Bước đầu tìm hiểu về Nguyễn Bảo và những bài thơ trong châu khê thi tập

TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015  
literary of the twenty century. By more 70 short stories, we realize that the art of  
decenter affects and covers his works. Outside the character, the point of view,  
topic,…, the type of step and parallel plot is decentered, it made the multivalence excite  
enthusiasm for readers when they receive his works following a tendency towads  
postmodern. (Keywords: plot, postmodern, decenter)  
Keywords: Raymond Carver’s, short stories.  
BƢỚC ĐẦU TÌM HIỂU VỀ NGUYỄN BẢO VÀ NHỮNG BÀI THƠ  
TRONG CHÂU KHÊ THI TẬP  
Nguyễn Diệu Huyền1  
TÓM TẮT  
Nguyễn Bảo là một nhà thơ - Danh nhân văn hóa. Ông là một trong những người  
có công lớn trong việc phò tá nhà Hậu Lê, là người rộng rãi, cẩn thận, giản dị, là danh  
thần thời bấy giờ. Nguyễn Bảo có tập thơ chữ Hán Châu Khê thi tập được Lê Quý Đôn  
lựa chọn và biên soạn trong Toàn Việt thi lục. Nghiên cứu văn bản thơ ca chữ Hán của  
Nguyễn Bảo là một việc làm có ý nghĩa quan trọng để đánh giá, nhận định những giá trị  
thơ ca Nguyễn Bảo, cũng như những đóng góp của ông trong nền văn học dân tộc.  
Từ khóa: Nguyễn Bảo, Châu Khê thi tập  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Khi nghiên cứu về những tác gia văn học thế kỷ XV, bên cạnh những tác gia  
tiêu biểu như Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi, Nguyễn Trực, Thân Nhân Trung, Đỗ  
Nhuận… Nguyễn Bảo được biết đến là một trong những người có công lao phò tá  
nhà Hậu Lê. Nhận xét về ông, Phan Huy Chú đã viết: Ông là người “rộng rãi, cẩn  
thận, giản dị, là danh thần thời bấy giờ” [1,291]. Nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân cũng đã  
nghiên cứu về ông với tư cách là một nhà thơ - Danh nhân văn hóa. Tuy nhiên, những  
tư liệu ghi chép về ông còn sơ sài và có nhiều điểm chưa thống nhất. Sáng tác của ông  
có tập thơ chữ Hán Châu Khê thi tập do học trò sưu tập lại sau khi ông mất là một tác  
phẩm có giá trị để đời. Tuy nhiên, trải qua nhiều biến cố lịch sử nguyên tác chữ Hán đã  
thất lạc. Những bài thơ của ông hiện còn có khoảng 160 bài do Lê Quý Đôn lựa chọn  
và biên soạn trong cuốn Toàn Việt thi lục; về sau nhà nghiên cứu Bùi Huy Bích cũng đã  
dựa vào đó để tuyển chọn một số bài đưa vào Hoàng Việt thi tuyển. Bùi Duy Tân cũng  
đã dành nghiều tâm huyết để nghiên cứu về ông, cũng như tuyển dịch một số bài ra chữ  
1 ThS. Giảng viên Khoa Ngữ Văn, trường Đại học Tây Bắc.  
41  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015  
quốc ngữ. Mặc dù vậy, nghiên cứu về con người, cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của  
Nguyễn Bảo chưa thật sự đầy đủ. Bên cạnh đó, liên quan đến Nguyễn Bảo còn có rất  
nhiều những vấn đề cần được xem xét và nghiên cứu. Căn cứ vào những tài liệu thu  
thập được, qua khảo cứu lần này chúng tôi mong muốn xác lập những vấn đề liên quan  
đến Nguyễn Bảo và sự nghiệp sáng tác của ông, đồng thời đề xuất phương hướng  
nghiên cứu tiếp theo cho những người làm công tác khoa học.  
2. NỘI DUNG  
2.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về Nguyễn Bảo  
Trong số những tư liệu chép về Nguyễn Bảo, có các công trình đáng chú ý như:  
Kiến văn tiểu lục (1962) của Lê Quý Đôn do Phạm Trọng Điền dịch; Văn học cổ Việt  
Nam (1964) của Đinh Gia Khánh - Bùi Duy Tân; Đại Việt sử ký toàn thư (1967) của  
Ngô Sỹ Liên, tập 2 do Hoàng Văn Lâu dịch và chú thích, Hà Văn Tấn hiệu đính, Ngô  
Đức Thọ chỉnh lý, bổ sung; Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (1970) và Lược truyện các tác  
gia Việt Nam (1971) của Trần Văn Giáp; Lịch sử văn học Việt Nam (1978) của Bùi Văn  
Nguyên; Lịch sử Văn học Việt Nam (1980) do Nguyễn Khánh Toàn chủ nhiệm; Sáng  
tác Thái Bình: Nguyễn Bảo và mấy vần thơ về nông nghiệp (1980) của Trương Sỹ  
Hùng; Danh nhân Thái Bình (1986); Nguyễn Bảo nhà thơ - danh nhân văn hóa (1991)  
của Bùi Duy Tân;, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (1991) của Nguyễn Q. Thắng và  
Nguyễn Bá Thế; Từ điển Văn hóa Việt Nam (1993) do Vũ Ngọc Khánh chủ biên; Các  
vị trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa qua các triều đại phong kiến Việt Nam (1990)  
của Trần Hồng Đức; Khảo và luận một số thể loại tác gia - tác phẩm Văn học trung đại  
Việt Nam (2001) của Bùi Duy Tân; Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam (thế kỷ X -  
XIX) do Bùi Duy Tân chủ biên; Từ điển Văn học Việt Nam (2004) do Đỗ Đức Hiểu chủ  
biên; Các nhà khoa bảng Việt Nam (2006) do Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga,  
Nguyễn Hữu Mùi biên soạn; Văn bia đề danh tiến sĩ Việt Nam (2008); Di sản Hán Nôm  
Việt Nam thư mục đề yếu (1993) do Trần Nghĩa - Fr.Gors biên soạn; Tên tự tên hiệu  
các tác gia Hán Nôm Việt Nam (2012) của Trịnh Khắc Mạnh; Lịch Triều hiến chương  
loại chí (2014) của Phan Huy Chú, tập 2 phần Nhân vật chí do Nguyễn Mạnh Duân…  
dịch, Trần Huy Hân… hiệu đính; Lịch Triều hiến chương loại chí (2014) của Phan Huy  
Chú, tập 5 phần Văn tịch chí do Nguyễn Trọng Hân… dịch, Đào Duy Anh hiệu đính…  
Các khảo cứu trên đã giới thiệu về Nguyễn Bảo và cung cấp những thông tin cơ  
bản về thân thế, cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của ông. Trong đó về cơ bản đều thống  
nhất những thông tin: “Ông người làng Phương Lai, huyện Vũ Tiên [Thái Bình], đỗ  
Đồng tiến sĩ khoa Nhâm Thìn năm Hồng Đức thứ 3 (1472). Buổi đầu vào Đông các  
làm chức Tả tư giảng phò thái tử. Khi Hiến Tông lên, cho làm Tả thị lang bộ Lễ, tham  
42  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015  
dự vào công việc ở viện Hàn Lâm. Ông vâng sắc soạn bài minh khắc vào bia ở am Hiển  
Thụy, núi Phật Tích… Văn làm xong, vua rất hợp ý, thăng ông lên Thượng thư bộ Lễ,  
kiêm Thị độc viện Hàn lâm, vẫn nắm việc ở viện. Ông là người rộng rãi, giản dị, thận  
trọng, là danh thần thời bấy giờ, hiệu là Châu Khê, có Châu Khê thi tập truyền ở  
đời.”[1, 291]; và “Nguyễn Bảo hiệu là Châu Khê… Không rõ ông sinh và mất năm nào.  
Năm 1472 (niên hiệu Hồng Đức thứ 3), ông đậu tiến sĩ, phụng mệnh làm năm bài thơ  
Vịnh nguyệt và bài Phú nguyệt quế, được cử vào đông các, giữ chức Xuân phường tả tư  
giảng, dạy thái tử học. Đời Lê Hiến Tông (1497 - 1504), ông được thăng chức Lễ bộ  
thượng thư. Ông là người học vấn rộng.” [3, 219]…  
Bên cạnh đó, những tư liệu trên cũng đưa ra những đánh giá về Nguyễn Bảo,  
về sự nghiệp và những đóng góp của ông với nhà nước phong kiến. Khi nghiên cứu  
về ông, Bùi Duy Tân đã có những nhận định rất chính xác: “Nguyễn Bảo quả thực  
đã có một sự nghiệp hiển nhiên. Trước hết đó là sự nghiệp kinh bang tế thế (lo  
nước, giúp đời). Sự nghiệp đó theo Phan Huy Chú là rõ rệt ai cũng biết, theo Lê  
Quý Đôn là những lời bàn luận, những điều suy nghĩ, những chính kiến hiến dâng  
đều có bổ ích, và theo Lê Hiến Tông là: mưu quốc, là thảo chiếu rồng là giúp rập tốt  
chính trị các triều… [6, 27].  
Tuy nhiên, những ghi chép về con người và cuộc đời của ông chỉ được biết đến  
từ khi ông đỗ đạt và ra làm quan. Còn quãng thời gian niên thiếu; thời gian về quê trí sĩ,  
và cuộc sống những năm tháng cuối đời của ông như thế nào? cũng cần được xem xét  
thêm. Đặc biệt, về sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bảo, hiện nay mới chỉ có những tác  
phẩm do Bùi Duy Tân tuyển dịch một số bài tiêu biểu (khoảng 34 bài) [6]. So với số  
lượng tác phẩm hiện còn của ông (khoảng 160 bài) con số đó chưa phải là nhiều. Mặt  
khác, tiếp cận văn bản chữ Hán là một vấn đề quan trọng chưa được các nhà nghiên  
cứu xem xét. Từ những vấn đề đó, chúng tôi xin đưa ra một số vấn đề liên quan đến  
Nguyễn Bảo cần được nghiên cứu dưới đây.  
2.2. Những vấn đề liên quan đến Nguyễn Bảo cần đƣợc nghiên cứu  
Từ ghi chép về Nguyễn Bảo trên, còn có những vấn đề liên quan đến Nguyễn  
Bảo cần được nghiên cứu đó là:  
- Nghiên cứu những tư liệu và thư tịch liên quan đến thời đại, cuộc đời và sự  
nghiệp của Nguyễn Bảo.  
- Nghiên cứu những văn bản ghi chép thơ ca Nguyễn Bảo, khảo cứu các dị bản  
thu thập được, xác định và làm sáng rõ mức độ tin cậy của văn bản. Trên cơ sở đó, tiến  
hành nghiên cứu, xác lập và tìm hiểu những giá trị thơ ca Nguyễn Bảo. Đặc biệt, trong  
số những tài liệu ghi chép về thơ ca Nguyễn Bảo có Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn,  
hiện lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm và các thư viện khác.  
43  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015  
- Khảo sát văn bản thi ca trong Toàn Việt thi lục để làm rõ những vấn đề văn  
bản học như: nguồn gốc văn bản, hình thức ghi chép, trình bày, đặc điểm chữ viết, chữ  
húy…; xác lập các văn bản thơ ca từ nguyên tác chữ Hán, phiên âm và dịch nghĩa.  
- Nghiên cứu giá trị nội dung và nghệ thuật thơ ca Nguyễn Bảo, để từ đó có  
những nhận định, đánh giá về giá trị thơ ca Nguyễn Bảo, cũng như những đóng góp của  
ông trong nền văn học dân tộc.  
2.2.1. Những vấn đề về con người, cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của  
Nguyễn Bảo  
Những tư liệu trên đã ghi chép khá đầy đủ về con người Nguyễn Bảo. Tuy  
nhiên có một số vấn đề chưa được thống nhất đó là:  
- Về con ngƣời  
Nguyễn Bảo sinh và mất năm nào? Quê xã Phương Lai hay Phương Lại? Quãng  
thời gian niên thiếu của ông ra sao? Ông đỗ Tiến sĩ năm bao nhiêu tuổi? Ông có làm  
tham chính ở trấn Hải Dương hay không? Ông về hưu khi nào? Những năm cuối đời  
của ông ra sao?... Những vấn đề đó cần phải dựa vào các cứ liệu tin cậy để thống nhất  
và xác lập những vấn đề liên quan đến con người Nguyễn Bảo.  
- Về cuộc đời  
Khảo cứu của các nhà nghiên cứu đi trước đã đi đến nhận định những đóng góp  
của Nguyễn Bảo. Thông qua bước đường hoạn lộ cùng những chứng tích để lại trong  
thư tịch, chúng tôi mong muốn, những vấn đề đó có thể được làm sáng rõ hơn.  
- Về sự nghiệp sáng tác  
Ngoài những sáng tác bằng chữ Hán, Nguyễn Bảo có sáng tác chữ Nôm hay  
không? Ngoài bài thơ chữ Hán được chép trong Châu Khê thi tập, ông còn có  
những sáng tác nào nữa? Số lượng các bài thơ được ghi chép trong Toàn Việt thi lục  
chính xác là bao nhiêu? Theo như Từ điển văn học, Nxb Thế Giới do Đỗ Đức Hiểu  
chủ biên, tác giả Nguyễn Huệ Chi đã viết: “Tác phẩm của Nguyễn Bảo có Châu Khê thi  
tập (Tập thơ Châu Khê) gồm tám quyển, do học trò của ông, Tiến sĩ Trần Củng Uyên  
biên soạn sau khi ông mất. Ngoài ra ông còn có phú và bài văn bia ở am Hiển Thụy,  
núi Phật Tích. Châu Khê tập hiện không còn, chỉ còn 155 bài thơ chép trong Trích diễm  
thi tập và Toàn Việt thi lục.” [2, 1106]. Thực trạng văn bản và nội dung tác phẩm có  
được ghi chép đầy đủ hay không cũng là những vấn đề cần được khảo cứu.  
2.2.2. Khảo cứu và xác lập văn bản thơ ca Nguyễn Bảo  
Theo Di sản Hán Nôm, mục từ Toàn Việt thi lục, chúng tôi thu thập được: Toàn  
Việt thi lục 全 越 詩 錄, Lê Quý Đôn 黎 貴 敦 tước Dĩnh Thành Bá 穎 成 伯 biên định.  
44  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015  
Có: 11 bản viết, 1 lệ ngôn, 1 mục lục. Đó là tổng tập thơ Việt Nam gồm 2303 bài, của 173  
tác giả (theo A.3200/1-4), thuộc các triều Lí, Trần, Hồ, Lê: đề vịnh phong cảnh, tiễn tặng,  
mừng viếng, họa đáp lẫn nhau… Nhiều bài có kèm theo tiểu dẫn.  
Theo khảo cứu ban đầu phần nội dung thơ ca Nguyễn Bảo được ghi chép ở các  
bản HM. 2139 A, A.1262, A.3200, A.132. Các dị bản có những đặc điểm khác nhau về  
mặt văn bản. Nội dung ghi chép thơ ca Nguyễn Bảo cũng có độ chênh lệch nhất định.  
Chúng tôi sẽ xem xét kỹ hơn vấn đề này ở bài viết sau.  
2.2.3 Nghiên cứu những giá trị nội dung và nghệ thuật của thơ ca Nguyễn Bảo.  
Lịch sử Văn học Việt Nam của Bùi Văn Nguyên có nhận định: “Thơ văn của  
ông do học trò là Trần Củng Uyên sưu tập và đề tựa, đại ý nói ông thường chú trọng về  
nội dung thơ mà ít chú trọng hình thức thơ: ý là chủ, lời là phương tiện, khí là vai phò  
tá mà lý thông qua tất cả… nó như món canh thanh đạm, ít kể hết vị… Sự thực, thơ của  
ông luôn thể hiện lòng trung thành với vua, “nguyện đem cái chất đã thuần để báo đáp  
ơn lớn… [4, 113].  
Trong Khảo và luận một số thể loại tác gia - tác phẩm Văn học trung đại Việt  
Nam, Bùi Duy Tân đã nhận xét:  
“Tập thơ Châu Khê của ông do học trò của ông là tiến sĩ Trần Củng Uyên biên  
tập, là một trong vài thi phẩm hay nhất trên văn đàn bấy giờ. Thơ văn Nguyễn Bảo  
được Lê Quý Đôn khen là “thanh tao, uyển chuyển, được một thời suy phục”. Phan  
Huy Chú nhận xét “Giản dị, đầy đặn, có khí cốt”. Cố giáo sư Nguyễn Đổng Chi, trong  
Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (xuất bản 1958) viết “Văn chương Nguyễn Bảo bình  
dị…, ít sáo…, đạm bạc…, dí dỏm”. Giáo sư Đinh Gia Khánh trong Văn học cổ Việt  
Nam (tập I, xuất bản năm 1963) “Thơ Nguyễn Bảo thể hiện một phong cách bình dị, có  
màu sắc đậm đà, ít thấy ở những tác gia khác cùng thời”. Từ điển văn học ghi nhận:  
“Thơ Nguyễn Bảo ít sa vào công thức ước lệ nên ngòi bút phóng khoáng hơn hẳn nhiều  
nhà thơ trong Hội Tao đàn”… Đức tài được nhiều thế hệ khẳng định, Nguyễn Bảo là  
tác gia đáng chú ý của văn học dân tộc, tác gia lớn của văn học cổ Thái Bình. Ông  
không chỉ có tên trong các tuyển tập xưa và nay, trong Từ điển văn học như Phạm Hữu  
Dực, mà còn hiện diện trong nhiều tập văn học sử và sau này Từ điển bách khoa nữa.  
Nguyễn Bảo là một đỉnh cao văn học cổ Thái Bình.” [7, 387]  
Trong đó: Về giá trị nội dung, nổi bật lên những nội dung chính: Nguyễn Bảo  
và tình yêu đối với một miền quê hương và một vùng đất nước: Tình yêu quê hương  
trong nỗi nhớ khôn nguôi; Tình yêu quê hương được thể hiện qua những đề tài viết về  
nông thôn; Những bài thơ về văn vật quê hương và văn vật đất nước; Những bài thơ  
miêu tả phong vật đất nước; Những vần thơ về thiên nhiên nói chung. Nguyễn Bảo và  
những vần thơ thể hiện cuộc sống yên vui, tấm lòng ưu ái: Nguyễn Bảo và tấm lòng  
45  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015  
yêu nước, thương dân; Nguyễn Bảo và những bài thơ lấy đề tài ở đời sống tình cảm con  
người; Về giá trị nghệ thuật: Thông qua các thể thơ, điển cố, đối ngẫu, nghệ thuật ngôn  
từ… chúng ta có thể làm rõ hơn về tài năng nghệ thuật của của ông.  
2.3. Giá trị của những kết quả đạt đƣợc  
Từ những thông tin ghi chép về Nguyễn Bảo cho thấy, còn rất nhiều vấn đề cần  
được quan tâm nghiên cứu. Đặc biệt là vấn đề nghiên cứu các văn bản chữ Hán, nếu  
chưa làm được điều này, những nghiên cứu về Nguyễn Bảo cũng như thơ ca của ông sẽ  
không tránh khỏi những thiếu sót.  
Thông qua những vấn đề cần được nghiên cứu như trên, chúng ta có thể xác lập  
đầy đủ hơn những thông tin Nguyễn Bảo, cả những vấn đề lớn về thời đại đã tác động đến  
cuộc đời và thơ ca của ông; cho đến những vấn đề về quê hương, dòng tộc, gia đình.  
Việc xác lập những tác phẩm thơ ca của Nguyễn Bảo, là một thành công lớn để  
có thể giới thiệu đầy đủ và toàn vẹn về sự nghiệp trước tác của ông.  
Giới thiệu những vấn đề liên quan đến văn bản tập thơ như: hoàn cảnh sáng tác,  
người tổ chức sao chép,... tiến hành khảo sát văn bản thơ ca trong Toàn Việt thi lục để  
xác định những vấn đề chưa rõ ràng của tập thơ về mặt văn bản (lai lịch văn bản, các dị  
bản, đặc điểm về mặt hình thức của văn bản, chữ húy, chữ dị thể, chữ mờ, chữ thiếu,  
chữ sai, đặc điểm về mặt ngôn ngữ văn tự...)  
Phân tích, đánh giá, bình luận về giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của thơ ca  
Nguyễn Bảo. Từ đó khẳng định tài năng thơ ca và vị trí của ông trong văn học Việt  
Nam thế kỷ XV.  
Cho đến nay, những thông tin tư liệu về thơ ca Nguyễn Bảo không nhiều, các  
tên tuổi thi nhân thời Hậu Lê được tuyển dịch để giới thiệu, học tập, giảng dạy ở các  
trường trung học, và chuyên nghiệp còn quá ít ỏi. Vì vậy, nghiên cứu về thơ ca Nguyễn  
Bảo bao hàm cả việc giới thiệu và truyền bá những giá trị tinh hoa thời Hậu Lê nói  
riêng, văn học trung đại Việt Nam nói chung.  
3. KẾT LUẬN  
Nguyễn Bảo và những vấn đề cần được nghiên cứu có thể coi là những định  
hướng ban đầu cho việc nghiên cứu về con người, cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của  
Nguyễn Bảo. Cùng với việc khảo cứu và xác lập văn bản thơ ca, chúng ta có thể đánh  
giá những giá trị nội dung, nghệ thuật, đưa ra những nhận định, đầy đủ, thống nhất có  
căn cứ và cơ sở khoa học.  
Bước đầu tìm hiểu về Nguyễn Bảo và những bài thơ trong “Châu Khê thi tập”,  
không chỉ là vấn đề đặt nền móng cho các hướng nghiên cứu tiếp theo về Nguyễn Bảo,  
mà đó còn góp phần giải quyết những vấn đề nghiên cứu về tác giả, tác phẩm văn học  
46  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015  
trung đại, đồng thời, tạo đà cho việc nghiên cứu các tác gia tác phẩm khác cùng thời.  
Chúng tôi mong muốn kết quả khảo cứu này sẽ góp phần vào việc giữ gìn nguồn di sản  
Hán Nôm vô cùng phong phú và đồ sộ của cha ông trong quá khứ. Một mặt, đáp ứng  
nhu cầu học tập, nghiên cứu, mặt khác, góp phần khẳng định những giá trị tinh hoa văn  
hóa dân tộc của người Việt Nam.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]  
Phan Huy Chú (2014), Lịch triều hiến chương loại chí, (tập 2, phần Nhân vật  
chí và tập 5 phần Văn tịch chí). Nxb. Khoa học Xã hội. H.  
[2]  
[3]  
[4]  
[5]  
Đỗ Đức Hiểu (2004) chủ biên, Từ điển Văn học, Nxb. Thế giới.  
Trần Văn Giáp (1971), Lược truyện các tác gia Việt Nam, Nxb. KHXH, H.  
Bùi Văn Nguyên (1978), Lịch sử văn học Việt Nam, tập 2 Nxb. Giáo dục, H.  
Trần Nghĩa (1993) Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu (1993) do Trần  
Nghĩa - Fr.Gors biên soạn, Nxb. Khoa học Xã hội, H.  
[6]  
[7]  
Bùi Duy Tân (1991), Nguyễn Bảo - Nhà thơ - Danh nhân văn hóa, Nxb. Văn hóa.  
Bùi Duy Tân (2001), Khảo và luận một số thể loại tác gia - tác phẩm văn học  
trung đại Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, H.  
INNITIALLY RESEARCH ABOUT NGUYEN BAO AND HIS  
POEMS IN “CHAU KHE THI TAP”  
Nguyen Dieu Huyen  
ABSTRACT  
Nguyen Bao is a poet - cultural, he is one of assistance men in the Later Le. He  
is a generous, careful, casual and a good courting at that time. Nguyen Bao has a  
poetry is "Chau Khe thi tap" which was selected and compiled in “Toan Viet thi luc”  
by Le Quy Don. Researching about Han writing, Han poetry of Nguyen Bao is a  
meaningful work is important to assess, identify the value of his poetry, as well as the  
contributions in Viet Nam ethnic literature.  
Keywords: Nguyen Bao, Chau Khe thi tap.  
47  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015  
KHUYNH HƢỚNG TIÊN HÓA NÖI SÔNG TRONG THƠ DU TIÊN  
ĐỜI ĐƢỜNG  
Nguyễn Thị Tuyết1  
TÓM TẮT  
Khởi nguồn từ thời Ngụy Tấn, đến thời Đường,“tiên hóa” núi sông đã trở thành  
một khuynh hướng nổi bật trong thơ du tiên. Thi nhân đời Đường đã phát hiện ra một  
thiên đường trên mặt đất: sơn thủy hữu tình vừa là không gian ẩn dật của đạo sĩ, vừa  
là đường dẫn lên trời, đặc biệt còn có sự hội tụ của tiên nhân. Sự kết hợp giữa du tiên  
và sơn thủy khiến tiên cảnh mơ hồ trở nên gần gũi, núi sông cũng nhờ có tiên nhân mà  
thêm phần kì bí, lung linh. Bầu không khí thời đại và quan niệm “động thiên phúc địa”  
của Đạo giáo là những nguyên nhân trực tiếp dẫn tới sự xuất hiện nổi bật của khuynh  
hướng này.  
Từ khóa: Thơ du tiên, tiên hóa.  
1. MỞ ĐẦU  
Cùng với thơ biên tái, thơ vịnh sử, thơ du hiệp, thơ khuê phụ, thơ điền viên...,  
mảng thơ du tiên đã góp phần tạo nên diện mạo “kính vạn hoa”, khối vuông ru bích của  
Đường thi. Tuy nhiên, trong nguồn mạch bất tận ấy, thơ du tiên vẫn chảy một dòng  
riêng không thể lẫn, bởi cái vẻ mông lung của tiên cảnh, vẻ phiêu hốt bất định của tiên  
nhân, vẻ thần kì bí ẩn của tiên thuật và quá trình “giải thiêng” từ tiên hóa đến thế tục  
hóa diễn ra mạnh mẽ vào thời trung, vãn Đường. Khảo sát những bài thơ du tiên đời  
Đường chúng tôi nhận thấy có sự xuất hiện khuynh hướng tiên hóa núi sông tự nhiên,  
1 ThS. Giảng viên Khoa Khoa học Xã hội, trường Đại học Hồng Đức.  
48  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015  
du sơn đồng nhất với du tiên, thông qua miêu tả tiên cảnh - non xanh nước biếc nơi trần  
gian mà khẳng định trần thế là thiên đường duy nhất.  
2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU  
“Lấy thanh sắc trần gian làm tài liệu”  
Có lẽ từ khi thơ ca bắt đầu xuất hiện, sơn thanh thủy tú đã chọn thể loại trữ tình  
này để nghiêng mình soi bóng. Có những thắng cảnh đẹp được soi mình vào thơ càng  
trở nên quyến rũ bội phần. Mĩ lệ hóa hình ảnh là đặc trưng của chủ nghĩa lãng mạn,  
nhưng tiên hóa núi sông tự nhiên, khiến vẻ đẹp trần gian hiện ra lộng lẫy như tiên cảnh,  
gọi mời bao bước chân Lưu Nguyễn lạc lối đào nguyên lại là sản phẩm của những thi sĩ  
làm thơ du tiên. Tiên hóa núi sông tự nhiên thực chất là cách thức miêu tả núi sông  
bằng cảm hứng thần tiên, phiêu dật, sử dụng phương pháp hóa thực thành hư, lấy hư tả  
thực khiến nó lộ ra vẻ đẹp tiên hương thần sắc. Núi sông được bao bọc trong một bầu  
khí quyển thần tiên, tràn đầy tiên phong đạo khí. Vì vậy, chỉ cần nhắc tới những cái tên  
như Hoa sơn, Thái Bạch sơn, Tung sơn, Lư sơn, Kính Đình sơn, Thiên Mụ sơn... là  
những thi sĩ làm thơ du tiên mường tượng ra ngay những kì hoa dị thảo, tiên đồng ngọc  
nữ uốn mình trong không, những đạo sĩ hái thuốc luyện đan, dáng thanh thoát phiêu  
bồng, mơ một ngày đắc đạo thành tiên bay lên thiên giới.  
Núi và sông thể hiện sự hài hòa của hai đối cực, sự cân bằng âm - dương. Âm -  
dương hòa hợp mà tạo nên sơn thủy hữu tình. Non thì hiểm trở, như chiếc thang bắc lên  
tận trời xanh, mà nước thì muôn trùng uốn lượn vây quanh. Tuy nhiên, trong thơ du  
tiên nói chung, thơ du tiên đời Đường nói riêng, các thi nhân đề cập đến núi nhiều hơn  
sông. Và ngay trong mạch chảy của thơ du tiên, không phải từ khởi nguồn đã xuất hiện  
khuynh hướng tiên hóa núi sông. Quá trình tiên hóa này được hình thành, phát triển gắn  
liền với bối cảnh thời đại đặc thù.  
Ngược về thời Tần Hán, chúng ta thấy con người thời kì này có niềm tin ngây  
thơ và chân thành đối với thần tiên, thậm chí họ còn tỏ ra cung kính tới mức sùng tín.  
Việc tìm thuật trường sinh bất lão hết sức sôi nổi từ hoàng đế (Tần Thủy Hoàng, Hán  
Vũ Đế) đến thứ dân. Họ du tiên trong mộng và bằng tưởng tượng, chủ yếu nhằm truy  
cầu sự vĩnh hằng của nhục thể. Trong những bài thơ du tiên thời kì này thường xuất  
hiện hình ảnh Côn Luân, Bồng Lai, Tam Đảo - những ngọn núi tiên từng tồn tại trong  
thần thoại, truyền thuyết xa xôi, chỉ thần tiên mới có thể đặt chân tới mà chưa thấy có  
sự xuất hiện của hình ảnh sông núi tự nhiên trong hiện thực.  
Đến thời Ngụy Tấn, do chiến tranh liên miên, thế sự hiểm ác đã thúc đẩy văn  
nhân đi vào rừng, ẩn trong núi, lấy việc theo đuổi cái đẹp nơi sơn thủy rừng dã để truy  
cầu giá trị nhân sinh độc lập với những quy phạm của chế độ phong kiến. Lí tưởng  
49  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015  
thẩm mĩ thời này là ưa chuộng vẻ đẹp tự nhiên. Tuy vậy, cảnh vật trong thơ du tiên của  
Tào Tháo, Tào Thực chủ yếu là siêu hiện thực. Thăng thiên hành của Tào Thực tả cảnh  
Bồng Lai còn khác xa với cảnh sắc núi rừng trong hiện thực. Phải đến Quách Phác, tiên  
cảnh mới chính là nhân thế. Cảnh tiên trong thơ ông đều là cảnh sắc núi rừng chân  
thực. Trong Du tiên thi của Quách Phác có những câu như thế này: “Lục la kết cao lâm.  
Mông lung cái nhất sơn” (Tằm gửi xanh kết rừng cao. Mông lung che khắp núi); “Hàn  
lộ phất lăng điều. Nữ la từ tùng bách” (Sương lạnh quét tử uy. Tằm gửi rời tùng bách).  
Nơi tiên ở cũng không phải là lầu quỳnh điện ngọc như thơ du tiên của Tào Thực đã tả,  
mà là ở trong núi thẳm: “Thanh khê thiên dữ nhận” (khe xanh hơn tám ngàn thước).  
Các vị tiên cũng không còn quá nhiều vẻ tiên, mà mang tinh thần của ẩn sĩ chốn núi  
rừng. Như vậy, tuy không có những hành vi leo núi thực tế nhưng đã có sự kết hợp  
bước đầu giữa tiên cảnh và sơn thủy trong thơ du tiên Ngụy Tấn.  
Truyền thống kết hợp du sơn và du tiên đến các thi nhân đời Đường đã được  
đẩy cao hơn một bước. Tiên hóa núi sông tự nhiên trở thành một khuynh hướng rõ rệt,  
thể hiện sự thăng hoa của khát vọng trần tục, và được lí giải từ cái nhìn nhiều chiều.  
Thơ du tiên sơ Đường một mặt thừa nhận quan hệ đối ứng giữa tiên và đạo, xem đạo sĩ  
là tiên nhân, đạo quán là tiên cảnh có từ thời Ngụy Tấn, mặt khác kế thừa truyền thống  
kết hợp du tiên và sơn thủy trong thơ du tiên Quách Phác, là cầu nối của sự phát triển  
thơ du tiên từ Ngụy Tấn đến Thịnh Đường. Lư Chiếu Lân - một thành viên thuộc nhóm  
sơ Đường tứ kiệt, nhiệt huyết cầu tiên. Phong khí thời đại sùng đạo sâu sắc kết hợp với  
nỗi đau bệnh tật khiến ông càng ngưỡng mộ thần tiên, hi vọng cầu tiên để được giải  
thoát về nhục thể. Trong bài Hoài tiên dẫn, nhà thơ như nhìn thấy cảnh tiên lấp ló trong  
núi, tâm tình càng yêu mến bội phần. Những bài thơ liên quan đến đề tài thần tiên của  
Vương Bột đều được thi nhân sáng tác trong quá trình du lãm chốn núi rừng, sông suối.  
Trong bài Sơn cư vãn thiều tặng Vương đạo sĩ, Vương Bột xem đạo sĩ là bạn tiên, đạo  
quán là động tiên, du sơn là du tiên. Trong bài Hoài tiên, thi nhân xem nơi ở của tiên là  
chốn núi rừng. Ngoài ra, các bài Quan nội hoài tiên, Hốt mộng du tiên đều biểu đạt  
nhiệt tình tìm tiên của Vương Bột. Cảm ngộ thi của Trần Tử Ngang một lần nữa khẳng  
định hành trình du tiên trong núi, vào núi tìm tiên. Còn Xuân nhật đăng kim hoa quan  
thể hiện sự dung hợp giữa núi rừng và tiên cảnh, đạo sĩ với tiên nhân một cách sâu sắc.  
Khuynh hướng tiên hóa núi sông đặc biệt nở rộ ở thời Thịnh Đường và thể hiện  
tập trung trong thơ du tiên Lí Bạch. Người ta thường nói trong con người Lí Bạch vừa  
có khát vọng của một Đạo gia muốn siêu trần thoát tục, vừa có hoài bão của một hiệp  
khách băn khoăn cứu khốn phò nguy. Và tính chất nửa tiên nửa tục ấy cũng là một đặc  
điểm của thơ họ Lí. Sự thực trong cuộc đời, Lí Bạch từng là một giáo đồ nổi tiếng, và  
cầu tiên học đạo từng trở thành một bộ phận quan trọng trong cuộc sống của ông.  
50  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015  
Nhưng cầu tiên phỏng đạo không phải là cứu cánh, mà chỉ là phương tiện hoạt động  
chính trị. Ông cũng đã từng cùng những người ẩn dật lên núi Trúc Khê tập hợp thành  
nhóm “sáu vị ẩn dật ở núi Trúc Khê”. Song lối ẩn dật của ông không phải là trốn đời  
thoát tục, mà là ẩn mang tính chất chính trị. Ẩn là để chờ thời. Đời ông là một cuộc  
chơi hùng. Gót chân ông hầu như đã in dấu khắp những ngọn núi con sông nổi tiếng  
của Trung Quốc. Mỗi khi đắm say trong cảnh sắc núi sông, Lí Bạch thường có những  
bài thơ hay về du tiên xuất thế. Có lần, Lí Bạch leo lên ngọn núi Nga Mi, ngắm vầng  
trăng kì ảo giữa khung trời xanh ngắt, trong làn sương thu mỏng mảnh như ở chốn thần  
tiên. Đối diện với vẻ tú lệ của Nga Mi, Lí Bạch đã cho ra đời bài thơ Đăng Nga Mi sơn.  
Trong bài thơ này, Lí Bạch đã gọi Nga Mi là ngọn núi tiên của đất Thục mà những  
ngọn núi khác khó địch nổi. Trước cảnh khói mây dăng dăng khắp mặt, nhà thơ không  
khỏi có cảm giác thăng thiên giữa ban ngày. Nhưng một dải non sông gấm vóc đâu chỉ  
có Nga Mi hay Thanh Thành. Năm 25 tuổi, Lí Bạch đeo kiếm rời quê, từ biệt mẹ cha đi  
xa. Bắt đầu từ đây, vẻ đẹp của những ngọn núi con sông cứ ùa về bồi tụ châu thổ tâm  
hồn Lí Bạch: Hoa sơn, Tung sơn, Thái Bạch sơn, Lư sơn, Kính Đình sơn, Thái sơn...  
Trong bài thơ Đăng Thái Bạch phong, tác giả hầu như không nói tới cảnh vật tự nhiên  
nơi núi Thái Bạch. Trọng điểm toàn bài là nói về cảm giác ảo tưởng như được du tiên  
khi leo lên ngọn núi bản mệnh này. Núi Thái Bạch còn trở lại một lần nữa trong bài thơ  
Cổ phong số 5 của nhà thơ họ Lí. Nó không còn thuần túy là ngọn núi thực mà đã trở  
thành núi tiên, xuất hiện cả tiên nhân, và nhà thơ được tiên nhân trao cho dược pháp.  
Như vậy, Lí Bạch không chỉ là người “giữ lửa” thành công truyền thống kết hợp  
du sơn và du tiên, mà còn làm một cuộc chạy tiếp sức vẻ vang khiến núi sông tự nhiên  
được thăng hoa và tràn đầy tiên khí. Sơ, thịnh Đường chủ yếu tiên hóa núi sông, tiên  
hóa mĩ nữ, tiên hóa đạo sĩ. Đến thời trung, vãn Đường, các nhà thơ tiên hóa cả kĩ nữ,  
kết hợp du tiên và diễm tình, vàng son rơi hết, lộ chân thuần đời thường bình dị qua  
khuynh hướng tục hóa tiên cảnh, tiên nhân.  
Thiên đƣờng nơi trần thế  
Nhìn núi sông tự nhiên bằng cái nhìn tiên hóa, núi sông trở nên đẹp lạ lùng và  
ẩn chứa bao điều kì bí. Với tính chất tĩnh tại, hằng thường, núi là nơi lí tưởng nhất của  
cảnh quan thiên nhiên có thể giúp con người tu tiên luyện đạo. Các đạo sĩ lên núi cao,  
vào rừng sâu, hấp thu được nhiều dương khí, tu luyện mới nhanh thành công. Nếu chiết  
tự chữ Tiên (仙) chúng ta sẽ thấy nó có nghĩa là “người ở trong núi, ở trên núi” chữ Tiên  
bao gồm bộ nhân (人) viết đứng và chữ sơn (山). Núi là nơi các đạo sĩ của Đạo giáo ẩn  
thân, là không gian ẩn dật cao khiết. Thi nhân làm thơ du tiên, điều đó không đồng  
nhất với việc họ là tín đồ trung thành của Đạo gia và Đạo giáo, cũng như tác giả của  
những bài thơ Thiền không hoàn toàn là con chiên ngoan đạo của Phật Thích Ca Mầu  
51  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015  
Ni. Có thể ngoài đời, nhiều người trong số họ là đạo sĩ hay thiền sư, nhưng khi cầm  
bút, thơ họ là sự sống lên hương và hồn thi sĩ thăng hoa thành nghệ thuật. Đạo sĩ ẩn dật  
Thái Thượng từng có bài thơ như thế này:  
Phiên âm:  
Ngẫu lai tùng thụ hạ,  
Cao trẩm thạch đầu miên.  
Sơn trung vô lịch nhật,  
Hàn tận bất tri niên.  
(Đáp nhân)  
Dịch nghĩa:  
Hỏi đáp ở trong núi  
Tình cờ đến dưới gốc cây thông.  
Đầu kê cao trên hòn đá nằm ngủ.  
Trong núi không tính ngày theo lịch,  
Hết rét mà không biết là năm nào.  
(Lê Nguyễn Lưu dịch, Đường thi tuyển dịch, tập 1, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2007).  
Bài thơ gợi lên hình ảnh một đạo sĩ trong không gian ẩn dật: núi biếc. Đó là con  
người tự do tự tại, đến đi bất chợt, an nhàn thoát tục, gối đầu vào vũ trụ và bạn với vô  
cùng, giấc ngủ êm đềm, thanh thản. Dường như con người ấy không sống trong hiện tại  
mà sống bằng tâm tưởng, mơ màng về một cõi tinh thần cao khiết nên đạt tới trạng thái  
vô thời gian. Núi từ một không gian cụ thể trở thành không gian tượng trưng bay hết  
sắc màu - một biểu hiện đạt đạo của con người tràn ra ngoài cảnh vật.  
Người xưa thường lên núi với hai tư cách: hoặc như một thi sĩ ngao du sơn  
thủy, thưởng ngoạn danh lam, kiếm tìm thi hứng, hoặc như một ẩn sĩ lên núi tìm một  
nơi thanh sạch để lánh đời, tu tiên. Thực tế tu luyện có thành tiên hay không và thật sự  
có tiên hay chỉ là huyền thoại, điều đó còn tùy thuộc vào niềm tin tôn giáo của mỗi  
người. Còn Lí Bạch “ngũ nhạc tầm tiên bất từ viễn. Nhất sinh hiếu nhập danh sơn du”  
(Trên núi tìm tiên xa chẳng ngại. Cuộc đời chỉ thích núi non chơi). Công chưa bao giờ  
thành nên thân chưa bao giờ thoái. Lí Bạch không nhập thế song cũng chẳng đoạn đời.  
Thi sĩ như con hạc vàng cứ bay lên đáp xuống giữa khoảng chân thực và hư ảo để hát  
ca về cái đẹp treo lơ lửng giữa trần thế và thiên đường, cái đẹp vương vào lòng như  
những sợi tơ trời mỏng mảnh:  
Phiên âm:  
Quần tiểu bích ma thiên,  
Tiêu dao bất kế niên.  
Bát vân tầm cổ đạo,  
Ỷ thụ thính lưu tuyền.  
Hoa noãn thanh ngưu ngọa,  
Tùng cao bạch hạc miên.  
52  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015  
Ngữ lai giang sắc mộ,  
Độc tự há hàn yên.  
(Tầm Ung tôn sư ẩn cư)  
Dịch nghĩa: Tìm nhà ở ẩn của thầy Ung  
Núi lô nhô xanh biếc ngút trời,  
Rong chơi không cần kể năm.  
Vén mây tìm con đường cũ,  
Dựa cây nghe tiếng suối chảy.  
Trâu xanh nằm dưới bóng hoa ấm áp,  
Hạc trắng ngủ trên cành thông cheo leo.  
Chuyện trò đến khi sông ngả bóng chiều,  
Ta lại một mình xuống nơi khói lạnh.  
(Lê Nguyễn Lưu dịch, Đường thi tuyển dịch, tập 1, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2007)  
Bài thơ này có thể xem là điển hình cho khuynh hướng tiên hóa ẩn sĩ thành tiên  
nhân, núi xanh thành tiên cảnh. Thầy Ung vô ảnh, vô hình, nhưng thông qua việc miêu  
tả không gian núi biếc gắn liền với tiếng suối chảy, thông reo, hạc trắng, trâu xanh cũng  
cho thấy hình ảnh một con người đạt đạo. Trong bài Sơn trung vấn đáp, ông ngoạn du  
trong núi, cảnh đào hoa lưu thủy khiến thi nhân liên tưởng tới một cõi trời đất khác.  
Nhập thân vào cảnh, Lí Bạch đã quên ngay người đối thoại để thấy mình thành tiên ở  
chốn đào nguyên rồi.  
Qua cái nhìn tiên hóa của các thi nhân đời Đường, núi còn là con đường dẫn  
lên trời. Lên cao là lên với khí dương, khí sinh tạo, khác với xuống thấp là đến gần khí  
âm, khí đau thương, hủy diệt. “Các đạo sĩ đi ra khỏi cõi đời, đi vào trong núi, đó là một  
cách đồng nhất hóa với đường lên trời. Việc leo núi được hình dung như việc đi lên  
trời, như là phương tiện bước vào quan hệ với thần linh, trở về với khởi nguyên, lên  
cao là một bước tiến hướng tới giác ngộ”.[3-700]. Chính ở ý nghĩa này, núi trở thành  
nơi giao tiếp giữa thiên đường và mặt đất, “môi giới” cho con người mơ mộng để du  
tiên. Lưu Nguyễn du Thiên Thai của Tào Đường là một vận động du ngoạn Bồng Lai.  
Núi Thiên Thai trở thành không gian mồi mơ mộng và khi hồn người nhập mộng thì rơi  
ngay vào trạng thái không phân biệt giữa Trang Sinh và bướm vàng. Còn Lí Bạch “đi  
vào thế giới nhà trời không phải bằng cưỡi rồng gióng phượng bay lên, mà từ đất đi  
thẳng lên trời bằng những đỉnh cao của núi non, chùa chiền đã nối hai thế giới làm  
một” [4-95]. Thi sĩ trèo lên đỉnh núi Liên Hoa (Cổ phong, bài 19) cũng chính là hành  
trình du tiên bằng mộng ảo, trong đó núi Liên Hoa trở thành phương tiện hợp nhất  
người, trời. Núi Thiên Mụ (Mộng du Thiên Mụ ngâm lưu biệt) lại như chiếc thang bắc  
giữa mây xanh, nối thông thiên đường và trần thế:  
53  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015  
Phiên âm:  
Cước trước Tạ công lý,  
Thân đăng thanh vân thê.  
Bán bích kiến hải nhật,  
Không trung văn thiên kê.  
Dịch nghĩa: Chân mang giày Tạ công,  
Mình đi lên thang mây xanh.  
Đến lưng chừng vách núi thấy mặt trời ngoài biển.  
Nghe gà trời gáy vang không trung.  
(Lê Nguyễn Lưu dịch, Đường thi tuyển dịch, tập 1, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2007)  
Như vậy, núi chính là biểu tượng của sự siêu thăng của sự sống, lên núi cũng  
đồng nghĩa với việc thần du cõi trời, cõi mộng.  
Nhưng núi không chỉ là đường lên trời, mà leo lên tới đỉnh, các thi nhân còn  
phát hiện ra đó là nơi hội tụ của thần tiên. Thái sơn là một trong năm ngọn núi nổi  
tiếng, gọi chung là Ngũ Nhạc của Trung Hoa, tượng trưng cho sự may mắn, bền vững,  
thuận lợi, vì vậy được đế vương các triều hết sức sùng mộ. Sau khi lên ngôi, với tư  
cách là con trời (thiên tử), một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của các vị  
hoàng đế Trung Hoa là lên Thái sơn tế thần núi để cầu hưởng phúc lộc lâu dài, giữ  
vững quyền thống trị trong muôn vạn năm. Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế từng lên Thái  
sơn làm lễ. Lí Bạch cũng từng du ngoạn núi Thái và để lại cho đời chùm thơ trác tuyệt:  
Du Thái sơn lục thủ. Trong chùm thơ này, thi sĩ đã vận dụng thủ pháp khoa trương và  
trí tưởng tượng kì diệu nhằm biểu hiện vẻ thần kì, mĩ lệ của núi Thái. Sự “hòa huyết”  
giữa du tiên và sơn thủy đã tạo nên hình thức kết cấu vừa ẩn vừa hiện, thể hiện ý thức  
không, thời gian và cấu tứ nghệ thuật độc đáo của tác giả. Tầng sâu ý cảnh là sự kí thác  
tâm sự ngao ngán của Lí Bạch vì hoài bão to lớn mà không được thực hiện. Bài 1: Lí  
Bạch tập trung miêu tả cảnh trong núi, cơ hồ như tận mắt nhìn thấy những tiên nữ đang  
mỉm cười với ông. Bài 2: nhà thơ được tiên nhân tặng sách. Bài 3: gặp cả tiên đồng.  
Bài 4: thi nhân ở trong núi Thái, học kinh điển của Đạo giáo, lại nảy sinh ước vọng: An  
đắc bất tử dược. Cao phi hướng Bồng Doanh” (Ước gì được thuốc trường sinh. Bay  
cao lên tới Châu Doanh non Bồng). Bài 5: Đặt mình vào cảnh núi tráng lệ, thi sĩ tự  
nhiên liên tưởng tới tiên nhân cưỡi hạc, mất hút vào mây. Bài 6: hình ảnh tiên nhân đi  
xe du bích cũng thấp thoáng trong núi. Chùm thơ liên bài này thể hiện sự phát triển của  
tình tiết tự sự, từ gặp tiên, được tiên dẫn dắt đến nhớ về tiên, học theo tiên và cuối cùng  
là ngưỡng mộ thần tiên ước được như thần tiên, kết thúc hành trình du lãm ngoạn mục.  
Do ý thức trích tiên mạnh mẽ nên Lí Bạch nhìn đâu cũng ra tiên khí. Trong  
quá trình du lãm núi sông, ông thường có cảm giác lâng lâng như sắp gặp tiên. Lí  
Bạch du sơn như du tiên, du tiên như trở về quê cũ, gặp tiên nhân như gặp lại cố  
54  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015  
nhân, quen thuộc, thân thiết và đầy màu sắc lí tưởng. Khi trèo lên núi Lư nhà thơ  
nhìn thấy những vị tiên đang dạo gót trong mây, tay cầm những đóa phù dung đẹp.  
Trèo lên đỉnh núi Liên Hoa nhà thơ cũng thấy minh tinh tiên nữ từ xa hiện hình.  
Còn núi Thiên Mụ mặc dù nhà thơ mới chỉ du ngoạn trong mộng nhưng qua sự  
tưởng tượng của Lí Bạch nó cũng trở nên hùng vĩ lạ thường. Thiên Thai được tiếng  
là cao, cao một vạn tám nghìn trượng nhưng phải cúi rạp trước Thiên Mụ. Vượt lên  
Thiên Mụ, nhà thơ đã đi vào cõi trời:  
Phiên âm:  
Nghê vi y hề phong vi mã,  
Vân chi quân hề, phân phân nhi lai hạ.  
Hổ cổ sắt hề, loan hồi xa,  
Tiên chi nhân hề liệt như ma.  
Dịch nghĩa: Cầu vồng làm áo, gió làm ngựa,  
Thần mây bời bời bay xuống.  
Cọp gảy đàn, loan kéo xe,  
Người tiên đông như cỏ gai.  
(Lê Nguyễn Lưu dịch, Đường thi tuyển dịch, tập 1, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2007)  
Lại nhớ đến câu cách ngôn của Trương Trào: “Trong lòng mà có cảnh núi hang  
thì sống ở thành thị cũng như sống ở núi rừng, cảm hứng gửi vào mây khói thì Diên  
Phù cũng như Bồng Đảo”. Tiên cảnh, trần gian làm gì có lằn ranh? Tiên cảnh, trần gian  
chỉ cách nhau bằng một ý nghĩ. Du tiên nhưng thi nhân không đắc đạo triết lí siêu hình  
nào khác mà phát hiện ra một thiên đường nơi trần thế và giác ngộ triết lí về đời: cõi  
trần là thiên đường duy nhất. Và như vây, mộng là đi vào đời, du tiên là để khẳng định  
đời chứ đâu phải để thoát li cuộc sống?  
2.3. Nguyên nhân dẫn tới khuynh hƣớng tiên hóa núi sông trong thơ du  
tiên đời Đƣờng  
Như trên chúng tôi đã khẳng định, sự kết hợp giữa du sơn và du tiên đã xuất  
hiện từ thời Ngụy Tấn, điển hình với thơ du tiên của Quách Phác. Nhưng phải đến đời  
Đường, tiên hóa núi sông tự nhiên mới trở thành mạch chính trong dòng chảy của thơ  
du tiên. Điều này có cơ sở từ bối cảnh thời đại. Đường là thời đại hoàng kim của chế độ  
phong kiến, đồng thời cũng là đỉnh cao của văn hóa Trung Hoa. Sức nước hùng mạnh,  
kinh tế dồi dào, chính trị sáng sủa, chế độ dùng người không hẹp hòi thiển cận, văn hóa  
hòa đồng Nam - Bắc, giao lưu trong - ngoài. Đời sống tinh thần của văn nhân phát triển  
nên việc ngao du, thưởng ngoạn cảnh đẹp tự nhiên trở thành trào lưu phổ biến. Không  
khí lạc quan phấn chấn bao trùm thời đại cộng với cặp mắt nghệ sĩ khiến các nhà thơ  
nhìn đâu cũng phát hiện ra thơ tứ và phản ánh theo khuynh hướng mĩ hóa. Những ngọn  
55  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015  
núi, dòng sông từ ngàn xưa vẫn vậy, nhưng qua lăng kính tiên hóa của thi nhân, nó đã  
trở thành tiên cảnh giữa trần gian, là ốc đảo xanh tươi làm dịu mát hồn người.  
Nhưng thời thịnh trị của triều Đường cũng chỉ diễn ra trong khoảng một trăm năm,  
và ngay khi phát triển đến đỉnh cao cũng đã ẩn chứa mầm tai họa. Phiên trấn cát cứ, hoạn  
quan lộng quyền khiến đời sống nhân dân tiêu điều, li tán. Văn nhân thất ý trên con đường  
chính trị thường thích phóng du nơi đầu non vách suối, hi vọng suối trong có thể dập tắt lửa  
ưu phiền, non cao có thể xoa dịu vết thương tinh thần chưa kín miệng lên da. Tiên hóa núi  
sông tự nhiên thực chất là thi nhân muốn kiếm tìm sự cân bằng về tâm lí. Những gì không  
thực hiện được trong thực tế, họ không chôn chặt bằng cách đào sâu hang mạch đáy lòng  
mình, mà hóa giải bằng việc tưởng tượng ra một thế giới lí tưởng, nơi con người được trút  
bỏ mọi câu thúc hình hài, nhởn nhơ giữa muôn ngàn tiếng ca, với thiên tiên vui múa khúc  
Nghê Thường và mơ giấc mơ trường sinh bất tử.  
Nếu như nỗi sợ hãi là một trong những nguyên nhân làm nảy sinh tôn giáo  
thì nỗi sợ hãi cái chết, khát vọng trường sinh là kim chỉ nam để người Trung Hoa  
tìm đến với Đạo giáo. Chính thức xuất hiện vào cuối thời Đông Hán, đến đời  
Đường, Đạo giáo đã đạt được địa vị hiển hách. Một số ông vua thời Đường tự nhận  
là hậu duệ của Lão Tử, coi Đạo giáo là chính thống của hoàng gia, đặt Đạo giáo lên  
trên Nho giáo, Phật giáo, tôn Lão Tử làm thái thượng huyền nguyên hoàng đế. Đời  
Đường Huyền Tông đã có tới 1687 đạo quán được xây dựng ở khắp nơi. Bộ đạo  
tạng (tổng tập kinh sách Đạo giáo) cũng được hoàn thành dưới thời Đường Huyền  
Tông. Tư tưởng trung tâm của Đạo giáo là tư tưởng thần tiên, coi đắc đạo thành tiên  
là cảnh giới tối cao cần theo đuổi. Nhưng thế giới thần tiên trong quan niệm của  
Đạo giáo không phải được đẩy lên tít tắp mây xanh mà được thực hiện ngay trong  
thế giới hiện thực, được cụ thể hóa thành 36 động thiên, 72 phúc địa. Những động  
thiên phúc địa ấy thường gắn liền với những ngọn núi nổi tiếng trong thiên hạ.  
Không phải ngẫu nhiên mà các giáo phái của Đạo giáo trong quá trình hình thành và  
phát triển đều ở trên những ngọn núi nổi tiếng. Vì họ cho rằng núi là nơi cư trú tốt  
nhất của thần tiên khi hạ giáng phàm trần. Hầu như tất cả các ngọn núi trong thiên  
hạ đều được Đạo giáo xem là nơi ở của thần tiên. Rừng sâu hang thẳm luôn tràn đầy  
cái gọi là tiên phong đạo khí. Những quan điểm triết học, tôn giáo khi đi vào tâm  
thức người Trung Hoa không còn là những giáo điều, nghi thức mà đã được họ biến  
thành đạo sống, một triết lí sống thấm đẫm tinh thần nhân văn. Họ quan niệm trần  
thế mới là chân thực, thiên đường chỉ là hư ảo. Những ngọn núi được các nhà thơ  
đời Đường tiên hóa đa phần là động thiên phúc địa của Đạo giáo. Như Thái sơn,  
Hoa sơn, Nga mi sơn, Lư sơn, Thái Bạch sơn lần lượt là động thiên thứ 2, 4, 7, 8, 11  
trong 36 tiểu động thiên. “Sự phát triển của Đạo giáo và của thơ du tiên dưới ảnh  
56  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015  
hưởng của Đạo giáo nói lên rằng dân tộc Trung Hoa vốn thiếu một tư tưởng, một  
tình cảm tôn giáo mang tính siêu thoát” [2-225].  
3. KẾT LUẬN  
Tiên hóa núi sông, phát hiện ra một thiên đường nơi trần thế vừa thể hiện sự tinh  
tế trong cảm nhận vừa cho thấy chiều sâu của các thi nhân trong quan niệm nhân sinh. Sự  
thống nhất giữa du sơn và du tiên khiến tiên cảnh, tiên nhân vốn hư vô phiếu diễu trở nên  
gần gũi, có căn cứ cụ thể. Còn cảnh sắc núi rừng chân thực do có sự xuất hiện của dấu  
tiên mà thêm mông lung, thần bí, thêm lộng lẫy, nguy nga. Bất luận là núi rừng hay tiên  
cảnh, mĩ cảm đều được nâng cao. Hóa ra những Bồng Lai, Phương Trượng, Doanh  
Châu... chỉ là hư ảo, trần thế mới là thiên đường duy nhất. “Dẫu trong đề tài siêu nhiên  
như thơ du tiên thì ý nguyện của người Trung Quốc vẫn không xa lánh hiện thực mãi  
mãi” [2- 224] Con người du tiên qua xúc cảm về vẻ đẹp trần gian, với non xanh nước  
biếc hơn là tìm chỗ bám víu trong hư không thăm thẳm lại chính là con đường ngắn nhất  
để đạt đạo. Sống mãnh liệt với đời cũng chính là con người đã đạt đạo vậy.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]  
[2]  
Trần Lê Bảo, (2011), Giải mã văn học từ mã văn hóa, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.  
Lý Duy Côn (chủ biên), (2004), Trung Quốc nhất tuyệt, tâp 1, Nxb Văn hóa-  
thông tin, Hà Nội.  
[3]  
[4]  
Jean Chevalier Alain Gheerbrant, (1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới,  
Nxb Đà Nẵng, Trường viết văn nguyễn Du.  
Lê Đức Niệm, (1998), Diện mạo thơ Đường, Nxb Văn hóa- thông tin, Hà Nội.  
THE COUNTRY FARIZATION ORIENTATION IN WANDERING  
FAIRY’S POETRY IN THE AGE OF DUONG - DYNASTY  
Nguyen Thi Tuyet  
ABSTRACT  
Beginning from the age of Nguy Tan - Dynasty to the age of Duong – Dynasty,  
country “fairization” was became an outstanding orientation in fairy`s poetry. The  
poetess in the age of Duong – Dynasty discovered an earthly paradise: charming  
landscape was both a secluded space of Taoist hermit and a way, which guided to the  
sky, especially there was a convering of fairy – persons. Combination between the  
57  
pdf 17 trang Mãnh Khiết 15/01/2024 12200 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bước đầu tìm hiểu về Nguyễn Bảo và những bài thơ trong châu khê thi tập", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbuoc_dau_tim_hieu_ve_nguyen_bao_va_nhung_bai_tho_trong_chau.pdf