Tiểu luận Truyền nhiệt không ổn định - Đề tài: Nướng bánh chưng (nguyên lá) - Diệp Thế Viễn

Trường Đại học Bách Khoa Tp.HCM  
Bộ môn Máy & Thiết bị  
  
TIỂU LUẬN  
TRUYỀN NHIỆT KHÔNG ỔN ĐỊNH  
NHÓM:14  
ĐỀ TÀI: NƯỚNG BÁNH CHƯNG  
(NGUYÊN LÁ)  
CBHD: PHẠM VĂN BÔN  
SVTH: 1. Diệp Thế Viễn  
2. Lê Thanh Nghị  
60802594  
60801375  
60801614  
60801882  
60801334  
3. Lâm Kỳ Phương  
4. Phạm Thanh Tâm  
5. Trần Thanh Nga  
Tp.HCM 28/5/2010  
1
MỞ ĐẦU  
1.1 Ý nghĩa (hay vai trò) của quá trình nướng trong  
Công nghệ thực phẩm:  
Nướng là một cách nấu mà thực phẩm được đặt vào môi  
trường có nhiệt độ cao  
✓ Để cho chín với bề ngoài bị cháy  
✓ Tạo mùi thơm  
✓ Tạo màu cho thực phẩm  
1.2 Giới thiệu về bánh chưng  
Hình 1.1: Bánh chưng  
2
1.2.1 Lịch sử của bánh chưng:  
Bánh chưng có liên quan đến truyền thuyết Lang Liêu, xảy  
ra vào đời vua Hùng thứ 6 :  
Ngày xưa, đời vua Hùng Vương thứ 6, sau khi đánh dẹp  
xong giặc Ân, vua có ý định truyền ngôi cho con.  
Nhân dịp đầu Xuân, vua Hùng họp các hoàng tử lại và yêu  
cầu các hoàng tử đêm dâng lên vua cha thứ mà họ cho là quí  
nhất để cúng lên bàn thờ tổ tiên nhân ngày đầu xuân.  
Các hoàng tử đua nhau tìm kiếm của ngon vật lạ dâng lên  
cho vua cha, với hy vọng mình lấy được ngai vàng.  
Trong khi đó, người con trai thứ 18 của Hùng Vương là Tiết  
Liêu (còn gọi là Lang Liêu) có tính tình hiền hậu, lối sống đạo  
đức. Ông sống gần gũi với người nông dân lao động nghèo khổ  
nên ông lo lắng không có gì quí giá để dâng lên vua cha.  
Một hôm Tiết Liêu nằm mộng thấy có vị Thần đến bảo:  
"Này con, vật trong Trời Đất không có gì quý bằng gạo, vì gạo  
là thức ăn nuôi sống con người. Con hãy nên lấy gạo nếp làm  
bánh hình tròn và hình vuông, để tượng hình Trời và Đất. Hãy  
lấy lá bọc ngoài, đặt nhân trong ruột bánh, để tượng hình Cha  
Mẹ sinh thành." Tiết Liêu tỉnh dậy, vô cùng mừng rỡ. Ông làm  
theo lời Thần dặn, chọn gạo nếp thật tốt làm bánh vuông để  
tượng hình Đất, bỏ vào chõ chưng chín gọi là bánh chưng. Và  
ông giã xôi làm bánh tròn, để tượng hình Trời, gọi là bánh giầy.  
Còn lá xanh bọc ở ngoài và nhân ở trong ruột bánh là tượng  
hình cha mẹ yêu thương đùm bọc con cái.  
Đến ngày hẹn, các hoàng tử đều đem thức ăn đến bày trên  
mâm cỗ, đủ cả sơn hào hải vị, nhiều món ngon lành. Hoàng tử  
Tiết Liêu thì chỉ có Bánh Giầy và Bánh Chưng. Vua Hùng  
Vương lấy làm lạ hỏi, thì Tiết Liêu đem chuyện Thần báo mộng  
kể, giải thích ý nghĩa của Bánh Dầy Bánh Chưng. Vua cha nếm  
thử, thấy bánh ngon, khen có ý nghĩa, bèn truyền ngôi vua lại  
cho Tiết Liêu.  
Kể từ đó, mỗi khi đến Tết Nguyên Đán, thì dân chúng làm  
bánh Chưng và bánh Dầy để dâng cúng Tổ Tiên và Trời Đất.  
Và cho đến nay, bánh chưng luôn có sự hiện diện trong đời  
sống văn hoá ẩm thực và văn hoá tâm linh của người Việt Nam.  
Có thể nói bánh chưng là một sản vật vừa có sức trường tồn mà  
lại rất gần gũi với đời sống thường nhật của người Việt Nam  
trong cả hai lĩnh vực: Văn hoá ẩm thực và văn hoá tâm linh.  
3
Trong những ngày tết Nguyên Đán, không có gia đình Việt  
Nam nào lại thiếu vắng những chiếc bánh chưng xanh trên bàn  
thờ, trên mâm cúng ông bà, ông vải. Bánh chưng có thể được tự  
làm ra từ khi gieo hạt, trồng cấy, thu hái, xay giã, gói luộc đối  
với người nông dân ở miền xuôi, miền ngược, miền Bắc, miền  
Nam. Và, bánh chưng cũng có thể được mua như mua các loại  
hàng hoá khác đối với những người dân các vùng đô thị trong  
nước và ở nước ngoài. Chiếc bánh chưng ngày tết dù tự túc, tự  
sản hay được mua bán như những thứ hàng hoá khác nhưng đều  
có chung một điểm: Đó là sản vật không thể thiếu để dâng cúng  
lên cha mẹ, ông bà, tổ tiên trong ngày Tết. Một nét đẹp lâu đời  
nhất, truyền thống nhất trong văn hoá tâm linh của người Việt  
Nam.  
Ngày nay, trong sản xuất nông nghiệp với xu thế chuyển đổi  
nông sản thành hàng hoá, việc trồng cấy đại trà và tạo ra những  
vùng nguyên liệu chuyên canh là một xu thế tất yếu. Tuy vậy,  
vẫn còn không ít những gia đình nông dân vẫn còn lưu giữ một  
tập quán lâu đời: Đó là việc dành riêng một một khoảnh, một  
thửa đất để trồng cấy các giống nếp quý, chỉ dùng cho việc cúng  
lễ hay những ngày trọng trong năm. Từ việc chọn giống như  
giống nếp cái hoa vàng, giống nếp hương …, lúa gặt về được  
nhặt từng bông, lựa những bông có hạt chắc, mẩy đều rồi buộc  
thành từng túm nhỏ treo trên sào cốt tránh lẫn các loại lúa khác.  
Đến mùa gieo mạ mới đem xuống dùng đĩa xứ, hoặc vỏ con trai  
cạo từng túm chứ không đập. Quá trình chăm sóc luôn giữ đủ  
nước, vừa phân và xa các khu ruộng trồng các loại lúa tẻ để  
tránh lai tạp. Khi gặt về cũng lựa từng bông và bảo quản bằng  
các túm nhỏ trên sào tre. Giáp tết hay những ngày trọng mới  
đem suột và xay giã làm gạo để gói bánh chưng hoặc đồ xôi.  
Những việc làm cẩn thận, cầu kỳ đến tỉ mẩn này không chỉ thể  
hiện sự “sành ăn” vì giống nếp quý lại không lẫn tẻ, không bị lai  
tạp nên khi gói luộc, bánh chưng sẽ dẻo, rền và thơm hương nếp  
cùng lá dong xanh mà còn thể hiện sự tôn kính đối với các thế  
hệ tiền nhân.  
Và cũng đã có những cuộc thi nói về bánh chưng được tổ  
chức như hội thi nấu bánh chưng và giã bánh dày trong khuôn  
khổ các hoạt động Giỗ Tổ Hùng Vương- Lễ hội Đền Hùng 2010  
diễn ra tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng ngày 19-4 (tức mồng 6  
tháng 3 năm Canh Dần). Hội thi quy tụ các các nghệ nhân đến  
từ 10 tỉnh, thành phố là: Hà Nội, Cần Thơ, Hải Dương, Vĩnh  
Phúc, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Hưng Yên, Hòa Bình và  
Phú Thọ (gồm 2 đội: Phú Thọ 1 và Phú Thọ 2). Trong không  
4
khí náo nức của ngày hội non sông và được sự cổ vũ nồng nhiệt  
của hàng ngàn khán giả về dự Lễ hội Đền Hùng, các nghệ nhân  
đã thể hiện sâu sắc lòng tự hào về một mỹ tục truyền thống của  
dân tộc, trình diễn thành thạo các công đoạn gói bánh chưng và  
giã bánh dầy. Bên cạnh các nghệ nhân làng nghề truyền thống  
của các tỉnh phía Bắc, còn có sự góp mặt của các nghệ nhân đến  
từ thành phố Cần Thơ tham gia gói, nấu bánh tét- một sản vật  
đặc trưng của đồng bào Nam Bộ để dâng lên Vua Hùng trong  
ngày giỗ Tổ.  
Hình 1.2: Hội thi nấu bánh chưng và giã bánh dày  
1.2.2 Nguyên liệu làm bánh:  
-
Nếp là quan trọng nhất. Trên thị trường hiện nay có nhiều loại  
nếp, có thể kể ra như:  
+ Nếp Lào (13.000đ/ kg), hạt nếp dài, nấu cũng khá thơm.  
+ Nếp Thái (16.000đ/ kg), hạt nếp dài, thơm nhưng không dẻo.  
+ Nếp Bắc (17.000đ/ kg), hạt nếp tròn, trắng đục, thơm và dẻo.  
+ Nếp Đắng (18.000đ/ kg) hạt nếp tròn, rất dẻo, để được khá lâu.  
- Gạo nếp thu hoạch vụ mùa; gạo thu hoạch vụ này hạt to, tròn,  
dẻo đều và mới thu hoạch sẽ thơm dẻo hơn các vụ khác.  
-
Đậu xanh: chọn loại đỗ trồng ở vùng đồi trung du Việt Nam  
(Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh... sẽ thơm và bở hơn) sau thu  
hoạch đỗ cần phơi nắng đều thật khô, sàng sẩy hết rác, bụi..., phân  
loại hạt rồi đóng vào hũ, lọ... bằng sành là tốt nhất . Ta có thể chọn  
đậu xanh tróc hay đậu xanh cà vỏ  
-
Thịt lợn: chọn lợn ỉn được nuôi hoàn toàn bằng phương pháp  
thủ công (nuôi chuồng hoặc nuôi thả, thức ăn bằng cám rau tự  
nhiên không dùng thuốc tăng trọng hoặc thức ăn gia súc). Chọn thịt  
ba chỉ (ba dọi)  
5
- Lá dong tươi: chọn lá dong rừng to bản, đều nhau, không bị  
rách, màu xanh mướt.  
-
Lạt giang.  
- Hành củ tươi.  
-
-
Muối.  
Bảng 1.3: Các nguyên liệu chính trong bánh chưng  
Nguyên liệu  
Khối lượng  
(gr)  
Gạo nếp  
Đậu xanh  
500  
100  
Thịt lợn có nhiều mỡ 100  
Củ hành tươi  
5
Bảng 1.1: Thành phần nguyên liệu trong bánh chưng  
6
1.2.3 Thành phần dinh dưỡng của chiếc bánh chưng:  
Thành phần dinh dưỡng  
Protid  
Hàm lượng  
79,55 gr  
47,20 gr  
427,84 gr  
0,233 gr  
1,025 gr  
0,016 gr  
0,081 mg  
Lipid  
Glucid  
Canxi  
Photpho  
Sắt  
Vitamin B1  
Vitamin B2  
vitamin PP  
1,68  
0,43  
mg  
mg  
13,21 mg  
Bảng 1.2: Thành phần dinh dưỡng  
(của chiếc bánh chưng trên)  
Cung cấp cho cơ thể được 2.620 calo.  
Chiếc bánh chưng ngày Tết không chỉ là một món ăn cổ truyền  
độc đáo của dân tộc ta, mà nó còn gồm nhiều vị thuốc quý. Nó điều  
hòa được âm dương, lưu thông được khí huyết, giải trừ được bệnh  
tật.  
Gạo nếp chín nhừ trong thủy hỏa có công năng kiên trì, trợ tiêu  
hóa, bổ cả tì dương lẫn tì âm. Thịt lợn tính bình hòa, có hàm lượng  
dinh dưỡng cao. Mỡ lợn làm hoạt tràng vị và tăng cường thể ôn.  
Hành củ (còn gọi là thông bạch) có tác dụng tiêu thực, hoạt huyết  
giảm thống và giải được tà khí. Hạt tiêu ấm tì vị, trợ mệnh môn  
hòa, thông tam tiêu, tiêu thực và sát trùng.  
Cuối cùng là chất diệp lục của lá dong làm cho bánh có màu  
xanh ưa nhìn, thơm, hài hòa với các màu khác trên mâm ngũ quả.  
Lá dong còn có tác dụng giải tiêu độc, nhuận tràng, tiêu thấp nhiệt,  
thông đại tràng, trừ thấp, tiêu viêm.  
Sự điều hòa của mấy vị ấy trong món ăn đã tăng thêm khẩu vị  
ngon, bồi dưỡng sức khỏe tốt. Đó chính là giữ được mức bình quân  
của ngũ hành sinh khắc chế hóa trong cơ thể, lập lại thăng bằng  
trong âm dương.  
7
Không chỉ có nhân dân ta mến mộ lưu truyền (món ăn không  
thể thiếu trong ngày Tết) mà người nước ngoài cũng phải thừa  
nhận bánh chưng là một đặc sản của dân tộc Việt Nam.  
Điều đó chứng tỏ nhân dân ta đã áp dụng tính khoa học tự nhiên  
trong ăn uống, trong phòng bệnh và chữa bệnh từ thời xa xưa.  
8
Bảng 1.3: Thành phần hóa học của bánh chưng  
Tính cho 1 khẩu phần (51g)  
Năng  
lượng  
161  
Năng lượng từ chất béo 13 (8%)  
Số lượng/ Khẩu phần  
Chất béo tổng số 1.6g  
Chất béo bão hòa 0.5g  
Chất béo đa chưa bão hòa 0.3g  
Chất béo đơn chưa bão hòa 0.6g  
Chất béo dạng Trans 0.0g  
Cholesterol 10mg  
Natri 159mg  
%
2%  
2%  
3%  
6%  
5%  
9%  
11%  
Kali 189mg  
Carbohydrate tổng số 27.8g  
Dietary Fiber 3.0g  
Đường 0.0g  
Protein 8.5g  
17%  
0%  
6%  
1%  
0%  
0%  
2%  
10%  
8%  
Vitamin A 3mcg  
Vitamin B6 0.1mg  
Vitamin B12 0.1mcg  
Vitamin C 0mg  
Vitamin E 0mcg  
Canxi 22mg  
Magie 42mg  
Sắt 1mg  
Cồn 0.0g Caffein 0.0mg  
9
Bánh chưng không những là loại bánh cổ truyền trong dịp Tết của  
người Việt Nam mà còn là loại thực phẩm giàu dinh dưỡng và quen  
thuộc của người Việt. Sự phối hợp các thành phần nguyên liệu hợp  
lý giúp bánh chưng trở thành loại bánh hấp dẫn nhiều người tiêu  
dùng. Bánh chưng hiện nay được tiêu thụ trên khắp cả nước không  
chỉ vào dịp tết mà ngày thường bánh vẫn được sản xuất và tiêu thụ.  
Các ưu điểm như thành phần dinh dưỡng cân đối, bảo quản dễ dàng,  
là sản phẩm truyền thống quen thuộc đã khiến nhu cầu tiêu thụ bánh  
chưng ngày càng tăng, mở ra một hướng thương mại hóa và công  
nghiệp hóa loại bánh này.  
Nhưng khi gặp phải những hôm thời tiết nồm hay để lâu, bánh  
chưng bị thiu chua, meo mốc, ăn vào rất nguy hiểm.  
Do có độ ẩm cao và giàu chất dinh dưỡng nên bánh chưng là môi  
trường thích hợp cho nấm mốc phát triển. Vì vậy, bánh chưng để lâu  
gặp trời nồm dễ bị mốc. Mốc làm thay đổi màu sắc, mùi vị của bánh,  
làm giảm hoặc mất hết giá trị dinh dưỡng của bánh.  
Dưới tác dụng của men amilaza của một số nấm mốc, tinh bột  
chuyển thành đường glucoza. Một số men khác lại chuyển tiếp  
glucoza thành rượu éthylic làm bánh bị vữa tại nơi nấm phát triển và  
có vị cay, hăng mùi rượu.  
Một số chủng nấm mốc khác có những men có khả năng lên men  
glucoza, mantoza, tạo thành axit gluconic, axit fumaric... làm bánh bị  
chua.  
Đáng sợ hơn cả là có một số loại nấm mốc tiết ra độc tố gây độc  
cho người ăn, trong đó phải kể đến những nấm thuộc họ Aspergillus  
và họ Penicillium.  
Như vậy, từ một thức ăn ngon, giàu chất dinh dưỡng, bánh chưng  
đã trở thành có hại cho sức khoẻ, ăn vào không những bị đau bụng  
tiêu chảy, mà còn có thể bị nhiễm độc nguy hiểm.  
1.2.4 Đặc điểm và tiêu chuẩn nguyên liệu:  
- Gạo nếp: chọn loại nếp có hạt đều, mẩy ngon nhất là loại nếp cái  
hoa vàng, vừa thơm vừa dẻo. Loại gạo nếp nương của Điện Biên  
cũng rất thơm ngon. Gạo phải ngâm ít nhất là 8 tiếng rồi mới đãi  
sạch sạn, để cho ráo nước, rồi mới gói bánh  
- Đỗ xanh: Chọn loại đỗ xanh tiêu, hạt nhỏ, ruột vàng thì sẽ thơm  
ngon hơn. Đỗ xanh xay vỡ, ngâm trong nước chừng 1-2 giờ rồi đãi  
10  
sạch vỏ xanh, đồ chín, đánh tơi để làm nhân bánh. Tỷ lệ thông  
thường là "8 gạo : 2 đỗ".  
- Thịt lợn: Chọn loại thịt 3 chỉ hoặc thịt vai sấn thì mới ngon;  
không nên chọn loại thịt quá nạc. Thịt rửa sạch thái thành các miếng  
dài chừng 5-7 cm, dày chừng 0,5 cm, ướp muối tiêu cho ngấm chừng  
15 phút trước khi gói bánh.  
- Gia vị các loại: hạt tiêu, hành củ dùng để ướp thịt làm nhân.  
Muối dùng để trộn vào gạo, đỗ xanh và ướp thịt.  
1.3Giới thiệu quy trình công nghệ làm bánh  
chưng:  
11  
1.3.1 Qui trình làm bánh:  
Nướng bánh  
( nguyên lá)  
Vỉ nướng  
Bánh chưng  
nướng  
12  
1.3.2 Giải thích qui trình chế biến:  
Gạo nếp: Để làm bánh chưng phải sử dụng gạo nếp vì bánh bánh  
chưng phải mềm, dẻo, phải để được lâu mà không cứng bánh (do  
tinh bột biến tính). Tinh bột gạo nếp có thành phần chủ yếu là  
amylopectin, amylopectin có tính khả năng tạo dẻo rất tốt khi được  
hồ hóa, đồng thời ít bị biến tính do mạch amylopectin phân rất nhiều  
nhánh nên có khả năng giữ nước rất tốt. Điều này cho phép bảo quản  
bánh trong thời gian dài mà chất lượng bánh ít bị ảnh hưởng.  
Hình 1.4 Gạo tẻ  
Ngâm: Ngâm nước là quá trình hydate hóa (hút nước), khi ngâm  
các phân tử nước sẽ xâm nhập vào giữa các mạch tinh bột tạo các  
liên kết hydro bao quanh các hạt tinh bột làm lực liên kết giữa các  
mạch tinh bột yếu đi, tác rời các nhánh amylopectin làm hạt nếp nở  
ra, mềm đi, rút ngắn thời gian nấu bánh sau này. Ngoài ra có thể bổ  
sung khóm giúp hạt nếp nhanh mềm hơn.  
Bổ sung nhân và gói bánh: Lá dong trước khi gói bánh phải rửa  
sạch nhằm loại bớt vi sinh vật và tạo chất. Nhân bánh bao gồm thịt  
heo, đậu xanh hấp chín nghiền nhuyễn, trứng cút hoặc hột vịt. Các  
phần trên sẽ được nắm lại thành hình thành từng nắm tròn, sau đó đặt  
lên lớp nếp đã trải mỏng và nén chặt gói lại theo hình vuông. Ngoài  
ra bánh chưng còn có thể được gói bằng khuôn vuông nếp sẽ được  
trải dưới đáy khuôn, sau đó rắc lên một lớp đậu xanh rồi xếp thịt mỡ  
, trứng lên, lại phủ một lớp đậu và một lớp nếp nến chặt gói lại. Cuối  
cùng bánh được rưới nước lá riềng lên tạo màu xanh và mùi hương  
đặc trưng cho bánh. Bánh chưng được gói bằng lá dong hoặc lá  
chuối và buộc chặt bằng lạt hay dây nylon. Bánh gói càng kín thì  
13  
thời gian bảo quản càng dài vì sẽ ngăn các vi sinh vật bên ngoài xâm  
nhập vào bánh.  
1.3.3 Thao tác tiến hành:  
1.3.3.1 Sơ chế nguyên liệu: Đây là công đoạn quan trọng  
nhất, quyết định đến chất lượng bánh  
• Lá dong: rửa từng lá thật sạch hai mặt. Dùng dao bài mài thật sắc  
(loại dao nhỏ chuyên dùng để gọt) cắt lột bỏ bớt cuộng lá, để ráo  
nước.  
Hình 1.5 Sau khi rửa lá thật sạch, đêm phơi khô  
14  
Hình 1.6 Lá trước khi gói thì lau lại lần nữa cho sạch  
Hình 1.7 Cắt bỏ phần cuống lá  
15  
Gạo nếp: gạo nhặt loại bỏ hoàn toàn gạo khác lẫn vào, vo thật sạch,  
ngâm gạo ngập trong nước cùng 0,3% muối, thời gian: 12-14 giờ, vớt ra  
để ráo.  
Hình 1.8 Nếp sau khi ngâm đổ ra rổ cho thật ráo nước  
• Thịt lợn: thái thành miếng to dài, tẩm ướp chút muối, tiêu, hành  
trong 1 giờ  
16  
Hình 1.9 Thịt lợn sau khi ướp gia vị  
• Đỗ xanh: đỗ làm dập vỡ thành các mảnh nhỏ, ngâm nước ấm 40°  
trong 2 giờ cho mềm và nở, đãi bỏ hết vỏ, vớt ra để ráo rồi cho vào  
chõ đồ chín, mang ra dùng đũa cả đánh thật tơi đều mịn, chia ra theo  
khẩu phần, mỗi chiếc bánh chưng được gói với hai nắm đậu xanh nhỏ.  
17  
Hình 1.10 Đậu xanh sau khi ngâm  
(có trộn thêm muối, tiêu, dầu của hành phi)  
18  
Hình 1.11 Hành phi sau khi phi lên  
• Hành củ: bóc vỏ, thái lát mỏng  
• Hạt tiêu: rang thơm, tán nhỏ  
1.3.3.2 Các giai đọan làm bánh:  
❖ Gói bánh  
Cách gói tay không thông thường như sau:  
▪ Rải lạt xuống mâm tròn tạo hình chữ thập  
▪ Đặt 2 chiếc lá dong lên trên lạt, nằm chồng 1/2 theo chiều dài lá lên  
nhau, chú ý phải quay mặt trên của 2 lá ra phía ngoài và mặt kém xanh  
hơn (mặt dưới) vào trong. Lượt sau: 2 lá rải như lượt đầu nhưng vuông  
góc với lượt đầu, chú ý là lần này lại phải làm ngược lại, quay mặt trên  
lá (xanh hơn) lên trên, mặt kém xanh hơn, úp xuống dưới.  
▪ Gạo nếp, xúc 1 bát đầy đổ vào tâm của hình chữ thập, dùng tay gạt  
đều, tạo hình vuông  
▪ Lấy 1 nắm đỗ xanh bóp nhẹ và rải đều vào giữa vuông gạo đến gần  
hết bìa gạo  
19  
▪ Thịt lợn, lấy 1, 2 miếng tùy cỡ đã thái rải đều vào giữa bánh  
▪ Lấy tiếp 1 nắm đỗ xanh nữa bóp nhẹ rải đều phủ lên trên thịt  
▪ Xúc 1 bát gạo nếp đổ lên trên và phủ khỏa đều, che kín hết thịt và  
đỗ  
1
2
3
4
5
Hình 1.12 Các bước chuẩn bị gói bánh chưng  
Chú thích:  
o Bước 1. Cho nếp và lá đã trãi ra  
o Bước 2. thêm đậu lên 1 lớp  
o Bước 3-4:. xếp thịt và các phụ liệu khác  
o Bước 5. thêm lớp nếp cuối cùng. Lượng nếp và đậu  
trên dưới đều bẳng nhau  
▪ Gấp đồng thời 2 lá dong lớp trên vào, vừa gấp vừa vỗ nhẹ để tạo  
hình khối vuông  
▪ Gấp tiếp đồng thời 2 lá dong lớp dưới vào như lớp trên, vừa gấp  
vừa lèn chặt nhẹ tay  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
doc 46 trang myanh 29660 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tiểu luận Truyền nhiệt không ổn định - Đề tài: Nướng bánh chưng (nguyên lá) - Diệp Thế Viễn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • doctieu_luan_truyen_nhiet_khong_on_dinh_de_tai_nuong_banh_chung.doc
  • rarChien-Banh-Phong-Tom_files.rar
  • zipremnhcohp.zip