Con người Nguyễn Phi Khanh qua thơ ca

TẠP  HÍ KHOA HỌ  
Khoa học X  hội  Số 13  6/2018) tr. 86 - 95  
CON NGƯỜI NGUYỄN PHI KHANH QUA TH  CA  
Ngô Thị Phượng  
Trường Đại học Tây Bắc  
Tóm tắt: Nguyễn Phi Khanh là thân phụ của đại thi hào Nguyễn Trãi. Sống ở thời Trần, Nguyễn Phi  
Khanh là nhà thơ lớn, một con người tài cao phận thấp, thân thế long đong, một con người kiên nhẫn chờ thời,  
có niềm tin vào hiền thánh, nhưng rồi mộng vàng đổ vỡ. Nguyễn Phi Khanh mang nỗi đau thân phận, lỡ thời.  
Cuộc đời bi kịch của ông là sản phẩm của thời đại.  
Từ khóa: Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi, con người.  
1. Đặt vấn đề  
Nguyễn Phi Khanh là thân phụ của nhà th  lớn, nhà chính trị, quân s  ngoại giao đại  
tài Nguyễn Trãi. Từ nhiều thế kỷ  người yêu và say văn  iết đến Nguyễn Trãi với tư cách là  
Danh nh n văn h a thế giới  nhà th   nhà văn.  ghiên cứu th  văn  guyễn Trãi không th  
không quan t m đến cuộc đời con người, ti u sử gia đ nh hay phả hệ.  
Đ  làm rõ những vấn đề trên, với tư cách là người giảng dạy, chúng tôi cố gắng diễn  
đạt cụ th  h n về thân phụ của Nguyễn Trãi - Trung thư thị lang Nguyễn Phi Khanh, với tham  
vọng góp thêm một tài liệu nhỏ cho sinh viên khi nghiên cứu về tác gia Nguyễn Trãi.  
2. Nguyễn Phi Khanh và sự nghiệp thơ v n  
2.1. Nguyễn Phi Khanh  
Nguyễn Phi Khanh (1336 - 1408) (?) [1]  tên  an đầu là Nguyễn Ứng Long, dòng dõi  
Định Quốc công Nguyễn Bặc, thời Đinh  968 - 979), quê gốc ở Gia Miêu ngoại trang, huyện  
Tống S n  tức  ga S n cũ  nay thuộc xã Hà Long, huyện Trung S n  t nh Thanh Hóa. Quê  
thứ hai ở Chi Ngại, nay là xã Cộng Hòa, huyện Chí Linh, t nh Hải Dư ng. Quê thứ ba ở xã  
Nhị Khê, huyện Thường Tín, t nh Hà Tây. Từ Nguyễn Bặc đến Nguyễn Ứng  ong là mười  
đời. Nguyễn Bặc đ  c  công phò tá Đinh  ộ  ĩnh  ẹp tan loạn Mười hai sứ quân, thống nhất  
nước nhà. Nguyễn Bặc mâu thuẫn với Lê Hoàn về việc lên ngôi thay nhà Đinh nên  ị Lê  
Hoàn giết. Con Nguyễn Bặc là Nguyễn Đê vẫn được trọng dụng, cùng Lý Công Uẩn đều giữ  
chức Tả, Hữu Điện tiền ch  huy sứ  ưới thời  ê Đại Hành. Về sau, Nguyễn Đê phò tá  ý  
Công Uẩn lên ngôi.  
Qua các triều đại, tổ tiên Nguyễn Ứng Long có nhiều người vinh hi n, là võ quan cao  
cấp hoặc tiến sĩ xuất thân. Ông nội của Nguyễn Ứng Long là Nguyễn Công Luật làm chức  
tướng quân thời Trần Phế Đế (1377 - 1387). Ba con trai của Nguyễn Công Luật là Nguyễn  
Ngày nhận bài: 13/01/2017. Ngày nhận đăng: 19/3/2018  
Liên lạc: Ngô Thị Phượng, e - mail: [email protected]  
86  
Công Sách, Nguyễn Hố và Nguyễn Minh Du đều là những người thông hi u  inh thư   inh  
pháp và giữ chức vụ quản qu n trong  a đ n vị bảo vệ cung vua nhà Trần lúc bấy giờ.  
Nguyễn Ứng Long là con trai thứ ba của Nguyễn Minh Du. Về các dòng thứ bên nội,  
Nguyễn Thuyên (tức Hàn Thuyên), là một trong những người đầu tiên có công dùng chữ Nôm  
trong sáng tác, vận dụng th  Đường vào th  quốc  m  làm thành th  Hàn luật (luật th   o  
Hàn Thuyên đặt ra) [2].  hư vậy, dòng họ Nguyễn Ứng Long là dòng họ có nhiều công lao  
đối với s  phát tri n nền chính trị  văn h a  văn học dân tộc.  
Khi trưởng thành, Nguyễn Ứng Long theo nghiệp văn  được  hư ng Túc Hầu Trần  
 guyên Đán  người quyền ngang T  tướng, chọn làm Ki m chính dạy cho con gái của ông là  
Trần Thị Thái. Nguyễn Ứng  ong sau đ  trở thành r  của Trần  guyên Đán.  guyễn Phi  
Khanh và Trần Thị Thái c  3 người con trai là Nguyễn Tác, Nguyễn Trãi, Nguyễn Hùng.  
Nguyễn Trãi là con thứ.  
Đến năm  ong Khánh thứ hai  1374)  đời Trần Duệ Tông, Ứng  ong đỗ Nhị giáp Tiến  
sĩ  chứ không phải Bảng nh n như nhiều tài liệu ghi nhầm), tại cung Trùng Quang ở S n  am  
hạ  Thiên Trường -  am Định). Tuy đỗ đạt nhưng  guyễn Ứng  ong không được bổ dụng vì  
phía quý tộc nhà Trần   o quy ước của dòng họ, e ngại Ứng Long khác họ  thêm vào đ   sợ  
vai vế về hàng quan văn của dòng họ Nguyễn mạnh thêm. Sau khi đỗ đạt, Ứng  ong đành trở  
về với nghề dạy học.  ho đến khi Hồ Quý Ly tiếm ngôi nhà Trần, vua mới tuy n dụng ông  
làm chức quan nhỏ là thuộc viên ở Trung thư sảnh  c  quan chuyên trách    thảo các văn kiện  
của triều đ nh.  ăm 1402  Ứng  ong  lúc đ  đổi tên thành Nguyễn Phi Khanh) được bổ  
nhiệm làm học sĩ ở Viện hàn l m  kiêm Tư nghiệp trường Quốc tử giám   t l u sau được thăng  
chức Trung thư thị lang, tức chức thứ hai, phụ tá cho chức Trung thư sảnh  n i đ  làm thuộc  
viên trước đ   với hàm tứ phẩm triều đ nh. Tại Quốc Tử Giám, ông có tham gia giảng dạy cho  
Thái tử.  
Tuy vậy  đường hoan lộ ngắn ch ng tày gang, nhà Hồ ch  tồn tại đến năm 1406. Quân  
Minh viện cớ phù Trần, diệt Hồ lỗi đạo  đ  kéo 215.000 qu n ồ ạt sang nước ta. Sử sách cho  
rằng, Nguyễn Phi Khanh có tham gia chiến tranh Đại Ngu - Minh sau đ  đầu hàng giặc và bị  
giải về Trung Quốc. Sách Đại Việt sử kí toàn thư, quy n IX ghi: “ òn  ọn Trần Nhật Chiêu,  
Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Cẩn  Đỗ M n đều đ  đầu hàng từ trước” [3]. Rất có th  vì sai lầm  
này nên th  văn của ông  t người nhắc đến. Thêm vào đ   năm 1442  v  thảm án tru di Lệ  
Chi Viên của con trai ông là Nguyễn Trãi nên đời tư lẫn th  văn của ông không được quan  
tâm nhiều. Mặc dù vậy  đọc th  văn ông  chúng tôi nhận ra một chân dung khác hoàn bị,  
đáng trọng và đáng thư ng.  
2.2. Sự nghiệp thơ văn  
Nguyễn Phi Khanh còn đ  lại khoảng 70  ài th   ằng chữ Hán  được  ê Quý Đôn  
chép trong Toàn Việt thi lục. Ngoài ra, còn có bài phú Diệp mã nhi và bài kí Thanh hư động  
được Dư ng  á  ung tập hợp trong cuốn Ức Trai di tập.  
Th  ông được sáng tác từ thời trẻ cho đến khi thi Hội, lúc làm thuộc viên ở tòa Trung  
thư và về già. Nội  ung th  ca viết về s  cảm thán thời thế, mục đ ch đ  tặng, họa, nhất là  
tặng nhạc phụ Trần  guyên Đán và  ạn bè.  
87  
  bài viết này, chúng tôi sử dụng cuốn Thơ văn Nguyễn Phi Khanh [4], do  ùi Văn  
 guyên  Đào Phư ng   nh chọn dịch, chú thích, Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1981 đ  
khảo sát. Cuốn sách được tuy n soạn d a trên văn  ản của  ê Quý Đôn và Dư ng  á  ung.  
Tất cả các trích dẫn  ưới đ y về th   guyễn Phi Khanh đều căn cứ vào tài liệu này. Từ văn  
bản này, chúng tôi lần lượt đi t m hi u con người Nguyễn Phi Khanh.  
3. Con người cá nhân Nguyễn Phi Khanh  
Khi sáng tác th  ca   guyễn Phi Khanh giống như  ao nhà th  nhà văn khác  cố gắng  
đạt đến cái vô ngã, phi ngã  c  nghĩa là không đề cập đến chuyện cá nhân. Th c chất, vấn đề  
ngã hay vô ngã, phi ngã trước hết là vấn đề của cuộc sống con người và quan niệm của con  
người về cuộc sống. Cái phi ngã còn có nguồn gốc từ tư tưởng phi ngã, vô ngã trong học  
thuyết Nho giáo. Nho giáo chủ trư ng khắc k  phục lễ (thắng m nh  cái tôi) đ  phục Lễ), tôn  
thờ Tử tuyệt tứ: vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã. Trong đ   vô ý là ch  theo lẽ phải  không đ  ý riêng  
mình vào và vô ngã là điều cốt yếu nhất của Tử tuyệt tứ : “ g ” là “m nh  ta” làm g  mà v  
chữ ngã sẽ dẫn đến sai lầm [5].  
Là một nho sĩ đỗ đạt ở triều Trần làm quan triều Hồ, Nguyễn Phi Khanh cũng thấu  
hi u đạo lý cửa Khổng sân Trình. Tuy vậy  đọc th   guyễn Phi Khanh vấn đề cá nh n  ường  
như hi n thị rất rõ rệt, mặc  ù  th  văn ông trong  uổi loạn lạc kháng Minh (thế kỷ XV) chiến  
tranh và thời đại phủ lên một lớp sư ng mù thời gian. Thêm vào đ   đời tư của Nguyễn Phi  
Khanh còn nhiều điều chưa rõ  lại từng bị lịch sử coi là người đ  ra hàng qu n Minh nên  
không được quan t m đúng mức. Đọc th   guyễn Phi Khanh  độc giả có th  hình dung về  
con người ông một số nét sau:  
3.1. Con người tài cao phận thấp  
Hàn lâm học sĩ nhà Hồ, Nguyễn Phi Khanh có một cuộc đời nhiều ngã rẽ. Thời trẻ,  
ông lận đận trong việc thi cử  cho nên ông “ n hận chưa c   uyên tới cửa rồng”. Khi trở thành  
Ki m chính dạy cho con gái  hư ng túc hầu Trần  guyên Đán  nợ công danh vẫn chưa trọn.  
Kiên trì theo con đường khoa hoạn  đỗ Nhị giáp tiến sĩ đời Trần Duệ Tông, Nguyễn Phi  
Khanh vẫn không được bổ dụng. Sách Đại Việt sử kí toàn thư của  gô Sĩ  iên ghi rõ: “ hức  
t  tướng thì chọn trong tôn thất  người nào tài giỏi  c  đạo đức nghệ thuật, thông hi u thi thư  
thì cho làm” [6].  ản thân Nguyễn Phi Khanh là người không đồng tộc, do vậy “  n  ỏ Nguyễn  
Ứng Long không cất nhắc” [7].    th  nói rằng, cuộc đời Nguyễn Phi Khanh khi trẻ là bức  
tranh phản chiếu xã hội thời Trần những năm cuối cùng, khoảng thời gian lớp s n son thiếp  
vàng đ  lần hồi bong tróc. Những biến động cuộc đời ông là bức tranh xã hội thu nhỏ, tiên liệu  
s  sụp đổ của triều Trần đang đến gần. Trong đ   cái rõ rệt nhất là việc tuy n dụng nhân tài  
đồng tộc, dẫn đến tài năng trong trăm họ ch  có danh mà không có phận  đỗ đạt mà ch ng đ  
làm gì, khiến không  t nh n tài không được trọng dụng r i vào  ất m n. Đ y là nỗi đau của  
Nguyễn Phi Khanh, bởi ông là nhà nho chính thống có hoài bão, muốn đưa sức mình ra giúp  
  n giúp nước. Khi vừa được xướng tên tại phủ Thiên Trường  ông đ  c  những d  cảm không  
lành về con đường hoan lộ của mình. Cái cong vênh giữa thời với người và tài cao phận thấp  
88  
đem lại những cay đắng cho bậc trí giả. Ch  còn lại người bạn văn chư ng lúc đêm về, khoảnh  
khắc được sống cho m nh  ông đem cuộc đời mình tâm s  cùng th  và bộc lộ những nỗi đau  
riêng tư:  
Vạn sự bội nhân tiêu tiệm vĩnh,  
Trữ sầu khi ngọa, số tàn canh!... (Thu trung bệnh)  
(Muôn s  trái đời đều chậm rãi,  
Ngậm sầu trăn trở  đếm tàn canh!) (Ốm mùa thu)  
Sau lần thi đỗ, bạn bè của Nguyễn Phi Khanh được cử vào một số chức vụ quan trọng,  
còn ông thì vẫn không được giao giữ chức vụ gì. Tiễn bạn lên đường, vui mừng cho bạn mà  
rầu lòng cho mình:  
Ngã độc hồ ví sảnh thuộc lưu! (Tống Hạnh nhân Đỗ Tòng Chu)  
(Sảnh thuộc riêng mình vẫn đứng yên) (Tiễn Hạnh nhân Đỗ Tòng Chu)  
Nguyễn Phi Khanh cũng được an ủi đôi phần khi tài năng của m nh được chính quan  
tư đồ Trần  guyên Đán là nhạc phụ công nhận. Nguyễn Phi Khanh rất biết  n người cha  
quyền ngang t  tướng này. Trong bài th  họa lại nguyên vần  ài th  Trần  guyên Đán gửi  
người bạn đồng môn của con r , ở đoạn kết, ông viết:  
Hiền tướng thảng lân môn hạ sĩ  
Khẳng dung quần tác bạch đầu lang  
(Hiền tướng (ch  Trần  guyên Đán) v  thư ng người  ưới trướng,  
Bạch đầu đành vậy, ti u quan trường).  
 gười như  guyễn Phi Khanh c  tài mà không được trọng dụng, buộc phải làm một  
chức quan nhỏ thường được người xưa mệnh  anh là “quan lang  ạch đầu”. Đ y không ch  là  
hiện tượng của riêng thời cuối Trần, mà th c chất là hiện tượng dễ gặp ở bất cứ triều đại nào  
lúc xế chiều. Th c trạng tài cao phận thấp rất phổ biến trong tầng lớp nho sỹ phong kiến, dẫn  
đến sự khủng hoảng về lý tưởng - “chí nam nhi”. Giáo lý phong kiến đ  vạch rõ con đường tu  
tề, trị   nh cho nho sĩ đ  th c hiện mục đ ch: “thượng trí quân, hạ trạch   n”  trên giúp vua tới  
tột cùng   ưới  an  n cho   n)  tạo nên chủ nghĩa anh hùng tiến bộ. R i vào cảnh huống tài  
cao phận thấp, hầu hết các  anh sĩ đều mang tâm trạng bế tắc. Họ gửi vào văn chư ng t m  
trạng khủng hoảng về đường hoan lộ  trường hợp Nguyễn Du là một minh chứng tiêu bi u.  
Bản thân Nguyễn Du, ở cuối thế kỷ XVIII  cũng đ  thốt lên rằng:  
Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên  
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên  
Xuân lan thu các thành hư sự  
Hạ thử, đông hàn, đoạt thiếu niên (Tạp thi)  
  gười tráng sĩ  ạc đầu đau x t ngẩng nhìn trời (trạng thái tuyệt vọng)  
Hoài bão cao xa, sinh kế hàng ngày đều cùng mù mịt,  
Cái thú hoa lan mùa xuân, hoa cúc mùa thu ngày càng hão huyền  
Cái oi bức của mùa hè, s  giá rét của mùa đông làm tiêu tan chí khí của tuổi trẻ) [8].  
Tâm trạng bế tắc đ  cũng được Lê Hữu Trác thổ lộ trong bài Thuật hoài:  
Nhập tâm khí bất khả  
Quy Hán diệc vị hoàng  
89  
Hồ Hải không phiêu lãng  
Tráng tâm thành đại cuồng  
 T m đường về Hán chưa xong  
Sang Tần thì việc đ  không nên rồi  
B  Hồ trôi dạt đôi n i  
 ho người ch  tráng ra người cuồng ngông) [9]  
3.2. Kiên nhẫn chờ thời và niềm tin vào hiền thánh  
Trong xã hội phong kiến tập quyền  khi nhà vua đ  quyết  đư ng nhiên  ậc tôi trung  
không th  trái lời. Không được làm quan, Nguyễn Ứng  ong đành trở về với nghề dạy học.  
Cách hành xử của vua Trần Duệ Tông  an đầu chưa khiến Nguyễn Phi Khanh chán nản, ông  
ch  buồn mà “chậm r i” chờ đợi. Bên bến Hoàng Giang, Lý Nhân, Hà Nam, ông thú nhận đ  
chờ đợi một mối tình duyên nợ công danh suốt mười năm mà chưa  én. Mười năm t m s  với  
ngọn đ n đêm khuya  trong mưa đêm trên sông Hoàng Giang  ông viết:  
Liễu phố tam thu vũ  
Quan bồng bán dạ thanh.  
Cô đăng minh hựu diệt,  
Hồ hải thập niên tình.  
(Hoàng Giang dạ vũ)  
 Mưa thu rả rích bên sông,  
Tiếng r i thánh thót mái bồng đêm khuya  
Ánh đ n mờ tỏ canh tà,  
Tấm lòng hồ hải chốc đà mười năm)  
(Đêm mưa bên bến Hoàng Giang)  
Có lúc vì chờ đợi  r i vào  ệnh tật, Nguyễn Phi Khanh tưởng như nỗi buồn đang giết  
chết mình. Buồn sầu nhưng không xuất hiện những suy nghĩ mang t nh trách cứ vua chúa. Là  
nho sĩ ch nh thống, ông hi u rõ đạo lý quân thần.  
Hồ hải tứ niên đa bệnh tật  
Biển chu sầu sát vị quy nhân (Thiên Trường chu trung)  
(Trải bốn năm hồ hải nay có nhiều tật bệnh,  
Trên chiếc thuyền con, sầu như giết chết kẻ chưa được về)  
(Trong thuyền ở phủ Thiên Trường)  
Nguyễn Phi Khanh chủ yếu làm th  trên thuyền hoặc bên bến sông. Dường như cuộc  
đời ông như một dòng sông vậy  phù  u vô định, nó mải miết chảy trong hạn hẹp và bức bối,  
lặng thinh của đôi  ờ. Những giới hạn chật hẹp giam h m  con người không c  c  hội bộc lộ  
tài năng  con người không th  ra bi n lớn. Dòng sông là cuộc sống riêng tư làm cho con người  
hi u hết được s  thê thảm của chính mình.  
Mười năm trôi qua  rồi hai mư i năm kiên nhẫn chờ đợi, Nguyễn Phi Khanh vẫn  
không một lần oán trách vua.  hưa được trọng dụng, ông cho rằng đ  không phải là hành vi  
xã hội mà là hành vi cá nhân. Việc chờ đợi là tất yếu của kẻ sĩ  là điều kiện thử thách thỏa  
mãn tiềm năng của cá nhân. Ông nhận mình là kẻ “thiếu cái  uyên”:  
90  
Kinh quốc huề thư nhị thập niên  
Đăng long mỗi hận khiếm tiền duyên!  
 Thư ng hồ Thừa ch  Hồ Tông Thốc)  
(Mang cặp sách ở chốn kinh kỳ hai chục năm nay  
Thường hận thiếu cái  uyên may được lên cửa rồng).  
(Dâng quan Thừa chỉ Hồ Tông Thốc)  
Tiên trách kỷ  hậu trách nhân. Trách m nh mà không trách người  đ  là chuyện của  
một nh n cách cao cả  vị tha.  ập ch  phải chờ thời.  ho sĩ xưa thường đặt ngang hàng việc học  
với việc lập ch .  ập ch  ch nh là mục đ ch học tập.  ho sĩ thường được chú ý  ởi tinh thần khổ  
luyện  thái độ kiên tr  học tập. Việc học là chuyện khởi đầu cho việc th  hiện ch : “ gô thập hữu  
ngũ nhi ch  ư học  tam thập nhi lập  tứ thập nhi thiên mệnh  lục thập nhi nhĩ thuận  thất thập nhi  
tòng t m sở  ục   ất  u củ”   ăm mười lăm tuổi ta đ  lập ch  học tập   a mư i tuổi tư ng đối  
vững vàng   ốn mư i tuổi không đến nỗi  ị mê hoặc  năm mư i tuổi hi u được mệnh trời  sáu  
mư i tuổi c  th   ễ  àng ph n  iệt đúng sai  thật giả   ẩy mư i tuổi c  th  tùy theo ý muốn không  
 ao giờ vượt quá quy củ” [10]. Nguyễn Phi Khanh tiếp tục  ùi mài kinh sử đ  hoàn thiện m nh.  
Ông tin  ản th n  không nghi ngờ  ản th n  sẽ c  một ngày được đến “cửa rồng”. Đ y cũng là  
niềm tin của đa số nho sĩ trong  uổi đầu  lúc x  hội phong kiến còn đang  ốc sức kh ng định  
vị tr  của đ ng cấp quý tộc.  
 hưa c  c  hội tỏ bày bản thân, ông gửi niềm tin vào trong mộng. Th   guyễn Phi  
Khanh viết nhiều về mộng: Đông Ngạn xuân mộng, Thao giang quận xá, Thiên Trường chu  
trung, Sơn trung, Nhật thu khởi hiểu... Mộng là thế giới vô thức giải tỏa, thỏa m n ước vọng.  
Nói cách khác, mộng là cái th c bị dồn nén nhưng không c  c  hội trong cuộc sống hàng  
ngày. Giấc mộng ở trong thuyền tại phủ Thiên Trường có hình ảnh “  ng chim hoa n i gác  
t a” của tư ng lai. Đôi khi  guyễn Phi Khanh t  ru mình, phải biết chờ thời  đợi thời. Khổng  
Tử có dạy: “Ham th ch học tập sẽ tiếp cận với trí tuệ, nỗ l c hành thiện sẽ tiếp cận với nhân  
ái, biết rõ liêm s  sẽ tiếp cận với  ũng cảm” [11]. Lý do ông t  biện đ  ru mình là tuổi còn trẻ,  
trải nghiệm chưa nhiều nên c  hội chưa đến với m nh  trước tu thân, sau tề gia:  
Tài thức như quân thượng thiếu niên  
Văn chương ta ngã lão vô duyên.  
(Du Đông Đình họa Nhị Khê nguyên vận)  
 Anh là người tài trí mà hãy còn trẻ  
Văn chư ng của ta đáng  uồn mãi mãi vô duyên)  
 Đến ch i Đông Đ nh họa  ài th  của Nguyễn Nhị Khê)  
Nguyễn Phi Khanh tin vào bản thân mình:  
Sinh thế na kham tiện trượng phu  
... Minh thời thảng hiệu hào phân bổ,  
Vạn lý ninh từ ngã bộc phô” (Khách lộ)  
(Kẻ trượng phu ở đời sao chịu sống đời h n nhát được?  
... V  chăng ta cố gắng giúp  ch chút nào cho đời thịnh này  
Thì dù gian lao muôn dặm  người ti u đồng ta có mệt phờ ta cũng không từ nan)  
(Đường khách)  
91  
Đ y là đi m gặp gỡ giữa tư tưởng  ho giáo và tư tưởng Đạo giáo trong th   guyễn  
Phi Khanh. Trong học thuyết Đạo gia, Lão Tử từng quan niệm: “Phi  ĩ k  vô tư đa?  ố năng  
thành k  tư”  Phải chăng v  không riêng tư mà thành việc riêng tư). Giúp đời là giúp mình thỏa  
chí. Lão Tử cũng viết: “Ký  ĩ vi nh n  kỷ  ĩ hữu  ký  ĩ  ữ nhân, kỷ  ĩ đa’   àng v  người mình  
càng thêm có, càng cho người mình càng thêm nhiều) [12]. Giúp  ch cho đời thịnh là nhân cách  
đáng quý của Nguyễn Phi Khanh. Do đ    ẫu nhiều ly biệt  thư ng hải tang điền, bậc trượng phu  
luôn phải giữ gìn ý chí chiến đấu, lạc quan yêu đời:  
Trượng phu tống biệt hà thu lệ?  
Nhất tiếu tương khan phủ khoái hầu!  
(Tống Hạnh nh n Đỗ Tòng Chu)  
 Trượng phu há lại buồn ly biệt?  
Vỗ vỏ gư m cười nở lá gan)  
Với bạn     ông cũng khuyên cần phải tích c c đưa tài ch  ra giúp   n  giúp nước:  
An cần biệt hậu tu tiên sách  
Thánh chủ phương kim chính cấp hiền.  
(Dữ Trương giang đồng niên Trượng Thái học)  
(Biệt nhau hãy thét roi mình ng a,  
Thánh chúa cầu hiền chính thiết tha)  
Chính vì kiên nhẫn chờ thời nên khi giặc Minh sang x m lược bờ cõi, thấy thế giặc mạnh,  
Nguyễn Phi Khanh chọn nước cờ lùi một  ước, tiến hai  ước, ông cùng một số sĩ phu hàng giặc.  
Hàng giặc không phải đ  ổn thân, giữ thân, nhàn thân, mà là chuyện đường cùng ch ng đ . Hàng  
giặc không phải là  án nước mà đ  chờ thời. Một bằng chứng là khi bị bắt đưa về Trung Hoa,  
Nguyễn Trãi tiễn cha đến ải Đông Quan   guyễn Phi khanh đ  ép con trai phải quay về và dặn  
 ò: “...  on nên về quyết chí rửa thẹn cho nước, trả thù cho cha, nối chí cha, làm vẻ vang tổ tiên,  
như vậy mới là đại hiếu. Hà tất, cứ lẽo đẽo theo cha, mới là đại hiếu sao?” [10  9].  ếu hàng giặc  
đ  giữ thân, phản nước, ắt h n Nguyễn Phi Khanh sẽ không khuyên con như vậy  và đư ng nhiên  
cuộc kháng chiến chống Minh không th  có một nhà quân s  lỗi lạc Nguyễn Trãi. Dù lịch sử có  
nhìn Nguyễn Phi Khanh bằng con mắt khác th  con người đ  vẫn giống như “chim Việt ch  
đậu cành  am”  “ng a Tiêu Sư ng ch ng màng ăn cỏ Tống”.  
Chờ đợi không nản lòng, ông có niềm tin vào ngày mai và m  ước có một hiền thánh đ  
thế gian được vui hưởng thái bình:  
Hát múa trong gió xuân,  
Tắm gội trong hòa khí,  
Yên vui, th c s  yên vui  
Thỏa chí, th c s  thỏa chí,  
Kẻ kỹ thuật phô diễn tài năng  
 gười trí thức tỏ  ày chước quý (Phú con ngựa lá)  
Mong ước c  được hiền thánh vừa cho dân, lại vừa cho những kẻ sĩ như m nh  trước  
sau Nguyễn Phi Khanh vẫn là con người kiên nhẫn “ ám sống, biết chịu đ ng, dám chịu  
đ ng, sống và biết chịu đ ng v    n  v  nước” [12].  
92  
3.3. Mộng vàng đổ vỡ  
 ước qua thời tráng niên, Nguyễn Phi Khanh có những lời trải bày khác về mình. Ông  
không t  cho m nh là người có học vấn nữa. Nguyễn Phi Khanh bắt đầu có những cảm nhận  
đặc biệt về thế thời, ông không dành nhiều thời gian cho những thú vui tao nhã, những chuyến  
ngao  u s n thủy mà trăn trở lo lắng về chính s , nhận chân giá trị trong tư ng quan hiện  
th c. Ông t m đến câu trả lời: Ta là ai? Câu trả lời không phải là cái tôi vĩ đại mà là cái tôi  
khiêm tốn. Phản biện xã hội  nhưng đ  cũng ch nh là s  phản biện cá nhân mình, chiêu tuyết  
cho con người non trẻ thời thanh xuân giàu khát vọng. Niềm tin đ   ẫn bị bào mòn bởi nhãn  
tiền:   n chúng đ i c m thiếu áo  ngược lại kẻ giàu sang thì vàng ngọc chất như núi cao.  ài  
Hồng Châu kiểm chính (...) dĩ tặng, ông viết:  
Vạn tính ngao ngao đãi bộ cầu  
Thùy gia kim ngọc á cao khâu!  
 Muôn   n c m áo ch c nhao nhao,  
Vàng ngọc nhà ai sánh núi cao.)  
(Ngày thu lưu biệt Kiểm chính Hồng Châu)  
Hiền thánh ch  tồn tại trong sách vở  ông r i vào trạng thái vỡ mộng. Thu không ngủ  
được  đêm  ài  ằng dặc, nguyên do là muôn s  trái ngang đang đi qua trước mặt, mà canh thì  
đ  tàn. Muốn cống hiến mà bất l c.  hà th  t m mùa thu đ  tâm s . Nguyễn Phi Khanh đ  
sáng tác cả một hệ thống nói về mùa thu với tất cả tâm tình của mình: Thu dạ, Trung thu  
ngoạn nguyệt hữu hòa, Thu trung bệnh, Trung thu hữu cảm, Mộ thu, Thu nhật khiển hứng,  
Thu thành vãn vọng... Với vòng đời tuổi tác, thu là quãng thời gian đ  chiêm nghiệm. Thu là  
lúc con người bắt đầu  ên kia đ nh dốc. Thu là khi được mất đ  rạch ròi. Mùa thu trong th  
Nguyễn Phi Khanh rất đẹp  nhưng ông  uồn việc đời, rồi đốt trầm, t a gối, ngồi nghĩ miên  
man, xem lá rụng, nhìn chim bay:  
Khách hoài ủng chẩm khi miên hậu,  
Tâm sự phần hương ngột tọa trung,  
Đình ngoại tảo sầu khan lạc diệp,  
Thiên biên sái lệ số chinh hồng...  
(Thu nhật hiếu khởi hữu cảm)  
(Bâng khuâng ôm gối triền miên khách,  
Th  thẩn  ch m hư ng n o ruột lòng!  
S n trước quét sầu, nhìn lá rụng,  
Trời xa, nhỏ lệ đếm chim hồng...)  
(Cảm xúc ngày thu dậy sớm)  
Khối sầu này, ở thế kỷ XIX, Nguyễn Khuyến cũng giống như  guyễn Phi Khanh. Trong  
Chùm thơ thu, Nguyễn Khuyến cũng “t a gối ôm cần”  c u được một bầu tâm s  chứa chan,  
đau đời và bế tắc. Dường như đến đ y, cả hai nhà th  đều nhận ra s  bất l c của bản thân mình  
và con người không th  thoát khỏi s  bủa vây của hoàn cảnh, là nạn nhân của hoàn cảnh.  
Nguyễn Phi Khanh tiếc cho những tháng năm h o huyền, sống hoài, sống phí.  
Ngâm hứng tứ thời du dị cảm  
93  
Nhân sinh vạn sự lão kham liên  
Binh qua huống phục điêu tàn hậu  
Dao vọng tình mân nhất khái nhiên!  
(Thu thành vãn vọng)  
Bốn mùa làm th  th  mùa thu  ễ gợi cảm nhất  
Đời người muôn việc tới tuổi già thật đáng thư ng?  
Huống chi gặp cảnh điêu tàn sau c n binh hỏa,  
Mỗi lúc trông vòm trời trong xanh mà luống ngậm ngùi.  
(Trên thành ngắm cảnh chiều thu)  
Về già  thái độ kiên nhẫn đợi thời, chờ thời, nợ công  anh  ường như  iến mất.  
Nguyễn Phi Khanh tìm cách trốn đời bằng lối sống ẩn dật, vui thú làng quê. Ông tuyên bố:  
Thân ngoại phù danh phó trọc giao,  
Vạn sự vô doanh tâm tự khả.  
(Thôn cư)  
Thây kệ danh suông dốc cạn bầu,  
Muôn việc ch ng màng, lòng nhẹ nhõm.  
(  trong xóm)  
Trốn đời, ẩn dật không phải là l a chọn  an đầu của nhà nho chính thống xưa nay  
thường làm. Đ y ch  là con đường bần cùng của nhà nho lỗi thời Nguyễn Phi Khanh - một  
con người lỡ thời nhưng ưu thời mẫn thế, một con người đáng thư ng trong trò ch i số phận.  
Đ  là nh n cách đáng tr n trọng và thư ng cảm, nhân cách của Hàn lâm học sĩ với cuộc b  
dâu bất khả kháng.  
4. Kết luận  
Từ những kiến giải trên, chúng tôi nhận thấy Nguyễn Phi Khanh là nhà th  lớn, có  
t m  c  tài nhưng cuộc đời gặp nhiều gian truân, nhất là khi  ước vào con đường hoan lộ.  
Mặc  ù đỗ Nhị giáp Tiến sĩ - danh vị xưa nay hiếm  nhưng  ưới thời nhà Trần, do gặp phải  
những nghi kị của dòng họ nắm quyền, Nguyễn Phi Khanh trở thành một trí thức không danh  
phận. Với phẩm chất nho sinh, ông dành nhiều năm đ  kiên nhẫn chờ thời, rùi mài kinh sử,  
t m đức, mong có ngày “phò nghiêng đỡ lệch”. Ông luôn nuôi trồng một niềm hy vọng sâu  
nặng vào đức trị của hiền thánh và không oán hận qu n vư ng.  
Mười năm rồi hai mư i năm đợi chờ nhưng rồi mộng vàng đổ vỡ, Nguyễn Phi Khanh  
trở thành một con người muốn trốn đời, ẩn dật. Công danh suốt kiếp mỏi mòn vư ng nợ, theo  
đuổi, cuối đời ch ng khác nào “ném đá ao   o”. Mặc dù vậy, cái cao cả trong nhân cách của  
ông nằm ở chỗ không một lời oán thán, ch  trách m nh  không trách người. Do đ   tư tưởng  
của Nguyễn Phi Khanh khiến người đời sau trân trọng, yêu mến  thư ng cảm, ngậm ngùi xót  
xa và phản biện một ch n lý cay đắng: cho hay muôn s  tại nhân chứ không phải tại thiên.  
Nguyễn Tr i là người con trai kiệt xuất của Nguyễn Phi Khanh. Thấu hi u nỗi lòng  
cha, Nguyễn Tr i đ  thay cha đ  “Kinh  ang hoa quốc”.  guyễn Tr i đ  hoàn nguyên giấc  
m  của cha.  ũng may là thời thế kịp đổi dời, Nguyễn Trãi làm quan nhà Lê mà không phải là  
nhà Trần như cha m nh. Vì vậy, tìm hi u con người Nguyễn Phi Khanh qua th  văn là một  
94  
nhiệm vụ quan trọng góp phần tường minh cuộc đời, gia thế  căn nguyên con người  
Nguyễn Trãi.  
Rõ ràng  con người Nguyễn Phi Khanh là sản phẩm của thời đại nhà Trần. Hi u và  
cảm thông với những việc học sĩ đ  làm là chuyện nên có ở đời sau.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Thơ văn Nguyễn Phi Khanh   ùi Văn  guyên  Đào Phư ng   nh  chọn dịch, chú thích),  
 ùi Văn  guyên  giới thiệu)   x  Văn học, Hà Nội, 1981, tr. 5.  
[2]  guyễn Đăng  a  chủ  iên)  2006)  Giáo trình Văn học trung đại Việt Nam  tập 1,  x  
Đại học Sư phạm Hà  ội  tr.105.  
[3] https:// Wikipedia.org, truy cập ngày 7/9/2017.  
[4] Thơ văn Nguyễn Phi Khanh   ùi Văn  guyên  Đào Phư ng   nh  chọn dịch, chú thích),  
 ùi Văn  guyên  giới thiệu)   x  Văn học, Hà Nội, 1981.  
[5] Nguyễn Đình Chú tuyển tập, Nguyễn Công Lý giới thiệu tuy n chọn, Nxb Giáo dục  
Việt Nam, Hà Nội, 2012, tr. 189 - 190.  
[6]  gô Sĩ  iên  1971)  Đại Việt sử kí toàn thư, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 21.  
[7] Thơ văn Nguyễn Phi Khanh   ùi Văn  guyên  Đào Phư ng   nh  chọn dịch, chú thích),  
 ùi Văn  guyên  giới thiệu)   x  Văn học, Hà Nội, 1981, tr. 7.  
[8] Thơ chữ Hán Nguyễn Du   ê Thước  Trư ng  h nh  sưu tầm, chú thích, phiên dịch sắp  
xếp)   x  Văn học, Hà Nội, 2012, tr. 113.  
[9] Lê Hữu Trác, Thượng kinh ký sự - Lan Trì kiến văn lục, Bùi Hạnh Cẩn, Trần  ghĩa  
(dịch, chú thích, giới thiệu), Nxb Văn học, 2008, tr. 119.  
[10] Dư ng Thu Ái   guyễn Kim Hanh  sưu tầm và biên dịch) (2011), Khổng Tử với luận  
ngữ, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội, tr. 33.  
[11] Dư ng Thu Ái   guyễn Kim Hanh  sưu tầm và biên dịch) (2011), Khổng Tử với luận  
ngữ, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội, tr. 396.  
[12] Nhiều tác giả (2000), Đạo gia và văn hóa   x  Văn h a - Thông tin, Hà Nội, tr 23.  
THE PERSON OF NGUYEN PHI KHANH THROUGH POETRY  
Ngo Thi Phuong  
Tay Bac University  
Abstract: Living in Tran dynasty, Nguyen Phi Khanh, the father of the great poet - Nguyen Trai, was  
a great poet, a person of talent but poor status and uncertain fate, a man waiting patiently for opportunity and  
having faith in the sage butunder going disillusion. Nguyen Phi Khanh suffered from thehurt of status and  
missing time. His tragic life was the product of the times.  
Keywords: Nguyen Phi Khanh, Nguyen Trai, the person.  
95  
pdf 10 trang Mãnh Khiết 15/01/2024 12540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Con người Nguyễn Phi Khanh qua thơ ca", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcon_nguoi_nguyen_phi_khanh_qua_tho_ca.pdf