Giải mã những biểu tượng của thiên chúa giáo trong tác phẩm tội ác và hình phạt

TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 26. 2015  
GIẢI MÃ NHỮNG BIỂU TƢỢNG CỦA THIÊN CHÖA GIÁO  
TRONG TÁC PHẨM TỘI ÁC VÀ HÌNH PHẠT  
Nguyễn Thị Thúy Hạnh1  
TÓM TẮT  
Bài viết này hướng đến việc tìm hiểu và phân tích những biểu tượng của Thiên  
Chúa giáo trong tác phẩm nổi tiếng của Dostoevsky - tiểu thuyết Tội ác và Hình phạt,  
góp phần làm rõ hơn một phương diện nội dung và hình thức của tác phẩm. Mặt khác,  
qua việc phân tích các biểu tượng của Thiên Chúa giáo xuất hiện trong tiểu thuyết,  
chúng tôi muốn chỉ ra ảnh hưởng của tư tưởng Thiên Chúa giáo đến Dostoevsky, một  
điển hình cho mối quan hệ giữa tôn giáo và văn học.  
Từ khóa: Dostoevsky, Tội ác và Hình phạt, biểu tượng  
1. MỞ ĐẦU  
Trên phƣơng diện xã hội, chúng ta có thể nói rằng, tôn giáo và văn học nghệ  
thuật là sản phẩm xã hội do con ngƣời tạo ra và tồn tại vì con ngƣời. Tôn giáo mang  
đến cho con ngƣời niềm hy vọng vào cõi khác, vào thế giới siêu hình. Tôn giáo cũng là  
nơi nƣơng tựa khi con ngƣời thấy thân phận mình nhỏ bé, bất lực. Trong khi đó, văn  
học nghệ thuật giúp con ngƣời nhìn ra chiều sâu của đời sống, nhận thức sâu sắc hơn  
về bản thân và ngƣời khác, hƣớng đến giá trị Chân - Thiện - Mỹ và đƣa họ lại gần với  
niềm tin tôn giáo hơn.  
Nhìn trên góc độ mối quan hệ giữa tôn giáo và văn học thì tôn giáo là mảnh đất,tlôà́ t  
nguồ n cảm hứng dạt dào để nghệ sĩ sáng tạo. Những bộ sách tôn giáo kinh điển nhƣ Tam  
tạng kinh của Phật giáo, Cự u ướ c và Tân ước của Thiên Chúa giáo, Kinh Coran của Hồi  
giáo, Đạ o đứ c kinhcủa Lão Tử, Nam Hoa chân kinh của Trang Tử lại đầy hcất thơ, đậm tính  
văn chƣơng và là nguồn cảm hứng vô tận cho các nghệ sĩ ở mọi thời đại khai thác.  
Vì vậy, không lấy làm lạ khi Lev Tolstoy - nhà văn lớn của văn học Nga và thế  
giới tuyên bố : “Tôi sáng tác dƣớ i ánh sáng củ a Chú a” . Nói nhƣ vậy có nghĩa rằng, tƣ  
tƣởng Thiên Chúa giáo là ánh sáng soi tỏ cho tâm linh và tƣ tƣởng của nhà văn. Không  
phải riêng Lev Tolstoy, mà Dostoevsky - tác gia cùng thời với ông cũng chịu ảnh  
hƣởng sâu sắc bởi tƣ tƣởng Thiên Chúa giáo trong sáng tác, điển hình là tiểu thuyết Tội  
ác và Hình phạt. Bài viết này sẽ chỉ ra ảnh hƣởng của tƣ tƣởng Thiên Chúa giáo đến  
tiểu thuyết Tội ác và Hình phạt của Dostoevsky qua việc phân tích các biểu tƣợng của  
Thiên Chúa giáo tồn tại trong tác phẩm.  
1 ThS. Giảng viên khoa Việt Nam học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội  
41  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 26. 2015  
2. NỘI DUNG  
2.1. Khái niệm “Biểu tƣợng”  
Bằng hình tƣợng, nghệ thuật sáng tạo ra một thế giới hoàn toàn mang tính biểu  
tƣợng. “Trong nghĩa rộng, biểu tƣợng là đặc trƣng phản ánh cuộc sống bằng hình  
tƣợng của văn học nghệ thuật. Theo nghĩa hẹp, biểu tƣợng là một phƣơng thức chuyển  
nghĩa của lời nói hoặc một loại hình tƣợng nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm  
lớn, vừa khái quát đƣợc bản chất của một hiện tƣợng nào đấy, vừa thể hiện một quan  
niệm, một tƣ tƣởng hay triết lý sâu xa về con ngƣời và cuộc đời” [5; tr 24] - loại biểu  
tƣợng là hình tƣợng nghệ thuật thể hiện tập trung nguyên tắc phản ánh hiện thực, thông  
qua các mô hình đời sống của văn học nghệ thuật.  
Quá trình tạo nghĩa của mỗi biểu tƣợng thƣờng có lịch sử lâu đời hàng vạn năm,  
gắn liền với quá trình hình thành quan niệm về thế giới của con ngƣời cổ xƣa. Là hiện  
tƣợng lịch sử, biểu tƣợng cũng chịu sự chi phối của ngôn ngữ, tâm lí, quan niệm của  
dân tộc và thời đại. Mỗi nền văn hóa, tôn giáo hoặc truyền thống dân tộc có thể có cách  
dùng (hay hiểu) về một biểu tƣợng không thống nhất với nhau. Trong diễn trình lịch sử -  
văn hóa, ý nghĩa của biểu tƣợng không ngừng đƣợc bổ sung. Chẳng hạn, vẫn là một  
biểu tƣợng, nhƣng khi đi vào các tác phẩm văn học, biểu tƣợng ấy thƣờng in đậm dấu  
ấn cá tính sáng tạo của nhà văn, nhà thơ, nó có thể đƣợc bổ sung các nét nghĩa khác  
chƣa có trƣớc đó.  
Trong Tội ác và Hình phạt, Dostoevsky sử dụng những biểu tƣợng đã trở thành  
mẫu gốc trong văn hóa. Đó là những biểu tƣợng có tính phổ quát và thƣờng lặp lại  
trong các sáng tác văn học: nhận thức và bừng ngộ, thử thách và trừng phạt… Những  
biểu tƣợng này luôn luôn đi vào kinh nghiệm tinh thần của văn hóa nhân loại và một  
lần nữa đƣợc tái sinh qua tác phẩm để thể hiện tƣ tƣởng và cảm xúc của tác giả.  
Có thể nói, những biểu tƣợng trong văn hóa Thiên Chúa giáo đã góp phần quan  
trọng xây dựng nên nội dung, tƣ tƣởng, kết cấu tác phẩm Tội ác và Hình phạt. Bản  
thân Kinh Thánh của đạo Thiên Chúa đã hàm chứa trong đó rất nhiều biểu tƣợng mang  
ý nghĩa biểu trƣng, những biểu tƣợng này là những mẫu gốc, tồn tại trong chiều sâu  
của “vô thức tập thể” (C.G.Jung). Dostoevsky đã thực hiện nhiệm vụ của nhà văn, đó  
là “thời sự hóa” chiều sâu vô thức ấy, tái sinh một lần nữa những biểu tƣợng của Thiên  
Chúa giáo, tạo ra sự giao tiếp với các mẫu gốc vĩnh cửu và mang tính toàn nhân loại.  
Cội nguồn các biểu tƣợng của Thiên Chúa giáo trong Tội ác và Hình phạt, hẳn  
nhiên, liên quan đến ảnh hƣởng của tƣ tƣởng Thiên Chúa giáo tới nhà văn. Theo những  
ghi chép về tiểu sử Dostoevsky, cuốn sách đầu tiên và cũng là cuốn sách ám ảnh  
Dostoevsky suốt đời là Kinh thánh. Hồi nhỏ, cậu bé Phedor không chỉ thuộc lòng  
những câu chuyện ngụ ngôn về thế giới huyền thoại đã định hình dƣới sự sắp đặt của  
Chúa trong Kinh Cựu Ước, mà còn trăn trở trên những trang sách Jop trong Kinh Tân  
42  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 26. 2015  
Ước với những khổ đau cùng thử thách niềm tin của con ngƣời. Trong cuộc đời cũng  
nhƣ sự nghiệp văn học, Dostoevsky đã không ngừng đấu tranh để vƣợt qua những ám  
ảnh khủng khiếp về những mặt tối tăm của cuộc sống, định hƣớng vào Chúa và vào  
tình yêu thƣơng của ngƣời nông dân.  
2.2. Những biểu tƣợng của Thiên Chúa giáo trong Tội ác và hình phạt  
2.2.1. Biểu tượng tảng đá  
Khi còn trẻ, Dostoevsky đã say mê với bức Đức mẹ Xichxtin của Raphael mà  
ông đồng nhất với quan niệm về “thế kỷ vàng” lý tƣởng. Những bức họa của Tixieneg,  
Bartôlômêô về đề tài sự phục sinh của cô gái tội lỗi Marđalena trong Kinh Thánh cũng  
gợi cho ông nhiều suy tƣởng. Đề tài ngƣời phụ nữ nhƣ là hiện thân của cái đẹp và khát  
vọng hồi sinh đƣợc triển khai trong tiểu thuyết Thằng ngây và đƣợc phát triển trong  
Tội ác và Hình phạt với hình tƣợng Sonya.  
Biểu tƣợng “tảng đá” trong tác phẩm có nguồn gốc gắn với môtíp phục sinh trong  
văn hóa Thiên Chúa giáo. Không chỉ xuất hiện trong văn hóa Thiên Chúa giáo, môtíp  
“Phục sinh” (“sống lại”) còn có trong tín ngƣỡng của nhiều tôn giáo lớn trên thế giới.  
Chúng ta biết đến quan niệm về vòng luân hồi bất tận, từ kiếp này sang kiếp khác của  
ngƣời Ấn Độ, khát vọng “trƣờng sinh” nhờ tu tiên, thuốc tiên của Đạo giáo, hay quan  
niệm về sự “bất tử” của ngƣời Hy Lạp về thần linh. Khác với các tôn giáo trên, quan  
niệm về sự hồi sinh của đạo Thiên Chúa lại tránh không nói nhiều đến những điều ở  
ngoài trí tƣởng tƣợng của con ngƣời, tránh không gán cho thế giới bên kia những điều  
ta quen biết ở thế giới này, khƣớc từ những bí thuật, đồng bóng. Quan niệm “sống lại”  
của đạo Thiên Chúa về thân phận con ngƣời ở thế giới bên kia hình thành dần dần theo  
từng giai đoạn của lịch sử dân Chúa. Nó thể hiện một niềm lạc quan về nhân sinh,  
rằng: ngƣời ta sinh ra ở đời không phải là sự biến hóa vô định, cũng không phải là do  
nhân quả báo oán một cách tất định, mà đã đƣợc Đức Chúa an bài.  
Trong Thiên Chúa giáo, môtíp “Phục sinh” mang ý nghĩa cứu độ, ý nghĩa Thần  
học. Sự phục sinh của Đức Jesus là khởi điểm cho sự phục sinh chung của toàn thể  
nhân loại. Biến cố phục sinh không phải là một sự kiện riêng lẻ, mà là một biến cố khai  
mở hƣớng về tƣơng lai. Cuộc sống mới đƣợc sách Kinh Thánh diễn tả bằng những  
thành ngữ: sự sống, sự công chính, ơn cứu chuộc, ơn bình an, ơn tha thứ… Trong tác  
phẩm Tội ác và Hình phạt, Dostoevsky cũng tái sử dụng môtíp “phục sinh” của Thiên  
Chúa giáo. Trong đoạn cuối của tiểu thuyết, Dostoevsky viết về quá trình cải hóa của  
Raxkonikov: “Nhƣng đến đây đã bắt đầu một quá trình khác, quá trình cải hóa dần dần  
của một con ngƣời, quá trình tái sinh của nó, quá trình chuyển dần từ một thế giới này  
sang một thế giới khác, làm quen với một hiện thực mới mẻ, từ trƣớc đến nay chƣa  
từng biết đến. Nó có thể làm thành đề tài cho một câu chuyện kể mới…” - một quá  
trình mang ý nghĩa phục sinh đúng chất Kinh Thánh.  
43  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 26. 2015  
Gắn với môtíp phục sinh trong Kinh Thánh là biểu tượng tảng đá. Chi tiết tảng đá  
mà Raxkonikov giấu túi đồ cƣớp đƣợc gợi liên tƣởng tới biểu tƣợng tảng đá và ngôi  
mộ trống trong Kinh Thánh. Theo quan niệm của ngƣời Do Thái, vai trò của tảng đá  
đặt nơi ngôi mộ là không cho ngƣời sống vào trong mồ và không cho ngƣời chết ra  
khỏi mồ. Thế giới ngƣời chết và thế giới ngƣời sống hoàn toàn cách biệt. Tảng đá đƣợc  
lăn ra có nghĩa là cửa âm phủ đã mở toang. Trong Kinh Thánh, “tảng đá rất lớn”,  
“đƣợc canh giữ”, khi nó đƣợc “vần ra” nghĩa là quyền năng của Thiên Chúa đã chiến  
thắng âm phủ, chiến thắng sự chết. Theo ý nghĩa nguyên sơ, thì đá có tính chất cứng,  
bền, nặng, là biểu tƣợng của sức mạnh. Điều này giúp ta hiểu tại sao Kinh Thánh đã sử  
dụng nhiều hình ảnh đá tảng, dƣới những hình thức khác nhau, để gán cho Đấng Tiên  
Tri. Với ý nghĩa biểu trƣng bắt nguồn từ Kinh Thánh, tảng đá mà Raxkonikov giấu túi  
đồ cũng giống nhƣ ngôi mộ anh tự chôn mình. Khi anh tiết lộ và thú tội, tảng đá đó đã  
đƣợc vần ra khỏi ngực anh, điều đó cũng có nghĩa Raxkonikov đã dám đối diện với sự  
thực và tìm lại đƣợc niềm tin vào điều thiện.  
Trong Tội ác và Hình phạt, triết lý về sự sống và cái chết cũng đƣợc xây dựng  
trên cơ sở là ý niệm về sự sống và cái chết của Thiên Chúa giáo. Thiên Chúa giáo quan  
niệm, sự chết là hậu quả của tội, phạm tội là tìm đến sự băng hoại và “bởi tội lỗi mà có  
sự chết, thì sự chết đã trải qua trên hết thảy mọi ngƣời nhƣ vậy, vì mọi ngƣời đều phạm  
tội” [9; tr 185]. Cái chết không chỉ là giây phút cuối cùng của đời sống, mà còn là áp  
lực đè nặng lên con ngƣời, nhƣng đối với ai sống trong niềm tin vào Đức Kitô, cái chết  
không còn tác dụng. Trong sự phục sinh, tình yêu là thực tại chiến thắng và đem lại tự  
do cho mỗi ngƣời. Chính nhờ tình yêu của nàng Sonya mộ đạo và thánh thiện mà  
Raxkonikov còn sợi dây liên hệ với cuộc sống, chàng bắt đầu tin vào sự phục sinh của  
chính bản thân mình. Đó là “sự sống mới” đƣợc nói đến trong Kinh Thánh: “cũng nhƣ  
Đức Kitô, đƣợc sống lại từ kẻ chết” - Raxkonikov và Sonya cùng sống trong một đời  
sống mới , “trời mới đất mới”, “sẽ không có sự chết, cũng không có than khóc, kêu ca  
hay là đau đớn nữa” [9; tr 325].  
2.2.2. Biểu tượng cây thánh giá  
Theo nghĩa Thần học, trƣớc khi Chúa Jesus chịu khổ hình thì giá gỗ treo ông lên  
chỉ đƣợc gọi là cây thập giá, thập tự hoặc thập tự giá (không viết hoa), đó một hình  
thức xử tử của Đế quốc La Mã. Khi ấy, mọi ngƣời đều coi cây thập giá là một biểu  
tƣợng của cái chết, của sự ô nhục. Sau khi Chúa Jesus phục sinh từ cõi chết, lên trời  
vinh hiển thì cây thập giá trở thành một vật linh thiêng và đƣợc gọi là Thánh Giá (đƣợc  
viết hoa) ngụ ý tôn trọng. Cây thánh giá là biểu tƣợng thánh thiêng của Kitô Giáo, biểu  
tƣợng của sự cứu độ, hiện thân cho những lao khổ của Chúa, quyền năng của Chúa…  
Những huyền thoại này đã cố định và chuyển thể, đƣa “thánh giá” trở thành biểu tƣợng  
ăn sâu trong tâm thức văn hóa của ngƣời phƣơng Tây.  
44  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 26. 2015  
Trong lịch sử, trƣớc khi Chúa xuất hiện, ngƣời Rôma đã dùng thập giá để lên án  
tử hình cho các tội nhân. Vì vậy, thập giá tƣợng trƣng cho tử thần. Thập giá đƣợc tạo  
nên do hai thanh gỗ, một nằm và một đứng. Thanh nằm tƣợng trƣng cho cái chết trải  
rộng. Thanh đứng tƣợng trƣng cho sự sống vƣơn cao. Hai thanh bắc ngang nhau tƣợng  
trƣng cho sự tƣơng phản giữa sự sống và cái chết, giữa niềm vui và nỗi buồn, giữa  
khoái lạc và đau khổ, giữa ý muốn con ngƣời và ý muốn Thiên Chúa. Đặt “thanh chết”  
trên “thanh sống” là cách duy nhất để làm nên một thập giá.  
Nếu nhƣ thập giá là biểu tƣợng của cái chết, thì thánh giá là biểu tƣợng của tình  
yêu và sự khổ nạn. Khi Đức Chúa tắt thở trên cây thập giá thì cây thập giá trở thành cây  
cứu rỗi và đƣợc “thánh hóa”, trở thành biểu tƣợng của tình yêu, nỗi đau, đức hy sinh và  
sự vinh quang. Thập giá từ dụng cụ tra tấn con ngƣời đã trở thành thánh giá với ý nghĩa  
nhƣ một phƣơng tiện để đi vào một sự sống mới thông qua tình yêu của Đức Chúa.  
Trong tác phẩm, biểu tƣợng cây thánh giá xuất hiện vừa có ý nghĩa của sự chịu  
tội, vừa có ý nghĩa của sự cứu độ và tình yêu. Cây thánh giá mà Sonya trao cho  
Raxkonikov: “Khi nào anh đi đón lấy đau khổ, anh sẽ đeo. Anh đến em, em sẽ đeo vào  
cho anh, chúng ta sẽ cầu nguyện một lát và sẽ đi”. Cây thánh giá có ý nghĩa cứu độ cho  
linh hồn Raxkonikov và là sự an ủi cho những ngƣời khốn khổ nhƣ Sonya. Raxkonikov  
sẽ mang nó nhƣ gánh một sứ mệnh của sự sám hối, chịu tội về sau. Cây thánh giá cũng  
là tƣợng trƣng cho tình yêu thƣơng của Sonya dành cho Raxkonikov, một tình yêu đã  
lọc qua muôn vàn đau khổ và tủi nhục. Biểu tƣợng cây thánh giá trong tác phẩm là hy  
vọng về sự phục sinh một cuộc sống mới, là khát vọng hoàn nguyên của tâm hồn  
Raxkovnikov.  
2.2.3. Biểu tượng ánh sáng  
Ánh sáng là một trong những phép ẩn dụ thiêng liêng trong suốt Kinh Thánh. Cái  
đầu tiên mà Thƣợng Đế sáng tạo ra là ánh sáng, lời của Thƣợng Đế nhƣ ánh sáng của  
ngọn đèn trên suốt hành trình: “Nguồn sống ấy soi sáng cả nhân loại, chiếu rọi trong  
bóng tối dày đặc, nhƣng bóng tối không bao giờ dập tắt đƣợc ánh sáng” [10; tr 113].  
Trong ý niệm của con ngƣời, ánh sáng tƣợng trƣng cho điều thiện, bóng tối tƣợng trƣng  
cho điều ác: “Ai làm việc gian ác đều ghét ánh sáng, không dám đến gần ánh sáng, vì sợ  
tội ác mình phát hiện. Ngƣợc lại, ngƣời làm điều chân thật thích gần ánh sáng, vì ánh  
sáng phát hiện công việc tốt đẹp họ làm theo ý muốn của Thƣợng Đế” [10; tr 116].  
Trong đoạn Sonya đọc cho Raxconikov nghe phần Lazazo sống lại của Kinh  
Phúc Âm, chi tiết ánh sáng đƣợc miêu tả: “Mẩu nến đã lụi xuống rất lâu trong chiếc đế  
đèn mó méo, hắt một ánh sáng lù mù lên kẻ sát nhân và cô gái điếm tụ họp một cách  
kỳ lạ trong gian phòng khốn khổ, trƣớc pho sách vĩnh hằng”. Đây là chi tiết có ý nghĩa  
thắp sáng toàn bộ tác phẩm. Ánh sáng ấy là ánh sáng của khát vọng đƣợc trông cậy,  
45  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 26. 2015  
đƣợc cứu rỗi, khát vọng đƣợc “thanh lọc”. Khác với Marcel Proust khi viết về những  
nhân vật là gái bán hoa, kẻ giết ngƣời, đã đi theo hƣớng nghệ thuật suy đồi, thì  
Dostoevsky đã nâng những nhân vật của mình lên, cho họ đƣợc cứu rỗi bởi ánh sáng  
của thiên lƣơng và lòng nhân ái, khiến ngƣời đọc yêu mến, xót thƣơng và trân trọng.  
Xuất phát từ tƣ tƣởng “con ngƣời sinh ra không phải là để hƣởng hạnh phúc, con ngƣời  
phải xứng đáng với hạnh phúc, để xứng đáng với hạnh phúc bao giờ cũng phải trải qua  
đau khổ”, “Đau khổ là sự vĩ đại”, viên dự thẩm Porphiri tin vào sự phục sinh của chàng  
thanh niên lầm lạc Raxkonikov đang phải chịu đau khổ vì hệ tƣ tƣởng sụp đổ: “Chúa  
giữ gìn”, “chuẩn bị một cuộc sống cho anh”.  
Tuy nhiên, tƣ tƣởng Chính giáo và triết lí “trải nghiệm đau khổ” của Dostoevsky  
trong Tội ác và Hình phạt không có sức thuyết phục bằng niềm tin vào cuộc sống và sự  
giao cảm giữa ngƣời với ngƣời. Tình yêu của Sonya, một tình yêu nhẫn nại, vị tha và  
thầm lặng của cô dành cho anh, tình thƣơng yêu của cô dành cho những ngƣời sống  
xung quanh đã cứu rỗi Raxkonikov. Dostoevsky tâm niệm “Cái đẹp sẽ cứu thế giới!”,  
rộng hơn và chính xác hơn là “Tình yêu thƣơng sẽ cứu thế giới!” với một điều kiện: ngay  
bây giờ con ngƣời phải biết cứu lấy và gìn giữ chính cái đẹp và tình yêu thƣơng ấy.  
2.2.4. Biểu tượng những con số thần thiêng  
Thời Trung cổ đã có toán học và do đó có ngôn ngữ tƣợng trƣng toán học. Nhƣng  
những tƣợng trƣng toán học này đồng thời là những tƣợng trƣng thần học, bởi vì một  
thời gian dài bản thân toán học đƣợc xem nhƣ một thứ “số học thần thiêng”  
(Meletinski) và phục vụ cho nhu cầu giải thích những chân lý thần thánh. Do đó, ngôn  
ngữ toán học thời bấy giờ không phải là một ngôn ngữ độc lập - nói cho đúng, nó chỉ là  
một nhánh thuộc cây gia hệ ngôn ngữ Thiên Chúa giáo. Con số là yếu tố cốt yếu của tƣ  
tƣởng mỹ học, nó còn là tƣợng trƣng thần thiêng, là tƣ tƣởng của Thƣợng đế. Nghiên  
cứu con số trong nhiều tác phẩm văn học, chúng ta có thể thấy những con số này mang  
màu sắc của huyền thoại (huyền thoại đƣợc nhìn rộng ra theo quan niệm của khoa  
nghiên cứu huyền thoại học và ký hiệu học cấu trúc) [4]. Biểu tƣợng những con số thần  
thiêng trong Thiên Chúa giáo đƣợc tái hiện trong Tội ác và Hình phạt phần nào thể  
hiện tƣ tƣởng nghệ thuật và thế giới quan của tác giả.  
2.2.4.1. Biểu tượng con số 3  
Trong văn hóa thế giới, con số “3” mang ý nghĩa về sự hoàn chỉnh, biểu tƣợng  
của sự toàn thể, sự hoàn thành. Triết học phƣơng Đông thƣờng dùng các trạng thái,  
hình thể gắn với con số 3. Phật giáo dùng con số ba để biểu thị mối quan hệ của các ý  
niệm: “Tam bảo” (Phật - Pháp - Tăng), “Tam giới” (Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới),  
“Tam thời” (Quá khứ - Hiện tại - Vị lai), “Tam vô lậu học” (Giới - Định - Tuệ), Đạo  
46  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 26. 2015  
giáo nói đến “Tam đa” (Đa phúc, Đa lộc, Đa thọ), Nho giáo thì bàn về “Tam tài”  
(Thiên, Địa, Nhân). Trong đạo Hinđu, thần linh tối thƣợng cũng hiện hình thành ba  
(Trimurti: Brahma, Vishnu, Siva), các mặt sản sinh, bảo tồn và biến cải này ứng với ba  
thiên hƣớng (guna): Đông - Nam - Bắc…  
Con số “3” gắn với ba vị trí, ba lần của sự kiện (“sự bất quá tam”) và nhiều tôn  
giáo đã coi số “3” là con số thiêng. Trong Kinh Thánh nói tới sự hoàn hảo của Ba ngôi  
Thiên Chúa, ba vị khách thần linh đã thăm viếng Abraham tại Mamre [9; tr 17], ba lễ  
hội của Dân Chúa: Lễ Bánh, Lễ Mùa Gặt và Lễ Lều [9; tr 64-119], ba ngày và đêm  
Jonah ở trong bụng cá [9; tr 1036], ba ngày từ khi Chúa Giêsu chết tới khi Chúa sống  
lại [9; tr 213-215], Chúa phục sinh ba ngƣời, Phêrô chối Chúa ba lần, bản án của Chúa  
viết bằng ba ngôn ngữ, ba chứng nhân “Nƣớc, Máu, Thần Khí” [9; tr 106-138]…  
Trong tác phẩm Tội ác và Hình phạt, con số “3” xuất hiện nhiều lần đều có ý  
nghĩa thể hiện dụng ý nghệ thuật của nhà văn.  
Khi Raxkonnikov đến nhà mụ già Aliona Ivanovna để thực hiện ý đồ giết  
ngƣời, anh giật chuông cửa ba lần. Đó là tiếng chuông khai tử cho cái chết của  
Aliona Ivanovna và Lizaveta, nhƣng trƣớc hết, là tiếng chuông khai tử cho chính  
Raxkonikov, đúng nhƣ lời anh tự thú với Sonya: “Tôi giết tôi, chứ không phải giết  
mụ già? Đến đấy, tôi đã tự tiêu diệt ngay tức khắc, vĩnh viễn tự tiêu diệt!…”. Lúc  
này, con số 3 có ý nghĩa nhƣ sự khởi đầu cho vòng quay: tội ác - sám hối - phục  
thiện của Raxkonikov.  
Con số 3 còn trở đi trở lại nhiều lần nữa trong tác phẩm. Raxkonikov ba lần nói  
chuyện với Moorpherin, ba lần nói chuyện với Sonya. Để xây dựng kết cấu tác phẩm,  
nhà văn triển khai ba tuyến nhân vật.  
Là bội của con số 3, con số 30 cũng là con số thần thiêng theo kinh điển Thiên  
Chúa giáo. Con số 30 là tích số của 3 và 10. Trong đạo Thiên Chúa, đó là số ngày than  
khóc Aaron qua đời [9; tr 181]. Dân Do Thái sống bên Ai Cập 430 năm, 400 năm nhƣ nô  
lệ và 30 năm tự do. Chúa Kitô sống 30 năm tại Nazareth nhƣ một ngƣời tự do và sống  
3 năm với vai trò của Đấng cứu thế chu toàn sứ mệnh của mình. Chúa Giêsu đạt đƣợc  
30 tuổi khi bắt đầu rao giảng [9; tr 70], Giuse cũng tuổi đó khi làm việc [9; tr 47-63],  
David bắt đầu làm vua cũng vào 30 tuổi [9; tr 342-343]…  
Trong Tội ác và Hình phạt, ngoài số 3, con số 30 cũng xuất hiện một cách đầy  
dụng ý. Ba mƣơi cô pếch là khoản tiền số tiền bán mình của Sonya, số tiền mà Sonya  
bán mình để nuôi gia đình. Ba mƣơi cô pếch cũng là khoản tiền tội lỗi mà Giuđa bán  
Chúa. Trong cuối câu chuyện về Sonya, Marmelazov tha thiết nhắc đến Chúa và hy  
vọng vào “Ngày phán xử cuối cùng”: “Chỉ có đấng vẫn hằng thƣơng xót và thông hiểu  
đƣợc vạn vật, chúng sinh, chỉ có Ngƣời mới sẽ thƣơng hại chúng ta. Ngƣời là Đấng Vô  
47  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 26. 2015  
song, Ngƣời là Đấng phán xử tối cao. Rồi ngày ấy Ngƣời sẽ đến và sẽ phán hỏi: Đâu  
rồi, ngƣời con gái đã bán mình để nuôi ngƣời dì ghẻ phế lao và ác nghiệt, nuôi mấy  
đứa con của kẻ khác? Đâu rồi, ngƣời con gái đã rủ lòng thƣơng hại ngƣời bố phàm trần  
nghiện rƣợu, ăn hại mà không hề ghê sợ cái tính thô bỉ thú vật của hắn: Và Ngƣời sẽ  
phán: “Lại đây con! Ta đã tha thứ cho con một lần rồi, nay ta lại tha thứ tội lỗi cho con  
vì con đã rộng lòng yêu thƣơng”. Dostoevsky đã đƣa nguyên văn câu của Jesus nói với  
Magadalena, một ngƣời đã sống phóng đãng trong Phúc âm vào lời nhân vật của mình,  
điều này cho thấy, con số “30” xuất hiện không hề ngẫu nhiên, mà theo ý đồ nghệ thuật  
của tác giả. Sonya bán mình nhƣng linh hồn nàng sẽ đƣợc Chúa thƣơng xót và cƣu  
mang, vì nàng đã sống yêu thƣơng và vì tình yêu thƣơng ấy mà hy sinh bản thân.  
Hy vọng vào sự hiện diện và cứu độ của Chúa là nguồn an ủi cho tâm linh những  
con ngƣời cùng khổ nhƣ Marmelazov. Gia đình Marmelazov tƣợng trƣng cho sự khốn  
cùng của thế giới, minh chứng cho nỗi đau khổ của loài ngƣời. Mỗi nhân vật là một bi  
kịch, một câu chuyện, một tính cách, một lý tƣởng, đặt trong sự va chạm, đối thoại, đối  
chiếu với những nhân vật khác, “giọng nói khác”. “Lí giải thế giới có nghĩa là suy nghĩ  
tất cả các nội dung của nó nhƣ là những cái đồng thời và phỏng đoán mối quan hệ của  
chúng trong mặt cắt của một thời điểm” [2; tr 28] chính là đặc điểm của thi pháp “tiểu  
thuyết đa thanh” Dostoevsky.  
2.2.4.2. Biểu tượng con số 7  
Trong văn hóa thế giới, số 7 tƣơng ứng với bảy ngày trong một tuần, bảy hành  
tinh theo quan niệm của ngƣời Hy Lạp và La Mã, hoa hồng bảy cánh tƣợng trƣng cho  
bảy tầng trời. Là tổng của con số 3 (con số Thƣợng giới) với con số 4 (trật tự trần thế),  
số 7 có ý nghĩa là quyền năng mạnh nhất của mặt trời. Con số 7 còn tƣợng trƣng cho  
sự thành tựu sinh hóa cả vũ trụ không gian (Đông, Tây, Nam, Bắc), Thời gian (Quá  
khứ, Hiện tại, Tƣơng lai), Thất bửu (Vàng, Bạc, Lƣu ly, Pha lê, Xa cừ, Trân châu, Mã  
não). Ở châu Âu thời Trung cổ, ngƣời ta cho rằng, có bảy mặt trời hoạt động xung  
quanh và chiếu sáng cho trái đất. Số 7 đem lại sức sống cho vạn vật, đem lại ánh sáng  
và hy vọng cho loài ngƣời. Một truyền thuyết của Đạo Phật kể rằng, Đức Phật lúc mới  
sinh ra đã đo vũ trụ bằng những bƣớc đi theo bốn hƣớng, mỗi hƣớng bảy bƣớc. Bốn  
giai đoạn của cuộc thử nghiệm giải thoát của đức Phật tƣơng ứng với các đợt dừng  
chân mỗi đợt bảy ngày. Ngƣời phƣơng Đông tin rằng, trong suốt tháng bảy (âm lịch)  
tất cả linh hồn trên thiên đƣờng và địa ngục sẽ trở lại dƣơng gian. Mỗi kỳ mặt trăng  
kéo dài bảy ngày và bốn kỳ mặt trăng (7x4) khép lại một chu kỳ. Nhìn chung, số 7  
“tƣợng trƣng cho một chu kỳ hoàn chỉnh, một sự hoàn thiện năng động” [3; tr 69].  
Trong văn hóa Thiên Chúa giáo, số 7 cũng đƣợc coi là con số quan trọng. Số 7  
đƣợc dùng 77 lần trong Kinh Cựu ước [3; tr 71]. Chẳng hạn, cây đèn nến có bảy  
48  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 26. 2015  
nhánh, bảy vị thần nghỉ ngơi trên cành Jenssé; bảy tầng trời, nơi ngự của các thiên  
thần, Salomon xây dựng đền thờ trong bảy năm... Con số 7 còn đƣợc gắn với “một  
điềm chiêm bao” trong giấc mộng của Pharaon mà Giuse đã giải: bảy con bò mập tốt  
ứng với bảy năm no đủ, bảy gié lúa là bảy năm đói kém [9; tr 49]. Ở tác phẩm Tội ác  
và Hình phạt, con số 7 gắn với thời gian bảy năm đi đày lao động khổ sai của  
Raxkonikov: “Bảy năm, chỉ bảy năm thôi? Trong thời gian đầy hạnh phúc, có nhƣng  
lúc cả hai ngƣời sẵn sàng coi bảy năm ấy nhƣ bảy ngày. Thậm chí chàng cũng không  
biết rằng cuộc sống mới không phải sẽ tự đến cho chàng hƣởng không, rằng còn phải  
mua nó với một giá rất đắt: với một kỳ công to lớn sau này…”. Trong Kinh Thánh,  
ngày thứ bảy, năm thứ bảy là thời gian nghỉ ngơi: “Cứ bảy năm, những tôi tớ đƣợc  
giải phóng, những con nợ đƣợc miễn nợ” [3; tr 71]. Cũng với ý nghĩa này, thời gian  
bảy năm đi đày chính là hành trình trở lại với nhân thế của Raxkonikov. Thời điểm  
mãn hạn tù chính là thời điểm Raxkonikov đƣợc giải phóng. Giống nhƣ ý nghĩa về  
con số 7 trong văn hóa Thiên Chúa giáo và văn hóa nhân loại nói chung, con số bảy  
năm trong tác phẩm ám chỉ sự hoàn thành của một chu kỳ năng động, tạo nên một sự  
thay đổi tích cực trong tâm lý và con ngƣời Raxkonikov, đó chính là “kỳ công to lớn”  
mà Dostoevsky đã nói đến.  
Trên cơ sở mối quan hệ chính yếu “bất khả tƣơng dung” giữa Thiện và Ác, Nhẫn  
tâm và Nhân từ, Hình phạt và Cứu rỗi, Dostoevsky đã đặt Raxkonikov vào tình thế đối  
lập, nhằm khai thác sự xung đột giữa cái vị tha và cái vị kỷ bên trong con ngƣời, giữa  
phần đạo đức thẩm mỹ trong tâm hồn và phần phi nhân tính trong tƣ tƣởng của nhân  
vật. Bằng một kết thúc mở về tƣơng lai, nhà văn đã không lí giải số phận của nhân vật  
từ sự đối đầu tất yếu của các qui luật có tính xã hội - lịch sử, mà từ lôgich phát triển  
biện chứng của tính cách trong sự vận động. Đây chính là điểm khác biệt của  
Dostoevsky khi xây dựng các nhân vật đa diện và lí giải mối quan hệ thiện - ác so với  
Kinh Thánh và các tác giả khác từng khai thác đề tài truyền thống này nhƣ S. Shepkin,  
M. Petrovski, A. Franc, M.O. Silva, Ts. Aitmatov, Bulgakov…  
Lúc còn sống, Dostoevsky đã từng ao ƣớc, nƣớc Nga với tƣ tƣởng Chính giáo sẽ  
trở thành “dân tộc mang mình Chúa”, giúp cho nhân loại trở về với gốc nền đạo đức.  
Vì thế, Dostoevsky gọi tác phẩm của mình là tiểu thuyết cảnh tỉnh. Ông viết nó ra vì  
tƣơng lai nƣớc Nga, vì tƣơng lai xã hội loài ngƣời, vì chính con ngƣời. Xã hội mà  
Dostoevsky khao khát cũng là xã hội mà chúng ta mong ƣớc, một xã hội tốt và đẹp nhƣ  
Dostoevsky hằng mong muốn cho tƣơng lai nƣớc Nga, dù đúng nhƣ nhà thơ Anh  
Wystan Hugh Auden nói: “Xây dựng một xã hội trên cơ sở những điều Dostoevsky đã  
nói là không thể đƣợc, nhƣng xã hội nào quên những điều ông nói không xứng đáng  
đƣợc gọi là xã hội loài ngƣời” [6; tr 148].  
49  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 26. 2015  
3. KẾT LUẬN  
Có thể nói, việc giải mã ý nghĩa những biểu tƣợng của Thiên Chúa giáo trong Tội  
ác và Hình phạt là một cách thức nghiên cứu cần thiết để hiểu sâu hơn về tác phẩm và  
tƣ tƣởng tác giả. Những biểu tƣợng này bắt nguồn từ Thiên Chúa giáo nguyên thủy, từ  
triết học, nhƣng khi đi vào tiểu thuyết của Dostoevsky, chúng đã đƣợc diễn hóa, tạo  
thành những tầng nghĩa mới.  
Biểu tƣợng nói chung luôn thực hiện chức năng truy tìm và diễn đạt ý nghĩa  
trong cuộc phiêu lƣu tinh thần của con ngƣời ở mọi không gian và thời gian. Biểu  
tƣợng tự thân nó luôn khơi gợi, thôi thúc sự khám phá đối với mỗi cá nhân và  
cộng đồng. Trong nghiên cứu văn học, lý giải đƣợc tính quan niệm trong hệ thống  
biểu tƣợng của mỗi tác phẩm, thấu hiểu các tầng nghĩa của biểu tƣợng sẽ giúp  
chúng ta hiểu sâu hơn tƣ tƣởng thẩm mỹ của tác giả, nhận ra đƣợc mối liên hệ  
giữa môi trƣờng văn hóa và sự kết tinh của các giá trị văn hóa dân tộc trong tâm  
thức của nhà văn.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]  
[2]  
Lại Nguyên Ân (2003), 150 Thuật ngữ văn học, Nxb. ĐHQG Hà Nội.  
M.Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp tiểu thuyết Đôtxtôiepxki - Bản dịch  
của Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vƣơng Trí Nhàn. - Nxb. Giáo dục, Hà Nội.  
Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới,  
Phạm Vĩnh Cƣ (chủ biên), Nxb Đà Nẵng, Trƣờng Viết văn Nguyễn Du, TP. Hồ  
Chí Minh.  
[3]  
[4]  
[5]  
[6]  
[7]  
[8]  
[9]  
E.M.Meletinsky (2004), Thi pháp của huyền thoại, Trần Nho Thìn, Song Mộc  
(dịch), Nxb. ĐHQG Hà Nội.  
Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2006), Từ điển thuật ngữ văn học  
(tái bản lần 1), Nxb. Giáo dục, Hà Nội.  
Đỗ Hải Phong biên soạn và tuyển chọn (2006), Phêđor Mikhailôvich  
Đôtxtôiepxki, Nxb. Đại học Sƣ phạm, Hà Nội.  
Phedor Dostoevsky (1973), Tội ác và Hình phạt, tập 1, Ngƣời dịch: Trƣơng  
Đình Cử, Nxb. Khai Trí, Sài Gòn.  
Phedor Dostoevsky (1973), Tội ác và Hình phạt, tập 2, Ngƣời dịch: Trƣơng  
Đình Cử, Nxb. Khai Trí, Sài Gòn.  
Kinh Thánh (1995), Cựu - ước và Tân - ước, Việt Nam: United bible societies.  
[10] Thánh kinh Tân ước (bản diễn ý) (1987), Nxb. Lời Hằng Sống.  
50  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 26. 2015  
DECODE THE CHRISTIAN SYMBOL IN CRIME AND  
PUNISHMENT OF DOSTOEVSKY  
Nguyen Thi Thuy Hanh  
ABSTRACT  
This paper aims to study and analyse the Christian symbol of Crime and  
Punishment - one of the Dostoevsky’s famous works, we want to contribute to prove  
one of its aspects. Alternatively, we approve to analyse the Christian symbols of this  
work, we want to indicate the Christian’s influence with Dostoevsky - a typical of the  
relationship between religion and literature.  
Key words: Dostoevsky, Crime and Punishment, symbol  
51  
pdf 11 trang Mãnh Khiết 15/01/2024 17500 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giải mã những biểu tượng của thiên chúa giáo trong tác phẩm tội ác và hình phạt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiai_ma_nhung_bieu_tuong_cua_thien_chua_giao_trong_tac_pham.pdf