Xu thế sáng tác hướng tâm và ly tâm trong thơ Nguyễn Công Trứ
Xu thế sáng tác hướng tâm
và ly tâm trong thơ Nguyễn Công Trứ
Nguyễn Hữu Sơn1
1 Viện Văn học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
Email: [email protected]
Nhận ngày 8 tháng 9 năm 2018. Chấp nhận đăng ngày 21 tháng 10 năm 2018.
Tóm tắt: Trong bối cảnh lịch sử, văn hóa, văn học dân tộc thế kỷ XIX, xu thế sáng tác “hướng
tâm” và “ly tâm” trong tiếng thơ Nguyễn Công Trứ thể hiện sắc nét qua hệ thống quan điểm chính
trị, xã hội và hệ thống thẩm mỹ, chủ đề, chủ điểm. Xu thế sáng tác “hướng tâm” và “ly tâm” thể
hiện con người cá nhân Nguyễn Công Trứ. Tiếng thơ bộc lộ tính cách con người Nguyễn Công
Trứ. Ông sánh mình với đất rộng sông dài, trở về khép mình trên chiếc nôi quê hương. Vượt qua
mọi hệ lụy đời thường, Nguyễn Công Trứ đã góp thêm tiếng nói khẳng định bản ngã con người cá
nhân, khẳng định chí hướng lập thân, dấn thân nhập cuộc. Ông là kiểu nhà nho tài tử.
Từ khóa: Nguyễn Công Trứ, hướng tâm, ly tâm, tiếng thơ, xu thế.
Phân loại ngành: Văn học
Abstract: In the context of Vietnam’s history, culture and literature in the 19th century, the
tendencies to write in the hướng tâm manner, or being conventional, traditional, orthodox in regard
of the contemporary situation, and the manner of being ly tâm, which is opposite to that, in Nguyen
Cong Tru’s poetry is reflected clearly through his systems of political and social views, and of
aesthetics and themes. The tendencies express the individual-person of Nguyen Cong Tru. His
poetry expresses his personality. He compared himself to the vast land and long rivers, returning to
the cradle of his homeland. Overcoming all the vicissitudes of everyday life, Nguyen Cong Tru
contributed to the voice asserting the self of man as an individual, and asserting the will to be
engaged in life. He is the kind of amateur Confucian.
Keywords: Nguyen Cong Tru, hướng tâm, ly tâm, poetry, tendencies.
Subject classification: Literature
65
Khoa học xã hội Việt Nam, số 1 - 2019
1. Mở đầu
Công Trứ cao cường đến như thế nào! Ở
đây có thể nhận thấy sự tương hợp của hiện
tượng sáng tác “hướng tâm” và “ly tâm”
trong đời và thơ Nguyễn Công Trứ. Bài viết
này phân tích xu thế sáng tác “hướng tâm”
và “ly tâm” trong thơ Nguyễn Công Trứ.
Khác với phần đông các danh nhân dưới
thời phong kiến, Nguyễn Công Trứ (1778-
1859) là người thành danh khá muộn. Vốn
là người thông minh, hiếu học, song sau
nhiều lần thi trượt, phải đến năm Kỷ Mão
(1819), khi đã ngoài bốn mươi tuổi, lứa tuổi
“tứ thập nhi bất hoặc” với từng trải trường
đời và định hình chí hướng, ông mới thi đậu
Giải nguyên và được bổ đi làm quan. Điều
đó cũng có nghĩa rằng, qua suốt bốn chục
năm sống ở quê nhà, ông đã nghiệm sinh
sâu sắc đời sống thôn dã, hấp thụ đầy đủ
truyền thống văn hoá, bản chất và cốt cách
người dân đất cổ Giang Đình. Trong cuộc
đời, ông quả là con người lắm tài mà cũng
nhiều tật. Cái tài của ông bộc lộ ở chỗ, ông
được thăng thưởng, trọng dùng, từng trị
nhậm khắp vùng Hải Dương - Quảng Yên,
Sơn - Hưng - Tuyên, Thừa Thiên, Quảng
Ngãi, cho đến xứ An Giang - Hà Tiên, từng
góp công khai khẩn đất hoang hoá ở các
vùng Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình,
Quảng Yên...; hoặc được làm việc ở Quốc
sử quán và chủ khảo trường thi; có khi được
làm việc ở Bộ Binh, Bộ Hình và trực tiếp
tham gia chiến trận. Còn cái “tật” thực chất
chính là tài năng, bản lĩnh và cốt cách con
người ông có nhiều mặt không chịu dung
hoà với qui phạm lễ giáo phong kiến,
thường xuyên tiềm tàng vượt lên “vòng
cương toả”, “vòng danh lợi”... Cái “tật” thể
hiện ở chỗ, ông từng được thăng thưởng
đến chức Tổng đốc, Tham tri; rồi có lúc lại
bị “trảm giam hậu” và bị cách chức, bắt làm
lính thú lên trấn ở biên thùy Quảng Ngãi.
Qua hai mươi tám năm làm quan, việc bị
giáng chức và cách chức tới năm lần đủ
thấy bản lĩnh con người cá nhân Nguyễn
2. Xu thế sáng tác hướng tâm
Xu thế sáng tác “hướng tâm” trong thơ
Nguyễn Công Trứ thể hiện sắc nét qua hệ
thống quan điểm chính trị, xã hội và hệ
thống thẩm mỹ, chủ đề, chủ điểm.
Nguyễn Công Trứ là người đam mê nhập
cuộc, sống hết mình với phận vị, công việc.
Ông nhiệt thành dấn thân bằng hành động,
bằng kinh nghiệm trường đời, và bằng kết
quả cụ thể, chứ không phải bằng sự thuyết
lý tư tưởng và lời tụng ca vương triều
chung chung. Thậm chí có thể nói, ông đã
tạo lập những cách hình dung mới về “chí
nam nhi” (những con người của thời đại
biết tự tin đánh cược sự nghiệp vào chính
tài năng của bản thân mình). Đặt trong
chiều hướng phát triển chung của trào lưu
nhân đạo đương thời, ta càng thấy rõ rằng,
Nguyễn Công Trứ không chịu sống khép
mình trong qui phạm nghĩa vụ, chức năng,
phận vị mà đã vươn tới ý thức sâu sắc về cá
nhân, về quyền được bày tỏ chí hướng và ca
vui giữa cuộc đời trần thế. Tất cả những
điều đó tạo nên hình ảnh một Nguyễn Công
Trứ ngất ngưởng, thị tài và đa tình, vừa sắc
nét vừa đa diện. Về điều này, Biện Minh
Điền nhận xét: “Thơ văn Nguyễn Công Trứ
bao hàm một nội dung khá phức tạp, kết
tinh một trạng thái ý thức của thời đại vừa
ca tụng lối sống hưởng lạc, cầu nhàn; vừa
ca tụng Nho giáo lại vừa ca tụng Đạo giáo;
66
Nguyễn Hữu Sơn
vừa lạc quan tin tưởng lại vừa bi quan thất cần cân đo, biện thuyết nhiều về sự “chính
vọng; vừa tự khẳng định mình lại vừa phủ danh”, “danh chính ngôn thuận”. Bởi lẽ,
định mình, v.v.. Nguyễn Công Trứ là một nếu biết cân nhắc, tính toán lợi hại theo lẽ
khối mâu thuẫn lớn” [4, tr.497].
phải thông thường, thì ông đã không đi
Sinh ra và lớn lên ở một vùng quê có chệch quĩ đạo quan phương, không bị giáng
nhiều danh nhân và nhân cách văn hoá mẫu chức, trách cứ, dồn đẩy nhiều đến thế. Với
mực, Nguyễn Công Trứ sớm tạo cho mình ông, chữ “danh” thực chất là thước đo tài
một thế đứng, một thái độ sống và cách năng và chí hướng hành động, khả năng dấn
thức nhìn đời đầy tự tin. Sau khi Nguyễn thân, nhập cuộc; và đó mới là điều quan
Công Trứ qua đời tròn 70 năm và cách nay trọng nhất. Nhưng muốn có danh, muốn
tròn 90 năm, Lê Thước từng nhận định: “Cụ nhập cuộc thì trước hết phải có tài. Mà
Nguyễn Công Trứ là bậc anh hùng hào kiệt, Nguyễn Công Trứ thì thừa tài! Người có tài
lập phẩm rất cao, giữ lòng rất chính, ra ở thì có chí hướng, chí nguyện. Ngay từ khi
đời, những muốn lập nên công cao nghiệp còn chưa đỗ đạt, Nguyễn Công Trứ đã tỏ rõ
lớn, để cứu giúp đời cho nên đã mấy lần chí hướng. Ông viết: “Đi không há lẽ trở về
dâng sớ, bày tỏ những kế hoạch rất có bổ không/Cái nợ cầm thư phải trả xong/Rắp
ích, như trừ giặc cướp, trừ lại lệ, trị hào mượn điền viên vui tuế nguyệt/Dở đem thân
cường, khẩn đất hoang, lập xã thương, lập thế hẹn tang bồng/Đã mang tiếng ở trong
hương học, v.v.. thật rõ là một nhà chính trị, trời đất/Phải có danh gì với núi sông/Trong
có tài kiến thiết, có chí kinh luân. Tiếc thay cuộc trần ai, ai dễ biết/Rồi ra mới biết mặt
sinh phải cái thời đại bế tắc, ở vào cái hoàn anh hung” (Tự vịnh đi thi) [10].
cảnh hẹp hòi, trên vua thì nghi kỵ, dưới các
Trên căn bản một chí nguyện lập thân
quan thì phần nhiều là bọn dung tục, chẳng như thế, Nguyễn Công Trứ hướng tâm đến
có tư tưởng gì cao thượng, kiến thức gì sâu sự nghiệp phò vua giúp nước, kinh bang tế
xa, đã không tán thành cho cụ, lại đem lòng thế. Tuy nhiên, trước sau ông chỉ nhắc đến
ghen ghét, kiếm cách mà bắt bẻ gièm pha, vua như một đấng bậc cao cao tại thượng;
để làm trở ngại công việc cụ. Không những chứ không diễn giải, không tụng ca, tung hô
thế mà thôi, còn nhiều kẻ lại lập mưu để ám và thường được chiếu ứng trong sự trổ tài,
hại cụ: đã ba bốn lần, chúng nó vu cho cụ thi thố tài năng của cá nhân mình. Ông viết:
những việc hối lộ, nhưng lần nào cụ cũng “Thượng vị đức hạ vị dân/Sắp hai chữ
được cứu xuất vô can. Than ôi! Con hạc “quân thân” mà gánh vác/Có trung hiếu nên
đứng trong bầy gà, cái trí chúng nó thấp, đứng trong trời đất/Không công danh thời
nên cái bụng chúng nó hẹp hòi, một người nát với cỏ cây” (Gánh trung hiếu), “Tang
hào hiệp như cụ Nguyễn Công Trứ, chí bồng hồ thỉ nam nhi trái/Cái công danh là
muốn làm nên những việc kinh thiên động cái nợ nần/Nặng nề thay đôi chữ “quân
địa, há lại còn như tụi tham quan kia” [9]. thân”/Đạo vi tử, vi thần đâu có nhẹ/Cũng
Với Nguyễn Công Trứ, cái danh gắn liền rắp điền viên vui thú vị/Trót đem thân thế
với “công cao nghiệp lớn”, không phải là hẹn tang bồng” (Trên vì nước dưới vì nhà).
thứ để trang trí . Ông không quá bận tâm về
Duy nhất có lần Nguyễn Công Trứ nhắc
chuyện danh phận, danh lợi, và cũng không đến “nghĩa vua tôi”, nhưng là để che đậy,
67
Khoa học xã hội Việt Nam, số 1 - 2019
dung hòa phải phép, chiếu lệ, chữa cháy mạnh tài năng, phẩm chất và vị thế kẻ sĩ tài
cho sự bốc đồng, quá khích đến ngang tàng, năng, siêu việt, vượt xa kiểu nhà nho hành
bất cần. Ông viết: “Chẳng Hàn, Nhạc cũng đạo qui phạm, khuôn thước, chuẩn mực,
phường Mai Phúc/Nghĩa vua tôi cho vẹn chính thống [6].
đạo sơ chung/Đời ai ngất ngưởng như ông
(Ngất ngưởng).
3. Xu thế sáng tác ly tâm
Duy nhất có lần Nguyễn Công Trứ nói
đến “ơn mưa móc”, nhưng liền đó ông qui
về cơ hội cho cá nhân mình như: “Đã từng
tắm gội ơn mưa móc/Cũng phải xênh xang
hội gió mây” (Hội gió mây).
Nguyễn Công Trứ tuy tôn phù Nho giáo
chính thống, song trước sau mà vẫn không
vượt quá lằn ranh phủ nhận, chống đối
vương triều, thể chế. Từ đây, có thể nhận ra
xu thế sáng tác “ly tâm” nhìn từ sự thể hiện
con người cá nhân Nguyễn Công Trứ (với
các mức độ khẳng định bản ngã con người
cá nhân, khẳng định chí hướng lập thân,
dấn thân nhập cuộc). Ví dụ, ông viết:
“Cũng phải xênh xang hội gió mây”, “Nếu
không chơi thiệt ấy ai bù”.
Khi xác định tiếng thơ “ly tâm” của
Nguyễn Công Trứ vừa “dịu dàng, trang
nhã”, vừa “ủy mị, yếm thế”, “từ điệu nhẹ
nhàng”, Nguyễn Duy Diễn xác định: “Thi
ca Nguyễn Công Trứ như đã trình bày trên,
có hai màu sắc tương phản rõ rệt: đó chính
là điểm hào hùng, tranh đấu, và điểm tài
hoa, phóng dật. Chính do ở điểm tài hoa,
phóng dật này mà ông đã tạo được những
câu thơ có một vẻ đẹp trác tuyệt, kỳ thú,
làm say mê chúng ta không kém, hay có khi
hơn cả những câu thơ hào hùng, mạnh mẽ
của ông nữa. Nếu phê bình Nguyễn Công
Trứ mà chỉ nói tới cái “ý tưởng mạnh mẽ,
từ điệu rắn rỏi” thì e có sự hẹp hòi, và đồng
thời hạ thấp và thu hẹp giá trị thi ca của ông
lại vậy” [1].
Lại duy nhất có lần ông nói đến “ơn vua”,
nhưng lại nói chệch sang nhà chúa trong câu
thơ mở đề bài thơ thất ngôn. Tuy nhiên, xét
toàn bài thì lại là sự đề vịnh, tôn vinh phẩm
chất cây cau như một biểu tượng kẻ sĩ. Ông
viết: “Ơn chúa vun trồng kể xiết bao/Một
ngày càng một rấn lên cao/Lưng đeo đai bạc
sương nào nhuốm/Đầu đội tàn xanh nắng
chẳng vào/Buồng chất cháu con khôn xiết
kể/Nhà nhiều quan khách dễ khuyên
chào/Kình thiên một cột giơ tay chống/Dẫu
gió lung lay cũng chẳng nao” (Cây cau).
Trong tâm thức sáng tác “hướng tâm”, rõ
ràng Nguyễn Công Trứ không nhằm bộc
bạch tâm sự của một kẻ tôi trung, không có
loại thơ kỷ sự (với thời gian, địa điểm, sự
kiện cụ thể); không trực diện tụng ca thánh
đế; không đề vịnh vua sáng tôi hiền gắn với
một thời thịnh trị, mà chỉ nhắc nhớ đến vua
chúa như một thế lực chung chung. Về cơ
bản, tinh thần hướng tâm của ông đặt cược
vào sự khẳng định con người cá nhân kẻ sĩ
nhà nho hữu danh, tài danh với những phẩm
chất lệch pha và cực tả so với truyền thống.
Hội gió mây, Trần ai ai dễ biết ai, Trên vì
nước dưới vì nhà, Chí khí anh hùng, Chí
nam nhi, Gánh trung hiếu, Nợ tang bồng,
Luận kẻ sĩ là những tác phẩm thể hiện sự
“hướng tâm”. Các tác phẩm đó đều nhấn
Khác với nhiều nho sĩ trước đây và sau
này, trong chiều hướng “ly tâm”, Nguyễn
Công Trứ hầu như không một lần nào phản
tư, phản tỉnh, công kích, châm biếm và phê
68
Nguyễn Hữu Sơn
phán nhà vua cũng như triều đình. Chẳng để ông vĩnh viễn không còn phải băn khoăn
hạn, Nguyễn Gia Thiều (1741-1798) trong vương vấn nữa [7].
Nguyễn Công Trứ nhiều lần tỏ thái độ
phê phán nhà vua và vương triều. Tuy
nhiên, ông thường qui nguyên nhân của
hiện tượng tiêu cực cho tạo hóa, cơ tạo, vận
số, thời cuộc. Những nguyên do có phần
“bất khả tri” kiểu này được Nguyễn Công
Trứ viện dẫn vừa để giải tỏa, bao biện cho
những hy vọng chưa thành, vừa để an ủi,
động viên cho những ước nguyện còn ở
phía trước. Ông viết: “Đi lại chẳng qua thời
với mệnh/Cũng đừng thức mắc, chớ lo
lường”, (Khuyên người đời), “Thôi hẵng
đợi trời bình trị đã/Gặp thời vỗ cánh sẽ ra
danh” (Vinh nhục). “Cùng đạt có riêng chi
mệnh số/Hành tàng nào hẹn với văn
chương/Đường công danh sau trước cũng là
thường/Con tạo hóa sao dường ghen ghét
mãi” (Có chí thì nên).
Ngay từ khi còn khuất thân “bạch diện
thư sinh”, Nguyễn Công Trứ đã tự tin, vượt
lên hoàn cảnh, vượt lên cảnh ngộ đời
thường, và trở thành nhà thơ số một vinh
danh phận nghèo, cảnh nghèo, nhà nghèo,
tết nghèo. Nếu như Nguyễn Trãi, Nguyễn
Bỉnh Khiêm thường gắn cái nghèo với đạo
lý, phẩm chất thanh sạch, lối sống thanh
cao; Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương
thường chịu trận trong cái nghèo, hoà nhập
với cái nghèo, bỡn cợt “vị nghệ thuật” với
cái nghèo, thì Nguyễn Công Trứ lại nhấn
mạnh cái nghèo của nhà nho, cái nghèo có
chí hướng. Ông viết: “Cơ tạo có đi thời có
lại/Vạch vôi lấy đó mãi ru mà” (Thế tình
đối với cảnh nghèo). Ông nhấn mạnh tâm
thức mở đường, “vượt thoát” cái nghèo với
Cung oán ngâm khúc đã chỉ rõ nhân vật nhà
vua như sau: “Mày ngài lẫn mặt rồng lồ lộ”,
“Trên chín bệ mặt trời gang tấc”, “Đuốc
vương giả chí công là thế”, “Chẳng soi cho
đến khóe âm nhai”, “Trên chín bệ có hay
chăng nhẽ”, “Khách quần thoa mà để lạnh
lùng”. Hồ Xuân Hương (1772-?) không
ngợi ca vua sáng tôi hiền, không coi anh
hùng, vua, chúa là người phi thường (“Chúa
dấu vua yêu một cái này”); không coi họ là
người không thể không bị khuất phục trước
hình ảnh khiêm nhường của cô thiếu nữ ngủ
ngày (“Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt/Đi
thì cũng dở ở không xong”). Thậm chí còn
coi họ là người phải và chịu ơn mưa móc
nữa (“Mát mặt anh hùng khi tắt gió/Che đầu
quân tử lúc sa mưa”). Chung quy đó là cách
hình dung thế giới theo lối Hồ Xuân
Hương, biểu hiện một cách nhìn nhất quán,
cái nhìn thông tục, cái nhìn biến dạng. Điều
đó khiến cho toàn bộ đối tượng phải bộc lộ
bản chất theo đúng chiều hướng quan niệm
nghệ thuật của nhà thơ [5]. Còn với Cao Bá
Quát (1808-1854) thì thật táo bạo. Ông dám
ngụ ý phê phán, chỉ rõ kẻ quyền thế phải
chịu trách nhiệm về cảnh trăm dân khổ cực,
từ đó bộc lộ nỗi bức xúc và nguyện ý đang
ngày càng hiện hình sắc nét hơn. Ông viết:
“Xích nhật hành hà đạo/Thương sinh thân
kỳ hồi” (Đối vũ), “Mặt trời đã lẩn đi đằng
nào/Để dân đen than thở mãi” (Nhìn mưa).
Có thể thấy, Cao Bá Quát luôn luôn ta thán,
luôn bày tỏ sự bất bình của mình với cả trời
đất, mây gió, sông núi, cỏ cây. Trong một ý
nghĩa nào đó, xét đến cùng, cuộc khởi loạn
“châu chấu” Sơn Tây (1853) như một cách loạt bài Vịnh cảnh nghèo, Than cảnh nghèo,
trả lời, một lần trả lời, một câu trả lời tận độ Phận anh nghèo, Vui cảnh nghèo, Tự thuật,
69
Khoa học xã hội Việt Nam, số 1 - 2019
đem nghiên bút giả xong/Cầu xe ngựa lúc
đi về mới tỏ”(Nợ tang bồng), “Vòng trời
đất dọc ngang ngang dọc/Nợ tang bồng vay
giả giả vay/Đường mây rộng thênh thênh cử
bộ/Nợ tang bồng trang trắng, vỗ tay reo”
(Chí khí anh hùng).
Thế nhưng, Nguyễn Công Trứ lại phân
biệt ra gánh nợ công danh cùng nợ phong
lưu với tất cả những biến thể gắn với “duyên
tri ngộ”, “phong tình”. Ông viết: “Nợ phong
lưu ai nỡ chối không/Duyên tri ngộ nên đeo
đẳng mãi” (Tài tình), “Thời nhân bất thức dư
tâm lạc/ Mượn phong tình mà giả nợ phong
lưu” (Nhàn nhân với quý nhân).
Ông tiếp tục tính sổ giả - vay; và lại thấy
rằng mình đã thấu hiểu qui luật, đã dám dấn
thân nhập cuộc, đã lãi lớn trong cuộc chơi
trên cõi nhân gian. Ông viết: “Nợ phong lưu
dan díu mấy mươi lần/Thú thi tửu lại chen
chân gánh vác” (Chơi xuân kẻo hết xuân đi -
II), “Cõi trần thế nhân sinh là khách cả/Nợ
phong lưu kẻ giả có người vay” (Nợ phong
lưu - Cõi trần thế), “Nợ phong lưu tính đã
lãi rồi/Ngàn vàng chác lấy trận cười” (Nợ
phong lưu - Nhân sinh thất thập).
Trong gánh nợ phong lưu, Nguyễn
Công Trứ đặt cược vào gánh nợ tình, chấp
nhận sự trả giá, thua thiệt, rủi may, đan kết
hạnh ngộ và đắng cay, có say và có tỉnh, có
được và có mất, có duyên và có nợ. Ông
viết: “Nợ nhà tình vay một trả mười/Duyên
hội ngộ cũng lừa ba lọc bảy” (Trong trần
mấy mặt làng chơi), “Đa tình là nợ/Mắc míu
vào đố gỡ cho ra” (Chữ tình), “Trong trần
Thế tình đối với cảnh nghèo, Quân tử cố
cùng, Đồng tiền không quý… Ông tếu táo,
trổ tài phê phán cái nghèo liên quan đến
thua bạc, nợ tổ tôm. Trong xu thế “ly tâm”,
Nguyễn Công Trứ đặc biệt nhạy cảm với
cái nợ, gánh nợ và tạo nên diễn ngôn riêng
biệt, đặc sắc. Ông không bận tâm nhiều về
sự nợ trong cái nghèo, mà đau đáu cảm
nhận gánh nợ danh phận, nợ công danh, nợ
chí hướng và nợ cả chí tang bồng, nợ phong
lưu, nợ tình, nợ tài, nợ thời gian…
Với Nguyễn Công Trứ, cái nợ trước hết
là cái nợ công danh, nợ chí nam nhi, chí
làm trai. Ông viết: “Tài bộ thế mà công
danh thế/Nợ làm giai quyết sẽ giả xong”
(Trần ai ai dễ biết ai), “Tang bồng hồ thỉ
nam nhi trái/Cái công danh là cái nợ nần”
(Trên vì nước dưới vì nhà).
Nguyễn Công Trứ nhấn mạnh “tang
bồng” gắn với “hành lạc”, ưu tiên cho
“hành lạc”, lấy hành lạc làm một thước đo
quan trọng cho chí “tang bồng”, gánh “nợ
tang bồng”. Ông viết: “Nợ tang bồng hẹn
khách thiếu niên/Cuộc hành lạc vẫy vùng
cho phỉ chí/Xe Thang, Văn nhất đán tao
phùng/Bao nhiêu nợ tang bồng đem giả
hết”(Cầm kỳ thi tửu).
Nguyễn Công Trứ xác định gánh nợ
công danh mang chí bốn phương, đặt ra
mục tiêu, mục đích vẫy vùng giữa nhân
gian. Ông viết: “Đã hay đường cái thời ra
thế/Sạch nợ tang bồng mới kể người” (Tình
cảnh làm quan), “Đố kỵ sá chi con tạo/Nợ
tang bồng quyết giả cho xong” (Chí nam
nhi), “Hỏi thư kiếm có hay chăng nhẽ/Nợ thế duyên duyên nợ nợ/Duyên cũng đành mà
tang bồng giả đặng lúc này chăng/Ra tay nợ cũng đành” (Tuổi già cưới hầu).
chữa lệch cho bằng” (Đi quân thứ).
Nguyễn Công Trứ ý thức trên tất cả là
Ông tính sổ kết toán cho chí nam nhi, nợ gánh nợ làm người, gánh nợ sống giữa cõi
tang bồng, đường hoạn lộ và thỏa nguyện đời, trong thời gian trăm năm hư ảo. Ông
với chính mình. Ông viết: “Nợ sách đèn viết: “Người thế, giả nợ đời là thế/Của đồng
70
Nguyễn Hữu Sơn
lần thiên hạ tiêu chung” (Gánh trung hiếu), có lúc mua “nhàn”; có lúc đổi nhàn lấy
“Đã sinh ra ở trong phù thế/Nợ trần ai quyết “danh”; có lúc đổi “danh” lấy “nhàn”. Ông
sẽ tính xong” (Có chí thì nên).
viết: “Chen chúc lợi danh đà chán ngắt/Cúc
Vậy là, trong chiều hướng “ly tâm”, dù tùng phong nguyệt mới vui sao/Đám phồn
đặt cược vào lý tưởng lập thân, gánh nợ chí hoa trót bước chân vào/Sực nghĩ lại giật
nam nhi “tang bồng hồ thỉ” hay phong lưu, mình bao kể xiết” (Thoát vòng danh lợi),
thì trước sau Nguyễn Công Trứ vẫn giữ “Khi lang miếu đã đành công danh ấy/Lúc
phận vị trong vòng cương tỏa, trong qui yên hà khước thị xuất nhân gian/Hành tàng
phạm bậc quân tử tài bộ. Ông viết: “Ông bất nhị kỳ quan/Cõi đời mở mặt giang sơn
Hy Văn tài bộ đã vào lồng” (Ngất ngưởng). thái hoà”(Hành tàng).
Tương đồng với nhiều nhà nho khác,
Nguyễn Công Trứ ngộ ra rằng, cái
Nguyễn Công Trứ cũng có nhiều bài thơ “danh” kia chỉ là lâm thời, tạm thời, nhất
phê phán gay gắt, trực diện tỏ bày thái độ thời, chỉ có ý nghĩa khi đang hành đạo; còn
với cách gọi miệt thị những “thằng có của”, cái “nhàn” mới vững bền mãi mãi. Cái
“đứa không nhà”; trực diện chỉ trích luôn cả “danh” gắn với đám người thế gian, thế
“thói đảo điên khủng khỉnh”; thậm chí còn tình, với cõi nhân vi, chốn thị thành xa mã.
đưa vào thơ ngay cả tiếng mắng đổng đầu Trong khi đó cái “nhàn” lại tồn tại với tạo
đường “Đù mẹ nhân tình”. Nhưng chủ yếu hóa, vũ trụ, đất trời, thế giới tự nhiên, thiên
ông vẫn dừng lại ở việc phê phán nhân tình nhiên thanh sạch, phong hoa tuyết nguyệt,
thế thái, hành vi đạo lý, nếp sống, quan hệ trăng trong gió mát, mây bay gió thổi, núi
dân sự thường ngày. Đi xa hơn, Nguyễn rộng sông dài muôn thuở. Qui chiếu mối
Công Trứ bày tỏ sâu sắc mối quan hệ hành - quan hệ hành - tàng, danh - nhàn với những
tàng và điều này tiếp tục là một minh chứng sắc thái khác, Biện Minh Điền nhấn mạnh:
cho tâm thế sáng tác “ly tâm”. Ban đầu, ông “Có thể nói, hơn ai hết, Nguyễn Công
tự ý thức, tự phản tỉnh về chữ danh. Ông Trứ hành đạo thì hành đạo đến nơi đến
viết: “Lại mang lấy lợi danh vinh chốn, nhưng mặt khác, hành lạc thì hành
nhục/Cuộc đời kia lắm lúc bi hoan” (Chơi lạc cũng đến mức tối đa, nói ngôn chí, ngôn
xuân kẻo hết xuân đi - I).
chí đến tận cùng, cổ vũ hành lạc thì cổ vũ
Rồi ông cân đong, đo đếm và ngộ ra đến mức tột đỉnh. Con người này không
rằng, cái “nhàn” có khi còn hơn cái “danh”, chấp nhận dạng lưng chừng, nửa vời, mà
thậm chí thấy ghê sợ mà chối bỏ cái dám chấp nhận tất cả mọi đối cực ở phía
“danh”, tìm đến cái “nhàn”. Ông viết: “Thái đỉnh điểm của nó. Ngoài cá tính mạnh mẽ,
bình vũ trụ càng thong thả/Chẳng lợi danh ngang tàng của Nguyễn Công Trứ, còn có
chi lại hóa hay” (Thú ruộng vườn), “Chẳng sự tham gia của nhiều yếu tố, trong đó có
lợi danh chi lại hóa hay/Chẳng ai phiền lụy sự tham gia của yếu tố loại hình nhà nho ở
chẳng ai rầy” (Thú ẩn dật), “Đem thân thế trong ông” [2].
nương miền toàn thạch/Trốn đường danh
mua lấy cuộc nhàn”(Con tạo ghét ghen).
Sau khi đã hồi tỉnh về cái “danh”,
Nguyễn Công Trứ chuyển hóa chí nguyện
Thì hóa ra “danh” cũng phải mua, mà hành đạo theo nhiều nẻo đường khác nhau.
“nhàn” cũng phải mua; có lúc mua “danh”; Trong hồi tỉnh đó có ám ảnh của đạo tu
71
Khoa học xã hội Việt Nam, số 1 - 2019
tiên, muốn thoát ly cõi trần; có sự nhập
cuộc hiện sinh với tất cả những sự bất cần,
ngất ngưởng “thú ăn chơi”, “xa mã thị
thành”, “bầu rượu túi thơ”; có ý muốn lui
về nơi non xanh cảnh vắng (“giang sơn
phong nguyệt”, “Cầm hạc tiêu dao”, “Mây
về ngàn Hống”); thêm nữa, có những thú
đàn địch, ca lâu, tổ tôm, rượu nồng và gái
đẹp (với những Tương tư, Trách tình nhân,
Bỡn tình nhân, Bỡn cô đào già, Duyên gặp
gỡ, Ca tự biệt, Một ngày là nghĩa, Lời thiếp
tự tình…). Trên tất cả, khi thoát vòng danh
lợi, hầu như Nguyễn Công Trứ đã trở thành
một ông ngất ngưởng siêu cá nhân cá thể,
vừa là thế này vừa là thế kia, vừa không là
thế này mà cũng chẳng là thế kia. Ông viết:
“Đô môn giải tố chi niên/Đạc ngựa bò vàng
đeo ngất ngưởng/Kìa núi nọ phau phau mây
trắng/Tay kiếm cung mà nên dáng từ bi/Gót
tiên theo đủng đỉnh một đôi dì/Bụt cũng
nực cười ông ngất ngưởng/Được mất dương
dương người tái thượng/Khen chê phơi phới
ngọn đông phong/Khi ca, khi tửu, khi cắc,
khi tùng/Không Phật, không tiên, không
vướng tục”(Ngất ngưởng).
Tuy nhiên, con người tung phá dọc
ngang trời đất ấy trước sau cũng chỉ là tung
phá với chính mình, tung phá đến hết mình.
Điều đó nào đâu có hại đến ai, chưa động
chạm đến đấng bậc bề trên. Vậy nên, con
người ngất ngưởng siêu cá thể cá nhân
Nguyễn Công Trứ lại đi đến mấy câu kết
hướng tâm về những tấm gương danh thần,
danh nho và dung hòa, giới hạn sự ngất
ngưởng trong phép tắc qui phạm, phải đạo.
Ông viết: “Chẳng Hàn, Nhạc cũng phường
Mai Phúc/Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ
chung/Đời ai ngất ngưởng như ông”.
Nguyễn Công Trứ lại có nhiều câu thơ nói
về Phật giáo, nhiều ý thơ biểu lộ sâu sắc
cảm quan Phật giáo; thậm chí có cả bài thơ
Vịnh Phật thật sự sâu sắc. Về điều này,
chúng tôi từng xác định: “Cuộc đời nhà
Nho Nguyễn Công Trứ là cả một sự nối tiếp
những tháng năm dấn thân, nhập cuộc
không ngừng nghỉ. Tuy nhiên, trên từng
chặng đường đời và đến cuối cuộc đời, ông
vẫn phải nhìn lại, tính đếm lại, tổng kết lại
tháng năm quá khứ. Chính những thời khắc
đó đã cho phép ông có được cách đánh giá,
hình dung về cõi đời và kiếp người thông
kênh với quan niệm Phật giáo. Nguyễn
Công Trứ căn bản là nhà Nho hành đạo
nhưng hiện tượng “dĩ Nho nhập Thích” ở
ông càng soi sáng thêm giá trị nhân văn và
chiều sâu minh triết Phật giáo, khả năng
hòa giải, dung nạp của Phật giáo đối với các
nguồn tư tưởng khác” [8].
4. Kết luận
Xu thế sáng tác “hướng tâm” và “ly tâm”
tạo thành những đối cực trong tiếng thơ
Nguyễn Công Trứ. Tuy nhiên, mọi sự “ly
tâm” ở Nguyễn Công Trứ tuy tưởng đi đến
tận cùng mọi gam độ con người cá nhân cá
thể, nhưng thực chất lại là việc trổ ra những
cánh cửa tự do khác nhau mà hầu như
không đi ngược, không động chạm, phản
bác, công kích, công phá vào thể chế Nho
giáo chính thống. Vậy nên sự “ly tâm” ở
đây là có điều kiện, có chiều hướng và giới
hạn nhất định. Điều này chứng tỏ rằng, kiểu
tác gia văn học, nhà nho hành đạo Nguyễn
Công Trứ trong bối cảnh lịch sử, văn hóa,
văn học dân tộc thế kỷ XIX có sự khác biệt
Có điều thật lạ, một nhà nho tài tử,
phóng dật, ngang tàng, ngất ngưởng như
72
Nguyễn Hữu Sơn
[5] Nguyễn Hữu Sơn (1991), “Tâm lý sáng tạo
trong thơ Hồ Xuân Hương”, Tạp chí Nghiên
cứu Văn học, số 2.
với những kiểu tác gia Nguyễn Du, Hồ
Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn
Khuyến, Tú Xương...
[6] Nguyễn Hữu Sơn (2000), “Nguyễn Công Trứ -
Phải có danh gì với núi sông”, Tạp chí Văn
hóa Nghệ thuật, số 10.
Tài liệu tham khảo
[7] Nguyễn Hữu Sơn (2005), “Cao Bá Quát và
những suy tưởng trong thơ”, Tạp chí Nghiên
cứu Văn học, số 2.
[1] Nguyễn Duy Diễn (1953), Luận đề về Nguyễn
Công Trứ, Nxb Thăng Long, Hà Nội.
[8] Nguyễn Hữu Sơn (2009), “Nhà nho Nguyễn
Công Trứ với Phật giáo”, Tạp chí Nghiên cứu
Văn học, số 3.
[2] Biện Minh Điền (2009), “Sự thống nhất những
đối cực trong phong cách nghệ thuật Nguyễn
Công Trứ”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 3.
[3] Đoàn Tử Huyến (Chủ biên) (2008), Nguyễn Công
Trứ trong dòng lịch sử, Nxb Nghệ An, Trung
tâm văn hóa ngôn ngữ Đông - Tây, Nghệ An.
[4] Nguyễn Lộc (1999), “Nguyễn Công Trứ”, Văn
học Việt Nam (Nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế
kỷ XIX), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[9] Lê Thước (1928), Sự nghiệp và thi văn của Uy
Viễn Tướng công Nguyễn Công Trứ, Lê Văn
Tân Xb, Hà Nội.
[10] Nguyễn Công Trứ (2008), “Đi thi tự vịnh”,
Nguyễn Công Trứ trong dòng lịch sử, Nxb
Nghệ An, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông -
Tây, Nghệ An.
73
Bạn đang xem tài liệu "Xu thế sáng tác hướng tâm và ly tâm trong thơ Nguyễn Công Trứ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
xu_the_sang_tac_huong_tam_va_ly_tam_trong_tho_nguyen_cong_tr.pdf

