Nhận dạng Tiếng Việt nói sử dụng bộ công cụ Kaldi
Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Hồng Quang, Trịnh Văn Loan, Phạm Ngọc Hưng
NHẬN DẠNG TIẾNG VIỆT NÓI SỬ DỤNG BỘ CÔNG CỤ KALDI
Nguyễn Thị Thanh1, Nguyễn Hồng Quang1, Trịnh Văn Loan1, Phạm Ngọc Hưng2
1Viện Công nghệ Thông tin và Truyền thông, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
2
Khoa Công nghệ thông tin, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên
Tóm tắt: Nhận dạng tiếng nói ngày càng được ứng thanh điệu khác nhau. Năm 2001, Nguyễn Quốc
dụng trong nhiều lĩnh vực như tổng đài tự động; Cường và cộng sự [3] đã sử dụng tần số cơ bản F0
an ninh bảo mật; tìm kiếm bằng giọng nói…, tuy làm tham số sử dụng cho mô hình Markov ẩn để
nhiên chất lượng nhận dạng đang là vấn đề đáng nhận dạng thanh điệu của từ phát âm rời rạc với độ
chính xác 94%. Năm 2008, Vũ Tất Thắng và cộng
sự [4] đề xuất phương pháp nhận dạng thanh điệu
sử dụng mạng nơ ron perceptron. Bài toán phức tạp
nhất đó là nhận dạng tự động tiếng Việt nói từ vựng
lớn. Năm 2005, Vũ Tất Thắng và cộng sự [5] đã thử
nghiệm với tập các âm vị không bao gồm thông tin
thanh điệu, các bộ tham số MFCC (Mel Frequency
Cepstral Coeff cient) và PLP (Perceptual Linear
Prediction) được sử dụng để mô hình hóa mô hình
âm học của các âm vị với độ chính xác nhận dạng
đạt được 86,06%. Năm 2010, TS. Nguyễn Hồng
Quang và cộng sự [6] đã tích hợp thông tin thanh
điệu cho các âm vị và kết quả nhận dạng đạt được
là rất khả quan.
quan tâm nhất. Kaldi là một bộ công cụ mới được
phát triển năm 2009. Kaldi được giới thiệu tại
hội thảo diễn ra ở trường Đại học Johns Hopkins
University với tiêu đề “Phát triển hệ thống nhận
dạng tiếng nói chi phí thấp, chất lượng cao cho các
miền và các ngôn ngữ mới” (“Low Development
Cost, High Quality Speech Recognition for New
Languages and Domains”). Trong bài báo này mô
tả hệ thống nhận dạng tiếng Việt nói được xây dựng
dựa trên bộ công cụ Kaldi. Bài báo cũng đánh giá
chất lượng của hệ thống dựa trên việc đánh giá tỷ
số WER của các mô hình âm học. Hệ thống đã cho
ra kết quả vượt trội so với các bộ công cụ trước đó
với tiếng Việt.
Các nghiên cứu trên chưa đề cập đến ứng dụng các
mô hình âm học tiên tiến cũng như ảnh hưởng của
trọng số mô hình ngôn ngữ đến kết quả nhận dạng
tiếng Việt nói. Trong bài báo này, bộ công cụ Kaldi
được chọn vì hỗ trợ hiệu quả những vấn đề trên. Và
hơn thế nữa, Kaldi cho chất lượng nhận dạng cao
hơn các bộ công cụ nhận dạng tiếng nói khác như
HTK, Sphinx hay Alize… Christian Gaida và cộng
sự [7] đã đánh giá trên quy mô lớn các bộ công
cụ nhận dạng tiếng nói mã nguồn mở bao gồm
bộ công cụ HTK (bộ giải mã HDecode), Julius,
PocketSphinx, Sphinx-4 và Kaldi. Họ điều chỉnh
các hệ thống và chạy thử nghiệm trên tiếng Đức và
tiếng Anh. Kết quả thí nghiệm cho thấy Kaldi chạy
nhanh hơn so với tất cả các bộ công cụ nhận dạng
khác. Kaldi huấn luyện và giải mã theo kỹ thuật
đường ống bao gồm các kỹ thuật cao cấp nhất, điều
này cho phép hệ thống đạt kết quả tốt nhất trong
thời gian ngắn. Kết quả chạy thử nghiệm được mô
tả ở hình 1.
Từ khóa: Nhận dạng tiếng nói; tiếng Việt nói; bộ
công cụ nhận dạng Kaldi; mô hình ngôn ngữ; mô
hình âm học; từ điển phát âm.1
I. GIớI THIỆU
Nhận dạng tiếng nói và đặc biệt cho tiếng Việt là
một lĩnh vực nghiên cứu phát triển mạnh trong
những năm gần đây. Năm 2003, Đặng Ngọc Đức
[1] đã sử dụng mạng nơ ron và mô hình Markov
ẩn cho nhận dạng tiếng Việt nói. Năm 2004, Bạch
Hưng Khang [2] đã phân tích các đặc điểm của
tiếng Việt bao gồm ngữ âm, thanh điệu,… trong
bài toán nhận dạng và tổng hợp tiếng Việt nói. Một
đặc điểm rất quan trọng của tiếng Việt là thanh điệu
tính, nghĩa là tiếng Việt bao gồm một hệ thống sáu
Tác giả liên hệ: Nguyễn Thị Thanh,
email: [email protected]om
Đến tòa soạn: 11/10/2016, chỉnh sửa: 01/01/2016, chấp
nhận đăng: 09/01/2017.
Tạp chí KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Số 3 - 4 (CS.01) 2016
7
THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
NHẬN DẠNG TIẾNG VIỆT NÓI SỬ DỤNG BỘ CÔNG CỤ KALDI
Thời gian cho việc thiết lập, chuẩn bị, chạy và tối dàng sửa đổi và mở rộng. Kaldi có các tính năng
ưu hóa cho các bộ công cụ lớn nhất với HTK, ít quan trọng: hỗ trợ số học tuyến tính mở rộng gồm
hơn là Sphinx và ít nhất là Kaldi. Bộ công cụ nhận một thư viện ma trận với gói BLAS và các chương
dạng họ Sphinx (PocketSphinx và Sphinx-4) không trình con LAPACK; thiết kế mở rộng, bộ giải mã
bao gồm tất cả các kỹ thuật tích hợp trong một như có thể làm việc với các mô hình khác, chẳng hạn
Kaldi, do đó dẫn đến độ chính xác thấp hơn. HTK như mạng nơ ron; giấy phép mở cho phép sử dụng
là bộ công cụ khó nhất, mặc dù các kết quả thu thuận tiện.
được tương tự với Sphinx, tuy nhiên thiết lập hệ
B. Cấu trúc bộ công cụ Kaldi
thống cần tốn thời gian. So sánh với các bộ nhận
dạng khác, hiệu năng vượt trội của Kaldi được xem
như là cuộc cách mạng trong công nghệ nhận dạng
tiếng nói mã nguồn mở.
Kaldi gồm một thư viện, các bộ chương trình dòng
lệnh và kịch bản cho các mô hình âm học. Kaldi
triển khai nhiều bộ giải mã để đánh giá các mô
hình âm học, sử dụng huấn luyện Viterbi cho việc
ước lượng mô hình âm học. Chỉ trong trường hợp
đặc biệt của huấn luyện discriminative thích nghi
người nói thì được mở rộng sử dụng thuật toán
Baum-Welsh. Các kiến trúc của bộ công cụ Kaldi
có thể được tách thành các thư viện Kaldi và các
kịch bản huấn luyện. Các kịch bản này truy cập vào
các hàm của thư viện Kaldi qua các chương trình
dòng lệnh. Thư viện Kaldi C++ được xây dựng dựa
trên thư viện OpenFST [9]. Các hàm này có liên
quan đến nhau và thường được nhóm trong một tên
miền trong mã nguồn C++ mà tương ứng với một
thư mục trên một hệ thống tập tin. Các ví dụ của tên
miền và các thư mục được thể hiện trong hình 2.
Hình 1. Tỷ lệ lỗi nhận dạng từ WER trên tập kiểm thử VM1
(tiếng Đức) và tập WSJ1 November ’93 (tiếng Anh)
Hiện tại đã có một số nghiên cứu về nhận dạng
tiếng Việt nói, tuy nhiên đa phần mới chỉ sử dụng
bộ công cụ HTK [6]. Do vậy mục tiêu nghiên cứu
của bài báo là xây dựng bộ công cụ nhận dạng tiếng
Việt nói sử dụng bộ công cụ Kaldi, thử nghiệm các
kỹ thuật tiên tiến trong Kaldi để đánh giá khả năng
của Kaldi với tiếng Việt.
External Libraries
BLAS/LAPACK
OpenFST
Phần tiếp theo của bài báo sẽ giới thiệu bộ công
cụ nhận dạng tiếng nói Kaldi, phần III mô tả
phương pháp xây dựng bộ nhận dạng tiếng Việt
nói sử dụng bộ công cụ Kaldi và các giải pháp tối
ưu cho hệ thống. Phần IV là kết luận và hướng
phát triển tiếp theo.
Kaldi C++ Library
Matrix
GMM
Utils
LM Tree
FST ext
Feat
SGMM
HMM
Transforms
Decodable
Decoder
Kaldi C++ Executables
(Shell) scripts
II. GIớI THIỆU bộ CÔNG Cụ NHẬN dạNG
TIếNG NóI KAldI
A. Giới thiệu bộ công cụ Kaldi
Hình 2. Kiến trúc bộ công cụ Kaldi
Kaldi là bộ công cụ nhận dạng tiếng nói được viết Các mô-đun thư viện có thể được nhóm lại thành hai
bằng C++, được cấp phép theo giấy phép Apache nửa riêng biệt, mỗi nửa phụ thuộc vào một trong các
2.0 [8]. Kaldi được thiết kế cho các nhà nghiên cứu thư viện bên ngoài. Mô-đun DecodableInterface là
nhận dạng tiếng nói. So với các bộ công cụ nhận cầu nối hai nửa này.
dạng tiếng nói khác, Kaldi tương tự như HTK về
mục đích và phạm vi. Mục đích là để có mã nguồn
hiện đại và linh hoạt được viết bằng C++, có thể dễ
Kaldi thực thi bằng cách tải đầu vào từ các tập tin
và lưu trữ kết quả tới các tập tin một lần nữa. Ngoài
Tạp chí KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Số 3 - 4 (CS.01) 2016
8
THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Hồng Quang, Trịnh Văn Loan, Phạm Ngọc Hưng
ra, đầu ra của một chương trình Kaldi có thể được Trong mô hình này, mô hình âm học (AM) là trái
đưa vào lệnh kế tiếp sử dụng hệ thống đường ống tim của nhận dạng tiếng nói. Các AM cho phép ước
(pipe). Thường có nhiều lựa chọn thay thế cho mỗi lượng xác suất P(a/w;θ), giá trị này được sử dụng
tác vụ nhận dạng tiếng nói sẽ được thể hiện trong trong bộ nhận dạng tiếng nói theo phương trình (1).
danh sách các tập tin thực thi như sau:
P a|W *P w
(
)
( )
•
•
•
•
Tham số hóa tiếng nói
- apply-mfcc
W* = argmax
w
P a
( )
= argmaxw P a|w *P(w)
(
)
{
}
- compute-mfcc-feats
- compute-plp-feats
- …
(1)
trong đó P(a) là xác suất của chuỗi âm học, nó được
cố định cho một cách phát âm và không có vai trò
xác định chuỗi từ; là xác suất chuỗi từ; P(a|W) là
xác suất chuỗi âm thanh cho biết chuỗi từ W. Từ
công thức (1) ta có thể phân chia việc giải mã từ
thành các thành phần ngôn ngữ học riêng biệt và
thực hiện song song, thành phần đầu tiên là mô
hình âm học của tiếng nói, thành phần thứ hai là
các mô hình ngôn ngữ.
Biến đổi các tham số
- apply-cmvn
- compute-cmvn-stats
- fmpe-apply-transform [10]
- …
Các bộ giải mã
- gmm-latgen-faster
- gmm- latgen-faster-parallel
- gmm-latgen-biglm-faster
- …
Tiếng nói
kiểm thử
Mô hình GMM
(GMM Models)
Tiếng nói
huấn luyện
Bộ giải mã Kaldi
(Kaldi Decoder)
Công cụ huấn luyện Kaldi
(Kaldi Training Tools)
Văn bản
Văn bản
Đánh giá và các tiện ích
- compute-wer
Đồ thị giải mã
(Decoding Graph)
- show-alignments
Hình 3. Mô hình nhận dạng tiếng nói với bộ công cụ Kaldi
-…
Mô hình âm học chỉ có một phần thông tin có sẵn
cho tham số huấn luyện mô hình âm học θ vì các
văn bản phiên âm tương ứng không có liên kết về
mặt thời gian. Thông tin ẩn của từ (thời gian) liên
kết trong một cách phát âm tạo ra mô hình huấn
luyện âm học với nhiều thách thức. Bộ công cụ
nhận dạng tiếng nói hiện đại sử dụng mô hình
Markov ẩn cho mô hình bất định giữa các tham số
âm học phiên âm tương ứng.
Ngoài ra Kaldi còn cung cấp kịch bản chuẩn hoặc
các hàm thêm mới tiện ích. Các kịch bản được đặt
tại thư mục /utils và /steps được sử dụng trong
kịch bản huấn luyện các công thức cho các dữ liệu
khác nhau.
Bài báo này mô tả công thức huấn luyện sử dụng
Kaldi cho tiếng Việt. Phần tiếp theo sẽ mô tả chi
tiết quá trình này.
B. Cơ sở dữ liệu tiếng Việt nói
III. NHẬN dạNG TIếNG VIỆT NóI sỬ dụNG
bộ CÔNG Cụ KAldI
Hiện nay đã có một số nghiên cứu xây dựng cơ
sở dữ liệu tiếng Việt nói [3][4], tuy nhiên những
cơ sở dữ liệu này lại cho phép truy cập miễn phí.
Vì vậy chúng tôi đã tiến hành xây dựng một cơ sở
dữ liệu tiếng nói mới. Cơ sở dữ liệu thu âm bởi 35
người (16 nam và 19 nữ) có độ tuổi từ 17 - 29 tuổi,
A. Mô hình hệ thống nhận dạng tiếng Việt nói
với bộ công cụ Kaldi
Sơ đồ tổng quan của hệ thống nhận dạng tiếng Việt
nói với bộ công cụ Kaldi được mô tả ở hình 3.
Tạp chí KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Số 3 - 4 (CS.01) 2016
9
THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
NHẬN DẠNG TIẾNG VIỆT NÓI SỬ DỤNG BỘ CÔNG CỤ KALDI
trong đó giọng nói miền Bắc gồm: giọng Hà Nội, đó các mô hình âm học khác nhau có thể so sánh
Hà Tây, Hưng Yên, Hải Dương.
với nhau. Bảng 2 liệt kê các mô hình âm học được
huấn luyện trong kịch bản. MộtAM cao cấp thường
được khởi tạo bởi các liên kết âm thanh (tương ứng
với các liên kết tham số âm học) sử dụng một AM
đơn giản hơn.
Dữ liệu được ghi về các chủ đề gồm: đời sống,
kinh doanh, khoa học, ô tô - xe máy, pháp luật.
Tiếng nói được ghi âm ở dạng đọc, được thu trong
môi trường phòng làm việc bình thường, thu âm ở
tần số lấy mẫu 16kHz, 16 bits cho một mẫu, ở chế Các phương pháp được sử dụng được liệt kê trong
độ mono. Dữ liệu được ghi vào f le WAV. Dữ liệu hình 4 với hệ thống phân cấp của chúng. Các hệ
được chia thành hai phần: một phần để huấn luyện phân cấp cho thấy một phương pháp cao cấp điển
mô hình và một phần để thử nghiệm. Thông tin chi hình là tái sử dụng giá trị huấn luyện ban đầu từ các
tiết về dữ liệu được mô tả ở bảng 1.
AM đơn giản.
Bảng 1. Cơ sở dữ liệu tiếng Việt nói
Đầu tiên, một mô hình mono-phone được huấn
luyện sử dụng bộ tham số MFCC (Mel Frequency
Cepstral Coeff cient) cùng với các tham số ∆ và
∆∆. Các vectơ tham số được xếp vào các trạng
thái HMM sử dụng các phiên âm của tiếng nói.
Sau đó, chúng huấn luyện lại mô hình triphone
(tri1a). Một phần của quá trình kết thúc bởi huấn
luyện mô hình MFCC + ∆ + ∆∆ triphone (tri2a).
Một phần khác, phần thứ hai của quá trình thay
vì chuyển hóa ∆ + ∆∆, sử dụng LDA + MLTT để
huấn luyện mô hình âm học (tri2b). Sử dụng mô
hình thứ ba tri2b được huấn luyện Discriminative
(hay còn gọi là mô hình có điều kiện) và sử dụng
LDA + MLTT + SAT để huấn luyện mô hình tri3b
sử dụng các phương pháp:
Giới tính
Tập dữ
liệu
Bản ghi Tổng số
âm (giờ)
người nói
câu
Nam Nữ
Huấn luyện
Kiểm thử
Tổng
12
4
15
4
6
2
8
3.375
1.000
4.375
16
19
C. Dữ liệu văn bản
Dữ liệu văn bản được sử dụng để tạo mô hình ngôn
ngữ thống kê bao gồm 4 triệu câu với 90 triệu âm
tiết thu thập từ các tài liệu điện tử tiếng Việt [6].
Các ký tự được chuyển đổi sang mã văn bản BKTC
(Bach Khoa Text Code). Độ hỗn loạn thông tin
(perplexity) của mô hình ngôn ngữ (LM) bigram
và trigram là 108.57 và 62.43. Sử dụng bộ công cụ
SRILM trên dữ liệu văn bản để tạo ra mô hình ngôn
ngữ trong định dạng ARPA. Mô hình ngôn ngữ
bigram chứa 8925 unigrams và 3,742,980 bigram.
Mô hình ngôn ngữ trigram có tất cả gram trong
mô hình bigram và 11,593,319 trigram. Các tập tin
được sử dụng để tạo mô hình ngôn ngữ trong định
dạng FST.
-
-
MMI (Maximum Mutual Information). [11]
BMMI (Boosted Maximum Mutual
Information). [12]
-
-
MPE (Minimum Phone Error). [13]
SAT (speaker adaptive training). [14]
tri2a
tri1
mono
tri2b_mmi
tri2b_mmi_b0.05
tri2b_mpe
tri3
tri2b
D. Kịch bản mô hình âm học
sgmm
Các bản ghi và phiên âm của chúng từ tập dữ liệu
huấn luyện được sử dụng cho mô hình âm học.
Các mô hình âm học được đánh giá trên tập kiểm
thử. Việc giải mã tiếng nói trong tập kiểm thử luôn
được thực hiện với các tham số tương tự nhau, do
sgmm_mmi_b0.1
Hình 4. Hệ thống phân cấp
các mô hình âm học được huấn luyện
Tạp chí KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Số 3 - 4 (CS.01) 2016
10
THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Hồng Quang, Trịnh Văn Loan, Phạm Ngọc Hưng
Bảng 2. Các phương thức huấn luyện của hệ thống
64-256 mixture, thường được kết hợp đặc biệt với
các phân lớp khác trong một mixture-of-experts.
Phương thức huấn luyện
Monophone
Triphone
Mô tả
Mono
Tri1
F. Xây dựng đồ thị giải mã
Một đồ thị giải mã được biểu diễn như là một đối
tượng OpenFst. Nó lưu giữ tất cả các thông tin mô
hình ngôn ngữ và một phần thông tin của mô hình
âm học. Đồ thị giải mã là cần thiết cho công việc
giải mã với các bộ giải mã Kaldi [16]. Trong bài
báo xây dựng đồ thị HCLG sử dụng chuẩn OpenFst
được thực thi trong các tiện ích Kaldi. Ta thiết kế
kịch bản để chúng tự động cập nhật các mô hình
ngôn ngữ, mô hình âm học và tạo ra tất cả các tập
tin cần thiết cho việc giải mã.
∆ + ∆∆
Tri2a
Tri2b
LDA + MLLT
LDA + MLLT + MMI
LDA + MLLT + bMMI
MPE
Tri2b_mmi
Tri2b_mmi_b0.05
Tri2b_mpe
Tri3
LDA + MLLT + SAT
SGMM
Sgmm
SGMM + bMMI
Sgmm_mmi_b0.1
Các kịch bản yêu cầu để xây dựng HCLG:
E. Mô hình GMM
-
-
-
-
Mô hình ngôn ngữ (LM);
Mô hình âm học (AM);
Các cây quyết định âm vị âm học;
Từ điển phiên âm.
Kaldi hỗ trợ GMM [15] với cấu trúc hiệp phương
sai chéo và đầy đủ. Thay vì thể hiện các hàm mật
độ Gauss riêng biệt, Kaldi thực hiện trực tiếp một
lớp GMM được tham số hóa bởi các tham số tự
nhiên. Các lớp GMM cũng được lưu trữ các số
hạng không đổi trong tính toán xác suất, bao gồm
các số hạng không phụ thuộc vào các vectơ dữ liệu.
Việc thực thi như vậy là phù hợp cho hiệu quả tính
toán tích vô hướng đơn giản (dot-product).
Ngoài việc xây dựng HCLG, kịch bản cũng sao
chép các tập tin cần thiết cho việc giải mã từ mô
hình âm học và đồ thị HCLG đến một thư mục. Các
tập tin sau là cần thiết cho việc giải mã:
-
-
-
-
Đồ thị giải mã HCLG;
Một mô hình GMM biểu diễn các tham số như tổng
các trọng số của nhiều Gauss phân tán. Mỗi trạng
thái Gauss có: Mean (µi), hiệp phương sai (Σi),
trọng số (Wi).Trong quá trình huấn luyện, hệ thống
học về những dữ liệu mà nó sử dụng để đưa ra quyết
định. Một tập hợp các tham số được thu thập từ một
người nói (hoặc ngôn ngữ hoặc phương ngữ).
Mô hình âm học;
Một ma trận định nghĩa các tham số biến đổi;
Một tập tin cấu hình cho các tham số tiếng nói
và các tham số biến đổi với các thiết lập tương
tự được sử dụng cho huấn luyện AM (mô hình
âm học);
Thay vì huấn luyện mô hình người nói chỉ dựa trên
dữ liệu người nói, mô hình GMM điều chỉnh mô
hình phổ nền UBM (Universal Background Model)
với người nói, tận dụng lợi thế của tất cả các dữ liệu,
thích ứng MAP (Maximum A Posteriori): mỗi một
Gaussian là một trọng số kết hợp của UBM và người
nói. Trọng số người nói nhiều nếu ta có nhiều dữ liệu
hơn: μi =αEi(x)+(1−α)μi ,với α=n/(n+16).
-
Một bảng ký tự các từ (WST - Word Symbol
Table). Bảng này là một tập tin chứa ánh xạ
giữa các nhãn (label) với các số nguyên.
G. Bộ giải mã Kaldi
Trong bộ công cụ Kaldi [17] không có bộ giải
mã “chuẩn” đơn lẻ, hoặc một giao diện cố định.
Hiện tại có hai bộ giải mã có sẵn: SimpleDecoder,
FastDecder và cũng có các phiên bản lattice-
generating. “Decoder” có nghĩa là các mã bên
trong của bộ giải mã, có các dòng lệnh chương
Các tham số thông thường MFCC có thể sử dụng
nhiều chiều hơn (20 + delta). Mô hình phổ nền
UBM: 512-2048 mixture, GMM của người nói:
Tạp chí KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Số 3 - 4 (CS.01) 2016
11
THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
NHẬN DẠNG TIẾNG VIỆT NÓI SỬ DỤNG BỘ CÔNG CỤ KALDI
trình, các gói bộ giải mã có thể giải mã các loại mô hình ngôn ngữ - Language Model Weight). Tham
hình cụ thể (ví dụ GMM) hoặc với các điều kiện số LMW thiết lập trọng số của LM, tức là nó quy
cụ thể đặc biệt (ví dụ đa lớp fMLLR). Ví dụ về các định có bao nhiêu LM (mô hình ngôn ngữ) được sử
chương trình dòng giải mã: gmm-decode-simple, dụng cho mô hình âm học trong việc giải mã. Giá
gmm-decode-faster, gmm-decode-kaldi và gmm- trị LMW được ước tính trên tập phát triển và các
decode-faster-fmllr.
giá trị tốt nhất được sử dụng cho giải mã trên tập
dữ liệu kiểm thử.
H. Thiết lập các tham số giải mã
Các bộ giải mã GMM-latgen-faster được sử dụng
cho việc đánh giá dữ liệu thử nghiệm. Nó tạo ra
một mạng liên kết các cấp độ từ cho mỗi phiên
âm và một giả thuyết tốt nhất được trích chọn từ
các mạng được giải mã và được đánh giá bởi WER
(Word Error Rate) và SER (Sentence Error Rate).
Đầu tiên, ∆ + ∆∆ gấp 3 lần của 13 tham số MFCC
bằng cách tính đạo hàm lần 1 và lần 2 từ hệ số
MFCC. Việc tính toán hệ số MFCC với việc xử lý
đạo hàm 39 tham số trên một khung.
Thứ hai, sự kết hợp của LDA và MLLT được tính
toán từ 9 khung ghép gồm 13 tham số MFCC.
Phạm vi cửa sổ mặc định của 9 khung lấy 1 khung
hiện tại, 4 khung bên trái và 4 khung bên phải. Các
phép biến đổi tham số LDA và MLLT đạt được cải
thiện đáng kể so với biến đổi ∆ + ∆∆.
IV. KếT qUả THỬ NGHIỆm
Mô hình âm học mono, tri1, tri2a, tri2b, được huấn
luyện generative. Mô hình tri2b_mmi, tri2b_mmi_
b0.05, tri2b_mpe, tri3, sgmm, sgmm_mmi_b0.1 được
huấn luyện discriminatively trong bốn vòng lặp.
Các mô hình discriminative mang lại kết quả tốt
hơn mô hình generative thể hiện trong hình 4.
Sử dụng mô hình âm học được huấn luyện được
mô tả ở trên cho giải mã các phiên âm từ tập dữ liệu
kiểm thử. Đối với mỗi mô hình âm học, sử dụng
cùng một phương thức tham số hóa tiếng nói và
phép biến đổi các tham số cho việc huấn luyện mô
hình âm học, bài viết thử nghiệm với tất cả các mô
hình âm học được huấn luyện với cả mô hình ngôn
ngữ zerogram và bigram.
A. Kết quả thực hiện với các mô hình huấn luyện
Phần này trình bày các kết quả thử nghiệm hệ
thống nhận dạng tiếng Việt nói với phương pháp
huấn luyện âm học khác nhau. Bảng 3 biểu diễn kết
quả các mô hình âm học.
Mô hình ngôn ngữ zerogram và bigram mặc định
được xây dựng từ các phép biến đổi trực giao.
Mô hình ngôn ngữ bigram được ước lượng từ các
phép biến đổi dữ liệu huấn luyện. Do đó, trong tập
kiểm thử xuất hiện các từ chưa biết, được gọi là
“Out of Vocabulary Word - OOV”. Các zerogram
được trích chọn từ các phép biến đổi tập kiểm thử.
Zerogram là một danh sách các từ với xác suất
phân bố đều, vì vậy nó giúp giải mã chỉ bằng việc
giới hạn kích thước bộ từ vựng. Các mô hình ngôn
ngữ bigram chứa 1075 unigram và 3517 bigram
cho tiếng Việt. Mô hình ngôn ngữ zerogram được
giới hạn 1076 từ tiếng Việt.
Bảng 3. WER và SER cho các phương pháp huấn luyện
Model
% WER
4.34
1.95
1.98
1.89
1.76
1.75
1.83
1.48
1.1
% SER
53.4
37.4
37.6
36.2
34
mono
tri1
tri2a
tri2b
tri2b_mmi
tri2b_mmi_b0.05
tri2b_mpe
tri3
33.8
35.5
30.4
23.7
23.5
sgmm
Các tham số nhận dạng tiếng nói được thiết lập giá
trị mặc định; các trường hợp ngoại lệ là các tham
số giải mã: beam=12.0, lattice-beam=6.0, max-
active-states=14000 và LMW (các trọng số mô
sgmm_mmi_b0.1
1.09
Biểu đồ WER qua các mô hình huấn luyện thể hiện
trong hình 5.
Tạp chí KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Số 3 - 4 (CS.01) 2016
12
THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Hồng Quang, Trịnh Văn Loan, Phạm Ngọc Hưng
Hình 5. Biểu đồ WER thể hiện qua các mô hình huấn luyện
Kết quả cho thấy các phương pháp huấn luyện
discriminative vượt trội so với các mô hình âm học
generative, tham số LDA + MLTT cũng hiệu quả
hơn việc sử dụng tham số ∆ + ∆∆. Mặt khác, có
những sự khác biệt tinh tế giữa 3 mô hình âm học
(tri3, sgmm, sgmm_mmi_b0.1) được huấn luyện
discriminative về hiệu suất.
Hình 6. Biểu đồ WER với các tham số LMW khác nhau
Kết quả cho thấy với tham số LMW = 15 cho kết
quả vượt trội so với LMW = 9. Như vậy, việc chọn
lựa một trọng số phù hợp cho mô hình ngôn ngữ
cũng là một trong các tham số quan trọng của hệ
thống nhận dạng tiếng Việt nói.
B. Kết quả thực hiện với các trọng số mô hình
ngôn ngữ khác nhau
Thử nghiệm với LMW lần lượt bằng 9, 10 và 15.
Kết quả được mô tả ở bảng 4 và hình 6.
V. KếT lUẬN
Bài báo này đã mô tả phương pháp xây dựng hệ
thống nhận dạng tiếng Việt nói sử dụng bộ công cụ
Kaldi. Chúng tôi đã thử nghiệm các phương pháp
huấn luyện mô hình âm học khác nhau được hỗ
trợ bởi Kaldi. Các trọng số của mô hình ngôn ngữ
cũng được xem xét và đánh giá. Các thử nghiệm
cho thấy bộ công cụ Kaldi cho kết quả nhận dạng
rất tốt với tiếng Việt nói. Ngoài ra trọng số của mô
hình ngôn ngữ là một tham số quan trọng khi xây
dựng hệ thống.
Bảng 4: Bảng kết quả với các trọng
số mô hình ngôn ngữ khác nhau
WER
WER
WER
Mô hình
mono
LMW=9 LMW=10 LMW=15
68.84
42.49
42.76
31.55
33.51
32.92
30.1
8.09
3.42
3.55
3.14
2.87
2.81
2.96
2.22
1.44
1.35
4.34
1.95
1.98
1.89
1.76
1.75
1.83
1.48
1.16
1.15
tri1
tri2a
tri2b
tri2b_mmi
tri2b_mmi_b0.05
tri2b_mpe
tri3
TÀI lIỆU THAm KHảO
[1] Đặng Ngọc Đức, “Mạng nơ ron và mô hình
Markov ẩn trong nhận dạng tiếng Việt nói”, Luận
văn tiến sĩ, Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2003.
19.07
13.4
sgmm2
sgmm2_mmi_b0.1 11.94
[2] Bạch Hưng Khang, “Tổng hợp và nhận dạng
tiếng Việt”, Viện Công nghệ thông tin, Viện Hàn
lâm và Khoa học Việt Nam, 2004.
Tạp chí KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Số 3 - 4 (CS.01) 2016
13
THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
NHẬN DẠNG TIẾNG VIỆT NÓI SỬ DỤNG BỘ CÔNG CỤ KALDI
[3] Nguyen Quoc Cuong, Pham Thi Ngoc and [12]Daniel Povey, Dimitri Kanevsky, Brian
Castelli, E. “Shape vector characterization of
Vietnamese tones and application to automatic
recognition”. Automatic Speech Recognition and
Understanding (ASRU), Italy, 2001. 437-440.
Kingsbury, Bhuvana Ramabhadran, George
Saon & Karthik Visweswariah, “Boosted MMI
for Model and Feature Space Discriminative
Training”, ICASSP 2008.
[4] Vu, Tat Thang, Khanh Nguyen and Le, Son [13]Daniel Povey & Brian Kingsbury, “Evaluation of
Hai and Luong, Mai Chi. “Vietnamese tone
recognition based on multi-layer perceptron
network.” Conference of Oriental Chapter of
the International Coordinating Committee on
Speech Database and Speech I/O System. Kyoto,
2008. 253-256.
Proposed Modif cations to MPE for Large Scale
Discriminative Training”, ICASSP 2007.
[14]Yajie Miao, Hao Zhang, Florian Metze Language
Technologies Institute, “Towards Speaker
Adaptive Training of Deep Neural Network
Acoustic Models”, School of Computer Science,
Carnegie Mellon University Pittsburgh, PA,
USA.
[5] Vu,ThangTatandNguyen, DungTienandLuong,
Mai Chi and Hosom, John Paul. “Vietnamese
large vocabulary continuous speech recognition”
INTERSPEECH. Lisbon, 2005. 1172-1175.
[15]Daniel Povey, Lukas Burget, Mohit Agarwal,
Pinar Akyazi, Kai Feng, Arnab Ghoshal, Ondˇrej
Glembek, Nagendra Kumar Goel, Martin
Karaf ´at, Ariya Rastrow, Richard C. Rose, Petr
Schwarz, Samuel Thomas, “Subspace gaussian
mixture models for speech recognition”.
[6] Nguyen Hong Quang, Trinh Van Loan, Le
The Dat, Automatic Speech Recognition for
Vietnamese using HTK system, IEEE-RIVF
2010, Ha noi, November, 2010.
[7] ChristianGaida,PatrickLange,RicoPetrick,Patrick [16]Daniel Povey and Partner “http://kaldi-asr.org/
Proba,Ahmed Malatawy, and David Suendermann-
Oeft,“ComparingOpen-SourceSpeechRecognition
Toolkits”.
doc/graph.html” Generated on Wed Aug 10 2016
for Kaldi by Doxygen 1.8.1.2 .
doc/decoders.html Generated on Wed Aug 10
2016 for Kaldi by Doxygen 1.8.1.2 .
[8] Daniel Povey, Arnab Ghoshal, Gilles Boulianne,
Lukas Burget,Ondrej Glembek, Nagendra Goel,
Mirko Hannemann, Petr Motlcek, Yanmin Qian,
Petr Schwarz, Jan Silovsky, Georg Stemmer,
Karel Vesely, “The Kaldi Speech Recognition
Toolkit”.
[18]Tuan, Nguyen and Hai Quan, Vu. “Advances
in Acoustic Modeling for Vietnamese LVCSR”
Asian Language Processing. Singapore: IEEE,
2009. 280-284.
[9] KyleGorman, http://www.openfst.org/twiki/bin/
view/FST/WebHome, 2016.
[10]Daniel Povey, Brian Kingsbury, Lidia Mangu,
George Saon, Hagen Soltau & Geoffrey Zweig,
“fMPE: Discriminatively Trained Features for
Speech Recognition,” ICASSP 2005.
[11] Daniel Povey, Vijayaditya Peddinti, Daniel
Galvez, Pegah Ghahrmani, Vimal Manohar,
Xingyu Na, Yiming Wang and Sanjeev
Khudanpur “Purely sequence-trained neural
networks for ASR based on lattice-free MMI”,
Interspeech 2016.
Tạp chí KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Số 3 - 4 (CS.01) 2016
14
THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Hồng Quang, Trịnh Văn Loan, Phạm Ngọc Hưng
Nguyễn Thị Thanh tốt nghiệp đại
THe VIeTNAmese speeCH
ReCOGINITION UsING KAldI TOOlKIT
học năm 2013, tại Học viện Công
nghệ Bưu chính Viễn thông. Hiện là
học viên tại Viện Công nghệ Thông
tin và Truyền thông, Trường Đại học
Bách khoa Hà Nội. Lĩnh vực nghiên
cứu: Xử lý tiếng nói.
Abstract: Speech recognition has been increasingly
applied in various f elds such as automatic
switchboards, security, searching by voice…
however the quality of recognition is the problem
of utmost concern. The Kaldi toolkit is a new tool
developed in 2009. Kaldi was introduced at a
workshopheldatJohnsHopkinsUniversitywiththe
title “Low Development Cost, High Quality Speech
Recognition for New Languages and Domains”. This
paper describes the Vietnamese speech recognition
system built on Kaldi toolkit. The paper also
evaluates quality of the system based on the
evaluation the ratio of the WER on AMs (Acoustic
models). The system has superior results compared
the previous toolkit to Vietnamese speech.
Nguyễn Hồng Quang nhận học
vị Tiến sĩ năm 2008. Hiện công tác
tại Bộ môn Kỹ thuật máy tính, Viện
Công nghệ thông tin và Truyền
thông, Trường Đại học Bách Khoa Hà
Nội. Lĩnh vực nghiên cứu: Học máy,
xử lý ảnh, âm thanh và tiếng nói.
Trịnh Văn Loan nhận học vị Phó
Giáo sư năm 2009. Hiện công tác
tại Bộ môn Kỹ thuật máy tính, Viện
Công nghệ thông tin và Truyền
thông, Trường Đại học Bách Khoa
Hà Nội. Lĩnh vực nghiên cứu: Tổng
hợp, nhận dạng tiếng nói, Cải
thiện chất lượng tín hiệu tiếng nói;
Lượng giá và đánh giá chất lượng
tiếng nói; Hệ nhúng.
Keywords: Speech recognition, the Vietnamese
speech, Kaldi toolkit, Language models, Acoustic
models, Pronounce dictionary.
Phạm Ngọc Hưng nhận bằng Thạc
sĩ năm 2010. Hiện công tác tại Bộ
môn Kỹ thuật máy tính, Khoa Công
nghệ Thông tin, Trường Đại học Sư
phạm Kỹ thuật Hưng Yên. Lĩnh vực
nghiên cứu: Nhận dạng tiếng nói,
hệ thống nhúng.
Tạp chí KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
15
Số 3 - 4 (CS.01) 2016
THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
Bạn đang xem tài liệu "Nhận dạng Tiếng Việt nói sử dụng bộ công cụ Kaldi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nhan_dang_tieng_viet_noi_su_dung_bo_cong_cu_kaldi.pdf

