Thực trạng phóng uế bừa bãi tại cộng đồng người dân tộc thiểu số Raglai và một số yếu tố liên quan tại huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận năm 2018

| TOÅNG QUAN & NGHIEÂN CÖÙU |  
Thực trạng phóng uế bừa bãi tại cộng đồng người dân  
tộc thiểu số Raglai và một số yếu tố liên quan tại huyện  
Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận năm 2018  
Lê Thị Thanh Hương1, Lưu Văn Trị2  
Tóm tắt: Nghiên cứu được thực hiện tại 03 xã của huyện Bác Ái, nhằm tìm hiểu tình trạng phóng  
uế bừa bãi tại các hộ gia đình (HGĐ) trong cộng đồng ng ười dân tộc Raglai và xác định một số  
yếu tố liên quan. Sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang có phân tích, kết hợp phương pháp nghiên  
cứu định lượng và định tính. Nghiên cứu định lượng được thực hiện với 190 chủ hộ gia đình,  
nghiên cứu định tính được thực hiện với 16 cuộc phỏng vấn sâu gồm cán bộ TTYT huyện, cán bộ  
TYT xã, đại diện UBND xã, trưởng thôn và HGĐ thuộc 03 xã tại địa bàn nghiên cứu, tiến hành từ  
tháng 12/2017 đến tháng 6/2018.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy vẫn còn 71,4% đối tượng phỏng vấn thực hiện hành vi phóng uế  
ra ngoài môi trường. Có một số yếu tố liên quan đến thực trạng phóng uế bừa bãi tại cộng đồng  
người dân tộc Raglai như: Không tiếp cận thông tin về nhà tiêu hợp vệ sinh; không được tiếp cận  
dịch vụ cung ứng vật liệu sẵn có tại địa phương; không được hỗ trợ xây nhà tiêu.  
Từ khóa: Phóng uế bừa bãi, dân tộc thiểu số, Raglai, Bác Ái, Ninh Thuận, yếu tố liên quan.  
Open defecation practice and associated factors among  
Raglai ethnic minority community in Bac Ai district,  
Ninh Thuan province in 2018  
Le Thi Thanh Huong1, Luu Van Tri2  
Abstract: The study was conducted in three communes of Bac Ai district, Ninh Thuan Province  
to describe the open defecation practice of the Raglai ethnic minority community and to identify  
possible associated factors. This was a cross sectional study combining quantitative and qualitative  
research methods. Sample size included 190 households, 16 in-depth interviews with district  
health staff, commune health staff, commune people committee staff, heads of villages and selected  
households in the three selected communes. The study was undertaken from December 2017 to  
June 2018.  
Results of the study showed that the proportion of open defecation practice among the study  
participants was 71.4%. Associated factors to open defecation of the Raglai ethnic minority  
16  
Tạp chí Y tế Công cộng, Số 46 tháng 12/2018  
| TOÅNG QUAN & NGHIEÂN CÖÙU |  
community in the three selected communes were the lack of access to information about hygienic  
latrines, limited access to the toilet construction materials available on local markets and having  
no benefit from the local assistance policy for constructing new hygienic latrines.  
Key words: open defecation, minority community, Raglai, Bac Ai district, Ninh Thuan, associated factors.  
Tác giả:  
1. Trường Đại học Y tế công cộng  
2. Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Ninh Thuận  
1. Đặt vấn đề  
trạng phóng uế ra ngoài môi trường vẫn còn  
khá phổ biến. Địa bàn cư trú của người dân tộc  
Raglai ở vùng sâu, vùng xa nên việc tổ chức  
truyền thông để người dân có kiến thức đúng  
về sử dụng nhà tiêu HVS còn hạn chế [7]. Xuất  
phát từ vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên  
cứu “Thực trạng phóng uế bừa bãi tại cộng  
đồng người dân tộc Raglai và một số yếu tố  
liên quan tại huyện Bác Ái tỉnh Ninh Thuận”,  
với 2 mục tiêu là (1) Mô tả thực trạng phóng uế  
bừa bãi tại cộng đồng người dân tộc Raglai tại  
huyện Bác Ái tỉnh Ninh Thuận năm 2018 và (2)  
Xác định một số yếu tố liên quan đến thực trạng  
phóng uế bừa bãi tại cộng đồng người dân tộc  
Raglai tại địa bàn huyện này.  
Việc phóng uế bừa bãi trong cộng đồng đã được  
chứng minh là có ảnh hưởng tới sức khỏe và sự  
phát triển về mặt nhận thức của trẻ, kể cả những  
trẻ sống trong các gia đình có nhà tiêu tại cộng  
đồng còn duy trì hành vi phóng uế bừa bãi [13].  
Tình trạng vệ sinh kém, thiếu nước sạch cũng  
như hành vi vệ sinh kém là nguyên nhân gây ra  
tiêu chảy, suy dinh dưỡng và thấp còi ở trẻ em  
[9, 13]. Việc tiếp cận với nước sạch, nhà tiêu  
hợp vệ sinh và cải thiện tình trạng phóng uế  
bừa bãi ra cộng đồng góp phần cải thiện chiều  
cao của trẻ [3, 5] và giảm tình trạng suy dinh  
dưỡng thể gầy còm ở trẻ em [3]. Chính phủ Việt  
Nam đã đưa ra mục tiêu đến năm 2030 đảm bảo  
tiếp cận công bằng các công trình và điều kiện  
vệ sinh phù hợp cho tất cả mọi người, đặc biệt  
chú ý đến nhu cầu của phụ nữ, trẻ em gái, người  
khuyết tật và đối tượng dễ bị tổn thương; Chấm  
dứt đi vệ sinh ngoài trời; 100% số hộ gia đình  
có nhà tiêu HVS [1]. Bác Ái là huyện miền núi  
thuộc vùng khô hạn nhất của tỉnh Ninh Thuận,  
với 95% dân số là dân tộc Raglai sinh sống làm  
nông, làm nương rẫy là chủ yếu nên việc sử  
dụng nhà vệ sinh chưa được chú trọng, tình  
2. Phương pháp nghiên cứu  
2.1. Đối tượng nghiên cứu  
Đối với cấu phần định lượng, đối tượng nghiên  
cứu là chủ hộ trong gia đình người dân tộc  
Raglai, đồng ý tham gia vào nghiên cứu, có khả  
năng hiểu và trả lời câu hỏi. Đối tượng quan sát  
là nhà tiêu của hộ gia đình người dân tộc Raglai  
được phỏng vấn tại địa bàn huyện Bác Ái, tỉnh  
Ninh Thuận.  
17  
Tạp chí Y tế Công cộng, Số 46 tháng 12/2018  
| TOÅNG QUAN & NGHIEÂN CÖÙU |  
Đối tượng nghiên cứu định tính là cán bộ TTYT Kỹ thuật chọn mẫu: Chọn mẫu 2 giai đoạn  
huyện, cán bộ trạm y tế xã phụ trách chương  
Giai đoạn 1: chọn xã điều tra  
trình nước sạch và vệ sinh môi trường, đại diện  
Huyện Bác Ái có 9 xã dựa vào đặc điểm vùng  
UBND xã, trưởng thôn và người dân.  
kinh tế và vùng địa lý của huyện chia thành 3  
khu vực. Trong mỗi khu vực bốc thăm ngẫu  
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu  
nhiên một xã. Chọn ngẫu nhiên từ mỗi khu vực  
Thời gian nghiên cứu được thực hiện từ tháng  
ta chọn được 3 xã đại diện cho 3 khu vực là xã  
12/2017 đến tháng 6/2018.  
Phước Hòa, Phước Trung, Phước Bình.  
Địa bàn nghiên cứu được thực hiện tại huyện  
Giai đoạn 2: chọn đối tượng cần điều tra  
Bác Ái - tỉnh Ninh Thuận.  
Dựa vào danh sách hộ khẩu của xã cung cấp,  
2.3. Phương pháp nghiên cứu  
lập danh sách chủ hộ trong gia đình với tổng số  
HGĐ tại 3 xã nghiên cứu là 1.832 hộ. Sử dụng  
phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống  
với khoảng cách mẫu được tính từ tổng số hộ  
gia đình chia cho tổng số hộ được điều tra để  
chọn ra 190 HGĐ tham gia nghiên cứu.  
Nghiên cứu cắt ngang có phân tích, kết hợp  
định tính.  
Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng  
Cỡ mẫu được tính theo công thức như sau:  
n=Z12-α/2  
P(1-P)  
Cỡ mẫu nghiên cứu định tính  
d2  
Tổng số có 16 cuộc phỏng vấn sâu được thực  
hiện với 01 cán bộ Trung tâm Y tế huyện, 03  
cán bộ trạm y tế xã phụ trách chương trình nước  
sạch và vệ sinh môi trường tại địa phương, 03  
đại diện UBND xã, 03 trưởng thôn và 06 HGĐ  
(có nhà tiêu HVS và không có nhà tiêu HVS).  
n: cỡ số mẫu cần điều tra  
z: hệ số tin cậy, z=1,96, mức chính xác 95%  
p: tỷ lệ phóng uế bừa bãi tại các hộ gia đình có  
trẻ em dưới 5 tuổi tại các xã thuộc 5  
tỉnh điều tra là 25% [4].  
d: Độ chính xác tuyệt đối, d=0,09  
Cỡ mẫu tính được là: n=89 HGĐ  
2.4. Các biến số nghiên cứu  
- Nhóm biến về thông tin nhân khẩu học của  
ĐTNC (Tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề  
nghiệp, kinh tế HGĐ, vai trò của chủ hộ HGĐ).  
Sử dụng phương pháp chọn mẫu hai giai đoạn,  
cỡ mẫu được hiệu chỉnh để tăng tính đại diện  
cho quần thể nghiên cứu. Vậy cỡ mẫu cần điều  
tra là 89 x 2 = 178 HGĐ.  
- Nhóm biến về thực trạng phóng uế bừa bãi tại  
HGĐ (Gia đình có nhà tiêu không, loại nhà tiêu,  
nhà tiêu đạt tiêu chuẩn vệ sinh về xây dựng,  
nhà tiêu đạt tiêu chuẩn vệ sinh về sử dụng và  
bảo quản, nhà tiêu đạt tiêu chuẩn vệ sinh về xây  
dựng, sử dụng và bảo quản, nơi đi tiêu của HGĐ  
không có nhà tiêu, lý do không xây nhà tiêu).  
Dự phòng 5% trường hợp bị từ chối phỏng vấn,  
đến nhà không gặp hoặc phiếu thu thập không  
đạt yêu cầu. Vậy cỡ mẫu nghiên cứu là 187  
HGĐ, làm tròn thành 190 HGĐ. Thực tế tổng  
số HGĐ đã tham gia nghiên cứu là 190 HGĐ.  
18  
Tạp chí Y tế Công cộng, Số 46 tháng 12/2018  
| TOÅNG QUAN & NGHIEÂN CÖÙU |  
- Nhóm biến về kiến thức của ĐTNC (Biết về và câu hỏi được chuẩn bị dựa trên các nội dung  
các loại nhà tiêu, các loại nhà tiêu HVS, kiến Thông tư số 27/2011/TT-BYT ngày 24/6/2011  
thức về những bệnh có thể gây ra do phóng uế của Bộ Y tế về việc ban hành Quy chuẩn Kỹ  
bừa bãi, lợi ích của việc sử dụng nhà tiêu HVS, thuật quốc gia về nhà tiêu – điều kiện đảm bảo  
tác hại của việc không có nhà tiêu HVS).  
HVS. Mỗi nhà tiêu được đánh giá là hợp vệ sinh  
thì nhà tiêu đó phải đạt tất cả các tiêu chuẩn vệ  
sinh về xây dựng, sử dụng và bảo quản [2].  
- Nhóm biến tiếp cận thông tin về nhà tiêu của  
ĐTNC (Tiếp cận thông tin về xây dựng, sử  
dụng và bảo quản nhà tiêu HVS, nguồn thông  
tin được tiếp cận).  
2.6. Phương pháp phân tích số liệu  
Số liệu được làm sạch và mã hóa, nhập số liệu  
bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng  
phần mềm SPSS 16.0.  
- Nhóm biến về dịch vụ cung ứng sẵn có tại  
địa phương (Dịch vụ cung ứng sẵn có tại địa  
phương, chi phí để xây dựng nhà tiêu với thu  
nhập của HGĐ).  
2.7. Đạo đức nghiên cứu  
- Nhóm biến về chính sách hỗ trợ tại địa phương  
(Chính sách hỗ trợ tại địa phương, Hỗ trợ từ  
nguồn nào).  
Nghiên cứu đã được xét duyệt và được Hội  
đồng Đạo đức Trường Đại học Y tế Công  
cộng chấp thuận theo Quyết định số 035/2018/  
YTCC-HD3 ngày 29 tháng 01 năm 2018.  
- Đánh giá kiến thức của ĐTNC: Mỗi câu hỏi  
tương ứng với số điểm nhất định. Dựa vào phần  
trả lời các câu hỏi phỏng vấn của ĐTNC, theo  
thang điểm để tính điểm và đánh giá kiến thức  
đạt hay không đạt. Mỗi tiêu chí cho phần đánh  
giá kiến thức về nhà tiêu là 1 điểm, tổng điểm là  
16 điểm. Kiến thức được coi là đạt khi ĐTNC  
trả lời đạt 8/16 trở lên.  
3. Kết quả nghiên cứu  
3.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu  
Trong tổng số 190 đối tượng tham gia nghiên  
cứu, tỉ lệ nhóm tuổi từ 30 đến 60 tuổi cao nhất  
(60,5%) và thấp nhất là nhóm trên 60 tuổi  
(9,5%). Có 64,2% đối tượng nghiên cứu là nam  
giới. Tỷ lệ ĐTNC có trình độ tiểu học trở xuống  
chiếm tỷ lệ 69,5%, còn lại thuộc nhóm có trình  
độ THCS trở lên (30,5%). Đa số ĐTNC làm  
nông chiếm (94,2%). Có 71,6% ĐTNC thuộc  
hộ nghèo.  
2.5. Công cụ và phương pháp thu thập số liệu  
Số liệu về tình trạng phóng uế bừa bãi và các yếu  
tố liên quan được thu thập bằng bộ câu hỏi cấu  
trúc, kết hợp với quan sát thực trạng nhà tiêu hộ  
gia đình thông qua bảng kiểm. Các cuộc phỏng  
vấn sâu và thảo luận nhóm dựa trên bộ đề cương  
19  
Tạp chí Y tế Công cộng, Số 46 tháng 12/2018  
| TOÅNG QUAN & NGHIEÂN CÖÙU |  
3.2. Thực trạng phóng uế bừa bãi tại cồng đồng người dân tộc Raglai  
Biểu đồ 1. Tỷ lệ phóng uế bừa bãi tại cộng đồng  
Trong tổng số 190 đối tượng tham gia nghiên “Người dân chưa có thói quen sử dụng nhà vệ  
cứu, kết quả cho thấy chỉ có 25,8% đi tiêu tại sinh một phần do không có nguồn nước, phần  
nhà tiêu của HGĐ, 2,8% HGĐ đi nhờ hàng xóm. khác do thói quen vẫn đi ngoài trời” (UBND  
Tỷ lệ phóng uế bừa bãi ra ngoài môi trường xã Phước Bình).  
rất cao, chiếm tới 71,4% số đối tượng tham gia  
“Thường thường họ không có nhà vệ sinh thì  
nghiên cứu. Kết quả từ các cuộc phỏng vấn sâu  
họ đi ngoài rừng, những chỗ gần nhà thì sợ  
khá tương đồng với những kết quả từ phân tích  
người khác nhìn thấy nên phải đi ở chỗ nào  
định lượng. Theo cán bộ và người dân tại địa  
xa hơn, có khi bí quá họ phải đi bằng xe máy  
phương, vẫn còn tình trạng người dân đi phóng  
để tìm chỗ giải quyết, tôi ở đây tôi thấy vậy”  
uế ra ngoài môi trường. Nguyên nhân là do nhà  
(HGĐ thôn Đồng Dày - xã Phước Trung).  
vệ sinh của HGĐ xây không đúng quy định của  
3.3. Một số yếu tố liên quan đến thực trạng  
phóng uế bừa bãi tại cộng đồng người dân  
tộc Raglai  
Bộ Y tế, người dân đi vào nhà vệ sinh cảm thấy  
ngột ngạt, khó chịu, nhà vệ sinh không có nước  
và cách xa nguồn nước sử dụng. Do vậy, đây  
được coi là những lý do dẫn tới việc người dân  
không sử dụng nhà tiêu và có thói quen phóng  
uế bừa bãi ra ngoài môi trường. Ngoài ra, việc  
không đủ nước hay tập quán đi rẫy, ngủ trên rẫy  
cũng là nguyên nhân dẫn tới tình trạng phóng  
uế bừa bãi phổ biến tại cộng đồng này.  
Dựa trên kết quả phân tích về thực trạng phóng  
uế bừa bãi ở cộng đồng người dân tộc Raglai  
tham gia nghiên cứu này với tỉ lệ 71,4% vẫn còn  
phóng uế bừa bãi ra môi trường, chúng tôi thực  
hiện phân tích tìm một số yếu tố liên quan tới  
thực trạng này. Kết quả được trình bày ở Bảng 1.  
20  
Tạp chí Y tế Công cộng, Số 46 tháng 12/2018  
| TOÅNG QUAN & NGHIEÂN CÖÙU |  
Bảng 3.1. Một số yếu tố liên quan đến thực trạng phóng uế bừa bãi tại cộng đồng (n = 190)  
Thực trạng phóng uế  
OR  
bừa bãi tại cộng đồng  
Đặc điểm  
p
(95%CI)  
Không  
Có n (%)  
n (%)  
Tiểu học trở xuống 121 (91,7) 11 (8,3)  
0,24  
Học vấn  
0,0001  
0,0001  
0,04  
(0,1–0,6)  
THCS trở lên  
Làm nông  
CBVC  
Hộ nghèo  
Không nghèo  
Không đạt  
Đạt  
42 (72,4) 16 (27,6)  
158 (88,3) 21 (11,7)  
0,1  
Nghề nghiệp  
Kinh tế HGĐ  
Kiến thức  
(0,03–0,4)  
5 (45,5)  
6 (54,5)  
126 (88,7) 16 (11,3)  
37 (77,1) 11 (22,9)  
137 (92,6) 11 (7,4)  
26 (61,9) 16 (38,1)  
2,3  
(1,0–5,5)  
7,7  
0,0001  
0,0001  
0,0001  
0,001  
(3,2–18,4)  
Không  
Có  
100 (94,3)  
6 (5,7)  
63 (75,0) 21 (25,0)  
8 (6,6)  
50 (72,5) 19 (27,5)  
88 (94,6) 5 (5,4)  
75 (77,3) 22 (22,7)  
5,6  
Tiếp cận thông tin  
(2,1–14,5)  
Không  
Có  
113 (93,4)  
Dịch vụ cung ứng vật liệu  
tại địa phương  
5,4  
(2,2–13,1)  
Không  
Có  
Chính sách hỗ trợ người  
dân xây nhà tiêu  
5,2  
(1,9–14,3)  
Kết quả Bảng 3.1 cho thấy có một số yếu tố liên Những HGĐ không tiếp cận để mua được vật  
quan có ý nghĩa thống kê với tình trạng phóng liệu xây dựng nhà tiêu thì có nguy cơ phóng uế  
uế bừa bãi của cộng đồng người dân tộc Raglai bừa bãi tại cộng đồng cao gấp 5,4 lần những  
tại huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận. Những HGĐ dễ dàng mua được vật liệu xây dựng nhà  
HGĐ không có điều kiện về kinh tế thì có nguy tiêu (95%CI: 2,2–13,1; p<0,001). Những HGĐ  
cơ phóng uế ra ngoài cộng đồng cao gấp 2,3 không được hỗ trợ xây nhà tiêu thì có nguy cơ  
lần những HGĐ có điều kiện kinh tế khá hơn phóng uế bừa bãi tại cộng đồng cao gấp 5,2 lần  
(95%CI: 1,0 – 5,5; p<0,04). Những người có những đối tượng thuộc HGĐ được hỗ trợ xây  
kiến thức không đạt thì có nguy cơ phóng uế bừa nhà tiêu (95%CI: 1,9–14,3; p<0,01).  
bãi tại cộng đồng cao gấp 7,7 lần những người  
4. Bàn luận  
có kiến thức đạt (95%CI: 3,2–18,4; p<0,001).  
4.1. Thực trạng phóng uế bừa bãi tại cộng  
đồng người dân tộc Raglai  
Những người không được tiếp cận thông tin về  
nhà tiêu thì nguy cơ phóng uế bừa bãi tại cộng  
cao gấp 5,6 lần những người được tiếp cận  
thông tin tốt hơn (95%CI: 2,1–14,5; p<0,001).  
Trong số 190 người dân tộc Raglai tham gia  
nghiên cứu thì tỷ lệ đi tiêu tại nhà tiêu của HGĐ  
21  
Tạp chí Y tế Công cộng, Số 46 tháng 12/2018  
| TOÅNG QUAN & NGHIEÂN CÖÙU |  
còn rất thấp (14,2%), trong khi đó vẫn còn gia đình. Vì vậy, các chương trình cho vay hộ  
71,4% đối tượng phóng uế ra ngoài môi trường. nghèo, cận nghèo và gia đình chính sách như  
Kết quả nghiên cứu này cao hơn nghiên cứu Chương trình 30a, vay ngân hàng chính sách  
của Nguyễn Thị Liên Hương và Lê Thị Thanh xã hội cho bắt nước sạch và xây nhà vệ sinh,…  
Hương về thực trạng phóng uế bừa bãi tại nói chung UBND xã tạo điều kiện để người dân  
cộng đồng 5 tỉnh Điện Biên, Kom Tum, Ninh có thể tiếp cận nguồn vốn vay này, nhằm tăng  
Thuận, An Giang và Đồng Tháp năm 2015 tỷ lệ HGĐ có nhà tiêu HVS đạt mục tiêu của xã  
tỷ lệ này là 25% [4], cao hơn nghiên cứu của đề ra” (UBND xã Phước Hoà).  
Nguyễn Văn Sỹ, Lê Thị Thanh Hương tại xã  
4.2. Một số yếu tố liên quan đến thực trạng  
Tân Hộ Cơ, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp  
phóng uế bừa bãi tại cộng đồng người dân  
năm 2016 tỷ lệ này là 66,3% [6] và cao hơn  
tộc Raglai  
nghiên cứu của Hạc Văn Minh và cộng sự về  
Trong nghiên cứu này, chúng tôi phát hiện một  
số yếu tố liên quan đến thực trạng phóng uế  
bừa bãi tại cộng đồng người dân tộc Raglai.  
Yếu tố nhân khẩu có liên quan tới tình trạng  
phóng uế bừa gồm trình độ học vấn, nghề  
nghiệp và tình trạng kinh tế HGĐ của đối tượng  
tham gia nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu này  
tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị  
Liên Hương và Lê Thị Thanh Hương về thực  
trạng phóng uế bừa bãi tại cộng đồng 5 tỉnh  
Điện Biên, Kom Tum, Ninh Thuận, An Giang  
và Đồng Tháp năm 2015, cho thấy nhóm người  
lao động tự do/làm thuê có nguy cơ phóng uế  
bừa bãi cao gấp 2,7 lần so với nhóm công chức/  
viên chức (95%CI: 1,2 – 5,96). Nhóm mù chữ/  
không biết chữ có khuynh hướng đi tiêu bừa  
bãi cao gấp 1,62 lần so với nhóm có trình độ từ  
THCS trở lên (95%CI: 1,1 – 2,39) [4]. Kết quả  
này cũng tương đồng với nghiên cứu của Job  
Wasonga và cộng sự về các yếu tố quyết định  
văn hóa xã hội để áp dụng thực hành nước sạch,  
vệ sinh và vệ sinh an toàn ở Nyakach, Quận  
Kisumu, Kenya cho thấy việc sử dụng nhà tiêu  
cũng bị ảnh hưởng bởi chi phí xây dựng và đói  
nghèo hoặc thiếu nguồn lực cũng như điều kiện  
tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên là 33,0%  
[8]. Nguyên nhân do một phần địa bàn nghiên  
cứu là vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh, tỷ lệ hộ  
nghèo chiếm khoảng 52,1%. Người dân ở khu  
vực này sống làm nông, làm nương rẫy là chủ  
yếu, với thời gian sống trên nương rẫy khá lớn,  
đồng thời nhận thức của người dân còn hạn chế  
về nhà vệ sinh, thói quen đi vệ sinh ngoài trời  
vẫn còn tồn tại từ lâu, nên tình trạng phóng uế  
bừa bãi tại cộng đồng người dân tộc Raglai vẫn  
còn khá cao.  
“Địa phương thuộc vùng sâu, vùng xa và vùng  
đặc biệt khó khăn của tỉnh, tỷ lệ hộ nghèo khá  
cao. Đặc biệt là người dân ở khu vực này sống  
chủ yếu làm nông, làm nương rẫy là chính.  
Ngoài ra, bạn thân họ còn lo toan đến cuộc  
sống, thường xuyên đi kiếm sống nên việc tiếp  
cận kiến thức, thông tin của người dân ở đây  
còn rất hạn chế lắm, vì vậy tình trạng phóng uế  
bừa bãi ra ngoài môi trường vẫn còn ở đây”.  
(UBND xã Phước Bình).  
“Hiện tại vấn đề quan tâm của địa phương là  
phát triển kinh tế xã hội, đồng thời gắn liền  
vấn đề nước sạch và công trình nhà tiêu hộ  
22  
Tạp chí Y tế Công cộng, Số 46 tháng 12/2018  
| TOÅNG QUAN & NGHIEÂN CÖÙU |  
5. Khuyến nghị  
đất đai. Ngoài ra, nghiên cứu này còn phát hiện  
ra rằng nhiều thành viên của cộng đồng không  
thể xây nhà vệ sinh do chi phí liên quan vì phần  
lớn trong số họ là người nghèo [12]. Ngoài ra  
còn một yếu tố khác có liên quan tới tình trạng  
phóng uế bừa gồm kiến thức, tiếp cận thông  
tin, dịch vụ cung ứng vật liệu tại địa phương  
và chính sách hỗ trợ người dân xây nhà vệ sinh  
của đối tượng tham gia nghiên cứu. Kết quả  
nghiên cứu này tương đồng với báo cáo của  
Chương trình Nước và Vệ sinh của Unicef thực  
hiện tại Đông Java năm 2011, cho thấy chính  
sách hỗ trợ từ các chương trình của chính quyền  
địa phương và các dự án quốc gia về phát triển  
cộng đồng và xóa đói giảm nghèo, cũng như  
từ các quỹ trách nhiệm xã hội của khu vực tư  
nhân là công cụ thành công để chấm dứt tình  
trạng phóng uế bừa bãi tại cộng đồng (ODF)  
[11]. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng tương  
đồng với nghiên cứu của Parimita Routray và  
cộng sự về các yếu tố văn hóa xã hội và hành  
vi hạn chế việc chấp nhận nhà tiêu ở vùng nông  
thôn ven biển Odisha - Ấn Độ năm 2015, cho  
thấy thói quen đi vệ sinh ngoài trời của phụ nữ,  
nam giới, trẻ em, người già, người tàn tật và  
người ốm yếu được cho là có liên quan đến tình  
trạng phóng uế bừa bãi tại cộng đồng [10]. Địa  
bàn nghiên cứu này là vùng sâu, vùng xa của  
Các ban ngành đoàn thể tại địa phương khi  
triển khai các chương trình, dự án cần có chính  
sách hỗ trợ về kinh phí, kỹ thuật, các biện pháp  
can thiệp như phát huy và thực hiện những mô  
hình khuyến khích vệ sinh đang phát huy hiệu  
quả bao gồm: cộng đồng tham gia vào việc giải  
quyết triệt để việc phóng uế bừa bãi, vệ sinh  
môi trường mở rộng, Chương trình vệ sinh tổng  
thể do cộng đồng làm chủ, Cộng đồng chấm  
dứt tình trạng phóng uế bừa bãi,…nhằm tăng tỷ  
lệ HGĐ có nhà tiêu HVS tại địa bàn nghiên cứu  
trong thời gian tới.  
Cung cấp các nguồn thông tin để HGĐ tiếp cận  
về nhà tiêu HVS, chính sách hỗ trợ xây nhà tiêu  
cho các đối tượng đặc biệt khó khăn, các nguồn  
vốn vay từ các chương trình nước sạch và vệ  
sinh môi trường.  
Những HGĐ có nhà tiêu nhưng không HVS,  
những HGĐ chưa có nhà vệ sinh và những  
HGĐ thường xuyên đi làm nương rẫy thì cần  
hướng dẫn cho người dân lựa chọn loại nhà tiêu  
phù hợp với điều kiện địa lý, kinh tế HGĐ như  
nhà tiêu chìm có ống thông hơi, nhà tiêu tự hoại  
xây bằng ống bi.  
Tài liệu tham khảo  
tỉnh Ninh Thuận, và người dân có thói quen đi Tiếng Việt  
vệ sinh bừa bãi ngoài môi trường còn cao. Vì  
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2016), Báo cáo tổng  
vậy, để đạt được mục tiêu của chương trình đến  
cuối năm 2020 là 75% HGĐ có nhà tiêu HVS  
và đến năm 2025 sẽ chấm dứt việc đi tiêu bừa  
bãi thì đây là một thách thức lớn đối với huyện  
Bác Ái.  
hợp Nghiên cứu, rà soát 17 mục tiêu chung và  
169 mục tiêu cụ thể trong Chương trình nghị sự  
2030 vì sự phát triển bền vững của Liên Hợp  
Quốc để đánh giá thực trạng và xác định các  
mục tiêu phù hợp, khả thi với điều kiện của Việt  
23  
Tạp chí Y tế Công cộng, Số 46 tháng 12/2018  
| TOÅNG QUAN & NGHIEÂN CÖÙU |  
Nam, làmcơ sở cho việc quốc gia hóa các mục có con dưới 5 tuổi tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái  
tiêu phát triển bền vững toàn cầu, Hà Nội.  
Nguyên”, Tạp chí Y tế công cộng, 16, tr. 54-58.  
2. Bộ Y tế (2011), Thông tư số 27/2011/TT-  
BYT ngày 24/6/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế về  
việc Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về  
nhà tiêu, điều kiện đảm bảo vệ sinh, Hà Nội.  
Tiếng Anh  
9. Coffey D (2014), “Culture, religion and open  
defecation in rural north India 2014”.  
10. Parimita Routray, Wolf-Peter Schmidt and  
et al (2015), “Socio-cultural and behavioural  
factors constraining latrine adoption in rural  
coastal Odisha: an exploratory qualitative  
study”, BMC Public Health, 15(880), page.  
1-19.  
3. Cục Quản lý môi trường y tế và UNICEF  
(2011), Báo cáo mối liên quan giữa vệ sinh  
môi trường, nguồn nước hộ gia đình và hành  
vi chăm sóc trẻ của bà mẹ với tình trạng dinh  
dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại Việt Nam, Hà Nội.  
4. Nguyễn Thị Liên Hương và Lê Thị Thanh  
Hương (2015), “Thực trạng phóng uế bừa bãi  
tại cộng đồng 5 tỉnh Điện Biên, Kom Tum,  
Ninh Thuận, An Giang và Đồng Tháp năm  
2015 “, Tạp chí Y học dự phòng, Tập XXVI(số  
4(177)), tr. 187 - 194.  
11. UNICEF (2011), Water and sanitation  
program - Scaling Up Rural Sanitation “Factors  
Associated with Achieving and Sustaining  
Open Defecation Free Communities: Learning  
from East Java 2011”.  
12. Job Wasonga, Mark Okowa and Felix  
Kioli (2016), “Sociocultural Determinants  
to Adoption of Safe Water, Sanitation, and  
Hygiene Practices in Nyakach, Kisumu County,  
Kenya: A Descriptive Qualitative Study”,  
Hindawi Publishing Corporation Journal of  
Anthropology, 2016, page. 1-6.  
5. Ngân hàng Thế giới (2014), Vệ sinh nông  
thôn mở rộng -Đầu tư vào thế hệ kế cận: Trẻ em  
cao và thông minh hơn ở vùng miền núi, nông  
thôn Việt Nam nơi các thành viên trong cộng  
đồng sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh. Báo cáo  
tóm tắt nghiên cứu. 2014, Hà Nội.  
6. Nguyễn Văn Sĩ và Lê Thị Thanh Hương  
(2016), “Thực trạng và một số yếu tố liên quan  
đến nhà tiêu hợp vệ sinh của người dân xã Tân  
Hộ Cơ, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp năm  
2016 “, Tap chí Y học Cộng đồng, 36, tr. 70-74.  
13. World Bank (2013), Investing in the Next  
Generation: Growing Tall and Smart with  
Toilets. Stopping Open Defecation Improves  
Children’s Height in Cambodia 2013.  
7. Trung tâm Y tế huyện Bác Ái (2017), Báo  
cáo công tác hoạt động y tế năm 2017, phương  
hướng nhiệm vụ năm 2018.  
8. Hạc Văn Vinh, Đàm Khải Hoàn và Đào Văn  
Dũng (2010), “Thực trạng sử dụng nguồn nước  
và nhà tiêu hợp vệ sinh, kiến thức, thái độ và thực  
hành vệ sinh môi trường của phụ nữ (15-49 tuổi)  
24  
Tạp chí Y tế Công cộng, Số 46 tháng 12/2018  
pdf 9 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 16920 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng phóng uế bừa bãi tại cộng đồng người dân tộc thiểu số Raglai và một số yếu tố liên quan tại huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận năm 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_phong_ue_bua_bai_tai_cong_dong_nguoi_dan_toc_thie.pdf