Một số Motif độc đáo trong kịch Lưu Quang Vũ

JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE  
DOI: 10.18173/2354ꢀ1067.2017ꢀ0094  
Social Science, 2017, Vol. 62, Iss. 11, pp. 96ꢀ103  
MỘT SỐ MOTIF ĐỘC ĐÁO TRONG KỊCH LƯU QUANG VŨ  
Bùi Hải Yến  
Khoa Ngữ văn & Địa lí, Đại học Hải Phòng  
Tóm tắt. Lưu Quang Vũ là nhà viết kịch lớn nhất của Việt Nam. Kịch của ông đã được  
nghiên cứu ở nhiều phương diện, tuy nhiên, nghiên cứu một số motif phổ biến trong kịch  
bản của Lưu Quang Vũ là một hướng đi mới hứa hẹn những phát hiện độc đáo. Đặt vấn đề  
nghiên cứu một số motif nổi bật trong kịch Lưu Quang Vũ, chúng tôi muốn phân tích và  
chứng minh một khía cạnh độc đáo trong thi pháp kịch của người nghệ sĩ tài hoa này.  
Từ khóa: Motif, kịch, Lưu Quang Vũ  
1. Mở đầu  
Là một nhà thơ, nhà văn khá thành danh trước khi “bén duyên” và tạo được những thành  
công để đời với kịch, Lưu Quang Vũ (1948 ꢀ 1988) ngay khi vừa xuất hiện đã tạo thành một “hiện  
tượng” trên sâu khấu kịch nói thời bấy giờ, và đến nay, dù đã đi xa chúng ta gần 30 năm, sức ảnh  
hưởng của ông vẫn bao trùm sân khấu kịch đương đại qua sự thành công của các vở diễn liên tiếp  
được phục dựng lại những năm gần đây. Đã có không ít công trình nghiên cứu, phê bình về các  
sáng tác thơ, văn, kịch nghệ của Lưu Quang Vũ, nhưng với gia tài vô giá mà ông để lại, đặc biệt  
là với gần 50 vở kịch đã góp phần tạo nên diện mạo mới của nền kịch nghệ nước nhà thì việc tìm  
hiểu thấu đáo vẫn hứa hẹn đem đến những phát hiện mới.  
Motif là đơn vị cơ bản cấu tạo cốt truyện của nhiều tác phẩm văn học dân gian. Thuật ngữ  
này có thể được hiểu thành các từ khuôn, dạng, kiểu trong tiếng Việt, “nhằm chỉ các thành tố,  
những bộ phận lớn hoặc nhỏ đã được hình thành ổn định bền vững và được sử dụng nhiều lần  
trong sáng tác văn học nghệ thuật, nhất là trong văn học nghệ thuật dân gian” [3; tr.197]. Có cả  
một hệ thống motif rất phong phú trong văn học dân gian của các dân tộc, chẳng hạn: motif “người  
đội lốt cóc”, “người đội lốt cọp”, motif “bọc trứng”, “quả bầu”...Văn học là một dòng chảy liên  
tục với những nỗ lực kế thừa và biến đổi của các thế hệ trước những di sản văn học dân gian mỗi  
dân tộc nên việc sử dụng những yếu tố của văn hóa dân gian nói chung và motif nói riêng trong  
sáng tác của những nhà văn hiện đại là việc khá phổ biến. Là một nghệ sĩ tài hoa và là một nhà  
văn hóa, trong quá trình khai thác các đề tài đa dạng từ cổ tích dân gian, lịch sử, dã sử đến các chủ  
đề về đời sống hiện đại, Lưu Quang Vũ đã sử dụng và cải biến nhiều motif văn học độc đáo. Tuy  
nhiên, tính đến nay, theo khảo sát của chúng tôi mới có rất ít công trình/bài viết đi sâu tìm hiểu  
vấn đề này. Đáng chú ý có luận văn Đặc điểm mảng kịch dựa trên tích truyện dân gian của Lưu  
Quang Vũ [4] trong khi nghiên cứu yếu tố kì ảo trong mảng kịch dựa trên tích truyện dân gian của  
Ngày nhận bài: 15/3/2017. Ngày sửa bài: 25/7/2017. Ngày nhận đăng: 20/10/2017  
Liên hệ: Bùi Hải Yến, eꢀmail: [email protected]  
96  
Một số motif độc đáo trong kịch Lưu Quang Vũ  
Lưu Quang Vũ đã đề cập đến hai motif nổi bật trong mảng kịch này của ông: motif phân thân và  
motif bán linh hồn, hay luận văn Mảng kịch dựa trên tích truyện dân gian của Lưu Quang Vũ [5]  
có phân tích về nhân vật phân thân trong sự tương quan với một số kiểu loại nhân vật khác (nhân  
vật tự ý thức, nhân vật cô đơn, nhân vật mang mặc cảm tội lỗi). Tuy nhiên, ngay cả với hai tài liệu  
vừa kể, vấn đề motif trong kịch Lưu Quang Vũ cũng chỉ mới được nghiên cứu rất hạn chế.  
Bài viết của chúng tôi tập trung khảo sát một số motif độc đáo trong kịch Lưu Quang Vũ,  
gồm: motif phân thân, motif người nói dối, motif người hóa vật, motif người tiên phong, qua đó,  
phân tích và chứng minh một khía cạnh độc đáo trong thi pháp kịch Lưu Quang Vũ.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Việc khai thác motif dân gian hay vấn đề “chuyện cũ viết lại”  
2.1.1. Motif phân thân  
Phân thân là motif thường gặp trong các tác phẩm chứa đựng yếu tố kì ảo, thường thể hiện  
cuộc đấu tranh giữa hai con người, hai luồng suy nghĩ, hai tiếng nói trái ngược nhau tồn tại trong  
cùng một bản thể nhân vật. Không nên hiểu phân thân chỉ đơn giản là sự tách cơ thể ra thành những  
phần khác nhau, quan trọng hơn, đó là sự chia tách của lí trí và cảm xúc, thể xác và tâm hồn, nhân  
cách và dục vọng, phần con và phần người... trong mỗi nhân vật.  
Với Lưu Quang Vũ, motif phân thân được ông sử dụng khi xây dựng các cặp nhân vật song  
trùng: hồn Trương Ba và xác anh hàng thịt (trong vở Hồn Trương Ba, da hàng thịt); Nguyễn Vân,  
Thùy Liên và hai người máy là nguyên mẫu của họ ꢀ Vân B, Liên B (trong vở Hoa cúc xanh trên  
đầm lầy), hai danh phận của Hà Thu (trong vở Nữ kí giả)  
Trong Hồn Trương Ba, da hàng thịt, cặp đôi xác – hồn song hành gần như từ khi mở đầu  
đến kết thúc. Thậm chí, trước cả khi diễn ra sự cố “gạch nhầm” của Nam Tào đưa đến bi kịch vay  
xác mượn hồn, ý thức chia tách hồn và xác đã được anh con trai Cả và Trương Ba đề xuất:  
“ꢀ Anh con trai: Thầy u đẻ ra tôi, chỉ cho tôi cái thân, cái xác, nhưng cái hồn cái vía tôi thì  
là của tôi chứ, tôi muốn làm gì mặc tôi” [7; tr.17] “ꢀ Trương Ba (nói với vợ): không nhìn hình vóc  
bên ngoài mà xét đoán người được”(khi biết được Đế Thích giả làm người ăn xin rách rư ới)  
Suốt vở kịch, có tới hơn 70 lần “hồn”/”vía” được nhắc tới, con số này của “xác”/“thân”/“lốt”  
là gần 90 lần. Nhưng những số liệu ấy sẽ chẳng có nghĩa lí gì nếu không có màn tranh luận giữa  
hồn Trương Ba và xác anh hàng thịt – tình huống đã tốn nhiều giấy mực của giới nghiên cứu, phê  
bình văn học và nghệ thuật trong suốt mấy chục năm qua.  
Motif phân thân xuất phát từ những câu chuyện kì ảo dân gian của nhiều dân tộc về việc  
hoán đổi thân xác hay việc chia tách người thành các phần. Trước Lưu Quang Vũ, việc hoán đổi  
thân xác đã được Nguyễn Đình Thi miêu tả trong vở kịch Con nai đen với tình huống: hồn của  
Đức vua Tô Chiêm nhập vào xác con nai đen, còn hồn của gã Quận công độc ác nhập vào xác đức  
vua nhờ những bùa phép phù thủy mà gã Quận công thực hiện (Đây cũng vốn là một vở kịch viết  
lại theo câu chuyện cổ của Italia, được tác giả Carloori dựng thành vở Vua hươu mà Nguyễn Đình  
Thi xem được trong một lần ra nước ngoài). Mượn cốt truyện dân gian nhưng cải biến đi rất nhiều,  
Lưu Quang Vũ đã làm sống lại tích xưa. Qua những yếu tố bổ sung, thêm mới ấy, tác giả đã trình  
xuất những vấn đề nhân sinh xã hội phổ quát, thể hiện tính luận đề sâu sắc của vở kịch so với các  
sáng tác dân gian và đương đại cùng chủ đề motif. Chắc chắn, nhiều người sẽ quên đi rằng có một  
tích cũ dân gian với kết thúc viên mãn, có hậu, để chỉ nhớ đến một bi kịch đổi xác trong tác phẩm  
nghệ thuật của Lưu Quang Vũ, dẫu nhiều day dứt nhưng đó mới đúng là cuộc đời.  
97  
Bùi Hải Yến  
Trước khi diễn ra màn đối thoại hồn – xác, Trương Ba đã bị xác hàng thịt điều khiển, chi  
phối. Cho dù không muốn thừa nhận, cho dù muốn bám víu vào trò chơi tâm hồn thì Trương Ba  
vẫn không thể phủ nhận sự thật là ông đang đánh mất mình “Mày đã thắng thế rồi đấy, cái thân  
xác không phải của ta à, mày đã tìm đủ mọi cách để lấn át ta...”. Trong thể xác thô phàm đầy bản  
năng nhục dục của anh hàng thịt, hồn Trương Ba vốn trước đây nhân hậu, ngay thẳng đã dần dần  
đổi khác: ông ham uống rượu, thích tiết canh; trước điềm đạm, nho nhã thì nay ưa nổi nóng, quát  
nạt; trước ông tìm vui với những thú thanh cao, trí tuệ (chăm cây, đánh cờ) thì giờ đây ông vụng về  
đến nỗi làm gãy cành, chết cây; ngay cả lối đánh cờ vốn khoáng đạt cũng không còn, thay vào đó  
là lối đánh “vụn vặt, tủn mủn, thô phũ”, ngay cả đến cái nước ăn cũng trở nên “bần tiện làm sao”.  
Từ sự chối bỏ của những người vốn trước đây yêu thương mình và sự tự ý thức được những đau  
khổ, bất lực của bản thân, hồn tìm cách chống lại cám dỗ của xác bằng cách muốn rời khỏi xác.  
Và đáp lại mong muốn ấy, tác giả đã dàn xếp cuộc đối thoại hồn – xác hay chính là cuộc đối thoại  
giữa lí trí và dục vọng bản năng, giữa phần người và phần con, giữa nội dung và hình thức...  
“ꢀ Xác hàng thịt: Vô ích, cái linh hồn mờ nhạt của ông Trương Ba khốn khổ kia ơi, ông  
không tách ra khỏi tôi được đâu, dù tôi chỉ là thân xác...  
ꢀ Hồn Trương Ba: A, mày cũng biết nói kia à? Vô lí, mày không thể biết nói! Mày không có  
tiếng nói, mà chỉ là xác thịt âm u, đui mù..  
ꢀ Xác hàng thịt: Có đấy! Xác thịt có tiếng nói đấy! [...] Chính vì âm u, đui mù mà tôi có sức  
mạnh ghê gớm, lắm khi át cả cái linh hồn cao khiết của ông đấy  
ꢀ Hồn Trương Ba: Nói láo! Mày chỉ là cái vỏ bên ngoài, không có ý nghĩa gì hết, không có  
tư tưởng, không có cảm xúc [...] hoặc nếu có, thì chỉ là thứ thấp kém mà bất cứ con thú nào cũng  
có được: thèm ăn ngon, thèm rượu thịt...” [7;tr.63]  
Trong cuộc đấu tranh tư tưởng ấy, xác hàng thịt không chịu lép vế trước hồn Trương Ba.  
Nó mạnh mẽ tấn công vào vô vàn điểm yếu của hồn: “Sao ông có vẻ khinh thường tôi thế nhỉ?  
Tôi cũng đáng được quý trọng chứ! Tôi là cái bình để chứa đựng linh hồn. Nhờ tôi mà ông có thể  
làm lụng, cuốc xới [...] Những vị lắm chữ nhiều sách như các ông là hay vin vào cớ tâm hồn là  
quý, khuyên con người ta sống vì phần hồn, để rồi bỏ bê cho thân xác họ mãi khổ sở, nhếch nhác”  
[7;tr.64]. Dù anh hàng thịt là sự phóng đại những nhu cầu thiết yếu của con người về ăn, mặc...  
nhưng phủ nhận những nhu cầu ấy là phủ nhận phần bản năng trong mỗi người. Công bằng mà  
nói, đâu chỉ có Trương Ba bất hạnh, xác hàng thịt cũng thật đáng thương. Có ai là toàn vẹn, hoàn  
hảo? Những đòi hỏi của thân xác để duy trì và thỏa mãn cuộc sống đâu phải tội lỗi đáng ghê tởm?  
Vở kịch do vậy vừa có ý nghĩa xã hội vừa mang tính triết lí sâu xa.  
Rõ ràng, những lí lẽ của xác không hẳn là vô lí vì trong con người luôn tồn tại những mặt  
đối lập có xu hướng chuyển hóa nhau, không đơn giản chỉ là chuyện nội dung và hình thức, đó còn  
là sự liên tục phủ định và lấn át nhau giữa ý thức và vô thức, lí trí và tình cảm, thực tế và mơ ước...  
thậm chí là cả phần thiện và phần ác, tốt và xấu. Chúng ta không chỉ tồn tại, mà cao hơn, chúng ta  
sống và can dự vào tất thảy những bộn bề của cuộc sống. Và trong hành trình sống đó, mỗi người  
luôn không ngừng đấu tranh giữa các mặt đối lập để hoàn thiện nhân cách của mình, để sống một  
cuộc đời thực sự ý nghĩa và có ích.  
Cuộc đối thoại thẳng thắn giữa hồn Trương Ba và xác hàng thịt đã diễn tả sâu sắc nỗi hoang  
mang hoài nghi, sự bất lực của con người trước sức mạnh vật chất. Mọi lí lẽ của một Trương Ba  
vốn thông tuệ đã không thể phủ định thứ lập luận lấm láp bụi trần nhưng hùng hồn thuyết phục của  
anh hàng thịt lỗ mãng kia. Và dù khinh bỉ xác hàng thịt với những thói quen bản năng, Trương Ba  
vẫn phải nhờ cái xác ấy để tồn tại. Qua câu chuyện đối thoại hồn – xác, hai phần không thể thiếu  
để hình thành nên một con người, một triết lí được Lưu Quang Vũ trình xuất: “khi con người chỉ  
98  
Một số motif độc đáo trong kịch Lưu Quang Vũ  
sống trong môi trường thô phàm của cái thế giới vật chất ngự trị, thì tất sẽ bị nó chi phối. Làm thế  
nào để bảo toàn, hoàn thiện nhân cách, bảo toàn những giá trị văn hoá mà con người dốc sức vun  
đắp hàng ngàn năm nay là một vấn đề lớn” [1].  
Cũng chính vì những lí lẽ trên mà chúng tôi đề xuất việc phân tích motif phân thân thay vì  
motif tái sinh trong trường hợp kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt. Nếu chỉ đơn thuần là việc người  
chết được hóa kiếp, đầu thai vào xác của một người khác và tiếp tục sống, hẳn đó sẽ là nền tảng  
của motif tái sinh/ đầu thai theo quan điểm nhà Phật và vốn rất tương ứng với Hồn Trương Ba, da  
hàng thịt của cổ tích dân gian. Có thể thấy, sử dụng motif phân thân, xây dựng lớp đối thoại giữa  
hai phần của một bản thế chính là chỗ mà kịch Lưu Quang Vũ vừa khác, vừa giá trị hơn hẳn so với  
cổ tích dân gian. Cách kết thúc đối lập lại với lối kết thúc có hậu của cổ tích là một kiến giải phù  
hợp với thực tế cuộc sống chứ không áo tưởng viển vông và mang giá trị nhân văn sâu sắc. Xác thịt  
vẫn sống còn hồn cũng không hẳn mất đi mà vẫn luôn bên ở những người thân và “chan hòa vào  
cùng cây lá”. Nhân cách cao đẹp của ông Trương Ba qua sự lựa chọn của mình đã đem lại những  
bài học và sự thay đổi tích cực cho những người còn lại: với Đế Thích (bỏ làm quan Thiên đình để  
thành người trần thế), anh con trai Cả (bỏ nghề đi buôn vốn nhiều lọc lừa gian dối để kế tục nghề  
làm vườn thanh sạch), và cả lớp trẻ đại diện cho tương lai như cái Gái, thằng Tỵ. Cách kết thúc  
này không chỉ phù hợp với logic cuộc sống mà còn thể hiện niềm tin tưởng vào những điều tốt đẹp  
trong đời của tác giả Lưu Quang Vũ.  
Nếu Trương Ba và anh hàng thịt bị trói buộc vào cùng một bản thể thì Liên B và Vân B là  
những bản sao tách biệt của Nguyễn Vân và Thùy Liên (Hoa cúc xanh trên đầm lầy). Không chấp  
nhận việc hai người bạn từ thời thơ ấu của mình yêu và sắp lấy nhau, Hoàng đã chế tạo ra hai người  
máy có ngoại hình giống hệt nguyên mẫu ngoài đời, nhưng là những phần trong sáng nhất, đẹp đẽ  
nhất của họ. Nguyễn Vân thực tế là một họa sĩ nhàng nhàng còn Vân B lại được lập trình để trở  
thành một họa sĩ thiên tài; Thùy Liên thực tế bị vấn đề cơm áo gáo tiền tẹp nhẹp làm cho thành  
người tính toán, vật chất còn Liên B trong sáng, thánh thiện, nhân từ như Thùy Liên từ nhiều năm  
trước – khi còn là một cô bé con vô lo, vô nghĩ.  
Cuộc đối thoại chéo giữa Nguyễn Vân và Liên B, Thùy Liên và Vân B (giữa người này với  
phần tốt đẹp nhất của người khác) cũng chính là sự tự vấn của mỗi người về mình trước cuộc đời:  
tốt đẹp hay thầm thường, lí tưởng hay thực tế, có tài hay bất tài vô dụng...Cuộc sống mưu sinh đã  
cuốn Liên và Vân đi, khiến họ khác rất xa so với thời còn nhỏ, không còn những buổi ngồi nói  
chuyện dãi bày với nhau, không còn yêu nhau như ngày đầu, giữa họ chỉ còn lại những tính toán  
vụn vặt, và người này chẳng thể hiểu nổi người kia, chẳng thể tìm được đồng cảm trong mỗi câu  
chuyện hàng ngày:  
“ꢀ Vân B: Phải nghĩ tới những điều cao đẹp, sống vì tình yêu và niềm vui, nhất là Liên, cô  
Liên nào cũng đáng được sống như vậy, đáng được yêu quý, che chở...  
ꢀ Liên: Anh nói...những lời như ngày xưa anh vẫn nói với em. Những ngày ta mới yêu nhau...  
những chiều bên hồ, những đêm trăng...Lúc này trông anh bỗng giống y như hồi ấy: sôi nổi, hiền  
hậu, tự tin...”  
“ꢀ Vân: ...Phải, lâu lắm ta không ngồi nói chuyện với nhau như thế này. Nhìn em lúc này,  
nhìn gương mặt, đôi mắt dịu dàng kia, anh lại rất ân hận, lại muốn được yêu em thật nhiều, thật  
nhiều, như những ngày đầu...Anh đã không đạt được những ước mơ của mình, anh đã đánh mất  
chính mình” [8].  
Trên cơ sở motif phân thân, Hoa cúc xanh trên đầm lầy thể hiện nhiều ý nghĩa dụ ngôn sâu  
sắc. Cuộc sống vật chất đã hủy hoại những phần tốt đẹp nhất trong con người, những ước mơ, hoài  
bão, những yêu thương trong trẻo. Hoa cúc xanh – loài hoa tuổi nhỏ ꢀ biểu tượng cho những gì  
99  
Bùi Hải Yến  
trong sáng, đẹp đẽ liệu có thực hay cũng chỉ là loài hoa của tưởng tượng hư ảo như lá Diêu Bông?  
Liên và Vân có thể đã từng nhìn thấy loài hoa này lúc họ còn nhỏ, ấy là khi họ còn trong sáng và  
thuần khiết, nhưng khi lớn lên, họ chẳng còn nhớ đến loài hoa ấy nên cũng chẳng thể tìm lại được.  
Ngay cả Liên B cũng chẳng thể trở về làm cô bé Liên vô ưu ngày nào. Hình ảnh cô bị bùn nhấn  
chìm trong nỗ lực tìm kiếm lại bông hoa cúc xanh phản ánh tư tưởng chủ đề của câu chuyện: chúng  
ta, dẫu muốn giữ phần trong sáng của mỗi người nhưng luôn bị những xấu xa, đen tối ngăn trở.  
Một kiểu phân thân khác được miêu tả trong Nữ ký giả [8], đó là trường hợp của Hà Thu.  
Để đáp ứng nhiệm vụ của một chiến sỹ hoạt động tình báo trong lòng địch, Hà Thu phải sống với  
hai thân phận: một là cô bé Lan hiền lành nay đã là một nữ tình báo dũng cảm, thông minh và một  
là ký giả xinh đẹp Hà Thu kiêu kì, sắc sảo của một tờ báo thuộc lực lượng thứ ba trung lập. Đã có  
rất nhiều thử thách được đưa ra để buộc cô phải trở về với thân phận thực sự của mình. Cũng đã  
nhiều lần cô tự vấn chính mình khi rơi vào bế tắc, mệt mỏi và cả ân hận... Sau vô số lần đấu tranh  
nội tâm gay gắt, tự hỏi rồi tự trả lời như vậy, Hà Thu đã quyết tâm: “Công việc của chúng ta là thế.  
Bản thân ta không phải là ta nữa, mà là của nhiệm vụ mà ta gánh vác...”  
2.1.2. Motif người nói dối  
Truyện về người nói dối là một motif phổ biến trong cổ tích của phần đông các dân tộc trên  
thế giới. Riêng ở nước ta, ngoài Nói dối như Cuội còn có các truyện Cơn và Nắc của đồng bào  
Jarai ở Tây Nguyên, đồng bào Mường cũng có nhiều truyện nội dung gần giống với truyện Cuội  
của ta; người Tày có truyện Hột Nhồi... Các quốc qua gần gũi với chúng ta về địa lí như Trung  
Quốc, Myanma... cũng có các câu chuyện với nội dung này (người Myanma có truyện Cậu bé nói  
dối, người Trung Quốc có truyện Long Vương mời tiệc...). Các quốc gia thuộc Châu Âu, châu Mỹ  
và vùng Trung Á cũng rất phổ biến dạng truyện về nhân vật chuyên nói dối [2].  
Nếu Hồn Trương Ba, da hàng thịt là sự vay mượn cốt truyện dân gian sau đó thêm mới và  
cải biến nhằm thể hiện những triết lí hiện sinh thì ở Lời nói dối cuối cùng Lưu Quang Vũ chỉ mượn  
tên và đặc tính nhân vật vốn đã đi vào tâm thức mỗi người dân Việt Nam như một đại diện tiêu  
biểu của một tính xấu: Cuội và “nói dối như Cuội”.  
Giống như Cuội của cổ tích dân gian, Cuội trong Lời nói dối cuối cùng là một người thông  
minh, nhanh trí, nói dối mà ai cũng tin là thật. Bằng tài ứng biến và khả năng biến giả thành thật,  
Cuội không chỉ giúp mình thoát khỏi tai họa mà còn giúp cho nhiều người tốt khác, đó là cô Lụa  
chăm chỉ thật thà, hiền thục nết na, là Bờm ꢀ kẻ hầu hạ gạt nợ của công tử Lãn, là Nha – cậu bé  
bán bánh đa từng bị Cuội cướp mất túi bánh vì không có tiền trả... Tuy nhiên, cũng như với Hồn  
Trương Ba, da hàng thịt, bằng cách thay đổi cốt truyện và kiểu kết thúc, Lưu Quang Vũ đã nhại cổ  
tích để khẳng định những giá trị hiện sinh sâu sắc.  
Được hưởng lợi từ những lời nói dối của Cuội, nhưng thay vì sung sướng, thỏa mãn, Lưu  
Quang Vũ đã để cho những nhân vật lương thiện như Lụa, Bờm, Nha phải dằn vặt, đau khổ và  
chính khi ấy, giá trị nhân văn toát lên:  
“ꢀ Lụa: Không thể có tốt lành bằng những cách thức xấu xa” [8; tr.67].  
“ꢀ Bờm: Các thứ em sẽ có bằng nói dối chắc không quý bằng ruộng vườn, sông nước ở quê  
em. Em sẽ về để sống bằng đôi tay lực điền này, bằng tấm lòng chân thật của thằng Bờm chứ không  
phải bằng những lời nói dối” [8; tr.69].  
2.1.3. Motif người hóa vật  
Cũng như nhân vật phân thân hay nhân vật nói dối, “hóa thân”/ “người hóa vật” là motif  
phổ biến nhất trong văn học dân gian của các dân tộc. Bên cạnh vai trò tạo ra sự phong phú đa  
100  
Một số motif độc đáo trong kịch Lưu Quang Vũ  
dạng của kiểu truyện cổ tích, làm nên sức hấp dẫn, sức sống lâu bền của thể loại trong công chúng,  
motif này còn là một phương tiện nghệ thuật để nhân dân lao động thực hiện lí tưởng xã hội trong  
mơ ước của mình một cách đầy thuyết phục.  
Nếu độc giả đã từng yêu mến một cô Tấm hiền lành nhưng luôn gặp trắc trở, liên tục phải  
hóa thân để quay trở lại cuộc sống trong cuộc đấu tranh không khoan nhượng với kẻ ác trong Tấm  
Cám, từng xót thương cho người phụ nữ thủy chung ngóng chồng đến hóa đá trong Sự tích hòn  
Vọng Phu, hay từng trân trọng tình cảm gia đình keo sơn thắm thiết giữa anh em, vợ chồng qua  
hình ảnh “trầu ꢀ cau ꢀ vôi” (Sự tích Trầu Cau). . . thì hẳn sẽ vừa giận, vừa thương nhân vật Từ Đạo  
Hạnh khi ông chấp nhận bán linh hồn cho quỷ dữ mưu cầu nghiệp lớn để rồi bị hóa thành mãnh  
thú khiến mọi người khiếp sợ (Ông vua hóa hổ). Chưa hết, cũng giống Từ Đạo Hạnh, Lưu Quang  
Vũ xây dựng nên Pơ Liêm (Nàng Sita) ꢀ chỉ vì ghen tuông, ngờ vực làm mờ mắt mà đã chấp nhận  
dâng linh hồn cho quỷ để rồi trách nhầm người vợ thủy chung.  
Xây dựng tình huống những người vốn mang phẩm chất tốt đẹp nhưng vì hoàn cảnh, vì khát  
khao sở hữu quyền lực đã biến mình thành quỷ/ thú dữ Lưu Quang Vũ muốn khắc họa những bi  
kịch nhân sinh phổ biến: Trong mỗi chúng ta luôn tồn tại những phần xấu bên cạnh những phần  
tốt, và những phần xấu kia luôn tìm mọi cách, dùng mọi thủ đoạn để lấn át đi phần đẹp đẽ trong  
mỗi người, nếu mỗi người không đủ bản lĩnh, dễ thỏa hiệp và đầu hàng trước khó khăn, thử thách  
thì sớm muộn cũng bị biến chất, trở nên xấu xa, thành những con quỷ, con thú ngay cả khi mang  
hình hài con người.  
Nhưng không dừng lại ở đó, điều đáng nói là kịch Lưu Quang Vũ dù xây dựng nhiều bi kịch  
nhưng kết thúc bao giờ cũng thể hiện niềm tin mạnh mẽ vào vai trò cải biến xã hội của lòng tốt và  
tình yêu trên đời. Sự hy sinh của Thảo – người vợ thủy chung của Từ Đạo Hạnh, sự kiên gan và  
tình bạn chân chính của Minh Không – người bạn Từ Đạo Hạnh; tình yêu mãnh liệt của Sita dành  
cho chồng... đã khiến mọi bùa phép yêu ma bị xóa bỏ. Cái tốt chiến thắng cái xấu dẫu phải đánh  
đổi, hy sinh và chỉ có thể bằng đánh đổi, hi sinh đó là cái nhìn vừa chân thực vừa nhân bản của  
Lưu Quang Vũ trước cuộc đời.  
2.2. Motif nhân vật tiên phong hay tinh thần cổ vũ cái mới  
Nhân vật tiên phong xuất hiện khá nhiều trong những vở kịch về đề tài hiện đại, gắn với  
mối xung đột gay gắt giữa Cũ và Mới, bảo thủ, lạc hậu và tiến bộ. Trong mối quan hệ đó, nhân vật  
tiên phong, hiển nhiên, gồm những con người đi đầu trong cuộc đấu tranh tấn công vào thành trì  
của cái cũ, khởi xướng hoặc cổ súy sự đổi mới. Thanh và Hoàng Việt trong Tôi và chúng ta; Định  
trong Nếu anh không đốt lửa; Mợi, Đức, Phú trong Vách đá nóng bỏng; Thụy trong Quyền được  
hạnh phúc... là đại diện tiêu biểu cho những nhân vật tiên phong trong kịch của Lưu Quang Vũ.  
Nhân vật tiên phong thường được Lưu Quang Vũ xây dựng là những nhân vật trung tâm  
trong các vở kịch và đóng vai trò như những chủ thể lựa chọn luân lí – trụ cột của bức tranh thế  
giới dụ ngôn. Với tinh thần trách nhiệm và một lập trường nhân sinh nhất quán, những nhân vật  
này chọn lấy phần gian khổ về mình khi dám đi ngược lại số đông, dẫu biết kết quả sự lựa chọn ấy  
thường là hi sinh, mất mát. Chính nhờ sự lựa chọn ấy, những nhân vật này nhiều khi vượt qua giới  
hạn của cái Đẹp mà vươn tới phạm trù của cái Cao cả, đồng thời, tạo nên sự “minh triết” trong lời  
răn đậm chất dụ ngôn mà họ là đại diện phát ngôn. Bởi lẽ, dụ ngôn không trần thuật về những sự  
kiện vô tiền khoáng hậu trong đời sống cộng đồng (giống cổ tích) hay đời sống cá nhân (giống giai  
thoại), mà trần thuật về những hành vi chuẩn mẫu trong những tình huống chuẩn mẫu, về những  
gì, theo quan niệm của những người cùng tham dự vào diễn ngôn dụ ngôn, vẫn thường xuyên xảy  
ra và xảy ra với nhiều người. Mọi hành vi của các nhân vật ấy trong dụ ngôn đều là sự hiện thực  
101  
Bùi Hải Yến  
hoá sự lựa chọn này.  
Phải có ai đó ra trước là suy nghĩ của cô thanh niên xung phong Thanh (Tôi và chúng ta)  
khi cùng các đồng đội nấp trong hang để tránh mưa bom bão đạn trong lúc các đoàn xe công binh  
đang chật vật vì không có người dẫn đường. Vào giờ phút sinh tử ấy, trước lựa chọn ở lại cùng  
đồng đội để bảo toàn tính mạng hay ra khỏi hang để giúp các đoàn xe, Thanh đã lựa chọn phương  
án thứ hai. Sau cô và noi gương cô, các đồng đội khác cũng vùng dậy, một người, hai người rồi tất  
cả mọi người. Hành động dũng cảm của Thanh qua câu chuyện ấy là một tác nhân quan trọng để  
Hoàng Việt kiên định với lựa chọn đổi mới sản xuất của mình. Cũng như Thanh, Hoàng Việt chấp  
nhận là người khai vỡ những lối tư duy cũ mòn, những nguyên tắc lỗi thời, không còn phù hợp,  
dám thay đổi khi cấp trên chưa kịp thay đổi. Cũng như Thanh hành động để bảo vệ tính mạng cho  
đồng đội, Việt hành động để bảo vệ quyền lợi cho những người công nhân xí nghiệp đang hàng  
ngày vật lộn với cuộc mưu sinh. Họ sẵn sàng đương đầu với bom đạn chiến tranh hay những đố kị,  
phá hoại và cản trở của lực lượng bảo vệ cái cũ còn đang tồn tại rất đông đảo. Và tất nhiên, trong  
cuộc đấu tranh ấy, những nhân vật tiên phong phải chịu phần thua thiệt về mình: Thanh chết vì bị  
nhiễm chất độc màu da cam sau nhiều năm tháng xông pha trên chiến trường; Hoàng Việt bị bắt  
giữ để điều tra.  
Tương tự như Thanh hay Hoàng Việt, Định trong vở Nếu anh không đốt lửa đã phải trả lời  
câu hỏi về sự lựa chọn: “Nếu anh không đốt lửa/ Nếu tôi không đốt lửa/ Nếu chúng ta cùng không  
đốt lửa lên/ Thì làm sao bóng đêm/ Lại có thể biến thành/ ÁNH SÁNG?”. Bằng lương tâm và trách  
nhiệm công dân, Định đã quyết định là người “đốt lửa”, chấp nhận đương đầu với khó khăn thử  
thách để tìm ra lối thoát cho một xí nghiệp cơ khí vốn trì trệ. Không có được sự tỉnh táo cần có như  
Hoàng Việt, những quyết định nôn nóng và bất cẩn của Định cộng với sự phá hoại từ chính những  
người trong xí nghiệp đã khiến công cuộc đổi mới của anh gặp thất bại. Dẫu chưa hoàn thành sứ  
mệnh của một vị giám đốc là chèo lái xí nghiệp phát triển, Định vẫn hoàn thành phần nào vai trò  
của người thắp lửa. Hành động của anh được cổ vũ và đã làm thay đổi nhận thức của nhiều người,  
đó là Lê Duy – Bí thư Tỉnh ủy, đại diện cho những người giữ cương vị lãnh đạo chủ chốt của đất  
nước, là ông Chính – nguyên giám đốc xí nghiệp, đại diện cho cái cũ và còn rất nhiều những công  
nhân nhà máy vốn trước đây chẳng tha thiết gì với công việc nay cũng tích cực hơn.  
Thước trong Muối mặn đời em, Mợi, Đức, Phú trong Vách đá nóng bỏng; Thụy trong Quyền  
được hạnh phúc (của Lưu Quang Vũ) cùng với nhiều nhân vật tiên phong khác trong Đỉnh cao mơ  
ước (của Tất Đạt), Vàng (của Thanh Hương), Hà My của tôi (của Doãn Hoàng Giang)... đã giúp  
thay đổi nhận thức của nhiều nhân vật trong kịch, qua đó làm thay đổi nhận thức của độc giả/ khán  
giả yêu kịch, giúp họ tin vào những giá trị chân chính, vào sự trường tồn của cái đẹp, cái tốt dẫu bị  
dập vùi.  
3. Kết luận  
Trong khi khẳng định có một “Kịch pháp Lưu Quang Vũ”, GS Phan Ngọc đồng thời nêu  
bật khả năng của “kịch sĩ” họ Vũ trong việc “biến mọi đề tài thành kịch: cổ tích, thần thoại, chuyện  
hàng ngày, chuyện chiến đấu... Không ai bằng Vũ trong biệt tài nêu lên cái muôn đời trong cái  
bình thường, biến cổ tích, huyền thoại thành chuyện thời sự, dùng cái hư để nói cái thực, dùng cái  
thô lỗ để khẳng định cái cao quý” [6; tr.153]. Gần ba mươi mùa thu đã đi qua nhưng khoảng trống  
mà Lưu Quang Vũ để lại cho sân khấu nước nhà vẫn chưa ai khỏa lấp được. Và trong số rất nhiều  
yếu tố làm nên sự đặc biệt cho những vở kịch của ông, việc sử dụng những motif vừa truyền thống,  
vừa hiện đại là một nét “kịch pháp” độc đáo, giàu ý nghĩa.  
102  
Một số motif độc đáo trong kịch Lưu Quang Vũ  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Lê Huy Bắc, 2013. “Hồn” và “xác” hay tính đa trị trong “Hồn Trương Ba da hàng thịt”.  
Nguồn: http://vannghequandoi.com.vn/Pheꢀbinhꢀvanꢀnghe/Honꢀvaꢀxacꢀhayꢀtinhꢀdaꢀtriꢀtrongꢀ  
HonꢀTruongꢀBaꢀdaꢀhangꢀthitꢀ878.html  
[2] Nguyễn Đổng Chi, 1957. Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (T1). Nxb Giáo dục, Hà Nội.  
[3] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), 2013. Từ điển thuật ngữ văn học  
(tái bản lần 2). Nxb Giáo dục, Hà Nội.  
[4] Mai Thị Tâm, 2007. Đặc điểm mảng kịch dựa trên tích truyện dân gian của Lưu Quang Vũ.  
Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh.  
[5] Tô Thị Kim Thoa, 2011. Mảng kịch dựa trên tích truyện dân gian của Lưu Quang Vũ. Luận  
văn Thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.  
[6] Lưu Khánh Thơ (sưu tầm và biên soạn), 2001. Lưu Quang Vũ – tài năng và lao động nghệ  
thuật. Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.  
[7] Lưu Quang Vũ, 2013. Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Tuyển kịch). Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.  
[8] Một số kịch bản viết tay của cố tác giả do gia đình cung cấp.  
ABSTRACT  
Some featured motifs in Luu Quang Vu’s screenplays  
Bui Hai Yen  
Faculty of Literature and Geography, Hai Phong University  
Luu Quang Vu is the most famous playwright of Vietnam. His plays have been studied in  
many ways, however, the study of some of the common motifs in Luu Quang Vu’s screenplays is  
a new direction that promises unique findings. Studying the some of the featured motifs in Luu  
Quang Vu’s screenplays, we would like to analyze and prove a special aspect of the artistic of this  
talented artist.  
Keywords: Motif, screenplays, Luu Quang Vu.  
103  
pdf 8 trang Mãnh Khiết 15/01/2024 15160 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số Motif độc đáo trong kịch Lưu Quang Vũ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_motif_doc_dao_trong_kich_luu_quang_vu.pdf