Thực trạng phóng uế bừa bãi tại cộng đồng người dân tộc thiểu số Raglai và một số yếu tố liên quan tại huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận năm 2018
| TOÅNG QUAN & NGHIEÂN CÖÙU |
Thực trạng phóng uế bừa bãi tại cộng đồng người dân
tộc thiểu số Raglai và một số yếu tố liên quan tại huyện
Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận năm 2018
Lê Thị Thanh Hương1, Lưu Văn Trị2
Tóm tắt: Nghiên cứu được thực hiện tại 03 xã của huyện Bác Ái, nhằm tìm hiểu tình trạng phóng
uế bừa bãi tại các hộ gia đình (HGĐ) trong cộng đồng ng ười dân tộc Raglai và xác định một số
yếu tố liên quan. Sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang có phân tích, kết hợp phương pháp nghiên
cứu định lượng và định tính. Nghiên cứu định lượng được thực hiện với 190 chủ hộ gia đình,
nghiên cứu định tính được thực hiện với 16 cuộc phỏng vấn sâu gồm cán bộ TTYT huyện, cán bộ
TYT xã, đại diện UBND xã, trưởng thôn và HGĐ thuộc 03 xã tại địa bàn nghiên cứu, tiến hành từ
tháng 12/2017 đến tháng 6/2018.
Kết quả nghiên cứu cho thấy vẫn còn 71,4% đối tượng phỏng vấn thực hiện hành vi phóng uế
ra ngoài môi trường. Có một số yếu tố liên quan đến thực trạng phóng uế bừa bãi tại cộng đồng
người dân tộc Raglai như: Không tiếp cận thông tin về nhà tiêu hợp vệ sinh; không được tiếp cận
dịch vụ cung ứng vật liệu sẵn có tại địa phương; không được hỗ trợ xây nhà tiêu.
Từ khóa: Phóng uế bừa bãi, dân tộc thiểu số, Raglai, Bác Ái, Ninh Thuận, yếu tố liên quan.
Open defecation practice and associated factors among
Raglai ethnic minority community in Bac Ai district,
Ninh Thuan province in 2018
Le Thi Thanh Huong1, Luu Van Tri2
Abstract: The study was conducted in three communes of Bac Ai district, Ninh Thuan Province
to describe the open defecation practice of the Raglai ethnic minority community and to identify
possible associated factors. This was a cross sectional study combining quantitative and qualitative
research methods. Sample size included 190 households, 16 in-depth interviews with district
health staff, commune health staff, commune people committee staff, heads of villages and selected
households in the three selected communes. The study was undertaken from December 2017 to
June 2018.
Results of the study showed that the proportion of open defecation practice among the study
participants was 71.4%. Associated factors to open defecation of the Raglai ethnic minority
16
Tạp chí Y tế Công cộng, Số 46 tháng 12/2018
| TOÅNG QUAN & NGHIEÂN CÖÙU |
community in the three selected communes were the lack of access to information about hygienic
latrines, limited access to the toilet construction materials available on local markets and having
no benefit from the local assistance policy for constructing new hygienic latrines.
Key words: open defecation, minority community, Raglai, Bac Ai district, Ninh Thuan, associated factors.
Tác giả:
1. Trường Đại học Y tế công cộng
2. Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Ninh Thuận
1. Đặt vấn đề
trạng phóng uế ra ngoài môi trường vẫn còn
khá phổ biến. Địa bàn cư trú của người dân tộc
Raglai ở vùng sâu, vùng xa nên việc tổ chức
truyền thông để người dân có kiến thức đúng
về sử dụng nhà tiêu HVS còn hạn chế [7]. Xuất
phát từ vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu “Thực trạng phóng uế bừa bãi tại cộng
đồng người dân tộc Raglai và một số yếu tố
liên quan tại huyện Bác Ái tỉnh Ninh Thuận”,
với 2 mục tiêu là (1) Mô tả thực trạng phóng uế
bừa bãi tại cộng đồng người dân tộc Raglai tại
huyện Bác Ái tỉnh Ninh Thuận năm 2018 và (2)
Xác định một số yếu tố liên quan đến thực trạng
phóng uế bừa bãi tại cộng đồng người dân tộc
Raglai tại địa bàn huyện này.
Việc phóng uế bừa bãi trong cộng đồng đã được
chứng minh là có ảnh hưởng tới sức khỏe và sự
phát triển về mặt nhận thức của trẻ, kể cả những
trẻ sống trong các gia đình có nhà tiêu tại cộng
đồng còn duy trì hành vi phóng uế bừa bãi [13].
Tình trạng vệ sinh kém, thiếu nước sạch cũng
như hành vi vệ sinh kém là nguyên nhân gây ra
tiêu chảy, suy dinh dưỡng và thấp còi ở trẻ em
[9, 13]. Việc tiếp cận với nước sạch, nhà tiêu
hợp vệ sinh và cải thiện tình trạng phóng uế
bừa bãi ra cộng đồng góp phần cải thiện chiều
cao của trẻ [3, 5] và giảm tình trạng suy dinh
dưỡng thể gầy còm ở trẻ em [3]. Chính phủ Việt
Nam đã đưa ra mục tiêu đến năm 2030 đảm bảo
tiếp cận công bằng các công trình và điều kiện
vệ sinh phù hợp cho tất cả mọi người, đặc biệt
chú ý đến nhu cầu của phụ nữ, trẻ em gái, người
khuyết tật và đối tượng dễ bị tổn thương; Chấm
dứt đi vệ sinh ngoài trời; 100% số hộ gia đình
có nhà tiêu HVS [1]. Bác Ái là huyện miền núi
thuộc vùng khô hạn nhất của tỉnh Ninh Thuận,
với 95% dân số là dân tộc Raglai sinh sống làm
nông, làm nương rẫy là chủ yếu nên việc sử
dụng nhà vệ sinh chưa được chú trọng, tình
2. Phương pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối với cấu phần định lượng, đối tượng nghiên
cứu là chủ hộ trong gia đình người dân tộc
Raglai, đồng ý tham gia vào nghiên cứu, có khả
năng hiểu và trả lời câu hỏi. Đối tượng quan sát
là nhà tiêu của hộ gia đình người dân tộc Raglai
được phỏng vấn tại địa bàn huyện Bác Ái, tỉnh
Ninh Thuận.
17
Tạp chí Y tế Công cộng, Số 46 tháng 12/2018
| TOÅNG QUAN & NGHIEÂN CÖÙU |
Đối tượng nghiên cứu định tính là cán bộ TTYT Kỹ thuật chọn mẫu: Chọn mẫu 2 giai đoạn
huyện, cán bộ trạm y tế xã phụ trách chương
Giai đoạn 1: chọn xã điều tra
trình nước sạch và vệ sinh môi trường, đại diện
Huyện Bác Ái có 9 xã dựa vào đặc điểm vùng
UBND xã, trưởng thôn và người dân.
kinh tế và vùng địa lý của huyện chia thành 3
khu vực. Trong mỗi khu vực bốc thăm ngẫu
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
nhiên một xã. Chọn ngẫu nhiên từ mỗi khu vực
Thời gian nghiên cứu được thực hiện từ tháng
ta chọn được 3 xã đại diện cho 3 khu vực là xã
12/2017 đến tháng 6/2018.
Phước Hòa, Phước Trung, Phước Bình.
Địa bàn nghiên cứu được thực hiện tại huyện
Giai đoạn 2: chọn đối tượng cần điều tra
Bác Ái - tỉnh Ninh Thuận.
Dựa vào danh sách hộ khẩu của xã cung cấp,
2.3. Phương pháp nghiên cứu
lập danh sách chủ hộ trong gia đình với tổng số
HGĐ tại 3 xã nghiên cứu là 1.832 hộ. Sử dụng
phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống
với khoảng cách mẫu được tính từ tổng số hộ
gia đình chia cho tổng số hộ được điều tra để
chọn ra 190 HGĐ tham gia nghiên cứu.
Nghiên cứu cắt ngang có phân tích, kết hợp
định tính.
Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng
Cỡ mẫu được tính theo công thức như sau:
n=Z12-α/2
P(1-P)
Cỡ mẫu nghiên cứu định tính
d2
Tổng số có 16 cuộc phỏng vấn sâu được thực
hiện với 01 cán bộ Trung tâm Y tế huyện, 03
cán bộ trạm y tế xã phụ trách chương trình nước
sạch và vệ sinh môi trường tại địa phương, 03
đại diện UBND xã, 03 trưởng thôn và 06 HGĐ
(có nhà tiêu HVS và không có nhà tiêu HVS).
n: cỡ số mẫu cần điều tra
z: hệ số tin cậy, z=1,96, mức chính xác 95%
p: tỷ lệ phóng uế bừa bãi tại các hộ gia đình có
trẻ em dưới 5 tuổi tại các xã thuộc 5
tỉnh điều tra là 25% [4].
d: Độ chính xác tuyệt đối, d=0,09
Cỡ mẫu tính được là: n=89 HGĐ
2.4. Các biến số nghiên cứu
- Nhóm biến về thông tin nhân khẩu học của
ĐTNC (Tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề
nghiệp, kinh tế HGĐ, vai trò của chủ hộ HGĐ).
Sử dụng phương pháp chọn mẫu hai giai đoạn,
cỡ mẫu được hiệu chỉnh để tăng tính đại diện
cho quần thể nghiên cứu. Vậy cỡ mẫu cần điều
tra là 89 x 2 = 178 HGĐ.
- Nhóm biến về thực trạng phóng uế bừa bãi tại
HGĐ (Gia đình có nhà tiêu không, loại nhà tiêu,
nhà tiêu đạt tiêu chuẩn vệ sinh về xây dựng,
nhà tiêu đạt tiêu chuẩn vệ sinh về sử dụng và
bảo quản, nhà tiêu đạt tiêu chuẩn vệ sinh về xây
dựng, sử dụng và bảo quản, nơi đi tiêu của HGĐ
không có nhà tiêu, lý do không xây nhà tiêu).
Dự phòng 5% trường hợp bị từ chối phỏng vấn,
đến nhà không gặp hoặc phiếu thu thập không
đạt yêu cầu. Vậy cỡ mẫu nghiên cứu là 187
HGĐ, làm tròn thành 190 HGĐ. Thực tế tổng
số HGĐ đã tham gia nghiên cứu là 190 HGĐ.
18
Tạp chí Y tế Công cộng, Số 46 tháng 12/2018
| TOÅNG QUAN & NGHIEÂN CÖÙU |
- Nhóm biến về kiến thức của ĐTNC (Biết về và câu hỏi được chuẩn bị dựa trên các nội dung
các loại nhà tiêu, các loại nhà tiêu HVS, kiến Thông tư số 27/2011/TT-BYT ngày 24/6/2011
thức về những bệnh có thể gây ra do phóng uế của Bộ Y tế về việc ban hành Quy chuẩn Kỹ
bừa bãi, lợi ích của việc sử dụng nhà tiêu HVS, thuật quốc gia về nhà tiêu – điều kiện đảm bảo
tác hại của việc không có nhà tiêu HVS).
HVS. Mỗi nhà tiêu được đánh giá là hợp vệ sinh
thì nhà tiêu đó phải đạt tất cả các tiêu chuẩn vệ
sinh về xây dựng, sử dụng và bảo quản [2].
- Nhóm biến tiếp cận thông tin về nhà tiêu của
ĐTNC (Tiếp cận thông tin về xây dựng, sử
dụng và bảo quản nhà tiêu HVS, nguồn thông
tin được tiếp cận).
2.6. Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu được làm sạch và mã hóa, nhập số liệu
bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng
phần mềm SPSS 16.0.
- Nhóm biến về dịch vụ cung ứng sẵn có tại
địa phương (Dịch vụ cung ứng sẵn có tại địa
phương, chi phí để xây dựng nhà tiêu với thu
nhập của HGĐ).
2.7. Đạo đức nghiên cứu
- Nhóm biến về chính sách hỗ trợ tại địa phương
(Chính sách hỗ trợ tại địa phương, Hỗ trợ từ
nguồn nào).
Nghiên cứu đã được xét duyệt và được Hội
đồng Đạo đức Trường Đại học Y tế Công
cộng chấp thuận theo Quyết định số 035/2018/
YTCC-HD3 ngày 29 tháng 01 năm 2018.
- Đánh giá kiến thức của ĐTNC: Mỗi câu hỏi
tương ứng với số điểm nhất định. Dựa vào phần
trả lời các câu hỏi phỏng vấn của ĐTNC, theo
thang điểm để tính điểm và đánh giá kiến thức
đạt hay không đạt. Mỗi tiêu chí cho phần đánh
giá kiến thức về nhà tiêu là 1 điểm, tổng điểm là
16 điểm. Kiến thức được coi là đạt khi ĐTNC
trả lời đạt 8/16 trở lên.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Trong tổng số 190 đối tượng tham gia nghiên
cứu, tỉ lệ nhóm tuổi từ 30 đến 60 tuổi cao nhất
(60,5%) và thấp nhất là nhóm trên 60 tuổi
(9,5%). Có 64,2% đối tượng nghiên cứu là nam
giới. Tỷ lệ ĐTNC có trình độ tiểu học trở xuống
chiếm tỷ lệ 69,5%, còn lại thuộc nhóm có trình
độ THCS trở lên (30,5%). Đa số ĐTNC làm
nông chiếm (94,2%). Có 71,6% ĐTNC thuộc
hộ nghèo.
2.5. Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
Số liệu về tình trạng phóng uế bừa bãi và các yếu
tố liên quan được thu thập bằng bộ câu hỏi cấu
trúc, kết hợp với quan sát thực trạng nhà tiêu hộ
gia đình thông qua bảng kiểm. Các cuộc phỏng
vấn sâu và thảo luận nhóm dựa trên bộ đề cương
19
Tạp chí Y tế Công cộng, Số 46 tháng 12/2018
| TOÅNG QUAN & NGHIEÂN CÖÙU |
3.2. Thực trạng phóng uế bừa bãi tại cồng đồng người dân tộc Raglai
Biểu đồ 1. Tỷ lệ phóng uế bừa bãi tại cộng đồng
Trong tổng số 190 đối tượng tham gia nghiên “Người dân chưa có thói quen sử dụng nhà vệ
cứu, kết quả cho thấy chỉ có 25,8% đi tiêu tại sinh một phần do không có nguồn nước, phần
nhà tiêu của HGĐ, 2,8% HGĐ đi nhờ hàng xóm. khác do thói quen vẫn đi ngoài trời” (UBND
Tỷ lệ phóng uế bừa bãi ra ngoài môi trường xã Phước Bình).
rất cao, chiếm tới 71,4% số đối tượng tham gia
“Thường thường họ không có nhà vệ sinh thì
nghiên cứu. Kết quả từ các cuộc phỏng vấn sâu
họ đi ngoài rừng, những chỗ gần nhà thì sợ
khá tương đồng với những kết quả từ phân tích
người khác nhìn thấy nên phải đi ở chỗ nào
định lượng. Theo cán bộ và người dân tại địa
xa hơn, có khi bí quá họ phải đi bằng xe máy
phương, vẫn còn tình trạng người dân đi phóng
để tìm chỗ giải quyết, tôi ở đây tôi thấy vậy”
uế ra ngoài môi trường. Nguyên nhân là do nhà
(HGĐ thôn Đồng Dày - xã Phước Trung).
vệ sinh của HGĐ xây không đúng quy định của
3.3. Một số yếu tố liên quan đến thực trạng
phóng uế bừa bãi tại cộng đồng người dân
tộc Raglai
Bộ Y tế, người dân đi vào nhà vệ sinh cảm thấy
ngột ngạt, khó chịu, nhà vệ sinh không có nước
và cách xa nguồn nước sử dụng. Do vậy, đây
được coi là những lý do dẫn tới việc người dân
không sử dụng nhà tiêu và có thói quen phóng
uế bừa bãi ra ngoài môi trường. Ngoài ra, việc
không đủ nước hay tập quán đi rẫy, ngủ trên rẫy
cũng là nguyên nhân dẫn tới tình trạng phóng
uế bừa bãi phổ biến tại cộng đồng này.
Dựa trên kết quả phân tích về thực trạng phóng
uế bừa bãi ở cộng đồng người dân tộc Raglai
tham gia nghiên cứu này với tỉ lệ 71,4% vẫn còn
phóng uế bừa bãi ra môi trường, chúng tôi thực
hiện phân tích tìm một số yếu tố liên quan tới
thực trạng này. Kết quả được trình bày ở Bảng 1.
20
Tạp chí Y tế Công cộng, Số 46 tháng 12/2018
| TOÅNG QUAN & NGHIEÂN CÖÙU |
Bảng 3.1. Một số yếu tố liên quan đến thực trạng phóng uế bừa bãi tại cộng đồng (n = 190)
Thực trạng phóng uế
OR
bừa bãi tại cộng đồng
Đặc điểm
p
(95%CI)
Không
Có n (%)
n (%)
Tiểu học trở xuống 121 (91,7) 11 (8,3)
0,24
Học vấn
0,0001
0,0001
0,04
(0,1–0,6)
THCS trở lên
Làm nông
CBVC
Hộ nghèo
Không nghèo
Không đạt
Đạt
42 (72,4) 16 (27,6)
158 (88,3) 21 (11,7)
0,1
Nghề nghiệp
Kinh tế HGĐ
Kiến thức
(0,03–0,4)
5 (45,5)
6 (54,5)
126 (88,7) 16 (11,3)
37 (77,1) 11 (22,9)
137 (92,6) 11 (7,4)
26 (61,9) 16 (38,1)
2,3
(1,0–5,5)
7,7
0,0001
0,0001
0,0001
0,001
(3,2–18,4)
Không
Có
100 (94,3)
6 (5,7)
63 (75,0) 21 (25,0)
8 (6,6)
50 (72,5) 19 (27,5)
88 (94,6) 5 (5,4)
75 (77,3) 22 (22,7)
5,6
Tiếp cận thông tin
(2,1–14,5)
Không
Có
113 (93,4)
Dịch vụ cung ứng vật liệu
tại địa phương
5,4
(2,2–13,1)
Không
Có
Chính sách hỗ trợ người
dân xây nhà tiêu
5,2
(1,9–14,3)
Kết quả Bảng 3.1 cho thấy có một số yếu tố liên Những HGĐ không tiếp cận để mua được vật
quan có ý nghĩa thống kê với tình trạng phóng liệu xây dựng nhà tiêu thì có nguy cơ phóng uế
uế bừa bãi của cộng đồng người dân tộc Raglai bừa bãi tại cộng đồng cao gấp 5,4 lần những
tại huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận. Những HGĐ dễ dàng mua được vật liệu xây dựng nhà
HGĐ không có điều kiện về kinh tế thì có nguy tiêu (95%CI: 2,2–13,1; p<0,001). Những HGĐ
cơ phóng uế ra ngoài cộng đồng cao gấp 2,3 không được hỗ trợ xây nhà tiêu thì có nguy cơ
lần những HGĐ có điều kiện kinh tế khá hơn phóng uế bừa bãi tại cộng đồng cao gấp 5,2 lần
(95%CI: 1,0 – 5,5; p<0,04). Những người có những đối tượng thuộc HGĐ được hỗ trợ xây
kiến thức không đạt thì có nguy cơ phóng uế bừa nhà tiêu (95%CI: 1,9–14,3; p<0,01).
bãi tại cộng đồng cao gấp 7,7 lần những người
4. Bàn luận
có kiến thức đạt (95%CI: 3,2–18,4; p<0,001).
4.1. Thực trạng phóng uế bừa bãi tại cộng
đồng người dân tộc Raglai
Những người không được tiếp cận thông tin về
nhà tiêu thì nguy cơ phóng uế bừa bãi tại cộng
cao gấp 5,6 lần những người được tiếp cận
thông tin tốt hơn (95%CI: 2,1–14,5; p<0,001).
Trong số 190 người dân tộc Raglai tham gia
nghiên cứu thì tỷ lệ đi tiêu tại nhà tiêu của HGĐ
21
Tạp chí Y tế Công cộng, Số 46 tháng 12/2018
| TOÅNG QUAN & NGHIEÂN CÖÙU |
còn rất thấp (14,2%), trong khi đó vẫn còn gia đình. Vì vậy, các chương trình cho vay hộ
71,4% đối tượng phóng uế ra ngoài môi trường. nghèo, cận nghèo và gia đình chính sách như
Kết quả nghiên cứu này cao hơn nghiên cứu Chương trình 30a, vay ngân hàng chính sách
của Nguyễn Thị Liên Hương và Lê Thị Thanh xã hội cho bắt nước sạch và xây nhà vệ sinh,…
Hương về thực trạng phóng uế bừa bãi tại nói chung UBND xã tạo điều kiện để người dân
cộng đồng 5 tỉnh Điện Biên, Kom Tum, Ninh có thể tiếp cận nguồn vốn vay này, nhằm tăng
Thuận, An Giang và Đồng Tháp năm 2015 tỷ lệ HGĐ có nhà tiêu HVS đạt mục tiêu của xã
tỷ lệ này là 25% [4], cao hơn nghiên cứu của đề ra” (UBND xã Phước Hoà).
Nguyễn Văn Sỹ, Lê Thị Thanh Hương tại xã
4.2. Một số yếu tố liên quan đến thực trạng
Tân Hộ Cơ, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp
phóng uế bừa bãi tại cộng đồng người dân
năm 2016 tỷ lệ này là 66,3% [6] và cao hơn
tộc Raglai
nghiên cứu của Hạc Văn Minh và cộng sự về
Trong nghiên cứu này, chúng tôi phát hiện một
số yếu tố liên quan đến thực trạng phóng uế
bừa bãi tại cộng đồng người dân tộc Raglai.
Yếu tố nhân khẩu có liên quan tới tình trạng
phóng uế bừa gồm trình độ học vấn, nghề
nghiệp và tình trạng kinh tế HGĐ của đối tượng
tham gia nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu này
tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị
Liên Hương và Lê Thị Thanh Hương về thực
trạng phóng uế bừa bãi tại cộng đồng 5 tỉnh
Điện Biên, Kom Tum, Ninh Thuận, An Giang
và Đồng Tháp năm 2015, cho thấy nhóm người
lao động tự do/làm thuê có nguy cơ phóng uế
bừa bãi cao gấp 2,7 lần so với nhóm công chức/
viên chức (95%CI: 1,2 – 5,96). Nhóm mù chữ/
không biết chữ có khuynh hướng đi tiêu bừa
bãi cao gấp 1,62 lần so với nhóm có trình độ từ
THCS trở lên (95%CI: 1,1 – 2,39) [4]. Kết quả
này cũng tương đồng với nghiên cứu của Job
Wasonga và cộng sự về các yếu tố quyết định
văn hóa xã hội để áp dụng thực hành nước sạch,
vệ sinh và vệ sinh an toàn ở Nyakach, Quận
Kisumu, Kenya cho thấy việc sử dụng nhà tiêu
cũng bị ảnh hưởng bởi chi phí xây dựng và đói
nghèo hoặc thiếu nguồn lực cũng như điều kiện
tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên là 33,0%
[8]. Nguyên nhân do một phần địa bàn nghiên
cứu là vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh, tỷ lệ hộ
nghèo chiếm khoảng 52,1%. Người dân ở khu
vực này sống làm nông, làm nương rẫy là chủ
yếu, với thời gian sống trên nương rẫy khá lớn,
đồng thời nhận thức của người dân còn hạn chế
về nhà vệ sinh, thói quen đi vệ sinh ngoài trời
vẫn còn tồn tại từ lâu, nên tình trạng phóng uế
bừa bãi tại cộng đồng người dân tộc Raglai vẫn
còn khá cao.
“Địa phương thuộc vùng sâu, vùng xa và vùng
đặc biệt khó khăn của tỉnh, tỷ lệ hộ nghèo khá
cao. Đặc biệt là người dân ở khu vực này sống
chủ yếu làm nông, làm nương rẫy là chính.
Ngoài ra, bạn thân họ còn lo toan đến cuộc
sống, thường xuyên đi kiếm sống nên việc tiếp
cận kiến thức, thông tin của người dân ở đây
còn rất hạn chế lắm, vì vậy tình trạng phóng uế
bừa bãi ra ngoài môi trường vẫn còn ở đây”.
(UBND xã Phước Bình).
“Hiện tại vấn đề quan tâm của địa phương là
phát triển kinh tế xã hội, đồng thời gắn liền
vấn đề nước sạch và công trình nhà tiêu hộ
22
Tạp chí Y tế Công cộng, Số 46 tháng 12/2018
| TOÅNG QUAN & NGHIEÂN CÖÙU |
5. Khuyến nghị
đất đai. Ngoài ra, nghiên cứu này còn phát hiện
ra rằng nhiều thành viên của cộng đồng không
thể xây nhà vệ sinh do chi phí liên quan vì phần
lớn trong số họ là người nghèo [12]. Ngoài ra
còn một yếu tố khác có liên quan tới tình trạng
phóng uế bừa gồm kiến thức, tiếp cận thông
tin, dịch vụ cung ứng vật liệu tại địa phương
và chính sách hỗ trợ người dân xây nhà vệ sinh
của đối tượng tham gia nghiên cứu. Kết quả
nghiên cứu này tương đồng với báo cáo của
Chương trình Nước và Vệ sinh của Unicef thực
hiện tại Đông Java năm 2011, cho thấy chính
sách hỗ trợ từ các chương trình của chính quyền
địa phương và các dự án quốc gia về phát triển
cộng đồng và xóa đói giảm nghèo, cũng như
từ các quỹ trách nhiệm xã hội của khu vực tư
nhân là công cụ thành công để chấm dứt tình
trạng phóng uế bừa bãi tại cộng đồng (ODF)
[11]. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng tương
đồng với nghiên cứu của Parimita Routray và
cộng sự về các yếu tố văn hóa xã hội và hành
vi hạn chế việc chấp nhận nhà tiêu ở vùng nông
thôn ven biển Odisha - Ấn Độ năm 2015, cho
thấy thói quen đi vệ sinh ngoài trời của phụ nữ,
nam giới, trẻ em, người già, người tàn tật và
người ốm yếu được cho là có liên quan đến tình
trạng phóng uế bừa bãi tại cộng đồng [10]. Địa
bàn nghiên cứu này là vùng sâu, vùng xa của
Các ban ngành đoàn thể tại địa phương khi
triển khai các chương trình, dự án cần có chính
sách hỗ trợ về kinh phí, kỹ thuật, các biện pháp
can thiệp như phát huy và thực hiện những mô
hình khuyến khích vệ sinh đang phát huy hiệu
quả bao gồm: cộng đồng tham gia vào việc giải
quyết triệt để việc phóng uế bừa bãi, vệ sinh
môi trường mở rộng, Chương trình vệ sinh tổng
thể do cộng đồng làm chủ, Cộng đồng chấm
dứt tình trạng phóng uế bừa bãi,…nhằm tăng tỷ
lệ HGĐ có nhà tiêu HVS tại địa bàn nghiên cứu
trong thời gian tới.
Cung cấp các nguồn thông tin để HGĐ tiếp cận
về nhà tiêu HVS, chính sách hỗ trợ xây nhà tiêu
cho các đối tượng đặc biệt khó khăn, các nguồn
vốn vay từ các chương trình nước sạch và vệ
sinh môi trường.
Những HGĐ có nhà tiêu nhưng không HVS,
những HGĐ chưa có nhà vệ sinh và những
HGĐ thường xuyên đi làm nương rẫy thì cần
hướng dẫn cho người dân lựa chọn loại nhà tiêu
phù hợp với điều kiện địa lý, kinh tế HGĐ như
nhà tiêu chìm có ống thông hơi, nhà tiêu tự hoại
xây bằng ống bi.
Tài liệu tham khảo
tỉnh Ninh Thuận, và người dân có thói quen đi Tiếng Việt
vệ sinh bừa bãi ngoài môi trường còn cao. Vì
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2016), Báo cáo tổng
vậy, để đạt được mục tiêu của chương trình đến
cuối năm 2020 là 75% HGĐ có nhà tiêu HVS
và đến năm 2025 sẽ chấm dứt việc đi tiêu bừa
bãi thì đây là một thách thức lớn đối với huyện
Bác Ái.
hợp Nghiên cứu, rà soát 17 mục tiêu chung và
169 mục tiêu cụ thể trong Chương trình nghị sự
2030 vì sự phát triển bền vững của Liên Hợp
Quốc để đánh giá thực trạng và xác định các
mục tiêu phù hợp, khả thi với điều kiện của Việt
23
Tạp chí Y tế Công cộng, Số 46 tháng 12/2018
| TOÅNG QUAN & NGHIEÂN CÖÙU |
Nam, làmcơ sở cho việc quốc gia hóa các mục có con dưới 5 tuổi tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái
tiêu phát triển bền vững toàn cầu, Hà Nội.
Nguyên”, Tạp chí Y tế công cộng, 16, tr. 54-58.
2. Bộ Y tế (2011), Thông tư số 27/2011/TT-
BYT ngày 24/6/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế về
việc Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
nhà tiêu, điều kiện đảm bảo vệ sinh, Hà Nội.
Tiếng Anh
9. Coffey D (2014), “Culture, religion and open
defecation in rural north India 2014”.
10. Parimita Routray, Wolf-Peter Schmidt and
et al (2015), “Socio-cultural and behavioural
factors constraining latrine adoption in rural
coastal Odisha: an exploratory qualitative
study”, BMC Public Health, 15(880), page.
1-19.
3. Cục Quản lý môi trường y tế và UNICEF
(2011), Báo cáo mối liên quan giữa vệ sinh
môi trường, nguồn nước hộ gia đình và hành
vi chăm sóc trẻ của bà mẹ với tình trạng dinh
dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại Việt Nam, Hà Nội.
4. Nguyễn Thị Liên Hương và Lê Thị Thanh
Hương (2015), “Thực trạng phóng uế bừa bãi
tại cộng đồng 5 tỉnh Điện Biên, Kom Tum,
Ninh Thuận, An Giang và Đồng Tháp năm
2015 “, Tạp chí Y học dự phòng, Tập XXVI(số
4(177)), tr. 187 - 194.
11. UNICEF (2011), Water and sanitation
program - Scaling Up Rural Sanitation “Factors
Associated with Achieving and Sustaining
Open Defecation Free Communities: Learning
from East Java 2011”.
12. Job Wasonga, Mark Okowa and Felix
Kioli (2016), “Sociocultural Determinants
to Adoption of Safe Water, Sanitation, and
Hygiene Practices in Nyakach, Kisumu County,
Kenya: A Descriptive Qualitative Study”,
Hindawi Publishing Corporation Journal of
Anthropology, 2016, page. 1-6.
5. Ngân hàng Thế giới (2014), Vệ sinh nông
thôn mở rộng -Đầu tư vào thế hệ kế cận: Trẻ em
cao và thông minh hơn ở vùng miền núi, nông
thôn Việt Nam nơi các thành viên trong cộng
đồng sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh. Báo cáo
tóm tắt nghiên cứu. 2014, Hà Nội.
6. Nguyễn Văn Sĩ và Lê Thị Thanh Hương
(2016), “Thực trạng và một số yếu tố liên quan
đến nhà tiêu hợp vệ sinh của người dân xã Tân
Hộ Cơ, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp năm
2016 “, Tap chí Y học Cộng đồng, 36, tr. 70-74.
13. World Bank (2013), Investing in the Next
Generation: Growing Tall and Smart with
Toilets. Stopping Open Defecation Improves
Children’s Height in Cambodia 2013.
7. Trung tâm Y tế huyện Bác Ái (2017), Báo
cáo công tác hoạt động y tế năm 2017, phương
hướng nhiệm vụ năm 2018.
8. Hạc Văn Vinh, Đàm Khải Hoàn và Đào Văn
Dũng (2010), “Thực trạng sử dụng nguồn nước
và nhà tiêu hợp vệ sinh, kiến thức, thái độ và thực
hành vệ sinh môi trường của phụ nữ (15-49 tuổi)
24
Tạp chí Y tế Công cộng, Số 46 tháng 12/2018
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng phóng uế bừa bãi tại cộng đồng người dân tộc thiểu số Raglai và một số yếu tố liên quan tại huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận năm 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
thuc_trang_phong_ue_bua_bai_tai_cong_dong_nguoi_dan_toc_thie.pdf

