Suy diễn trong hội thoại Tiếng Việt

LÝ LUẬN CHUYÊN NGÀNH  
v
SUY DIỄN TRONG HỘI THOẠI TIẾNG VIỆT  
(TRÊN CỨ LIỆU 100 TRUYỆN CƯỜI CHỌN LỌC)  
ĐOÀN CẢNH TUẤN*  
*Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, doancanhtuana3@gmail.com  
Ngày nhận bài: 18/4/2018; ngày sửa chữa: 16/5/2018; ngày duyệt đăng: 20/6/2018  
TÓM TẮT  
Bài viết bước đầu miêu tả, phân tích một vài đặc trưng của suy diễn trong hội thoại tiếng Việt –  
những suy diễn được tạo tác trong tư duy, được biểu hiện trong giao tiếp hàng ngày của người  
Việt; xác định sự tồn tại của suy diễn, trên cơ sở đó, đi đến phân loại và mô hình hóa suy diễn  
cũng như các phương thức cấu thành nên chúng. Dưới con mắt của dụng học, chúng tôi đã khái  
quát hóa mối quan hệ giữa suy diễn với các nhân tố thuộc về ngữ cảnh cũng như cá nhân đối tượng  
tham gia vào giao tiếp (những yếu tố kinh nghiệm, tâm lý cá nhân). Bên cạnh đó, nhấn mạnh vai  
trò không chỉ của người nói hay người viết mà còn cả người nghe hay người đọc trong giao tiếp  
là vô cùng quan trọng.  
Từ khóa: cá nhân, giao tiếp, kinh nghiệm, ngữ cảnh, suy diễn  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
cổ xưa nhất: tam đoạn luận Aristotote” (Nguyễn  
Đức Dân, 2005, tr.147) hoặc đồng nhất suy diễn  
với suy luận và cho rằng suy diễn cũng vận dụng  
những quy tắc của suy luận logic nhưng còn mang  
một số quy tắc đặc trưng riêng của nó: “Suy ý là  
suy luận để biết đến cái ý của người nói. Suy ý  
cũng vận dụng những quy tắc của suy luận logic,  
nhưng đồng thời nó còn có một số quy tắc đặc  
trưng của nó” (Hoàng Phê, 2003, tr.103),“Phép  
suy diễn là một suy lý gián tiếp mà tiền đề là hai  
phán đoán đơn” (Bùi Thanh Quất, 1994, tr.125).  
Suy diễn là một vấn đề còn khá mới trong giới  
dụng học nói riêng và ngữ học nói chung. Vấn đề  
suy diễn trước đó cũng đã được đề cập đến trong  
một vài công trình nghiên cứu, tuy nhiên bị bao  
gộp chung trong các thuật ngữ, chẳng hạn suy ý  
hay suy lý trong Nhập môn logic hình thức và logic  
phi hình thức (Nguyễn Đức Dân), Logic – Ngôn  
ngữ học (Hoàng Phê) hay Giáo trình Logic hình  
thức (Bùi Thanh Quất). Nhìn chung, các tác giả  
đều có cùng quan điểm coi suy diễn là một loại suy  
luận hay suy lý và xuất phát theo hướng tiếp cận  
của logic hình thức. Cách tiếp cận này đi theo hai  
chiều hướng: hoặc coi suy diễn là suy luận hay suy  
lý hai tiền đề “suy diễn chính là phép suy luận hai  
tiền đề hay đó chính là hệ thống suy diễn tiền đề  
Mặc dù kế thừa quan điểm của các tác giả đi  
trước về vấn đề này theo hướng tiếp cận logic hình  
thức nhưng chúng tôi tập trung sâu vào phân tích  
hội thoại dựa trên cứ liệu 100 truyện cười (kết hợp  
các thủ pháp thống kê, phân loại, so sánh – đối  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
Số 14 - 7/2018  
12  
LÝ LUẬN CHUYÊN NGÀNH  
v
chiếu, đánh giá tổng hợp), để trên cơ sở đó, bước  
đầu chỉ ra những phương thức cấu thành nên suy  
diễn, các loại suy diễn khác nhau. Đồng thời chỉ ra  
những đặc trưng khái quát nhất của suy diễn trong  
hội thoại tiếng Việt.  
- Cục ta cục tác.  
- Con chó kêu như thế nào?  
- Gâu gâu.  
- Thế con bò kêu như thế nào?  
- “Trăm phần trăm, trăm phần trăm, trăm  
phần trăm… Chúng tôi là những con bò”.  
2. NỘI DUNG  
(Khái Hưng, Tuyển tập Tiếu lâm Việt Nam)  
2.1. Các phương thức cấu thành suy diễn  
Xét từ thực tế khách quan và theo như quy ước  
trên (a => b; c => d; e => f) thì:  
Qua quá trình khảo cứu, chúng tôi nhận thấy  
rằng, về bản chất, suy diễn được hình thành, tạo  
tác trong tư duy và được hiện thực hóa qua ngôn  
ngữ theo hai con đường sau:  
Con gà sẽ kêu cục ta cục tác  
a
b
Con chó sẽ kêu gâu gâu  
2.1.1. Gián tiếp giới hạn ngữ cảnh có thể tạo  
sinh trong tư duy từ một diễn ngôn X nào đó (vô  
tình hiểu sai X)  
c
d
còn con bò sẽ kêu bò...ò...ò  
e
f
Một quá trình giao tiếp thông thường sẽ bao  
gồm bên phát (bên truyền đi thông điệp) và bên  
nhận (bên thụ đắc thông điệp). Nói khác đi, giao  
tiếp là chu trình truyền và phát đi thông điệp giữa  
hai bên, một bên là người nói hay người viết và  
bên còn lại là người nghe hay người đọc. Tuy  
nhiên, khi thụ đắc ngôn ngữ, người nghe (người  
đọc) đi theo một quy luật suy ý riêng, dựa trên  
kinh nghiệm, nhận thức chủ quan của bản thân mà  
vô tình hiểu sai hàm ý của chủ thể tạo ra phát ngôn  
hoặc do người thuyết giải thông tin (người nghe/  
người đọc) xuất phát từ một tiền đề sai. Điều đó  
có nghĩa tuy chưa có đủ “cơ sở, căn cứ, lý lẽ xác  
đáng” mà đã vội kết luận về nội dung của sự tình.  
Tư duy qua quá trình “khúc xạ” bởi yếu tố thuộc  
về bản ngã (về cá nhân) đồng nhất tất cả các hình  
thức suy ý còn lại làm một, khiến sản sinh ra bộ  
phận suy ý sai, cái được gọi là suy diễn.  
Tuy nhiên, trong cuộc thoại trên, đặc trưng,  
thuộc tính f về tiếng kêu của con bò lại là trăm  
phần trăm, trăm phần trăm... Chúng tôi là những  
con bò. Từ giả thuyết đã cho, rõ ràng, các mệnh đề  
đi kèm trong các cặp tiên đề b, d, f phải là các thuộc  
tính đặc trưng, bản chất của sự vật, hiện tượng  
được đề cập đến, nhưng ở đây, e không suy ra f  
mà người nghe khi tiếp nhận phát ngôn từ chủ thể  
tạo ra phát ngôn lại suy ra một mệnh đề khác hoàn  
toàn với chuỗi suy luận ban đầu. Quá trình lý giải  
vẫn phải tiếp tục, tại không gian, thời gian thuyết  
giải thông tin, bằng kinh nghiệm thực chứng, bằng  
nhận thức tương đối của bản thân. Người đối thoại  
vẫn phải trả lời nhưng không còn tuân theo quy  
luật logic nữa mà suy diễn sang một hướng khác.  
Trở lại câu chuyện về tiếng kêu của các con  
vật, tại sao theo tri nhận của em nhỏ trong câu  
chuyện này, con bò lại kêu “Trăm phần trăm...  
trăm phần trăm...chúng tôi là những con bò.”? Lý  
giải về điều này, có lẽ phải viện đến các quảng cáo  
sữa trên một số phương tiện truyền thông ở Việt  
Nam hiện nay. Đối với rất nhiều em nhỏ, đặc biệt  
là những em nhỏ sống ở thành phố, từ bé, các em  
đã không có hoặc ít có cơ hội trải nghiệm thực tế  
về cuộc sống ở nông thôn, ít có cơ hội được tiếp  
xúc với các con vật nhà nông như trâu, bò, lợn,...  
Giả sử, cho các cặp tiên đề (a; b), (c; d), (e;  
f),… trong đó, các tiên đề b, d, f lần lượt là thuộc  
tính đặc trưng, bản chất của các sự vật a, c, e. Ở  
các cặp tiên đề đó, hiển nhiên ta có quy ước: a =>  
b; c => d; e => f  
Thử phân tích ví dụ dưới đây:  
Hai em nhỏ ngồi chơi với nhau. Cậu anh hỏi:  
“Con gà kêu như thế nào?”  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
13  
Số 14 - 7/2018  
LÝ LUẬN CHUYÊN NGÀNH  
v
mà chủ yếu, nếu có, các em thường tiếp xúc với  
những con vật nuôi nhỏ trong gia đình như con  
chó, con mèo hay con gà. Do vậy, khi hỏi các em  
con chó kêu như thế nào hay con gà kêu như thế  
nào thì các bạn nhỏ không ngần ngại gì khi trả lời  
con chó thì kêu gâu gâu, con gà thì kêu cục ta cục  
tác. Chính từ sự thiếu trải nghiệm thực tế của các  
em nhỏ, các em nếu có cũng chỉ chứng kiến con  
bò trên tivi, tranh ảnh, sách báo mà chưa hề được  
nghe tiếng kêu của chúng nên sau khi xem các  
quảng cáo sữa trên tivi thì nghiễm nhiên mặc định  
rằng con bò kêu “Trăm phần trăm… trăm phần  
trăm… chúng tôi là những con bò”. Như vậy, phát  
ngôn rằng một con chó thì sủa gâu gâu, một con gà  
sẽ kêu cục ta cục tác chắc chắn đúng nhưng không  
thể có một con bò biết nói tiếng người. Do đó, suy  
diễn trong trường hợp này bị chính ảnh hưởng của  
kiến thức, của kinh nghiệm chi phối, tác động và  
dẫn đến những khúc xạ khác nhau trong tư duy.  
- Dù chúng tôi đã rất cố gắng can ngăn,  
nhưng… chuyện tình tay ba thường kết thúc bi  
thảm như thế đấy ạ!  
- ?!!  
(Khái Hưng, Tuyển tập Tiếu lâm Việt Nam)  
Ở truyện cười trên, thực khách muốn nói tới  
một thực tế hiển nhiên “Trong bát phở có đến ba  
con ruồi” mà điều đó đáng lí bất kì một nhân viên  
bán hàng nào khi nghe đều nhận ra người khách  
đang muốn phê bình vấn đề vệ sinh an toàn thực  
phẩm của quán. Cái hàm ngôn ở đây không khó  
nhận thấy. Câu hỏi “tại sao” chẳng qua nhằm xác  
nhận thông tin và muốn nghe một lời giải thích.  
Rất nhanh trí, bồi bàn đã lấp liếm đi thực tế về  
vấn đề vệ sinh của quán anh ta bằng một lối suy  
diễn hết sức “có lý”. Cái có lý ấy đáng phải xem  
xét. Có lý ở đây là sự hợp lý về mặt liên hệ với  
trực quan sinh động, hình ảnh “ba con ruồi” với  
hình ảnh “tình tay ba”. Nhưng về mặt logic, suy  
luận ấy là vô lý. Người nghe (bồi bàn) cố tình  
hiểu sai ý thực khách trong khi đó không phải  
cái hàm ý mà người nói (thực khách) hướng tới.  
2.1.2. Trực tiếp giới hạn ngữ cảnh có thể tạo  
sinh trong tư duy từ một diễn ngôn X nào đó (cố  
ý hiểu sai X)  
Bên cạnh cách thức gián tiếp giới hạn các  
ngữ cảnh tình huống có thể tạo tác trong tư duy  
từ một diễn ngôn X nào đó thì suy diễn cũng có  
thể được hình thành do chủ thể luận giải cố tình  
hiểu sai hàm ý (ý nghĩa n ẩn tàng trong phát ngôn  
của chủ thể) của diễn ngôn bởi lẽ người luận giải  
diễn ngôn muốn biến suy diễn thành công cụ để  
đạt được mục đích của mình. Mặc dù có thể thuyết  
giải được thông tin X nhưng vì động cơ Y nào đó  
của anh ta nên anh ta không tuân thủ quy tắc suy  
luận logic, triệt tiêu chúng đi, tạo điều kiện cho  
suy diễn được hình thành và được hiện thực hóa  
thông qua ngôn ngữ. Điều này thể hiện rất rõ trong  
truyện cười dưới đây:  
Kết thúc đoạn truyện cười ở trên, đúng với ý  
của bồi bàn (chủ thể tiếp nhận thông tin từ thực  
khách), bằng cái lối suy diễn tài tình của mình, anh  
ta đã dập tắt hội thoại, khiến cho sự tức giận của  
thực khách không những mất đi mà còn tạo tình  
tiết gây cười, gây thú vị cho khách hàng của quán.  
Từ đối tượng “có lỗi” do không tuân thủ vệ sinh  
an toàn thực phẩm mà bỗng “những kẻ gây lỗi”  
biến thành những người bị động – những nạn nhân  
“rất tiếc vì đã gắng sức nhưng không thể can ngăn  
cuộc chiến bi kịch của ba con ruồi” xảy ra.  
Quá trình thuyết giải thông tin của bồi bàn  
theo như Grice trong Logic và hội thoại rõ ràng  
đã vi phạm phải ba kiểu không tôn trọng trong  
phương châm. Đó là chối bỏ phương châm (opt  
out of a maxim), xúc phạm phương châm (flout) và  
vi phạm phương châm (violate). Sau này Grice bổ  
sung thêm phạm lỗi phương châm (infring) và các  
nhà ngôn ngữ học bổ sung thêm kiểu treo phương  
châm (suspend). Nếu phạm lỗi phương châm là do  
Một thực khách tức giận gọi bồi bàn đến:  
- Tại sao trong bát phở của tôi lại có đến ba  
con ruồi nằm thẳng cẳng thế này?  
- Vâng, đây thực sự là một bi kịch thưa ông!  
- Thế à? Nhà hàng lại mất vệ sinh đến thế kia à?  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
Số 14 - 7/2018  
14  
LÝ LUẬN CHUYÊN NGÀNH  
v
người nói vụng về, không tuân thủ phương châm  
một cách vô tình, không cố ý thì xúc phạm, vi  
phạm, chối bỏ phương châm lại là những việc làm  
có ý thức của người nói, cố ý gài đằng sau những  
phát ngôn trực tiếp của mình những hàm ngôn  
nhằm tạo ra ý nghĩa không tự nhiên.  
người phát muốn truyền tải đến nhưng vì một mục  
đích, một động cơ cá nhân nào đó nên “anh ta” cố  
tình liên tưởng sai lệch đi để phục vụ cho mục đích  
nhất định của bản thân anh ta. Điều đó khiến cho  
thông điệp X ban đầu trở thành một thông điệp Y  
nào đó – cái thông điệp mà người nói không cố  
tình đề cập tới.  
Cần lưu ý rằng, cái gọi là người nói và người  
nghe trong một cuộc hội thoại ở đây chỉ mang tính  
chất tương đối. Vai trò của chủ thể tham gia giao  
tiếp trong một diễn ngôn luân phiên nhau, tương  
tác qua lại với nhau. Quá trình luân phiên lượt lời  
diễn ra, vai “người nói” hay “người nghe” thay đổi  
tùy vào trực chỉ.  
Như vậy, suy diễn được tạo nên bởi trong quá  
trình luận giải thông tin, người nhận đã gắn diễn  
ngôn ban đầu với một ngữ cảnh cụ thể nào đó –  
cái ngữ cảnh mà người phát và người nhận không  
thống nhất, không hình thành trên cùng một phông  
nền dẫn đến hiểu sai ý của nhau. Quá trình luận  
giải thông tin của người phát đôi khi còn gắn với  
nhận thức cảm tính, gắn với trải nghiệm, kinh  
nghiệm cá nhân. Quả đúng như R. Nisbett đã từng  
nhận định“Dường như sự khác nhau trong cách  
tiếp nhận thông tin từ môi trường xung quanh là  
hệ quả của những nền văn hóa khác nhau mà con  
người được giáo dục trong đó” (Lý Toàn Thắng,  
2008, tr.185), quá trình luận giải không chỉ gắn  
với yếu tố cá nhân mà còn gắn với điều kiện xã hội  
riêng biệt, sự ảnh hưởng của những nền văn hóa  
khác nhau. Đó đều là những nhân tố hình thành  
nên suy diễn.  
2.2. Mô hình suy diễn  
Từ hai phương thức cấu thành suy diễn trên,  
con đường hình thành nên suy diễn có thể được  
khái quát hóa qua mô hình 1 dưới đây. Chúng tôi  
tạm gọi đó là mô hình suy diễn.  
2.3. Phân loại suy diễn  
Qua khảo sát 100 truyện cười chọn lọc (những  
truyện cười Việt Nam có chứa yếu tố suy diễn),  
theo chúng tôi, suy diễn gồm 2 nhóm: nhóm suy  
diễn qua ngôn từ và nhóm suy diễn cá nhân hóa  
tâm lý xã hội. Trong đó, nhóm suy diễn cá nhân  
hóa tâm lý xã hội lại được tách bạch làm 3 loại  
nhỏ hơn: đó là suy diễn có động cơ, suy diễn qua  
niềm tin và suy diễn cực đoan hóa. Kết quả thống  
kê được thể hiện trong bảng số liệu 1.  
Mô hình 1: Mô hình suy diễn  
Người phát trong diễn ngôn ban đầu truyền đi  
một thông điệp X đến người nhận. Tuy nhiên, do  
trong quá trình luận giải thông tin, người nhận  
chịu sự chi phối của các yếu tố như kinh nghiệm  
cá nhân, yếu tố tâm lý, xã hội khác và đặc biệt là  
tác động của sự giới hạn nhân tố ngữ cảnh đã khiến  
người nhận hiểu sai “thông điệp” mà người phát  
muốn hướng tới.  
Kết quả khảo sát cho thấy, suy diễn qua ngôn  
từ là loại suy diễn khá phổ biến, tuy nhiên chiếm  
số lượng vượt trội là nhóm suy diễn cá nhân hóa  
kinh nghiệm tâm lý xã hội. Trong khi nhóm suy  
diễn qua ngôn từ chỉ có mặt ở 32 truyện (chiếm  
29,91%) thì suy diễn cá nhân hóa kinh nghiệm tâm  
Ngữ cảnh giới hạn tạo sinh suy diễn có thể do  
người nhận cố tình dù đã hiểu thông điệp X mà  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
15  
Số 14 - 7/2018  
LÝ LUẬN CHUYÊN NGÀNH  
v
Bảng 1: Các loại suy diễn trong hội thoại tiếng  
Việt chọn lọc  
suy một cách logic chặt chẽ bởi lẽ trong ngôn từ  
(từ, ngữ, câu, diễn ngôn) có tồn tại một bộ phận gọi  
là ngụ ý hay ẩn ý. Ngụ ý không dễ dàng nhận ra  
và không phải bất cứ một người nghe (người đọc)  
nào cũng có thể hiểu được cho nên đôi khi phát  
sinh ra những suy diễn. Thậm chí, có những kẻ dựa  
vào ngụ ý để lừa phỉnh những cá nhân không có  
năng lực thuyết giải thông tin (từ ngụ ý hình thành  
các suy diễn tiêu cực mà thực chất người nói/viết  
không có ý hướng đến người nghe/đọc) nhằm đạt  
mục đích cá nhân nào đó của mình.  
TT  
Loại suy diễn  
Số lượng  
1
Suy diễn qua ngôn từ  
32 (29,91%)  
30 (28,04%)  
23 (21,49%)  
22 (20,56%)  
Suy diễn qua  
niềm tin  
Suy diễn cực  
đoan hóa  
Suy diễn cá  
nhân hóa  
kinh nghiệm  
tâm lý xã hội  
2
Suy diễn có  
động cơ  
Trong một diễn ngôn, người nói (người viết)  
có sử dụng từ (ngữ, câu, diễn ngôn) nào đó có tính  
chất đa nghĩa hay dễ gây hiểu lầm do sự mập mờ  
về nghĩa thì nhất định phải sử dụng yếu tố ngữ  
cảnh cần thiết trong khi sử dụng để tránh suy diễn.  
lý xã hội lại xuất hiện ở 75 truyện trên tổng số 100  
truyện cười (trong đó có 7 truyện cười chứa đựng  
cả hai hình thức suy diễn). Điều đó chứng tỏ rằng,  
suy diễn chịu ảnh hưởng rất lớn của yếu tố tâm lý  
xã hội, yếu tố kinh nghiệm cá nhân bên cạnh ảnh  
hưởng của ngôn ngữ. Các loại suy diễn này cũng  
phần nào phản ánh tư duy của một bộ phận người  
Việt và nhận thức của chúng ta về thế giới khách  
quan sẽ biến đổi như thế nào trong tư duy khi có  
các nhân tố bên ngoài ngôn ngữ tác động.  
Giả sử, trong diễn ngôn, có một từ hay một ngữ  
X nào đó bao gồm rất nhiều nghĩa (a1,a2,a3,a4,…,  
an). Khi người nói hay người viết (A) sử dụng từ  
(ngữ) đó với nghĩa a1 trong đúng ngữ cảnh a1của  
nó thì khi người nghe/người đọc (B) thuyết giải  
thông tin, họ sẽ hiểu đúng cái nghĩa a1 ban đầu mà  
người nói/người viết hướng tới (suy luận logic).  
Nhưng khi người nói/người viết sử dụng từ (ngữ)  
với nghĩa a1 mà không đặt nó trong bất cứ ngữ  
cảnh nào hoặc khi anh ta sử dụng từ hay ngữ X  
nhưng lại kèm theo cả ẩn ý (ngụ ý) sẽ làm cho  
suy luận logic phần nào bị cản trở, tạo môi trường  
thuận lợi để hình thành suy diễn. Bởi lẽ, người  
nghe/người đọc có thể viện tới bất kì một khái  
niệm hay một nghĩa am nào đó thuộc về từ (ngữ)  
X do không có ngữ cảnh chính xác . Trên cơ sở  
đó, khi người nghe/người đọc (B) luận giải thông  
tin từ người nói/người viết (A) chính bởi không  
hiểu ngụ ý (ẩn ý) xuất phát từ phía A nên suy diễn  
để luận giải thông tin về từ/ngữ X này. Từ/ngữ X  
cũng có thể bị người nói phát âm sai hoặc người  
viết viết sai so với quy chuẩn chính tả dẫn đến khi  
luận giải thông tin, người nghe/người đọc dễ suy  
diễn khác đi so với những gì người nói/người viết  
đích thị muốn hướng đến. Điển hình về loại suy  
diễn dựa trên tính đa nghĩa của từ ngữ được minh  
họa thông qua ví dụ sau:  
Riêng nhóm suy diễn qua ngôn từ, có thể được  
hình thành do tính đa nghĩa hay mập mờ về nghĩa  
trong từ ngữ mà người nói (người viết) tạo ra, đồng  
thời không có đủ yếu tố ngữ cảnh cần thiết để luận  
Mô hình 2: Các nhân tố hình thành suy diễn  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
Số 14 - 7/2018  
16  
LÝ LUẬN CHUYÊN NGÀNH  
v
Ví dụ:  
Mất rồi  
Ví dụ: người thương binh mất một chân, mất  
danh dự, nghỉ mất sức,…  
Một người sắp đi chơi xa dặn con:  
(4) Mất: dùng hết thời gian, công sức hoặc tiền  
của vào việc gì.  
- Ở nhà có ai hỏi thì bảo bố đi vắng nhé!  
Sợ con mải chơi quên mất, lại cẩn thận lấy bút  
viết vào tờ giấy rồi bảo:  
Ví dụ: phải mất một hai hôm nữa mới làm xong,  
mất rất nhiều công sức, mất thời gian vô ích,…  
(5) Mất: không còn sống nữa, chết (một cách  
- Có ai hỏi thì con cứ đưa cái giấy này!  
nói giảm nói tránh, hàm ý thương tiếc).  
Con cầm giấy bỏ vào túi áo. Cả ngày chẳng  
thấy ai hỏi. Tối đến, sẵn có ngọn đèn, nó lấy giấy  
ra xem, vô ý thế nào lại để giấy cháy mất.  
Ví dụ: Ông cụ đều mất sớm, bố mẹ đã mất mấy  
năm,…  
Khi “mất” đóng vai trò như một trợ từ:  
Hôm sau, có người đến chơi, hỏi:  
- Bố cháu có nhà không?  
(6) Mất: biểu thị ý thương tiếc về điều không  
hay đã xảy ra hoặc có thể xảy ra  
Nó ngẩn ngơ hồi lâu, sực nhớ ra, sờ túi không  
thấy giấy, liền nói:  
Ví dụ: quên bẵng đi mất, thế mà lại muộn mất  
rồi, lỡ mất cơ hội,…  
- Mất rồi!  
(7) Mất: biểu thị ý nhấn mạnh về mức độ một  
của tình cảm mà cảm thấy không sao kìm giữ được.  
Khách giật mình hỏi:  
- Mất bao giờ?  
Ví dụ: Buồn quá đi mất, sướng phát điên  
lên mất,…  
- Tối hôm qua.  
Chỉ một từ “mất” mà có bảy nghĩa như trên,  
nhưng khi sử dụng, cậu bé trong truyện lại không  
cung cấp đầy đủ ngữ cảnh (chuỗi từ kết hợp bao  
xung quanh từ “mất” đủ làm cho nó xác định về  
nghĩa) để người khách đến chơi nhà luận giải  
thông tin từ sự tình. Cái gọi là “mất” mà em bé sử  
dụng là với nghĩa “không có, không thấy, không  
còn tồn tại nữa”, “mất rồi” ở đây là “mất” tờ giấy  
mà bố cậu bé đã đưa cho cậu ta trước khi đi xa  
nhà bởi cậu bé này đã làm cháy tờ giấy ấy. Ngược  
lại, ông khách lại thuyết giải thông tin của sự tình  
với nghĩa “không còn sống nữa, chết” và tưởng  
như cậu bé dùng từ “mất” để bày tỏ sự thương  
tiếc trước “sự ra đi đột ngột” của người bố cậu ta.  
Nhưng rõ ràng chính tính đa nghĩa của từ “mất”  
và sự biểu thị mập mờ của cậu bé trong truyện  
đã làm người nghe (ông khách) suy diễn với một  
hiện thực khác bởi ông ta đã viện tới một ngữ cảnh  
khác khi sử dụng ngôn ngữ (cụ thể từ “mất” trong  
trường hợp này).  
- Sao mà mất?  
- Cháy !!!  
(Khái Hưng, Tuyển tập Tiếu lâm Việt Nam)  
Từ “mất” có một số nghĩa sau đây1:  
Nghĩa động từ:  
(1) Mất: không có, không thấy, không còn tồn  
tại nữa.  
Ví dụ: mất điện, mất vui, biến mất,…  
(2) Mất: không còn là của mình, thuộc về mình  
nữa (cái vẫn tiếp tục tồn tại).  
Ví dụ: mất cái ví, mất cắp, mất tiền,…  
(3) Mất: không còn ở mình nữa.  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
17  
Số 14 - 7/2018  
LÝ LUẬN CHUYÊN NGÀNH  
v
3. KẾT LUẬN  
G. Brown, G. Yule (2002), Phân tích diễn ngôn,  
NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.  
Nhìn chung, suy diễn chính là hình thức thuyết  
G. Yule (2003), Dụng học, NXB Đại học Quốc  
giải thông tin của các chủ thể tham gia vào giao  
tiếp khi tiếp nhận một thông tin nào đó, đi ngược  
lại với quy luật của suy luận logic. Hay nói khác  
đi, suy diễn là cách thức liên tưởng của người nghe  
(người đọc) khi tiếp nhận thông tin tuân theo một  
số quy tắc nhất định. Suy diễn được tạo thành do  
trực tiếp hay gián tiếp giới hạn ngữ cảnh có thể  
tạo sinh trong tư duy từ một diễn ngôn X. Với hai  
phương thức cấu thành như vậy, suy diễn có thể  
được tách bạch ra làm hai nhóm: nhóm suy diễn  
qua ngôn từ và nhóm suy diễn cá nhân hóa tâm  
lý xã hội (bao gồm các suy diễn qua niềm tin, suy  
diễn cực đoan hóa và suy diễn có động cơ)./.  
gia, Hà Nội.  
Đỗ Hữu Châu (2003), Cơ sở Ngữ dụng học (tập 1),  
NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.  
Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học (tập 1),  
NXB Giáo dục, Hà Nội.  
Nguyễn Đức Dân (2005), Nhập môn Logic hình  
thức và Logic phi hình thức, NXB Đại học  
Quốc gia, Hà Nội.  
Khái Hưng (2010), Tuyển tập Tiếu lâm Việt Nam,  
NXB Thời đại, Hà Nội.  
Hoàng Phê (2003), Logic – Ngôn ngữ học, NXB  
Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học, Đà Nẵng.  
Chú thích:  
Bùi Thanh Quất (1994), Giáo trình Logic hình  
thức, NXB Đại học Tổng hợp, Hà Nội.  
M%E1%BA%A5t>  
Lý Toàn Thắng (2008), “Thử nhìn lại một số vấn  
đề cốt yếu của ngôn ngữ học tri nhận”, Tạp chí  
Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, 24, Đại  
học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội.  
Tài liệu tham khảo:  
A. G. Kavaliôp (1976), Tâm lý xã hội, NXB Giáo  
dục, Hà Nội.  
DEDUCTION IN VIETNAMESE CONVERSATIONS  
(ON THE EVIDENCE OF 100 SELECTED COMIC STORIES)  
DOAN CANH TUAN  
Abstract: We initially analyzed, described the features of deduction formed through  
communication and in thinking, confirmed the existence of deduction and gradually came to  
categorize deduction as well as determine their mode of formation. In pragmatics’s perspective,  
we would like to generalize the relationship between deduction and the context factor as well  
as the factors (experience, psychology, society) belonging to the individual - the person who  
receives the communicative message. Moreover, we emphasized the extremely important role of  
both the speakers and the listeners in communication; When the speakers adhere to and apply the  
principles of conversation, they will fundamentally achieve their aims of communication.  
Keywords: context, communicate, deduction, individual, principles of coversation.  
Received: 18/4/2018; Revised: 16/5/2018; Accepted for publication: 20/6/2018  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
Số 14 - 7/2018  
18  
pdf 7 trang Mãnh Khiết 13/01/2024 14520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Suy diễn trong hội thoại Tiếng Việt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsuy_dien_trong_hoi_thoai_tieng_viet.pdf