Tiếng lóng trong truyện về Đề tài giáo dục của Văn Thành Lê

Tập 183, số 07, 2018  
T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ  
183(07)  
Journal of Science and Technology  
N¨m 2018  
CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN – KINH TẾ  
Môc lôc  
Trang  
Hoàng Thị Phương Nga - Mô hình du lịch văn học “Làng Vũ Đại ngày ấy”  
3
9
Phạm Thị Thu Hoài, Trần Thị Thanh - Tiếng lóng trong truyện về đề tài giáo dục của Văn Thành Lê  
Ngô Thị Thanh Nga, Phạm Thị Hồng Vân - Vài nét về các phương thức thể hiện tình vợ chồng trong văn  
học trung đại Việt Nam  
15  
21  
Nguyễn Thị Thắm, Nguyễn Minh Sơn - Ý thức đối thoại của Nguyễn Ngọc Tư với văn học truyền thống thông  
qua những nhân vật nữ trong tập truyện Không ai qua sông  
Đặng Thị Thùy, Nguyễn Diệu Thương - Lô gích của các hiện tượng “phi lô gích” trong ca dao, tục ngữ  
người Việt  
27  
33  
39  
45  
Đinh Thị Giang - Những nhân tố ảnh hưởng đến lối sống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay  
Nguyễn Diệu Thương, Nguyễn Thị Lan Hương - Phương thức tạo hàm ý trong tiểu phẩm trào phúng  
Nguyễn Thu Quỳnh, Vì Thị Hiền - Từ ngữ chỉ đồ gia dụng trong tiếng Thái ở tỉnh Điện Biên  
Nguyễn Thị Thu Oanh, Hoàng Thị Mỹ Hạnh - Vị thế, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng Sản Việt Nam giai  
đoạn 1945 - 1975 và một số bài học kinh nghiệm  
51  
57  
Đỗ Hằng Nga, Phạm Quốc Tuấn - Việc thu thuế trong làng xã qua tư liệu hương ước cải lương tỉnh Thái Nguyên  
Lê Văn Hiếu - Hiệu quả hoạt động của mô hình “ban tuyên vận” xã, phường, thị trấn và “tổ tuyên vận” thôn, bản, tổ  
dân phố ở tỉnh Lào Cai trong giai đoạn hiện nay  
63  
Thái Hữu Linh, Nguyễn Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Thanh Hà - Vai trò của hậu phương Bắc Thái trong cuộc  
tổng tiến công Mậu Thân năm 1968  
69  
73  
Phạm Anh Nguyên - Sức hấp dẫn trong Hài đàm của Phan Khôi  
Nguyễn Thị Hường, Nguyễn Thị Mão, Nguyễn Tuấn Anh - Nâng cao hiệu quả tổ chức các hoạt động ngoại  
khoá trong dạy học môn giáo dục công dân ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Thái  
Nguyên hiện nay  
79  
85  
Nguyễn Văn Dũng, Đào Ngọc Anh - Thực trạng thể chất của sinh viên không chuyên thể dục thể thao Trường  
Đại hoc Sư phạm – Đại học Thái Nguyên  
Trần Bảo Ngọc, Lê Ngọc Uyển, Bùi Thanh Thủy và cs - Thực trạng xếp loại tốt nghiệp sinh viên diện cử  
tuyển ở trường Đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên giai đoạn 2013-2017  
91  
Nguyễn Thúc Cảnh - Nghiên cứu xây dựng hệ thống bài tập có nội dung thực tế trong giảng dạy cơ học cho  
học sinh trung học phổ thông  
97  
Hà Thị Kim Linh, Chu Thị Bích Huệ - Giáo dục kiến thức pháp luật cho phụ nữ vùng dân tộc thiểu số ở huyện  
Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên  
105  
Nguyễn Thị Thanh Hồng, Nguyễn Thị Khánh Ly, Vũ Kiều Hạnh - Tăng cường sự tham gia của sinh viên  
vào các hoạt động học tiếng Anh trong lớp học đông nhiều trình độ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học  
Y Dược – Đại học Thái Nguyên  
111  
Phạm Thị Huyền, Vũ Thị Thủy - Vận dụng phong cách nêu gương theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng  
phong cách làm việc đối với cán bộ chủ chốt ở nước ta hiện nay  
117  
123  
Đàm Quang Hưng - Thiết kế bài học khoa học lớp 4, lớp 5 theo hướng tìm tòi thực nghiệm  
Hoàng Thị Thu Hoài - Những khó khăn trong việc dạy và học từ vựng tiếng Anh chuyên cho sinh viên chuyên  
ngành điều dưỡng, trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên và một số giải pháp đề xuất  
129  
Nguyễn Lan Hương, Văn Thị Quỳnh Hoa - Những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng nói tiếng Anh của sinh  
viên năm thứ nhất trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên  
135  
141  
147  
153  
Vũ Kiều Hạnh - Những yếu tố quyết định đến mức độ đọc hiểu của sinh viên năm thứ hai tại trường Đại học  
Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên  
Nguyễn Thị Quế, Hoàng Thị Nhung - Hỏi đúng để tự học và học tập cộng tác thành công – hướng tới xây  
dựng người học ngoại ngữ độc lập trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế  
Ngô Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Hoài Thu - Ứng dụng các phương pháp giảng dạy tích cực nhằm nâng cao chất  
lượng dạy – học tiếng Việt cho học viên quốc tế tại Học viện Kỹ thuật Quân sự  
Dương Văn Tân - Đánh giá hiệu quả áp dụng trò chơi vận động trong phát triển thể lực chung cho sinh viên  
trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp – Đại học Thái Nguyên  
159  
165  
Bùi Thị Hương Giang - Nâng cao năng lực giao tiếp giao văn hóa trong dạy và học ngoại ngữ  
Trần Hoàng Tinh, Nông La Duy, Phạm Văn Tuân - Xây dựng trung đội tự quản trong quản lý giáo dục tính  
kỷ luật cho sinh viên tại trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh trong giai đoạn hiện nay  
171  
177  
183  
189  
195  
201  
Trần Thị Yến, Khổng Thị Thanh Huyền - Sử dụng hình thức đọc chuyên sâu để nâng cao khả năng viết học  
thuật cho sinh viên chuyên ngành tiếng Anh  
Đỗ Thị Hồng Hạnh, Hoàng Mai Phương - Đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Chợ Mới,  
tỉnh Bắc Kạn  
Trần Thùy Linh, Trần Lương Đức, Nguyễn Thị Thùy Trang - Cách tiếp cận của pháp luật cạnh tranh liên  
minh châu Âu về hành vi lạm dụng mang tính trục lợi  
Nguyễn Thị Thanh Hà, Phạm Việt Hương - Xây dựng bộ tiêu chí và chỉ số kinh tế phù hợp để đánh giá quản  
lý rừng bền vững ở huyện Định Hóa  
Đinh Thị Hoài - Truyền thông marketing sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Trung tâm Học liệu Đại  
học Thái Nguyên  
Nguyễn Thị Thanh Xuân - Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ  
khách sạn tại Thanh Hóa, Việt Nam  
207  
213  
219  
Dương Thị Tình - Đóng góp của xuất khẩu hàng hóa tới tăng trưởng kinh tế của tỉnh Yên Bái  
Lê Minh Hải, Trần Viết Khanh - Phân tích tổ chức không gian lãnh thổ du lịch tỉnh Thái Nguyên  
Hà Văn Vương - Vận dụng lý thuyết Ecgônômi trong tổ chức môi trường làm việc tại văn phòng chi nhánh may  
Sông Công II - Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG  
227  
233  
239  
Mai Anh Linh, Nguyễn Thị Minh Anh - Đánh giá chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng: nghiên  
cứu thực nghiệm tại siêu thị Lan Chi, Thái Nguyên  
Đinh Hồng Linh, Nguyễn Thu Nga, Nguyễn Thu Hằng - Sử dụng hàm Loga siêu việt để đánh giá hiệu quả  
kinh doanh của các ngân hàng Việt Nam  
Phạm Thị Thu Hoài và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
183(07): 9-14  
TIẾNG LÓNG TRONG TRUYỆN VỀ ĐỀ TÀI GIÁO DỤC CỦA VĂN THÀNH LÊ  
Phạm Thị Thu Hoài*, Trần Thị Thanh  
Trường Đại học Sư phạm – ĐH Thái Nguyên  
TÓM TẮT  
Tiếng lóng xuất hiện ở hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới. Trong hệ thống từ loại, tiếng lóng vốn  
chỉ là một “biệt ngữ” xã hội, là một dạng ngôn ngữ hẹp được sử dụng trong một nhóm hay cộng  
đồng nào đó mang tính ám chỉ. Hiện nay, ngành Ngôn ngữ học đã coi tiếng lóng là đối tượng  
nghiên cứu của Ngôn ngữ học xã hội. Sự phát triển của tiếng lóng không chỉ dừng ở ngôn ngữ nói  
mà còn thể hiện trong ngôn ngữ viết. Vai trò của tiếng lóng đang dần được khẳng định, nó giúp  
tăng sức hấp dẫn, dí dỏm, tạo sắc thái lạ hóa cho ngôn ngữ toàn dân. Với lối viết tài tình, Văn  
Thành Lê đã linh hoạt đưa ngôn ngữ lóng vào trong sáng tác của mình, tái hiện một cách khách  
quan, sinh động hiện thực của việc dạy và học.  
Từ khóa: tiếng lóng, ngôn ngữ hẹp, Văn Thành Lê, sắc thái lạ hóa, ngôn ngữ toàn dân  
*
ĐẶT VẤN ĐỀ  
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ  
Tiếng lóng xuất hiện ở hầu hết các ngôn ngữ  
trên thế giới. Trong hệ thống từ vựng, tiếng  
lóng vốn chỉ là một “biệt ngữ” xã hội, là một  
dạng ngôn ngữ hẹp được sử dụng trong một  
nhóm hay cộng đồng nào đó mang tính ám  
chỉ. Hiện nay, ngành Ngôn ngữ học đã coi  
tiếng lóng là đối tượng nghiên cứu của Ngôn  
ngữ học xã hội. Tính đến thời điểm hiện nay  
có nhiều công trình, bài báo khoa học nghiên  
cứu về tiếng lóng của các tác giả như: Nguyễn  
Văn Khang [1], Trần Văn Chánh, Phạm Văn  
Tình, Đoàn Tử Huyến, Lệ Thị Yên,… Qua  
đây cho thấy, sự phát triển của tiếng lóng  
không chỉ dừng ở ngôn ngữ nói mà đã đi sâu  
vào ngôn ngữ viết. Một số nhà văn của thế hệ  
trước đã đưa tiếng lóng vào các sáng tác của  
mình như Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng...  
Cùng với sự phát triển của ngôn ngữ nói  
chung và tiếng lóng nói riêng, đã có nhiều cây  
bút trẻ sử dụng tiếng lóng vào trong các sáng  
tác như: Văn Thành Lê, Meggie Phạm, Li Di,  
Vũ Phương Thanh (Gào), Nguyễn Ngọc  
Thạch (Jade), Lê Văn Trương (Hamlet  
Trương),… Trong số đó, tác giả Văn Thành  
Lê đã chọn cho mình một lối đi riêng trên  
phương diện xác lập đề tài và phong cách  
ngôn ngữ.  
Trong các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ,  
vấn đề tiếng lóng được nhìn nhận dưới nhiều  
góc độ khác nhau.  
Cuốn “Đại từ điển tiếng Việt” do Nguyễn  
Như Ý chủ biên đưa ra khái niệm tiếng lóng  
như sau: “Tiếng lóng là cách nói một ngôn  
ngữ riêng trong một tầng lớp hoặc một nhóm  
người nào đó, cốt chỉ để trong nội bộ hiểu với  
nhau mà thôi. Bọn phe phẩy dùng tiếng lóng  
giao dịch với nhau. Tiếng lóng của bọn kẻ  
cắp” [2, tr.1636]. Theo các tác giả Mai Ngọc  
Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến:  
“Tiếng lóng nói cho giản dị là một bộ phận từ  
ngữ do những nhóm, những lớp người trong  
xã hội dùng để gọi tên những sự vật, hiện  
tượng, hành động,… vốn đã có tên gọi trong  
vốn từ chung nhằm giữ bí mật trong nội bộ  
nhóm mình” [3, tr.224]. Tiếng lóng có thể  
hiểu là những từ vựng không phải từ toàn dân,  
thường được sử dụng trong giao tiếp hàng  
ngày. Ban đầu tiếng lóng xuất hiện nhằm mục  
đích che giấu ý nghĩa, diễn đạt theo quy ước  
chỉ những người nhất định mới hiểu. Tiếng  
lóng thường không mang ý nghĩa trực tiếp mà  
mang nghĩa biểu trưng (nghĩa lóng). Ở một  
góc độ nào đó, tiếng lóng góp phần làm  
phong phú lớp từ toàn dân và được sử dụng  
rộng rãi trong xã hội.  
*
Tel: 0936.633.777; Email: [email protected]  
9
Phạm Thị Thu Hoài và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
183(07): 9-14  
Bảng 1. Thống kê số lượng tiếng lóng trong các truyện về đề tài giáo dục của Văn Thành Lê  
Tiếng lóng  
Từ  
Cụm từ  
Tác phẩm  
Số lượng  
Tỷ lệ %  
10,1  
28,0  
3,4  
Số lượng  
Tỷ lệ%  
6,8  
Ghi chú về những giấc mơ  
Không biết đâu mà lần  
Nghiệp nhà  
12  
33  
4
8
22  
3
18,6  
2,5  
Sẽ trôi về đâu  
11  
10  
70  
9,3  
10  
5
8,5  
Thừa ra một người  
Tổng số  
8,5  
4,2  
59,3  
48  
40,7  
kết quả như bảng 1. Số liệu bảng 1 cho thấy:  
các tiếng lóng là từ có 70/118 (chiếm 59,3%)  
và cụm từ có 48/118 (chiếm 40,7%).  
Đặc điểm ngôn ngữ lóng trong sáng tác của  
Văn Thành Lê  
Tác giả Văn Thành Lê  
Tác giả Văn Thành Lê tên khai sinh là Lê Văn  
Thành, sinh năm 1986 tại Mậu Lân, Như  
Thanh, Thanh Hóa. Sinh ra trong gia đình có  
truyền thống làm việc trong ngành giáo dục,  
Văn Thành Lê thi đỗ vào Đại học Sư phạm  
Huế khoa Sinh học. Anh tốt nghiệp cử nhân  
Sư phạm Sinh học khóa 2004 – 2008. Tuy  
nhiên sau khi tốt nghiệp 3 năm, Văn Thành  
Lê đã chuyển từ con đường dạy học sang con  
đường sáng tác văn chương. Là nhà văn thế  
hệ 8x, cho đến nay Văn Thành Lê đã cho ra  
mắt đọc giả nhiều tác phẩm và gây được sự  
chú ý như: Biết đến khi nào mưa thôi rơi [4],  
Thừa ra một người [5], Sẽ trôi về đâu [6],  
Ghi chú về những giấc mơ [7], Con gái tuổi  
Dần [8], Ông mặt trời và mùi hương của mẹ  
[9], Không biết đâu mà lần [10]...  
Hình 1. Phân loại tiếng lóng theo cấu tạo từ  
(từ đơn, từ phức)  
* Tiếng lóng có cấu tạo là từ đơn  
Một số từ lóng của học sinh, sinh viên được  
cấu tạo bởi từ đơn như: phao (tài liệu), tạch  
(thi trượt), gậy (điểm 1), ngỗng (điểm 2), ghi  
đông (điểm 3), sa lông (điểm 4), bồ hóng  
(nghe ngóng), bồ kết (thích, yêu thích)…  
Các tác phẩm viết về đề tài giáo dục của Văn  
Thành Lê được viết rất chân thực, phản ánh  
và thể hiện rõ thực trạng của việc dạy, việc  
học, việc quản lý giáo dục hiện nay. Đó là  
những câu chuyện về nhà trường, với nhân  
vật là giáo viên, học sinh và vô vàn những  
tình huống sư phạm xảy ra trên lớp... Có thể  
nói, các sự kiện, chi tiết trong truyện ngắn mà  
Văn Thành Lê viết dường như chính là những  
gì mà tác giả đã nhìn thấy, nghe thấy, tự mình  
trải nghiệm được trong cuộc sống.  
Số lượng tiếng lóng có cấu tạo từ đơn mà  
chúng tôi khảo sát được trong truyện của Văn  
Thành Lê là 21/70 từ tương ứng với 30%.  
(1) “Theo như học bạ từ tiểu học tới trung  
học cơ sở rồi trung học phổ thông, hắn luôn  
được xem là “sao” của trường về thành tích  
học tập…” [4, tr.113]  
(2) “Đúng rồi, bài gì cũng được. Nhưng làm  
sao đừng là Lá Diêu Bông rồi lại cứ lời ru  
buồn nghe mênh mang mênh mang thì đắng  
lắm” [4, tr.115]  
Đặc điểm của tiếng lóng trong truyện về đề  
tài giáo dục của Văn Thành Lê xét trên  
phương diện cấu tạo từ  
(3) “Giáo dục là quốc sách, hàng đầu, là vơ-  
đét đấy!” [6, tr.155]  
Chúng tôi đã khảo sát các truyện ngắn viết về  
đề tài giáo dục của VănThành Lê và thu được  
10  
Phạm Thị Thu Hoài và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
183(07): 9-14  
Các từ lóng: sao, đắng, vơ-đét là những từ đơn  
được cấu tạo từ một hình vị. Các từ sao, đắng  
là từ đơn một âm tiết. Từ vơ-đét là các từ đơn  
đa âm, các từ này vốn là những từ vay mượn  
có nguồn gốc Ấn – Âu đã được biển chuyển  
theo cách ghi âm âm vị của người Việt.  
Trên cơ sở khảo sát các truyện ngắn của Văn  
Thành Lê, thu được kết quả khảo sát như sau:  
Các từ lóng xuất hiện dưới dạng thực từ gồm  
có động từ, danh từ và tính từ. Trong đó, số  
lượng từ lóng là động từ là nhiều nhất 33/73  
từ chiếm 45.2%, danh từ có 28/73 từ chiếm  
38.4%, cuối cùng là tính từ, có 12/73 từ  
chiếm 16.4%. Không có từ lóng nào xuất hiện  
dưới dạng hư từ. Vì vậy chúng tôi tiến hành  
phân tích số lượng từ lóng này như sau:  
* Tiếng lóng có cấu tạo là từ phức  
Trong kết quả khảo sát mà chúng tôi thu thập  
được, tiếng lóng có cấu tạo là từ phức có số  
lượng là 49 từ chiếm 70% nhiều hơn gấp 2.45  
lần số lượng tiếng lóng có cấu tạo là từ đơn.  
a1. Tiếng lóng là động từ  
(4) “Anh chưa từng nghĩ đến có một ngày  
mình sẽ nhảy dù đổ bộ vào mảnh đất phương  
Nam xa lơ xa lắc…” [5, tr.8]; (nhảy dù:  
chuyển chỗ ở, nơi làm việc)  
Có số lượng nhiều nhất, chiếm tỉ trọng lớn  
nhất trong tổng số ngữ liệu khảo sát 33/73 từ  
chiếm 45.2%.  
(7) “Trong mỗi tiết dạy thầy chiếu tướng góc  
phải, chọc khe chính giữa, tạt qua biên ra góc  
trái.” [5, tr.54]; (chiếu tướng, chọc khe, tạt  
qua biên: nhìn, liếc mắt)  
(5) “Mười một tên là mười một cái máy chém  
lê khắp lớp. Sắc như dao đồ tể đụng đâu bén  
đấy” [5, tr.9]; (máy chém: nói chuyện, bàn tán)  
(6) “Trở lại với anh thầy thể dục đắt hàng  
trong mắt nữ sinh. Không phải chỉ mình anh  
thầy ấy. Hầu như anh thầy thể dục nào cũng  
có lợi thế. Bởi cái mã khá ổn” [6, tr.148]; (đắt  
hàng: được nhiều người để ý)  
(8) “Trong tam giác vàng ấy thi thoảng lại có  
vài vụ chí chóe lên xuống như đồ thị giá vàng.  
Chị bán xôi mồi chài anh thợ điện. Anh thợ  
điện âm mưu tiện chị cắt tóc. Con em học  
nghệ thuật tí tởn điên cuồng lao tâm khổ tứ  
với cu em học báo chí. Gí nhau loạn xà  
ngầu” [5, tr.30]; (tiện: dành sự để ý đặc biệt  
tới một ai đó).  
Trong các trường hợp trên: máy chém, nhảy  
dù, đắt hàng là những từ ghép được sản sinh  
do sự kết hợp của hai hình vị với nhau, mang  
lại ý nghĩa dí dỏm, tạo phong cách riêng cho  
người viết.  
a2. Tiếng lóng là danh từ  
(9) “Nếu gặp nai nào ngơ ngác ông cho ngả  
bàn đèn ngay, bằng không cũng phải khảo sát  
sơ bộ điện nước, công trình chính công trình  
phụ.” [4, tr.212]; (nai: người con gái ngây  
thơ, bàn đèn: sự quan hệ tình dục; điện nước,  
công trình chính công trình phụ: ám chỉ các  
bộ phận trên cơ thể người con gái/ phụ nữ).  
Đặc điểm của tiếng lóng trong truyện về đề  
tài giáo dục của Văn Thành Lê xét trên  
phương diện ngữ pháp  
* Tiếng lóng có cấu tạo là hư từ, thực từ  
a3. Tiếng lóng là tính từ  
(10) “Dù thời nàng Sư phạm vẫn đang là  
ngành hot, đầu vào cao không thua gì mấy  
ngành kia. Nhưng xét ngoại hình dân sư  
phạm đa số toàn vịt bầu, bên kia toàn thiên  
nga.” [6, tr.148]; (hot: thu hút; vịt bầu: béo,  
lùn, chậm chạp; thiên nga: xinh đẹp).  
* Tiếng lóng có cấu tạo là cụm từ  
Dựa vào mối quan hệ ngữ pháp chúng tôi  
khảo sát thu được kết quả như bảng 2.  
Hình 2. Phân loại tiếng lóng  
dựa vào cấu tạo ngữ pháp  
11  
Phạm Thị Thu Hoài và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
183(07): 9-14  
Bảng 2. Thống kê số lượng tiếng lóng có cấu tạo là cụm từ trong truyện ngắn của Văn Thành Lê  
Kiểu cấu tạo/ từ loại  
Số lượng Tỷ lệ (%)  
Ví dụ  
cú tiếp đất, kinh nghiệm bẻ gãy sừng trâu, thế  
lực thù địch,...  
vỡ con bò mộng, đánh bắt xa bờ, phản lưới  
nhà, đàm phán bốn bên...  
hắc xì dầu, sướng củ tỉ, ngẫu hứng lí ngựa ô,  
khổ một cách hồn nhiên...  
Cụm danh từ  
15  
18  
6
28.9  
34.6  
11.5  
Cụm từ  
chính phụ  
Cụm động từ  
Cụm tính từ  
nhân tố mới mô hình mới, công trình chính  
công trình phụ, bàn tròn bàn vuông bàn méo...  
Tim đang dạt dào máu, mì tôm khỏa thân, ...  
Cụm từ đẳng lập  
Cụm từ chủ vị  
7
6
13.5  
11.5  
Trên cơ sở khảo sát truyện ngắn của Văn  
Thành Lê, chúng tôi thu được kết quả như sau:  
tiếng lóng có cấu tạo là cụm từ chính phụ  
39/52 chiếm 75%, cụm từ đẳng lập 7/52 chiếm  
13,4%, cụm từ chủ vị 6/52 chiếm 11,5%.  
(15) “Mỗi lần nhậu, chọc mấy anh hàng tồn  
kho ấy, các anh lại cười ha hả nói, vậy là  
đúng quy luật tự nhiên” [5, tr.149]; (hàng tồn  
kho: không có người yêu)  
(16) “Hôm ấy Lãm mới đưa được hai chén  
qua cửa khẩu, chưa kịp để ai hỏi đã nói thơ  
“Thiên tài cùng với thằng điên/ Cách nhau  
chỉ một đường biên mơ hồ” [5, tr.155]; (cửa  
khẩu: miệng)  
(11) “Vẫn là Kha phát tín hiệu định vị chỗ ở  
cho Anh” [5, tr.31]; (phát tín hiệu định vị: tìm  
kiếm vị trí)  
(12) “Cô bạn trong lớp có ngoại hình sạch  
nước cản từng lọt vào khe ngắm của thầy kể tỉ  
mỉ chuyện thầy tung câu rải thính nhử mồi với  
nó” .[5, tr.72]; (sạch nước cản: khá đẹp, ưa  
nhìn; rải thính: tạo ấn tượng, chú ý)  
(17) “- À mà đầu năm có mấy em mới về đấy.  
Cũng được phết. Đang ở cuối phòng. Cậu về  
nhanh tay hớt một em cho nó ngoạn mục. Mà  
đã có người yêu chưa?  
(13) “ Học trò nữ được thầy quan tâm sâu sát  
mắt la mày liếc như cáo già rình gà con. Ôi  
những con gà ri, gà nhà, gà giò mới lớn,  
không thuốc khích thích vỗ béo, không sâu  
bệnh, cắn một miếng cứ gọi là ấm ức tận  
chân răng, căng tràn nhựa sống, lồng lộng  
suối lòng” [5, tr.54]; (con gà ri, gà nhà, gà  
giò: học trò nữ)  
- Dạ, em chưa.  
- Trông mặt mũi thế này mà chưa hơi vô lý.  
Nội thất có hỏng hóc gì không?” [5, tr.26];  
(nội thất: sức khỏe)  
Có thể thấy việc tiếng lóng tồn tại dưới hình  
thức từ Hán – Việt khá đa dạng và phong  
phú, ẩn sau lớp vỏ ngữ âm là lớp ngữ nghĩa  
mang tính chất rất hiện đại. Điều đó thể hiện  
phần nào sự kế thừa và phát huy vốn ngôn  
ngữ dân tộc.  
Đặc điểm của tiếng lóng trong truyện về đề  
tài giáo dục của Văn Thành Lê xét trên  
phương diện nguồn gốc  
* Tiếng lóng có nguồn gốc từ ngôn ngữ Ấn - Âu  
* Tiếng lóng có nguồn gốc tiếng Hán  
Thông thường, tiếng Việt dùng các từ vay  
mượn khi trong hệ thống ngôn ngữ không có  
từ phù hợp để diễn tả sự vật, sự việc. Ví dụ  
như xăm, lốp, xích, líp... để chỉ các bộ phận  
của một chiếc xe. Khi du nhập vào tiếng Việt,  
các từ ngữ này ít hoặc không có sự biến đổi  
về nghĩa. Trong sáng tác của mình, Văn  
Thành Lê đã sử dụng từ phiên âm tiếng nước  
ngoài một cách phổ biến. Việc sử dụng tiếng  
Anh trong giao tiếp hay chêm xen một vài từ  
Từ Hán Việt chiếm một số lượng nhất định  
trong từ vựng tiếng Việt. Trong sáng tác của  
mình, Văn Thành Lê cũng đã sử dụng một số  
lượng không nhỏ các từ Hán Việt có sự biến  
đổi theo hướng “lóng” nghĩa.  
(14) “Bạn vận hết công lực đọc lỏm được  
trong những cuốn sách loại Hạt giống tâm  
hồn hồi nảo hồi nào, rưới lên đầu học sinh,  
mong nhận được một sự chuyển biến gì đấy.  
[6, tr.176]; (công lực: kiến thức)  
12  
Phạm Thị Thu Hoài và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
183(07): 9-14  
phiên âm gây sự chú ý, có sắc thái lạ hóa,  
hiện đại cho tác phẩm.  
Thành Lê đã khai thác đề tài giáo dục, một đề  
tài mang tính mô phạm, mỗi trang sách là một  
vùng đất để tác giả bày tỏ quan điểm của  
mình, qua đó tái hiện khách quan, chân thực  
về hiện thực việc dạy và học của ngành giáo  
dục. Phần lớn tiếng lóng được sử dụng trong  
truyện ngắn của Văn Thành Lê là những từ  
toàn dân với nghĩa khác hoặc các từ vay  
mượn với mục đích “lạ hóa” ngôn ngữ. Từ  
đó, ta thấy được tiếng lóng không phải được  
sinh ra một cách tùy tiện, vô tổ chức mà dựa  
trên những phương thức nhất định và mang  
dụng ý nghệ thuật của người sử dụng. Theo  
thời gian, vai trò của tiếng lóng đã dần được  
khẳng định, nó giúp tăng sức hấp dẫn dí dỏm  
cho lời nói, mở rộng vốn từ toàn dân.  
(18) “- Giáo dục là quốc sách, hàng đầu, là  
vơ-đét đấy!  
- Vậy nên thi thoảng lại bị đè ra cưỡng bức  
một lần bằng đề án này nọ” [6, tr.157]; (vơ-  
đét: (vedette) quan trọng)  
(19) “Ai ngờ có một “thế lực thù địch” từ  
trên gửi “hạt nhân” về. Chẳng cần phải  
“diễn biến hòa bình”. Hạt nhân bắn phá, hắn  
bị văng ra. Thế là “ao”. Vác hồ sơ về quê…”  
[4, tr.208]; (ao: (out) bị loại)  
(20)“ Nếu võ là môn chỉ tập bằng chân thì  
hắn cũng “sờ-tốp” luôn cái kế hoạch cá nhân  
lại. Từ việc học võ mới dẫn đến quen nàng...”  
[4, tr.131]; (sờ-tốp: (stop) tạm dừng)  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Hiện nay, việc phiên âm tiếng Anh ra tiếng  
Việt được sử dụng với tần suất cao, đặc biệt là  
trong tầng lớp những người trẻ tuổi. Việc  
phiên âm không nhằm mục đích cho việc đọc  
tiếng nước ngoài trở nên dễ dàng hơn mà chỉ  
để lạ hóa cách nói của mình.  
1. Nguyễn Văn Khang (2001), Tiếng lóng Việt  
Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.  
2. Nguyễn Như Ý (chủ biên), Nguyễn Văn Khang,  
Vũ Quang Hào, Phan Xuân Thành (1999), Đại từ  
điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.  
3. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng  
Phiến (2001), Cơ sở Ngôn ngữ học và tiếng Việt,  
Nxb Giáo dục, Hà Nội.  
4. Văn Thành Lê (2015), Biết đến khi nào mưa  
thôi rơi, Nxb Văn học, TP Hồ Chí Minh.  
5. Văn Thành Lê (2016), Thừa ra một người,  
Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh.  
6. Văn Thành Lê (2015), Sẽ trôi về đâu, Nxb Trẻ,  
TP Hồ Chí Minh.  
7. Văn Thành Lê (2015), Ghi chú về những giấc  
mơ, Nxb Văn học, TP Hồ Chí Minh.  
8. Văn Thành Lê (2009), Con gái tuổi Dần, Nxb  
Trẻ, TP Hồ Chí Minh.  
9. Văn Thành Lê (2011), Ông mặt trời và mùi  
hương của mẹ, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh.  
10. Văn Thành Lê (2015), Không biết đâu mà lần,  
Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh.  
KẾT LUẬN  
Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về tiếng  
lóng trong truyện về đề tài giáo dục của Văn  
Thành Lê, chúng tôi đưa ra một số kết luận sau:  
Để hiểu được tiếng lóng, chúng ta phải tìm  
hiểu về nhóm xã hội sản sinh ra nó, đặc trưng  
lâm thời của nó để lí giải sự biến đổi của các  
từ, ngữ lóng theo thời gian. Việc sử dụng  
ngôn ngữ đời sống vào sáng tác văn học đã  
được khai thác với nhiều đề tài khác nhau,  
phù hợp với thị hiếu người đọc. Tác giả Văn  
13  
Phạm Thị Thu Hoài và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
183(07): 9-14  
SUMMARY  
SLANG IN VAN THANH LE'S STORIES ABOUT EDUCATION PROBLEMS  
Pham Thi Thu Hoai*, Tran Thi Thanh  
TNU - University of Education  
Slang occurs in almost every language in the world. In the word system, slang is just a “jargon”, a  
narrow language used in a small group or community of allusions. At present, linguistics has  
considered slang as the object of study of Social Linguistics. The development of slang not only in  
spoken language but also in written language. The role of slang is gradually affirmed, it helps to  
increase the attractiveness, wit, creating strange shades in the word for the language of the people.  
With the smart way of writing, Van Thanh Le has been flexible in introducing slang language into  
his compositions, reflecting objectively and vividly the reality of teaching and learning.  
Keyword: slang, narrow language, Van Thanh Le, strange shades, language of the people  
Ngày nhận bài: 12/4/2018; Ngày phản biện:14/4/2018; Ngày duyệt đăng: 29/6/2018  
* Tel: 0936.633.777; Email: [email protected]  
14  
183(07)  
oT  
T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ  
N¨m 2018  
Journal of Science and Technology  
SOCIAL SCIENCE – HUMANITIES – ECONOMICS  
Page  
Content  
3
Hoang Thi Phuong Nga - Literature tourism model “the old Vu Dai village”  
9
Pham Thi Thu Hoai, Tran Thi Thanh - Slang in Van Thanh Le's stories about education problems  
Ngo Thi Thanh Nga, Pham Thi Hong Van - A brief description of the modes of expressing conjugal  
sentiments in the Vietnam medieval literature  
15  
Nguyen Thi Tham, Nguyen Minh Son - The opposite view of Nguyen Ngoc Tu to Vietnamese traditional  
literature via the main female characters in Khong ai qua song  
21  
27  
33  
39  
45  
Dang Thi Thuy, Nguyen Dieu Thuong - The logic of “non logic” phenomenon in Vietnamese folk verses, proverbs  
Dinh Thi Giang - Factors affecting current lifestyle of Vietnamese people in the northern delta  
Nguyen Dieu Thuong, Nguyen Thi Lan Huong - Mechanisms creating implication in satirical jokes  
Nguyen Thu Quynh, Vi Thi Hien - Household vocabulary of Thai language in Dien Bien province  
Nguyen Thi Thu Oanh, Hoang Thi My Hanh - Position, role of the communist party of Vietnam in the period  
1954 – 1975 and some lessons learned  
51  
57  
63  
Do Hang Nga, Pham Quoc Tuan - Collection of taxes in the villages through material of reformist village  
convention in Thai Nguyen province  
Le Van Hieu - The efficiency of the model "propaganda department" in communes, wards, township and  
"commander" in villages, cities at the current period in Lao Cai province  
Thai Huu Linh, Nguyen Thi Thu Hien, Nguyen Thi Thanh Ha - The role of the rear Bac Thai in the 1968  
general offensive  
69  
73  
Pham Anh Nguyen - The attraction in “Hai dam” of Phan Khoi  
Nguyen Thi Huong, Nguyen Thi Mao, Nguyen Tuan Anh - Enhancing the efficiency of extracurrucular  
activities in teaching civic education at high schools in thai nguyen city these days  
79  
85  
Nguyen Van Dung, Dao Ngoc Anh - Physical status of non-sports students at Thai Nguyen University of Education  
Tran Bao Ngoc, Le Ngoc Uyen, Bui Thanh Thuy et al - The reality of degree classification in non-  
examination students at University of Medicine and Pharmacy – Thai Nguyen University in the period from  
2013 to 2017  
91  
97  
Nguyen Thuc Canh - The need for buiding an exercise system with practical content to teach mechanics  
to high school  
Ha Thi Kim Linh, Chu Thi Bich Hue - Educate legal knowledge for ethnic minority women in Vo Nhai  
district, Thai Nguyen province  
105  
Nguyen Thi Thanh Hong, Nguyen Thi Khanh Ly, Vu Kieu Hanh - Improve students’ participation in  
English learning activities in large mixed ability classes of the freshman students at Thai Nguyen University of  
Medicine and Pharmacy  
111  
Pham Thi Huyen, Vu Thi Thuy - Manipulate exemplary style according to the President Ho Chi Minh’s  
thought in building work style for key caders at present period  
117  
123  
Dam Quang Hung - Science lesson planning for grade 4, 5 according to experimental research  
Hoang Thi Thu Hoai - Difficulties in teaching and learning ESP vocabulary for nursing students at Thai  
Nguyen Medical College and some solutions  
129  
135  
Nguyen Lan Huong, Van Thi Quynh Hoa - Determinants affecting English speaking performance of the first-  
year students at Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry  
Vu Kieu Hanh - Determinants to the reading comprehension performance level of the second- year students at  
Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry  
141  
147  
153  
159  
165  
171  
177  
183  
189  
195  
Nguyen Thi Que, Hoang Thi Nhung - Asking the right question for successful self-studying and cooperative  
learning - towards independent language learners in the context of ASEAN community and global integration  
Ngo Thi Thu Ha, Nguyen Thi Hoai Thu - Apply interactive teaching methods to improve the quality of  
teaching and learning Vietnamese to international students at Military Technical Academy  
Duong Van Tan - An assessment of the effectiveness in application of games in general physical development  
for students at Thai Nguyen University of Technology  
Bui Thi Huong Giang - Improving intercultural communicative competence in foreign language teaching  
and learning  
Tran Hoang Tinh, Nong La Duy, Pham Van Tuan - Building self-managed platoon in disciplinary education  
for students at the center for defense and security education in the current phase  
Tran Thi Yen, Khong Thi Thanh Huyen - Improving academic writing performance for english majors  
through intensive reading  
Do Thi Hong Hanh, Hoang Mai Phuong - Vocational training for rural workers in Cho Moi district, Bac  
Kan province  
Tran Thuy Linh, Tran Luong Duc, Nguyen Thi Thuy Trang - European union competition law approach on  
exploitative abuses  
Nguyen Thi Thanh Ha, Pham Viet Huong - Setting up an appropriate set of economic criteria and indicators  
for evaluating sustainable forest management in Dinh Hoa district  
Dinh Thi Hoai - Marketing promotion for information - library product and service at the Learning Resource  
Center of Thai Nguyen University  
201  
207  
213  
219  
Nguyen Thi Thanh Xuan - Factors affecting customer satisfaction in hotels at Thanh Hoa province, Vietnam  
Duong Thi Tinh - Contributions of goods export to the economic growth of Yen Bai province  
Le Minh Hai, Tran Viet Khanh - Tourism space organization of Thai Nguyen province  
Ha Van Vuong - Apply the ergonomics theory in working environment organization at the office of Song Cong  
grarment branch II – TNG Investment and Trading Joint Stock Company  
227  
233  
239  
Mai Anh Linh, Nguyen Thi Minh Anh - Assessing service quality and customer satisfaction: an empirical  
study at Lan Chi supermarket, Thai Nguyen city  
Dinh Hong Linh, Nguyen Thu Nga, Nguyen Thu Hang - Applying logarithmic function to evaluate the  
business efficiency of Vietnam banks  
pdf 11 trang Mãnh Khiết 15/01/2024 11240 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tiếng lóng trong truyện về Đề tài giáo dục của Văn Thành Lê", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftieng_long_trong_truyen_ve_de_tai_giao_duc_cua_van_thanh_le.pdf