Tầm nhìn về thất sơn: Một mô hình hai tác dụng

Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 6 (140) . 2017  
ĐẤT NƯỚC - NHÂN VẬT  
49  
TẦM NHÌN VỀ THẤT SƠN:  
MỘT MÔ HÌNH HAI TÁC DỤNG  
Vĩnh Thông*  
1. Đặt vấn đề  
Trong công cuộc khai phá Nam Bộ của người Việt, vùng đồi núi Thất Sơn -  
An Giang luôn được xem là “đất dữ”, cực kỳ khó khăn để chinh phục. Ấy vậy mà  
việc khai phá Thất Sơn lại khởi đầu và có hiệu quả từ hoạt động của một tôn giáo  
thông qua nhãn quan sâu sắc của vị giáo chủ. Đó chính là đạo Bửu Sơn Kỳ Hương  
của Đức Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên.  
Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương là tôn giáo nội sinh đầu tiên ở Nam Kỳ, ra đời năm  
1849. Người sáng lập là ông Đoàn Văn Huyên (1807 - 1856), sau xuất gia với pháp  
danh Minh Huyên - Pháp Tạng theo bài kệ truyền thừa của chi phái Lâm Tế dòng  
đạo Bổn Ngươn, nên người đời sau gọi là Đoàn Minh Huyên, tôn xưng là Đức Phật  
Thầy Tây An. Khoảng năm 1847 - 1849, quanh vùng Hậu Giang xảy ra dịch bệnh,  
ông đi nhiều nơi trị bệnh và khuyên mọi người tu hành. Bị triều đình nghi là “gian  
đạo sĩ”, họ buộc ông đến chùa Tây An (Núi Sam - nay thuộc thành phố Châu Đốc,  
tỉnh An Giang) xuất gia. Tại đây, ông tiếp tục trị bệnh và phổ truyền giáo lý.  
Đạo của ông dạy Tứ ân: ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân Tam bảo, ân đồng  
bào nhân loại. Tu hành không trọng hình thức, không tụng kinh, không bài trí hình  
tượng mà chỉ thờ trần điều (tấm vải đỏ) tượng trưng vô vi thanh tịnh. Tín đồ là cư sĩ  
tại gia, có thể lập gia đình, vừa làm ăn vừa tu hành. Chủ trương của ông không ngồi  
chờ đắc đạo mà phải làm lụng phục vụ cuộc sống, không xuất thế mà nhập thế.  
Giáo chủ đạo Bửu Sơn Kỳ Hương là một trong số ít ỏi những người đầu tiên  
có tầm nhìn sâu rộng về giá trị của Thất Sơn. Ông đã cùng tín đồ của mình tổ chức  
cuộc khai khẩn với quy mô lớn đầu tiên trên vùng đất này, lập thành làng xóm và  
quy tụ dân cư đến sinh sống đông đúc. Trong bối cảnh thế kỷ XIX, đất An Giang  
còn là nơi hoang hóa, vị tu sĩ họ Đoàn đã không chỉ thể hiện vai trò là nhà truyền  
giáo có sức ảnh hưởng lớn về mặt tinh thần, mà còn là nhà dinh điền có đôi mắt  
nhạy bén, có khả năng tổ chức công tác khẩn hoang bằng một mô hình đặc biệt  
mang lại hai tác dụng lớn.  
*
An Giang.  
50  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 6 (140) . 2017  
2. Tầm nhìn về vùng Thất Sơn  
Thất Sơn là vùng đất bán sơn địa, địa hình đồi núi lỏm chỏm xen giữa đồng  
bằng, ngày nay nằm trên địa bàn hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn của tỉnh An  
Giang. Gọi là Thất Sơn nhưng kỳ thực có đến hàng chục ngọn. Con số bảy chỉ là  
biểu trưng mang tính tâm linh và đến nay các nhà nghiên cứu vẫn còn tranh luận  
với nhiều lý giải khác nhau. Tuy nhiên, trong tâm thức dân gian Nam Bộ, bảy ngọn  
núi thiêng được mặc định là Núi Két (Anh Vũ Sơn), núi Dài Năm Giếng (Ngũ  
Hồ Sơn), Núi Cấm (Thiên Cẩm Sơn), Núi Dài (Ngọa Long Sơn), Núi Tô (Phụng  
Hoàng Sơn), Núi Tượng (Liên Hoa Sơn) và Núi Nước (Thủy Đài Sơn).  
Đường vào vùng Thới Sơn (trái) và Núi Két hiện nay. Ảnh: Vĩnh Thông.  
Ngày nay, Thất Sơn là vùng có nhiều tiềm năng phát triển. Nơi đây có nguồn  
khoáng sản dồi dào, hệ động thực vật phong phú với nhiều loài quý, nhiều dược  
thảo giá trị. Ngoài khai thác tự nhiên, người dân vùng Bảy Núi còn trồng lúa ruộng  
trên (lúa khô ở ruộng chân núi) với nhiều loại gạo ngon, trồng cây ăn quả buôn bán  
khắp đồng bằng. Đặc biệt, thế mạnh hàng đầu của nơi đây là du lịch, mỗi năm thu  
hút hàng triệu lượt khách, một phần vì là vùng núi hiếm hoi ở châu thổ đồng bằng  
sông Cửu Long, một phần vì các tôn giáo bản địa đã khoác lên cho Thất Sơn lớp  
áo huyền bí để trở thành “linh địa” xứ Nam Kỳ.  
Tuy nhiên, đó chỉ là những thế mạnh hiện nay. Trở lại bối cảnh thế kỷ XVIII  
- XIX, trong quá trình lưu dân vào Nam khai phá, vùng đất An Giang không phải  
là lựa chọn ưu tiên của họ. Bởi An Giang có hai địa hình chính: một là đồng bằng  
trũng thấp (nê địa) ngập nước khó canh tác, hai là vùng bán sơn địa rừng thiêng  
nước độc cũng không là nơi thích hợp lập nghiệp. Trong khi đó, khu vực hạ châu  
thổ Cửu Long như Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long… đất đai màu mỡ, trồng lúa  
hay cây trái đều hiệu quả, những lưu dân đến sớm đã chọn vùng này. Những lưu  
dân đến trễ hơn, đành phải dạt về những vùng khó khăn như An Giang.  
Nhưng đặc biệt, hiếm ai dám bén mảng đến Thất Sơn. Mãi đến nửa cuối thế  
kỷ XIX, Thất Sơn vẫn là vùng lam sơn chướng khí. Thiên nhiên không ưu đãi con  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 6 (140) . 2017  
51  
người khi mọi phương diện trong đời sống sinh hoạt đều rất khó khăn: hạn hán,  
thiếu nước, thiếu lương thực, thú dữ…. Đây cũng là khu vực biên giới, nhiều lần bị  
quân Xiêm tấn công vào thời chúa Nguyễn và đầu triều Nguyễn, nhìn chung tình  
hình rất bất ổn. Người đến Thất Sơn buổi ấy đa phần là những hạng người cá biệt:  
tù phạm thi hành án đày ra biên ải, cao nhân ẩn sĩ lánh đời, lục lâm thảo khấu chọn  
làm bản doanh để xưng hùng xưng bá…  
Vì vậy, đưa người nông dân đến khẩn hoang Thất Sơn trong hoàn cảnh đó là  
việc làm táo bạo. Việc làm ấy lại bắt nguồn từ tôn giáo. Dưới lá cờ tôn giáo, ông  
đạo Đoàn Minh Huyên rao giảng thuyết Tận thế, vùng Thất Sơn là thánh địa tổ  
chức hội Long Hoa để lập đời mới Thượng ngươn, kêu gọi tín đồ quy tụ về thánh  
địa sinh sống và tu hành chờ ngày “đổi đời”. Không chỉ truyền bá lời tiên tri như  
thế, ông còn cụ thể hóa thông qua hành động thực tế. Năm 1851, ông cùng các đệ  
tử đến khai phá dưới chân Núi Két, biến rừng hoang thành đồng ruộng, lập những  
cơ sở tôn giáo, gom tín đồ về sống quây quần cùng nhau để dần dần phát triển  
thành làng xóm.  
Tiên phong trong khai khẩn Thất Sơn chính là tín đồ của đạo Bửu Sơn Kỳ  
Hương, điều đó phần nào chứng tỏ tầm nhìn của vị giáo chủ họ Đoàn về vùng “linh  
địa” này. Mặc khác, vào thời điểm bấy giờ có lẽ chỉ có sức mạnh tâm linh của tôn  
giáo và mô hình tổ chức đặc thù tôn giáo, mới đủ tạo cho người nông dân nội lực  
đương đầu với mọi khó khăn trong hành trình chinh phục vùng “đất dữ”. Đó là mô  
hình tổ chức cộng đồng kết hợp giữa đạo và đời mang tên: Trại ruộng.  
3. Một mô hình hai tác dụng  
3.1. Xây dựng đời sống vật chất  
Bắt nguồn từ chủ trương của Phật Thầy Tây An là tu hành không phải suốt  
ngày chỉ gõ mõ tụng kinh mà còn phải lao động, kết hợp với thực tế tín đồ Bửu  
Sơn Kỳ Hương là cư sĩ tại gia, có gia đình và phải làm ăn để phục vụ đời sống.  
Từ đó, mô hình trại ruộng đã được tổ chức phù hợp để người tín đồ vừa có thể tu  
hành nhưng cũng không vì lợi ích bản thân mà quên đi cộng đồng xã hội. Dĩ nhiên  
tu hành là điều cốt yếu mà tôn giáo nào cũng xem trọng, nhưng đối với Bửu Sơn  
Kỳ Hương thì làm lụng không được tách rời khỏi tu hành. Trong các tác phẩm sấm  
giảng còn truyền lại, ta thấy chủ trương của Phật Thầy vẫn là: “Việc chẳng làm  
than thân rằng khó / Của ở đời ai có cho không” [Giác mê]. Nói cách khác, Bửu  
Sơn Kỳ Hương không dung dưỡng cho sự biếng nhác trong lao động.  
Ý thức được có an cư mới lạc nghiệp, như ông bà ta xưa nay luôn dạy thế.  
Sau khi tiến hành khai khẩn đất hoang, tín đồ tiếp tục bắt tay vào canh tác ruộng  
rẫy, với mong mỏi xây dựng cuộc sống mới ổn định, ấm no. Mặc khác, vùng Thất  
Sơn buổi đó xung quanh là rừng núi hoang sơ, được mô tả là nơi: “Huê tươi trước  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 6 (140) . 2017  
52  
mặt thơm tho nực / Thú dữ bên mình nhã nhớn chơi” [Giác mê]. Nơi con người  
phải đối mặt với muôn vàn trắc trở như thế, nếu không tự canh tác thì ai sẽ chu cấp  
cho cuộc sống của mình? Họ sẽ không có gì ngoài hai bàn tay trắng.  
Ở trại ruộng, những tín đồ sống quây quần cùng nhau, ban ngày cùng ra đồng  
cày cấy, ban đêm về lo tu hành. Đứng trước cả một vùng rừng rậm hoang vu, con  
người lại phải đối phó với khí hậu khắc nghiệt, thú dữ, bệnh tật…, vậy mà chỉ với  
công cụ thô sơ và quan trọng hơn hết là sức mạnh chính đôi tay mình, họ đã phấn  
đấu không ngừng. Kết quả là sau một năm khai khẩn, năm 1852 hai ngôi làng chính  
thức hình thành với tên Xuân Sơn và Hưng Thới (năm 1890 sáp nhập thành Thới  
Sơn, nay thuộc huyện Tịnh Biên, tỉnhAn Giang). Nguyễn Văn Hầu [2006:125] cho  
rằng: “Người ta thấy nếp sống gần với thiên nhiên này rất thi vị và thoát tục, nên  
vui lòng theo đuổi mãi công việc”. Quả vậy, nếp sống đó được họ thi vị hóa trở nên  
thoát tục như sấm giảng Giác mê viết: “Khát thời uống nước Tào Khê / Đói ăn ma  
phạn(*) tối về canh tân” [Giác mê].  
Như Phật Thầy dạy, đã đến với thánh địa “Bửu Sơn” thì phải bền chí cả về  
đạo lẫn đời:  
“Sắt mài đã trọng thừa công  
Bửu Sơn đã tới tay không dễ về  
Dốc một lòng lên non đào giếng  
Kẻo lời phàm đem tiếng thị phi”  
[Giác mê]  
Lên non đào giếng phải chăng mang hai hàm nghĩa, có liên quan đến công  
cuộc khai khẩn Thới Sơn của tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương? Một mặt, chi tiết tìm  
nguồn nước trên núi là sự ví von cho những khó khăn của người tu hành. Nhưng  
mặt khác nó cũng rất thực tế, bởi trại ruộng nằm trên vùng đất đồi núi, cao ráo nên  
khô cằn, thiếu nước, người dân phải đào giếng tìm nguồn nước. Minh chứng là  
hiện nay ở chùa Phước Điền (trên phần đất trại ruộng xưa) vẫn còn giếng nước của  
Phật Thầy Tây An.  
3.2. Xây dựng đời sống tinh thần  
Không chỉ kiến trí vùng đất mới, tu sĩ họ Đoàn còn chú ý đến việc xây dựng  
con người mới trên vùng đất đó. Việc lao động ở chốn hiểm trở như sự thử thách  
người tín đồ trong quá trình tu tập: đem lửa thử vàng. Bởi từ thực tiễn cuộc sống lạ  
lẫm ở nơi vừa khai phá, buộc người tín đồ phải chuẩn bị cho mình một tâm thế mới.  
“Con đường đi vào Thới Sơn là con đường đầy hiểm trở thì chắc rằng những người  
không có tâm đạo không khi nào đi đến” [Vương Kim và Đào Hưng, 1953:48].  
*
Ma phạn: cơm muối vừng. VT.  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 6 (140) . 2017  
53  
Trước hết, với tư cách là người nông dân đi khai phá, lối sống ở trại ruộng  
phải đề cao cộng đồng, tập thể. Để tồn tại và tu tập ở vùng đất lạ, họ phải đoàn  
kết giúp đỡ nhau: “Dìu dẫn nhau điểm tô công quả / Phải thật tình với cả chung  
quanh” [Mười điều khuyên tu]. Nhưng với tư cách là tín đồ tôn giáo, họ còn phải  
buông bỏ tham sân si: “Không ham những chuyện mênh mông / Vừa no, đủ ấm, đèo  
bồng mà chi” [Mười điều khuyên tu]. Nếu Trần Nhân Tông từng dạy “Sống trần  
vui đạo phải tùy duyên” (nguyên văn “Cư trần lạc đạo thả tùy duyên” trong bài thơ  
“Cư trần lạc đạo”) thì tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương phải thế, giữa lao động và tu hành  
phải được kết hợp hài hòa trong tinh thần tiêu dao:  
“Khi rảnh việc đồng sâu chợ búa  
Đem sấm kinh tự của thầy ban  
Học cho thông thuộc đôi hàng  
Ngâm nga trong lúc thanh nhàn băn khoăn”.  
[Mười điều khuyên tu]  
Không hề bắt ép nặng nề mà chỉ học thuộc đôi hàng, cũng chẳng thực hiện  
nghi lễ rườm rà cao siêu mà chỉ “ngâm nga trong lúc thanh nhàn băn khoăn”,  
chẳng phải sống trần vui đạo hay sao? Theo Đặng Thế Đại [2008] “họ coi chính sự  
sinh hoạt bình thường ấy là tu hành, lấy ngay đời sống bình thường làm đời sống  
tu hành, và vì vậy, mọi hành xử trong đời sống đều là tu, phải hành xử theo tinh  
thần của đạo Phật”.  
Quan niệm sống vô vi, thuận tự nhiên của triết học Lão - Trang bàng bạc  
trong tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương. Đứng trước thiên nhiên khắc nghiệt, tín đồ  
không nản lòng mà vẫn có thể ung dung: “Giày cỏ tới lui trời đất rộng / Áo sen xài  
xạt núi sông dài” [Giác mê]. Được như thế, tâm hồn người tu hành phải thoát khỏi  
những tác động của ngoại cảnh: “Một tấm lòng nhàn mây sắc trắng / Trăm đường  
tục lợi nước màu xanh” [Giác mê]. Rõ chẳng phải thoát tục đó sao?  
Tâm thế đó, ta còn nhiều lần bắt gặp trong các tác phẩm sấm giảng của Bửu  
Sơn Kỳ Hương. Nhưng đáng chú ý hơn cả là, nó thậm chí đã vượt ra khỏi kinh  
giảng và giáo lý một tôn giáo, nâng thành lối sống cộng đồng. Đình làng là thiết  
chế văn hóa cộng đồng mang đậm dấu ấn Nho giáo, vậy mà ở mặt tiền đình Thới  
Sơn lại có đôi liễn đối vượt thoát tư tưởng Khổng - Mạnh: “Quân phi quân, thần  
phi thần, quân thần giai cộng lạc / Phụ phi phụ, tử phi tử, phụ tử thị đồng hoan”.  
Vấn đề rèn luyện con người trên vùng đất Thất Sơn vẫn còn được nhắc đến  
khá ẩn ý sau thời kỳ khai phá, trong bộ tác phẩm Kim cổ kỳ quan của ông Nguyễn  
Văn Thới - một vị tu sĩ nổi danh thuộc thế hệ thứ ba của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương:  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 6 (140) . 2017  
54  
“Bề nào hội thí Thất Sơn  
Biết rằng quân tử tiểu nhơn vuông tròn”  
Phải chăng ẩn ý rằng muốn “kiểm tra” đạo đức của người tín đồ thì phải đưa  
đến vùng khó khăn như Thất Sơn?  
Đình Thới Sơn (trái) và chùa Thới Sơn. Ảnh Vĩnh Thông.  
4. Kết quả và nhận định  
Ông Vương Thông, cũng là tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương thuộc thế hệ thứ ba, có  
viết bài vè Thất Sơn vào sau khi Thới Sơn đã được khai khẩn hơn nửa thế kỷ. Qua  
đó, có thể thấy công sức của tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương bỏ ra đã thu được những  
thành quả đáng kể, vùng đồi núi trở nên sung túc nhanh chóng dưới bàn tay của  
những người biết sống và tu tập theo giáo lý Phật Thầy:  
“Xuân Sơn, Hưng Thới, Nhơn Hòa  
Ba làng thiên hạ người ta vầy vầy  
Đua nhau cuốc đất trồng cây  
Vái Phật cùng Thầy dạ ở làm ăn  
[…]  
Nam thanh nữ tú vui thay  
Chợ thời buôn bán tối ngày không tan  
Khai kinh, dọn lộ, đắp đàng  
Thương hồ qua lại cả ngàn vô ra  
[…]  
Tóc xanh chí những bạc đầu  
Bán buôn từ thiện giữ câu tu trì  
Thuở xưa thầy cựu có ghi  
Ngày sau Bảy Núi vĩnh vi đời đời  
Danh thơm có báu Kỳ Hương  
Ở cho đạo đức bốn phương phục tùng  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 6 (140) . 2017  
55  
Tích hiền đừng có tích hung  
Tích nhơn, tích nghĩa, tích trung, tích lành”.  
[Dẫn lại từ Nguyễn Văn Hầu và Dật Sĩ, 1955: 307]  
Danh hiệu tôn giáo Bửu Sơn Kỳ Hương dù ra đời từ năm 1849, trước khi họ  
đến khai khẩn Thất Sơn năm 1851, nhưng theo nhiều nhà nghiên cứu thì nó có liên  
quan đến Thất Sơn. “Bửu Sơn” là núi báu, sẽ tỏa ra “Kỳ Hương” là mùi hương lạ.  
Núi báu tỏa mùi thơm phải chăng là quá trình lao động của tín đồ với đời sống thoát  
tục và cống hiến, trải qua bao gian khó đã đơm hoa kết trái trên vùng đất thiêng?  
Rao giảng thuyết Tận thế, vùng Thất Sơn là thánh địa diễn ra hội Long Hoa,  
lập đời mới Thượng ngươn… đều là những tiền đề để trở thành động lực chấn hưng  
Phật giáo, một sự sáng tạo của Phật Thầy TâyAn [Vĩnh Thông, 2012:67]. Gom dân  
về vùng xa xôi hẻo lánh, khai phá đất hoang để canh tác và sinh sống, là một kiểu  
dinh điền của thời đại mới, hết sức khéo léo. Chủ trương khuyến khích định cư và  
canh tác trên vùng đất khắc nghiệt, không chỉ làm thay đổi đời sống ở nơi đó, mà  
còn buộc người tín đồ rèn luyện sức khỏe, biết chịu đựng khó khăn, thích nghi để  
tồn tại, nhưng trên hết vẫn là rèn luyện tâm hồn, nuôi dưỡng đạo đức của người tu  
hành. Vậy thì đời mới Thượng ngươn ở đâu xa, nếu không phải là một đời sống thế  
tục sung túc và một đời sống tâm hồn an lạc?  
Nhà cải cách tôn giáo Pháp Tạng thiền sư, hay Đức Phật Thầy Tây An giáo  
chủ đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, hay nhà dinh điền Đoàn Minh Huyên… dù nhìn với  
tư cách nào, chúng ta vẫn thấy ông là một con người có tầm vóc kỳ vĩ. Mô hình trại  
ruộng độc đáo của ông đã góp phần không nhỏ vào công cuộc phát triển vùng Bảy  
Núi, biến nó thành “hội Long Hoa tại thế”. Và quan trọng hơn, để xứng đáng sống  
“đời mới” Thượng ngươn cần phải có những con người mới, ông đã quan tâm xây  
dựng lớp người đó - những người biết “tích nhơn, tích nghĩa, tích trung, tích lành”.  
V T  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Ðặng Thế Ðại (2008), “Tính đặc sắc Nam Bộ và truyền thống văn hóa Việt Nam qua một  
dòng tôn giáo”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 58, tháng 4/2008.  
2. Nguyễn Văn Hầu (2006), Nửa tháng trong miền Thất Sơn (tái bản), Nxb Trẻ, TP HCM.  
3. Nguyễn Văn Hầu và Dật Sĩ (1955), Thất Sơn mầu nhiệm, Nxb Liên Chính, Sài Gòn.  
4. Vương Kim và Đào Hưng (1953), Đức Phật Thầy Tây An, Nxb Long Hoa, Sài Gòn.  
5. Phật Thầy Tây An (tương truyền), Mười điều khuyên tu, tài liệu không xuất bản.  
6. Vĩnh Thông (2012), “Tìm hiểu nguồn gốc danh xưng Bảy Núi”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo,  
số 11 (113), tháng 12/2012.  
7. Nguyễn Văn Thới, Kim cổ kỳ quan, tài liệu không xuất bản.  
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 6 (140) . 2017  
56  
TÓM TẮT  
Bửu Sơn Kỳ Hương là tôn giáo bản địa đầu tiên ở Nam Bộ, mang tinh thần nhập thế cao.  
Trong buổi đầu truyền đạo, Bửu Sơn Kỳ Hương đã đẩy mạnh việc khai khẩn vùng Thất Sơn (An  
Giang), là miền biên viễn phía tây nam đất nước. Bài viết này phân tích mô hình “Trại ruộng” của  
các tín đồ đạo Bửu Sơn Kỳ Hương trong buổi đầu khai phái vùng Thất Sơn vào nửa sau thế kỷ  
XIX. Mô hình này một mặt khuyến khích người dân định cư, khai phá vùng đất khắc nghiệt thành  
một nơi trù phú, mặt khác đó cũng là môi trường rèn luyện tâm hồn, nuôi dưỡng đạo đức của  
người tu hành, biết “tích nhơn, tích nghĩa, tích trung, tích lành”.  
ABSTRACT  
AN OUTLOOK ON THẤT SƠN: ONE MODEL - TWO EFFECTS  
The religious belief of Bửu Sơn Kỳ Hương (Way of the Strange Fragrance from the Precious  
Mountain) in the South was the first indigenous religion which had the spirit of entering into life.  
In the beginning of this religion, the followers were encouraged to go and break fresh ground in  
the area of Thất Sơn range (An Giang), the southernmost part of the country. This article aims to  
analyze the model of “Trại ruộng” (Farm of paddy-fields) of Bửu Sơn Kỳ Hương’s followers during  
early days of cultivating the area of Thất Sơn in the second half of the 19th century. This model, on  
the one hand, encouraged people to settle down and cultivate the harsh land into a prosperous  
area; on the other hand, it was also the environment for the improvement of the soul and the  
nurture of morality, helping those who lead a religious life know how to accumulate of the monk,  
accent, accumulate “humanity, righteousness, loyalty and goodness”.  
pdf 8 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 17600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tầm nhìn về thất sơn: Một mô hình hai tác dụng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftam_nhin_ve_that_son_mot_mo_hinh_hai_tac_dung.pdf