Ý thức đối thoại của Nguyễn Ngọc Tư với văn học truyền thống thông qua những nhân vật nữ trong tập truyện không ai qua sông

Tập 183, số 07, 2018  
T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ  
183(07)  
Journal of Science and Technology  
N¨m 2018  
CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN – KINH TẾ  
Môc lôc  
Trang  
Hoàng Thị Phương Nga - Mô hình du lịch văn học “Làng Vũ Đại ngày ấy”  
3
9
Phạm Thị Thu Hoài, Trần Thị Thanh - Tiếng lóng trong truyện về đề tài giáo dục của Văn Thành Lê  
Ngô Thị Thanh Nga, Phạm Thị Hồng Vân - Vài nét về các phương thức thể hiện tình vợ chồng trong văn  
học trung đại Việt Nam  
15  
21  
Nguyễn Thị Thắm, Nguyễn Minh Sơn - Ý thức đối thoại của Nguyễn Ngọc Tư với văn học truyền thống thông  
qua những nhân vật nữ trong tập truyện Không ai qua sông  
Đặng Thị Thùy, Nguyễn Diệu Thương - Lô gích của các hiện tượng “phi lô gích” trong ca dao, tục ngữ  
người Việt  
27  
33  
39  
45  
Đinh Thị Giang - Những nhân tố ảnh hưởng đến lối sống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay  
Nguyễn Diệu Thương, Nguyễn Thị Lan Hương - Phương thức tạo hàm ý trong tiểu phẩm trào phúng  
Nguyễn Thu Quỳnh, Vì Thị Hiền - Từ ngữ chỉ đồ gia dụng trong tiếng Thái ở tỉnh Điện Biên  
Nguyễn Thị Thu Oanh, Hoàng Thị Mỹ Hạnh - Vị thế, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng Sản Việt Nam giai  
đoạn 1945 - 1975 và một số bài học kinh nghiệm  
51  
57  
Đỗ Hằng Nga, Phạm Quốc Tuấn - Việc thu thuế trong làng xã qua tư liệu hương ước cải lương tỉnh Thái Nguyên  
Lê Văn Hiếu - Hiệu quả hoạt động của mô hình “ban tuyên vận” xã, phường, thị trấn và “tổ tuyên vận” thôn, bản, tổ  
dân phố ở tỉnh Lào Cai trong giai đoạn hiện nay  
63  
Thái Hữu Linh, Nguyễn Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Thanh Hà - Vai trò của hậu phương Bắc Thái trong cuộc  
tổng tiến công Mậu Thân năm 1968  
69  
73  
Phạm Anh Nguyên - Sức hấp dẫn trong Hài đàm của Phan Khôi  
Nguyễn Thị Hường, Nguyễn Thị Mão, Nguyễn Tuấn Anh - Nâng cao hiệu quả tổ chức các hoạt động ngoại  
khoá trong dạy học môn giáo dục công dân ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Thái  
Nguyên hiện nay  
79  
85  
Nguyễn Văn Dũng, Đào Ngọc Anh - Thực trạng thể chất của sinh viên không chuyên thể dục thể thao Trường  
Đại hoc Sư phạm – Đại học Thái Nguyên  
Trần Bảo Ngọc, Lê Ngọc Uyển, Bùi Thanh Thủy và cs - Thực trạng xếp loại tốt nghiệp sinh viên diện cử  
tuyển ở trường Đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên giai đoạn 2013-2017  
91  
Nguyễn Thúc Cảnh - Nghiên cứu xây dựng hệ thống bài tập có nội dung thực tế trong giảng dạy cơ học cho  
học sinh trung học phổ thông  
97  
Hà Thị Kim Linh, Chu Thị Bích Huệ - Giáo dục kiến thức pháp luật cho phụ nữ vùng dân tộc thiểu số ở huyện  
Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên  
105  
Nguyễn Thị Thanh Hồng, Nguyễn Thị Khánh Ly, Vũ Kiều Hạnh - Tăng cường sự tham gia của sinh viên  
vào các hoạt động học tiếng Anh trong lớp học đông nhiều trình độ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học  
Y Dược – Đại học Thái Nguyên  
111  
Phạm Thị Huyền, Vũ Thị Thủy - Vận dụng phong cách nêu gương theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng  
phong cách làm việc đối với cán bộ chủ chốt ở nước ta hiện nay  
117  
123  
Đàm Quang Hưng - Thiết kế bài học khoa học lớp 4, lớp 5 theo hướng tìm tòi thực nghiệm  
Hoàng Thị Thu Hoài - Những khó khăn trong việc dạy và học từ vựng tiếng Anh chuyên cho sinh viên chuyên  
ngành điều dưỡng, trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên và một số giải pháp đề xuất  
129  
Nguyễn Lan Hương, Văn Thị Quỳnh Hoa - Những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng nói tiếng Anh của sinh  
viên năm thứ nhất trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên  
135  
141  
147  
153  
Vũ Kiều Hạnh - Những yếu tố quyết định đến mức độ đọc hiểu của sinh viên năm thứ hai tại trường Đại học  
Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên  
Nguyễn Thị Quế, Hoàng Thị Nhung - Hỏi đúng để tự học và học tập cộng tác thành công – hướng tới xây  
dựng người học ngoại ngữ độc lập trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế  
Ngô Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Hoài Thu - Ứng dụng các phương pháp giảng dạy tích cực nhằm nâng cao chất  
lượng dạy – học tiếng Việt cho học viên quốc tế tại Học viện Kỹ thuật Quân sự  
Dương Văn Tân - Đánh giá hiệu quả áp dụng trò chơi vận động trong phát triển thể lực chung cho sinh viên  
trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp – Đại học Thái Nguyên  
159  
165  
Bùi Thị Hương Giang - Nâng cao năng lực giao tiếp giao văn hóa trong dạy và học ngoại ngữ  
Trần Hoàng Tinh, Nông La Duy, Phạm Văn Tuân - Xây dựng trung đội tự quản trong quản lý giáo dục tính  
kỷ luật cho sinh viên tại trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh trong giai đoạn hiện nay  
171  
177  
183  
189  
195  
201  
Trần Thị Yến, Khổng Thị Thanh Huyền - Sử dụng hình thức đọc chuyên sâu để nâng cao khả năng viết học  
thuật cho sinh viên chuyên ngành tiếng Anh  
Đỗ Thị Hồng Hạnh, Hoàng Mai Phương - Đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Chợ Mới,  
tỉnh Bắc Kạn  
Trần Thùy Linh, Trần Lương Đức, Nguyễn Thị Thùy Trang - Cách tiếp cận của pháp luật cạnh tranh liên  
minh châu Âu về hành vi lạm dụng mang tính trục lợi  
Nguyễn Thị Thanh Hà, Phạm Việt Hương - Xây dựng bộ tiêu chí và chỉ số kinh tế phù hợp để đánh giá quản  
lý rừng bền vững ở huyện Định Hóa  
Đinh Thị Hoài - Truyền thông marketing sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Trung tâm Học liệu Đại  
học Thái Nguyên  
Nguyễn Thị Thanh Xuân - Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ  
khách sạn tại Thanh Hóa, Việt Nam  
207  
213  
219  
Dương Thị Tình - Đóng góp của xuất khẩu hàng hóa tới tăng trưởng kinh tế của tỉnh Yên Bái  
Lê Minh Hải, Trần Viết Khanh - Phân tích tổ chức không gian lãnh thổ du lịch tỉnh Thái Nguyên  
Hà Văn Vương - Vận dụng lý thuyết Ecgônômi trong tổ chức môi trường làm việc tại văn phòng chi nhánh may  
Sông Công II - Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG  
227  
233  
239  
Mai Anh Linh, Nguyễn Thị Minh Anh - Đánh giá chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng: nghiên  
cứu thực nghiệm tại siêu thị Lan Chi, Thái Nguyên  
Đinh Hồng Linh, Nguyễn Thu Nga, Nguyễn Thu Hằng - Sử dụng hàm Loga siêu việt để đánh giá hiệu quả  
kinh doanh của các ngân hàng Việt Nam  
Nguyễn Thị Thắm và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
183(07): 21 - 26  
Ý THỨC ĐỐI THOẠI CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ VỚI VĂN HỌC  
TRUYỀN THỐNG THÔNG QUA NHỮNG NHÂN VẬT NỮ  
TRONG TẬP TRUYỆN KHÔNG AI QUA SÔNG  
Nguyễn Thị Thắm1*, Nguyễn Minh Sơn2  
1Trường Đại học Sư phạm – ĐH Thái Nguyên, 2Đại học Thái Nguyên  
TÓM TẮT  
Nguyễn Ngọc Tư là một trong những nhà văn của nền văn học đương đại Việt Nam. Tập truyện  
Không ai qua sông của chị có nhiều nhân vật nữ là nhân vật chính. Họ đều là những người phụ nữ  
bất hạnh. Nỗi bất hạnh và cách phản ứng của các nhân vật nữ được nhà văn miêu tả rất giống với  
những nhân vật nữ từng xuất hiện trong văn học truyền thống. Tuy nhiên, nếu đọc tập truyện theo  
cách đọc văn học hiện đại, chúng ta sẽ thấy được ý thức đối thoại với văn học truyền thống của  
Nguyễn Ngọc Tư thông qua những nhân vật nữ trong tập truyện này.  
Từ khóa: Nguyễn Ngọc Tư, truyện ngắn, phụ nữ, văn học truyền thống, văn học hiện đại.  
ĐẶT VẤN ĐỀ *  
qua. Từ đó nêu bật lên đức tính nổi bật không  
đâu có của người phụ nữ Việt Nam đi kèm  
Trên văn đàn văn học Việt Nam, Nguyễn  
dòng suy tư kỳ lạ. Biến cố đi ngang qua đời  
Ngọc Tư là một trong những cây bút được  
họ và để lại vết thương lòng không bao giờ  
bạn đọc và giới nghiên cứu, phê bình đặc biệt  
lành lại” [2]. Còn Nguyễn Thanh cho rằng:  
quan tâm bởi tác phẩm của chị có nét độc đáo,  
“Tác phẩm của nhà văn mang tính hiện thực  
khó lẫn. Trong các sáng tác của mình,  
sâu sắc vì đã phản ánh được chân dung đích  
Nguyễn Ngọc Tư đặc biệt quan tâm đến số  
thực với tâm tư, nguyện vọng và tình cảm của  
phận bi kịch của người phụ nữ Việt Nam. Tập  
truyện Không ai qua sông là một trong những  
lớp người lao động nghèo khó ở Đồng  
bằng sông Cửu Long, bằng một phong cách  
tập truyện chị thể hiện rõ mối quan tâm này  
nghệ thuật tiêu biểu cho lối viết chơn chất mà  
bởi hầu hết các nhân vật chính trong mỗi  
truyện ngắn đều là nữ.  
cô đọng của những người cầm bút ở phương  
Nam...” [3]. Với tập truyện này, chúng tôi lại  
Sau khi tập truyện ra mắt bạn đọc, các bài  
nghiên cứu về hiện thực được phản ánh, về sự  
ổn định trong văn phong của Nguyễn Ngọc  
Tư chứng tỏ theo giới nghiên cứu, phê bình,  
quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư về người  
phụ nữ hoàn toàn giống với những nhân vật  
nữ trong văn học truyền thống. Trong cuốn  
sách, Nhà xuất bản Trẻ giới thiệu: “Một xóm  
Nhơn Thành hư hư thực thực... người chết và  
người sống, bằng cách nào đó, sẽ song hành  
cùng nhau. Một xã hội thu nhỏ, với lòng  
tham, thù hận và sức phản kháng... Tất cả  
được kể bằng giọng điệu thản nhiên và bông  
lơn. Sự dữ dội của câu chuyện cứ tăng dần  
cho đến lúc người đọc khép sách lại” (bìa 4)  
[1]. My Lan nhận xét: “Thứ văn phong mượt  
mà, gieo rắc mùi vị phai tàn của chuyện kể đã  
nghĩ khác. Cái nhìn về người phụ nữ của nhà  
văn vừa có điểm giống vừa có điểm khác với  
các tác phẩm văn học truyền thống.  
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ  
Trong đời sống hàng ngày, đối thoại là sự trao  
đổi thông tin bằng ngôn ngữ của con người.  
Trong mỗi tác phẩm văn học thuộc loại tự sự  
hay kịch, ngôn ngữ đối thoại thường được  
hiểu là lời nói của các nhân vật xoay quanh  
một chủ đề nhất định. Còn theo lý thuyết liên  
văn bản, tính đối thoại là thuộc tính tất yếu  
của mọi hình thức ngôn từ. Và tác phẩm văn  
học là một trong những phương tiện hữu hiệu  
để nhà văn đối thoại với bạn đọc thông qua  
việc thể hiện một cách nhìn, một quan niệm  
mới về nhân sinh. Từ quan niệm trên về tính  
đối thoại và ý thức đối thoại, chúng tôi thấy  
thông qua điểm khác trong cái nhìn về nguyên  
* Tel: 0975191322; Email: [email protected]  
21  
Nguyễn Thị Thắm và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
183(07): 21 - 26  
nhân dẫn đến nỗi bất hạnh và quan niệm sai  
lầm về hạnh phúc của người phụ nữ, Nguyễn  
Ngọc Tư đã thể hiện ý thức đối thoại với bạn  
đọc nữ và văn học truyền thống trong tập  
truyện Không ai qua sông.  
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia:  
“Định kiến là những ý kiến, quan điểm đã  
được hình thành, trước khi nhận thức các dữ  
kiện có liên quan hoặc biết rõ những thông tin  
liên quan của một sự kiện cụ thể. Từ định  
kiến thường được sử dụng để miêu tả những  
nếp suy nghĩ, quan điểm thường không thuận  
lợi, đánh giá chủ quan đối với người hoặc một  
nhóm người, bởi vì giới tính, quan điểm chính  
trị, quan hệ xã hội, tuổi tác, tôn giáo, chủng  
tộc/dân tộc, ngôn ngữ, quốc tịch, hình dáng  
bên ngoài hay là đặc điểm cá nhân khác, từ đó  
dẫn đến việc phân biệt đối xử. Định kiến của  
một tập thể, một nhóm người, một xã hội,  
thường được gọi là định kiến xã hội” [4].  
Không ai qua sông là tập truyện ngắn Nguyễn  
Ngọc Tư cho ra mắt bạn đọc vào tháng 02  
năm 2016. Tập truyện gồm 13 truyện ngắn  
trong đó chỉ có hai truyện ngắn nhân vật  
chính là đàn ông, những truyện ngắn còn lại  
nhân vật chính đều là phụ nữ. Với cái nhìn  
xót xa, thương cảm, Nguyễn Ngọc Tư đã  
phản ánh trong tác phẩm của mình đầy đủ  
mọi nỗi cay cực mà giới nữ có thể gặp phải  
trong cuộc đời. Đó là nỗi khổ cực âm thầm do  
thân phận mồ côi như Ngà trong Vực không  
đáy, thân phận con hoang như Thầm trong  
câu chuyện cùng tên, nỗi đau đeo đẳng suốt  
đời do bị làm nhục như Tím trong Nút áo, nỗi  
vất vả do chửa hoang như Miền trong Đi thật  
xa mới đến nhà bạn cũ, như Trầm trong  
Không ai qua sông, đó là nỗi bất hạnh do bị  
hủy hôn như Lê trong Dây diều, nỗi bẽ bàng  
có chồng hờ hững cũng như không như Ngò  
trong Mây mưa, Mười trong Nhổ quán, là nỗi  
đau cả thể xác lẫn tinh thần dẫn đến mất cả  
mạng sống như Nhí trong Lời yêu...Những  
nỗi khổ ấy được Nguyễn Ngọc Tư viết ra nhẹ  
hều nhưng chất chứa bao nỗi niềm vì tất cả  
những người phụ nữ trong tập truyện dường  
như không biết đến hạnh phúc. Nguyên nhân  
do đâu ?  
Định kiến xã hội có nhiều tác hại. Ðó là cho  
phép đàn ông đối xử tàn nhẫn với phụ nữ dẫn  
tới nạn “bạo hành gia đình” đang báo động  
hiện nay. Truyện ngắn Không ai qua sông  
phản ánh vấn vạn ấy thông qua việc miêu tả  
đoàn tuần hành vì phụ nữ của bà con miệt  
vườn với khẩu hiệu “Không nên đánh phụ nữ  
bằng một cành hoa”. “Cuộc đi bộ tháng Ba”  
này vì một chị vừa xuất viện, và vì những  
người đàn bà khác ở xứ Mù U. Bởi nơi đây có  
biết bao người phụ nữ bị chồng đánh. Căng  
thẳng nhất là vụ “người đàn bà bị chồng dùng  
đũa than nóng xiên qua mắt phải” [1, tr.21],  
bởi bị đánh hoài nên chị ta không có phản  
ứng tự vệ, không chạy trốn đòn roi như mọi  
khi nữa? Nhưng cuộc đi bộ này phải chăng  
thất bại ngay ở khẩu hiệu, bởi chính bọn trẻ  
còn nhận ra và thắc mắc: “Vậy đánh bằng cây  
củi có được không ta?” [1, tr.18]. Suy nghĩ  
của bọn trẻ nít đơn giản mà sao cũng thấm  
thía đến lạ! Những người trong cuộc đi cho có  
chứ không hẳn vì mục đích mà Hội phụ nữ  
muốn vận động. Đi tuần hành để tuyên truyền  
cho chị em và mọi người nắm được quyền  
bình đẳng của mình, nhưng chỉ bằng một  
“cuộc đi bộ” mà người trong cuộc còn không  
hiểu và không tin vào những điều mình đang  
làm thì làm sao có thể thay đổi được tư duy  
của mọi người? Thậm chí, để đi cho đỡ  
vướng, họ còn rủ nhau cuộn băng ngắn lại, rốt  
cuộc trên đó chỉ còn chữ “nên đánh phụ nữ”  
như cuộc đi bộ “xúi giục bạo hành”. Trên hết  
Về nguyên nhân khách quan, chúng ta nhận  
thấy trên thế giới từ khi chế độ Mẫu quyền  
chuyển sang chế độ Phụ quyền, người đàn  
ông dần được coi trọng và chiếm giữ vai trò  
độc tôn trong gia đình và xã hội. Ở phương  
Đông, nền văn hóa chủ yếu chịu ảnh hưởng  
của tư tưởng Nho giáo. Người phụ nữ luôn  
phải tuân theo “Tam tòng” (tại gia tòng phụ,  
xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử), “Tứ đức”  
(công, dung, ngôn, hạnh). Ngày nay, ở nước ta,  
mặc dù người phụ nữ đã được coi trọng hơn,  
sự bất bình đẳng giới đang từng bước được xóa  
bỏ. Tuy nhiên, thói gia trưởng, tư tưởng “trọng  
nam khinh nữ” đã ăn sâu bám rễ trở thành  
những định kiến không dễ gì xóa bỏ.  
22  
Nguyễn Thị Thắm và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
183(07): 21 - 26  
là thái độ của mọi người: Một thím chơi tứ  
sắc không thèm ngẩng lên nói: “mắc cười, bộ  
biểu tình thì không bị đánh nữa sao?” [1,  
tr.22]. Họ không tin là việc tuyên truyền, vận  
động có thể thay đổi được những gì đang diễn  
ra. Chính vì thế mà họ“nhìn đám người đi qua  
như một đám rước linh thiêng chẳng liên quan  
đến mình” [1, tr.22]. Như vậy, đối với những  
người dân nơi đây, bạo hành đã trở thành điều  
hiển nhiên, không gì có thể thay đổi được.  
ca cùng con nít, mắt mũi tươi giòn làm bọn  
đàn bà khác hoang mang” [1, tr.21]. Người  
không chồng mà có con theo họ không được  
ngẩng mặt, không được “tươi giòn”. Tức là  
chính bản thân họ có sự phân biệt đối xử với  
những người cùng giới mình…  
Định kiến cũng cho phép đàn ông coi thường,  
đối xử tệ với phụ nữ cả về thể xác và tinh thần  
như ở truyện Mưa mây. Chồng Ngò thích đi  
thì đi, thích về thì về, “chẳng ngoái nhìn,  
chẳng hứa hẹn hôm nào về lại, đi là đi một  
nước”; phóng xe máy “nẹt pô hung hăng”,  
“để lại sau nó là cơn vắng sâu hút, đến chóng  
mặt” [1, tr.88]. Thậm chí, Lì cũng không bao  
giờ cho vợ biết mình đang ở đâu, làm gì: “Nó  
(Lì) đang dựng trại vỗ béo bầy trâu ở đâu đó,  
mà nó không bao giờ nói trong những cuộc  
điện thoại thất thường” [1, tr.94]. Hay trong  
mối quan hệ giữa Vĩnh và Miền (Đi thật xa  
mới đến nhà bạn cũ), Vĩnh coi quan hệ yêu  
đương với một người con gái là niềm vui. Với  
Vĩnh, mối quan hệ của mình và Miền chỉ là  
vui chơi qua đường, không lấy gì làm sâu sắc  
“Chỉ là lơ đãng đi qua đời nhau, da diết gì đâu  
mà giữ lại luôn giọt máu, giỡn hoài” [1,  
tr.71]. Mà Vĩnh không biết hậu quả để lại là  
Miền phải đối mặt với tai tiếng của người đàn  
bà không chồng mà chửa, những vất vả của  
người mẹ đơn thân.  
Cùng với nạn “bạo hành”, định kiến còn biểu  
hiện ở tư tưởng của chính những người đàn  
bà. Trầm trong Không ai qua sông chửa  
hoang, người ta không quan tâm cha đứa bé là  
ai, mà chỉ quan tâm tới thái độ của Trầm với  
mọi người mà thôi trong khi, dân gian đã  
bênh vực những người phụ nữ “không chồng  
mà chửa”:  
“Không chồng mà chửa mới ngoan  
Có chồng mà chửa thế gian chuyện thường”  
(Ca dao)  
Ở thế kỷ XVIII, nữ sĩ Hồ Xuân Hương cũng  
đã lên tiếng bênh vực người phụ nữ với bài  
thơ Không chồng mà chửa. Ở đây, câu ca dao  
và bài thơ của Hồ Xuân Hương muốn nói đến  
ý thức, trách nhiệm của người đàn ông đối với  
người phụ nữ.  
“Cả nể cho nên hóa dở dang,  
Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng”.  
Như vậy, Nguyễn Ngọc Tư cũng cho rằng  
định kiến tồn tại dai dẳng từ quá khứ là  
nguyên nhân quan trọng khiến đời sống của  
người phụ nữ trải đều toàn nỗi buồn khổ. Bên  
cạnh đó là những tác động tiêu cực của của  
quá trình đô thị hóa, trào lưu lấy chồng ngoại  
quốc thông qua môi giới, người dân vất vả lo  
kiếm sống, trẻ em không được tới trường,  
thông tin còn hạn chế… Tất cả đều là nguyên  
nhân khách quan dẫn tới sự bất hạnh của người  
phụ nữ miệt vườn. Tuy nhiên, ngoài nguyên  
nhân khách quan, theo Nguyễn Ngọc Tư,  
nguyên nhân chủ quan - những quan niệm  
sống sai lầm, đặc biệt là quan niệm của họ về  
hạnh phúc, mới là yếu tố quyết định đẩy người  
phụ nữ vào tình cảnh bất hạnh, đau khổ.  
Vì “cả nể” nên chỉ mình người phụ nữ chịu  
“dở dang”, lỡ làng. Nhà thơ trách những kẻ  
đàn ông dám làm không dám chịu, cuối cùng,  
mượn ý của ca dao, Hồ Xuân Hương đã  
khẳng định:  
“Quản bao miệng thế lời chênh lệch  
Không có, nhưng mà có, mới ngoan”  
“Không có” chồng, “nhưng mà có” chửa “mới  
ngoan” cũng là lời thách thức dư luận, bảo vệ  
những người phụ nữ không may nhẹ dạ trao  
thân cho người. Nguyễn Ngọc Tư phản ánh  
những định kiến ấy vẫn còn tồn tại cho đến  
tận ngày nay. Nhà văn viết: “Trầm có sinh  
chục đứa con hoang nữa cũng chẳng sao,  
nhưng đi đường phải cúi gằm, cấm vừa đi vừa  
23  
Nguyễn Thị Thắm và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
183(07): 21 - 26  
rằng nếu may mắn lấy được một người chồng  
tốt thì có hạnh phúc và ngược lại. Tất nhiên  
quan niệm như vậy không sai. Ai cũng mong  
muốn được chung sống với một người đàn  
ông yêu thương vợ con, biết chia sẻ với vợ,  
chăm lo cho con cái. Nhưng hạnh phúc của  
mỗi người không phụ thuộc vào người khác.  
Dù là đàn ông hay phụ nữ, mỗi người đều có  
khả năng tự tạo ra niềm hạnh phúc cho bản  
thân mình. Nếu chỉ bị động chạy theo người  
khác, người phụ nữ sẽ luôn ở trong tình trạng  
lo lắng, phấp phỏng, sợ bị bỏ rơi.  
Trước hết, họ quan niệm hạnh phúc là được hi  
sinh, được sống vì người khác. Vì nghĩ rằng  
được hi sinh vì người khác, coi hạnh phúc của  
người khác là hạnh phúc của mình nên Miền  
(Đi thật xa mới tới nhà bạn cũ) lặng lẽ làm  
mẹ đơn thân, không một lời ràng buộc, trách  
hờn, không một lần tìm kiếm cha của đứa bé.  
Còn Nhí (Lời yêu) là người con gái dám hi  
sinh vì gia đình nên chấp nhận lấy chồng  
ngoại quốc với mong muốn có tiền giúp gia  
đình mình đỡ vất vả, thiếu thốn. Cách nhà văn  
miêu tả trong tác phẩm thể hiện rõ nét nỗi éo  
le mà Nhí phải gánh chịu: “Những buổi tối  
anh chồng tài tử xinê nồng rượu gạo trở về  
đôi lúc dịu dàng nựng nó bằng mấy cú thoi.  
Quê chồng mà Nhí gửi về qua những cuộc gọi  
không phân biệt được đâu là thực đâu là  
tưởng. Làng đầy hoa và bướm bay, bữa tối  
thơm phức thịt nướng, ăn xong nó ngồi giũa  
móng tay ngó anh chồng đang rửa chén” [1,  
tr.115]. Thật ra, lặng lẽ hi sinh vì người khác  
là một trong những đức tính tốt đẹp của người  
phụ nữ Việt Nam. Tuy nhiên ranh giới giữa hi  
sinh và cam chịu lại thật mong manh khiến  
cho họ dễ nhầm lẫn. Vì nhầm lẫn, họ tự biến  
mình thành kẻ nhu nhược, âm thầm chấp nhận  
mọi đắng cay. Họ không biết rằng nhu nhược,  
cam chịu, không dám phản kháng trong mọi  
hoàn cảnh chính là đồng lõa với cái xấu, cái  
ác. Vô tình, họ tiếp tay cho sự lộng hành của  
cái ác và một số những bất hạnh mà họ gặp  
phải trên đường đời chính là cái giá mà họ  
phải trả.  
Ngoài ra, với họ, hạnh phúc là tất cả những gì  
mình có kể cả đau khổ và bất hạnh. Tím trong  
Nút áo là một cô gái bị hãm hiếp khi mười  
lăm tuổi, chỉ tóm được một chiếc nút áo của  
kẻ làm nhục mình. Chiếc nút áo có thể là của  
bất cứ ai nên không thể coi đó là bằng chứng  
để bắt kẻ gây ra tội ác. Chiếc nút áo được Tím  
xỏ dây đeo ở cổ trong suốt cuộc đời héo hắt vì  
nỗi bất hạnh diễn ra ở tuổi mới lớn. Hay như  
Cẩm trong Tiều tụy vòng quanh lặng lẽ hi  
sinh cả cuộc đời, từ chối tất cả những người  
đàn ông đến với mình để chờ đợi người cha  
đã bỏ đi không bao giờ trở lại. Thực tế, đôi  
khi chúng ta vẫn luôn tự nhắc mình hãy coi  
những gì mình có là hạnh phúc, hãy hài lòng  
với những gì mình có để không quá bi quan,  
tuyệt vọng vì những cảm xúc tiêu cực. Tuy  
nhiên, có lúc phải biết Quẳng gánh lo đi mà  
vui sống vì không chỉ có bản thân sự việc  
không may xảy ra làm cho con người bị tổn  
thương, thông thường chính những suy nghĩ  
của con người về sự việc đó, về cái nhìn của  
mọi người xung quanh mới làm cho vết  
thương nặng nề đến mức đôi khi trở thành vết  
tử thương. Vì vậy, hãy đừng nghĩ rằng có một  
cái gì đó mới là hạnh phúc, đôi khi mất đi cái  
gì đó, đặc biệt mất đi, quên đi những chuyện  
không may chắc chắn sẽ làm cho con người  
hạnh phúc hơn.  
Thứ nữa là quan niệm hạnh phúc không nằm  
trong tay mình mà do chồng mình, do người  
đàn ông mà mình yêu thương nắm giữ. Quan  
niệm đó khiến Mười trong Nhổ quán cặm cụi  
đi theo Cao Bồi đến bất cứ đâu cho dù thái độ  
dửng dưng, lạnh lẽo, vô cảm, bất cần của  
người đàn ông ấy như dao nhọn có thể làm  
tổn thương bất kì trái tim nhạy cảm nào. Và  
Ngò trong Mây mưa thì coi hạnh phúc là được  
mỏi mòn chờ đợi người chồng thoắt đi, thoắt  
về như cơn mưa bóng mây. Không chỉ riêng  
những người phụ nữ trong tập truyện ngắn  
này của Nguyễn Ngọc Tư quan niệm như vậy.  
Có lẽ hàng triệu người phụ nữ Việt Nam tin  
Và Nguyễn Ngọc Tư còn cho thấy những  
người phụ nữ miệt vườn nghĩ rằng mình hãy  
cứ làm một người tốt bụng và chờ đợi, rồi thế  
nào hạnh phúc cũng đến với mình nên Lê  
trong Dây diều chấp nhận lời chia tay từ  
người chồng sắp cưới một cách nhẹ tênh,  
24  
Nguyễn Thị Thắm và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
183(07): 21 - 26  
không một lời oán trách: “Ừ, mình biết rồi”  
[1, tr.102], hay như Ngà trong Vực không đáy  
vô tình làm cho chồng nghi ngờ vì thân mật  
gọi bà cụ nghèo đói ghé vào trú mưa là mẹ.  
Mặc cho người chồng giận đến mức đề nghị  
ly hôn, chị vẫn chỉ im lặng, chấp nhận lời đề  
nghị của chồng. Còn Thầm trong truyện ngắn  
cùng tên được coi là cặp chân vàng của ma ra  
tông nước nhà nhưng chỉ sống âm thầm, mải  
miết chạy theo chiếc bóng trên đường chạy.  
Gặp người đàn ông khiến cô mơ ước về hạnh  
phúc đôi lứa nhưng cô chỉ lặng câm nghĩ  
mình không với tới anh mặc cho lòng bồn  
chồn. Những người phụ nữ ấy đều là người  
tốt, họ có những cảm xúc yêu thương, có  
niềm vui, niềm hạnh phúc bình dị như bao  
người phụ nữ khác. Và Nguyễn Ngọc Tư làm  
cho người đọc thấy niềm hạnh phúc bé nhỏ ấy  
thật mong manh dễ vỡ trong khi những người  
trong cuộc vẫn chỉ nhẹ nhàng chấp nhận sự  
đổ vỡ đó một cách lặng lẽ. Thực tế là không  
ai tránh được những chuyện không may mắn  
trong cuộc đời. Và mỗi người có cách phản  
ứng khác nhau trước những sự đổ vỡ. Nhưng  
cách mà người phụ nữ trong Không ai qua  
sông phản ứng trước những mất mát làm cho  
bất kì bạn đọc nào cũng cảm thấy đau lòng.  
Họ dịu dàng, bình tĩnh chấp nhận mọi sự việc  
bởi họ thấy họ không làm gì sai. Lúc nào họ  
cũng cẩn thận, chu đáo, tốt bụng nên họ  
không thấy mình cần thay đổi để níu kéo hạnh  
phúc. Họ chỉ có thể chấp nhận, chờ đợi và tin  
tưởng rồi hạnh phúc sẽ lại đến với mình.  
nhân thân, đường viền lịch sử đến mức “tẩy  
trắng” [5, tr.36], lối viết vỡ tung dẫn đến sự  
“phân mảnh” [6, tr.190] của không - thời gian  
nghệ thuật, sự đa dạng của ngôi kể và điểm  
nhìn trần thuật, tạo nên kiểu nhân vật “một  
mảnh” [5, tr.51] khiến chúng ta có thể có  
những cách lí giải khác về nhân vật nữ nói  
riêng và ý thức đối thoại với các giá trị truyền  
thống trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư nói  
chung. Đọc truyện ngắn Vực không đáy,  
nhiều bạn đọc sẽ nhận thấy câu chuyện có thể  
là phần tiếp theo hay là một cách kết thúc  
khác của truyện cổ tích Cô bé Lọ Lem, Nàng  
Bạch Tuyết và bảy chú lùn (truyện cổ  
Grimm), Tấm Cám (truyện cổ tích Việt Nam).  
Nguyễn Ngọc Tư viết tiếp những truyện cổ  
tích này bằng cách kết thúc không có hậu.  
Đọc truyện ngắn Dây diều, người đọc dễ dàng  
phát hiện Nguyễn Ngọc Tư thể hiện ý thức  
đối thoại với quan niệm anh hùng cứu mĩ  
nhân tồn tại hàng ngàn đời trong văn học từ  
truyện cổ tích Thạch Sanh (truyện cổ tích Việt  
Nam), Công chúa ngủ trong rừng (truyện cổ  
Grimm), Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu),  
Truyện Kiều (Nguyễn Du)...Anh hùng trong  
thời hiện đại sau khi cứu mĩ nhân sẽ không  
mang lại cho mĩ nhân hạnh phúc và cũng  
không được hưởng hạnh phúc như chúng ta  
từng thấy trong văn học truyền thống. Truyện  
Nhổ quán và Tiều tụy vòng quanh có thể coi  
là biến thể khác của Sự tích hòn Vọng Phu trải  
dài dọc đất nước Việt Nam từ Lạng Sơn,  
Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Nam, Bình  
Định, Khánh Hòa. Đi thật xa mới đến nhà  
bạn cũ có thể được hiểu như một cách ứng xử  
bình tĩnh, dám tự chịu trách nhiệm trước  
những hành động của mình, không một lời  
kêu ca hoàn toàn đối lập với cách ứng xử của  
những người phụ nữ không chồng mà chửa  
trong ca dao hay trong thơ Hồ Xuân Hương.  
Từ ý thức đối thoại của nhà văn, theo chúng  
tôi có thể có cách hiểu khác với cách hiểu về  
người phụ nữ trong tập truyện Không ai qua  
sông là những người phụ nữ lặng lẽ, cam  
chịu, bị động, chấp nhận như chúng ta từng  
hiểu về nhân vật nữ trong các tập truyện ngắn  
khác của Nguyễn Ngọc Tư. Đằng sau sự lặng  
Hơn thế nữa, trước mọi bất hạnh trong cuộc  
đời, họ quan niệm mình không phải là người  
duy nhất không được yêu thương, không được  
hưởng hạnh phúc. Tất cả những người phụ nữ  
khác cũng vậy. Quan niệm đó khiến hầu hết  
những nhân vật nữ trong các truyện ngắn lặng  
lẽ sống không hề có ý thức phản ứng lại hoặc  
phản ứng một cách yếu ớt không hiệu quả  
trước hoàn cảnh khách quan đẩy họ vào tình  
cảnh mòn mỏi đau khổ.  
Tuy nhiên, bên cạnh những lí giải theo lôgic  
về mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh,  
lối viết có xu hướng xóa nhòa đường viền  
25  
Nguyễn Thị Thắm và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
183(07): 21 - 26  
lẽ của những người phụ nữ ấy, có bóng dáng  
của kiểu nhân vật dửng dưng trước mọi biến  
động của hoàn cảnh trong các sáng tác của  
F.Kafka, A.Camus, E.Hemingway. Họ không  
phản ứng hoặc phản ứng yếu ớt có thể không  
phải vì họ sợ hãi mà vì họ biết trong hoàn  
cảnh hiện tại, mọi phản ứng đều vô nghĩa. Họ  
chỉ có thể tiếp tục sống với những gì đang  
diễn ra, bình thản trước mọi biến động sẽ đến  
trong tương lai. Với cách hiểu như vậy, thông  
điệp mà Nguyễn Ngọc Tư muốn chuyển tải  
thông qua những nhân vật nữ trong tập truyện  
của chị cũng đầy đau đớn, day dứt.  
thể đọc theo cách đọc văn học hiện đại. Mỗi  
cách đọc cho chúng ta một cách hiểu tương  
ứng. Tập truyện Không ai qua sông là tập hợp  
những truyện ngắn có thể đọc theo cả hai  
cách kể trên. Chính đặc điểm này khiến tác  
phẩm của chị vừa hòa nhịp với văn học hiện  
đại nước nhà, đồng thời cũng bắt vào mạch  
chung của văn học hiện đại thế giới.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Nguyễn Ngọc Tư (2016), Không ai qua sông,  
Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.  
2. Không ai qua sông: Những mảnh đời u buồn  
3. Chân dung Nguyễn Ngọc Tư - nữ nhà văn xóm  
KẾT LUẬN  
Nguyễn Ngọc Tư là một trong những cây bút  
được biết đến trong văn học Việt Nam hiện  
đại. Chị thành công với nhiều thể loại truyện  
ngắn, tạp văn, tiểu thuyết. Các sáng tác đều  
thể hiện tài năng và những đóng góp của chị  
cho sự phát triển của nền văn học nước nhà.  
Điều đặc biệt là có thể đọc tác phẩm của chị  
theo cách đọc văn học truyền thống, cũng có  
rẫy,  
comp=tacpham&action=detail&id=22786.  
5. Đặng Anh Đào (2002), Đổi mới nghệ thuật  
tiểu thuyết phương Tây hiện đại, Nxb Giáo dục,  
Hà Nội.  
6. Lê Nguyên Cẩn (2013) (dịch và giới thiệu), Thi  
pháp chủ nghĩa hậu hiện đại, Nxb Đại học Sư  
phạm, Hà Nội.  
SUMMARY  
THE OPPOSITE VIEW OF NGUYEN NGOC TU TO VIETNAMESE  
TRADITIONAL LITERATURE VIA THE MAIN FEMALE CHARACTERS  
IN KHONG AI QUA SONG  
Nguyen Thi Tham1*, Nguyen Minh Son2  
1TNU - University of Education, 2Thai Nguyen University  
Nguyen Ngoc Tu is a Vietnamese comtemporary important writer. There are many main female  
characters in the Khong ai qua song. All of woman in the short stories are unhappy. The wretched  
woman’s reflections on their situations in Khong ai qua song are similar to Vietnamese woman’s  
in traditional literature. However, if we research on their unhappiness by the modern literature  
method, we can get the opposite view of Nguyen Ngoc Tu to Vietnamese traditional literature  
which shows by the main female character in Khong ai qua song.  
Key words: Nguyen Ngoc Tu, short story, woman, traditional literature, modern literature.  
Ngày nhận bài: 23/4/2018; Ngày phản biện: 08/5/2018; Ngày duyệt đăng: 29/6/2018  
*
Tel: 0975191322; Email: [email protected]  
26  
183(07)  
oT  
T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ  
N¨m 2018  
Journal of Science and Technology  
SOCIAL SCIENCE – HUMANITIES – ECONOMICS  
Page  
Content  
3
Hoang Thi Phuong Nga - Literature tourism model “the old Vu Dai village”  
9
Pham Thi Thu Hoai, Tran Thi Thanh - Slang in Van Thanh Le's stories about education problems  
Ngo Thi Thanh Nga, Pham Thi Hong Van - A brief description of the modes of expressing conjugal  
sentiments in the Vietnam medieval literature  
15  
Nguyen Thi Tham, Nguyen Minh Son - The opposite view of Nguyen Ngoc Tu to Vietnamese traditional  
literature via the main female characters in Khong ai qua song  
21  
27  
33  
39  
45  
Dang Thi Thuy, Nguyen Dieu Thuong - The logic of “non logic” phenomenon in Vietnamese folk verses, proverbs  
Dinh Thi Giang - Factors affecting current lifestyle of Vietnamese people in the northern delta  
Nguyen Dieu Thuong, Nguyen Thi Lan Huong - Mechanisms creating implication in satirical jokes  
Nguyen Thu Quynh, Vi Thi Hien - Household vocabulary of Thai language in Dien Bien province  
Nguyen Thi Thu Oanh, Hoang Thi My Hanh - Position, role of the communist party of Vietnam in the period  
1954 – 1975 and some lessons learned  
51  
57  
63  
Do Hang Nga, Pham Quoc Tuan - Collection of taxes in the villages through material of reformist village  
convention in Thai Nguyen province  
Le Van Hieu - The efficiency of the model "propaganda department" in communes, wards, township and  
"commander" in villages, cities at the current period in Lao Cai province  
Thai Huu Linh, Nguyen Thi Thu Hien, Nguyen Thi Thanh Ha - The role of the rear Bac Thai in the 1968  
general offensive  
69  
73  
Pham Anh Nguyen - The attraction in “Hai dam” of Phan Khoi  
Nguyen Thi Huong, Nguyen Thi Mao, Nguyen Tuan Anh - Enhancing the efficiency of extracurrucular  
activities in teaching civic education at high schools in thai nguyen city these days  
79  
85  
Nguyen Van Dung, Dao Ngoc Anh - Physical status of non-sports students at Thai Nguyen University of Education  
Tran Bao Ngoc, Le Ngoc Uyen, Bui Thanh Thuy et al - The reality of degree classification in non-  
examination students at University of Medicine and Pharmacy – Thai Nguyen University in the period from  
2013 to 2017  
91  
97  
Nguyen Thuc Canh - The need for buiding an exercise system with practical content to teach mechanics  
to high school  
Ha Thi Kim Linh, Chu Thi Bich Hue - Educate legal knowledge for ethnic minority women in Vo Nhai  
district, Thai Nguyen province  
105  
Nguyen Thi Thanh Hong, Nguyen Thi Khanh Ly, Vu Kieu Hanh - Improve students’ participation in  
English learning activities in large mixed ability classes of the freshman students at Thai Nguyen University of  
Medicine and Pharmacy  
111  
Pham Thi Huyen, Vu Thi Thuy - Manipulate exemplary style according to the President Ho Chi Minh’s  
thought in building work style for key caders at present period  
117  
123  
Dam Quang Hung - Science lesson planning for grade 4, 5 according to experimental research  
Hoang Thi Thu Hoai - Difficulties in teaching and learning ESP vocabulary for nursing students at Thai  
Nguyen Medical College and some solutions  
129  
135  
Nguyen Lan Huong, Van Thi Quynh Hoa - Determinants affecting English speaking performance of the first-  
year students at Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry  
Vu Kieu Hanh - Determinants to the reading comprehension performance level of the second- year students at  
Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry  
141  
147  
153  
159  
165  
171  
177  
183  
189  
195  
Nguyen Thi Que, Hoang Thi Nhung - Asking the right question for successful self-studying and cooperative  
learning - towards independent language learners in the context of ASEAN community and global integration  
Ngo Thi Thu Ha, Nguyen Thi Hoai Thu - Apply interactive teaching methods to improve the quality of  
teaching and learning Vietnamese to international students at Military Technical Academy  
Duong Van Tan - An assessment of the effectiveness in application of games in general physical development  
for students at Thai Nguyen University of Technology  
Bui Thi Huong Giang - Improving intercultural communicative competence in foreign language teaching  
and learning  
Tran Hoang Tinh, Nong La Duy, Pham Van Tuan - Building self-managed platoon in disciplinary education  
for students at the center for defense and security education in the current phase  
Tran Thi Yen, Khong Thi Thanh Huyen - Improving academic writing performance for english majors  
through intensive reading  
Do Thi Hong Hanh, Hoang Mai Phuong - Vocational training for rural workers in Cho Moi district, Bac  
Kan province  
Tran Thuy Linh, Tran Luong Duc, Nguyen Thi Thuy Trang - European union competition law approach on  
exploitative abuses  
Nguyen Thi Thanh Ha, Pham Viet Huong - Setting up an appropriate set of economic criteria and indicators  
for evaluating sustainable forest management in Dinh Hoa district  
Dinh Thi Hoai - Marketing promotion for information - library product and service at the Learning Resource  
Center of Thai Nguyen University  
201  
207  
213  
219  
Nguyen Thi Thanh Xuan - Factors affecting customer satisfaction in hotels at Thanh Hoa province, Vietnam  
Duong Thi Tinh - Contributions of goods export to the economic growth of Yen Bai province  
Le Minh Hai, Tran Viet Khanh - Tourism space organization of Thai Nguyen province  
Ha Van Vuong - Apply the ergonomics theory in working environment organization at the office of Song Cong  
grarment branch II – TNG Investment and Trading Joint Stock Company  
227  
233  
239  
Mai Anh Linh, Nguyen Thi Minh Anh - Assessing service quality and customer satisfaction: an empirical  
study at Lan Chi supermarket, Thai Nguyen city  
Dinh Hong Linh, Nguyen Thu Nga, Nguyen Thu Hang - Applying logarithmic function to evaluate the  
business efficiency of Vietnam banks  
pdf 11 trang Mãnh Khiết 15/01/2024 16500 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ý thức đối thoại của Nguyễn Ngọc Tư với văn học truyền thống thông qua những nhân vật nữ trong tập truyện không ai qua sông", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfy_thuc_doi_thoai_cua_nguyen_ngoc_tu_voi_van_hoc_truyen_thong.pdf