltaic cells,” Prog.  
Photovoltaics Res. Appl., vol. 11, no. 5, pp. 293–307, Aug. 2003.  
[11] E. Karatepe, M. Boztepe, and M. Çolak, “Development of a suitable model for  
characterizing photovoltaic arrays with shaded solar cells,” Sol. Energy, vol. 81, no. 8,  
pp. 977–992, Aug. 2007.  
[12] A. Bidram, A. Davoudi, and R. S. Balog, “Control and Circuit Techniques to Mitigate  
Partial Shading Effects in Photovoltaic Arrays,” IEEE J. Photovoltaics, vol. 2, no. 4, pp.  
532–546, Oct. 2012.  
[13] H. Patel and V. Agarwal, “Maximum Power Point Tracking Scheme for PV Systems  
Operating Under Partially Shaded Conditions,” IEEE Trans. Ind. Electron., vol. 55, no.  
4, pp. 1689–1698, Apr. 2008.  
[14] A. Zbeeb, V. Devabhaktuni, and A. Sebak, “Improved photovoltaic MPPT algorithm  
adapted for unstable atmospheric conditions and partial shading,” in 2009 International  
Conference on Clean Electrical Power, 2009, pp. 320–323.  
[15] S. M. R. K.ꢀ; H. G.ꢀ; O. I.ꢀ; H.-J. Guo, “An improved and very efficient MPPT controller  
for PV systems subjected to rapidly varying atmospheric conditions and partial shading,”  
in 2009 Australasian Universities Power Engineering Conference.  
[16] E. Koutroulis and F. Blaabjerg, “A New Technique for Tracking the Global Maximum  
Power Point of PV Arrays Operating Under Partial-Shading Conditions,” IEEE J.  
Photovoltaics, vol. 2, no. 2, pp. 184–190, Apr. 2012.  
[17] B. V. P. Chong and L. Zhang, “Controller design for integrated PV–converter modules  
under partial shading conditions,” Sol. Energy, vol. 92, pp. 123–138, Jun. 2013.  
[18] Ma Lei, Sun Yaojie, Lin Yandan, Bai Zhifeng, Tong Liqin, and Song Jieqiong, “A high  
performance MPPT control method,” in 2011 International Conference on Materials for  
Renewable Energy & Environment, 2011, pp. 195–199.  
[19] P. Sharma and V. Agarwal, “Comparison of model based MPPT and exact MPPT for  
current equalization in partially shaded PV strings,” Conf. Rec. IEEE Photovolt. Spec.  
Conf., pp. 2948–2952, 2013.  
[20] K. M. Tsang and W. L. Chan, “Maximum power point tracking for PV systems under  
partial shading conditions using current sweeping,” Energy Convers. Manag., vol. 93,  
pp. 249–258, Mar. 2015.  
[21] H. R. Mohajeri, M. P. Moghaddam, M. Shahparasti, and M. Mohamadian, “Development  
a new algorithm for maximum power point tracking of partially shaded photovoltaic  
arrays,” in 20th Iranian Conference on Electrical Engineering (ICEE2012), 2012, pp.  
489–494.  
[22] I. Abdalla, J. Corda, and L. Zhang, “Multilevel DC-Link Inverter and Control Algorithm  
to Overcome the PV Partial Shading,” IEEE Trans. Power Electron., vol. 28, no. 1, pp.  
14–18, Jan. 2013.  
Tác giả chịu trách nhiệm bài viết:  
Xác nhận của Giảng viên hướng dẫn  
Họ tên: Nguyễn Cao Danh  
(Ký & ghi rõ họ tên)  
Đơn vị: Trường Cao Đẳng Kỹ Thuật Công  
Nghệ Bà Rịa – Vũng Tàu  
Điện thoại: 0373.866.732 – 0928.432.809  
Email:  
–
PGS. TS. Lê Chí Kiên  
BÀI BÁO KHOA HỌC  
THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ  
Bài báo khoa học của học viên  
có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn  
Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ  
Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ bởi Luật xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.  
Nghiêm cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý  
của tác giả và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh.  
ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN!  
Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2019-2020 của Thư viện Trường Đại học  
Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.  
pdf 14 trang Mãnh Khiết 09/01/2024 16740 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tối ưu hóa hoạt động của hệ thống pin mặt trời", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftoi_uu_hoa_hoat_dong_cua_he_thong_pin_mat_troi.pdf