Vai trò lời dẫn của hội thoại trong tác phẩm văn học
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015
[8]
[9]
Hà Nam Ninh (2006), Một số tư liệu về dấu vết của người Thái trong vùng cư
dân Mường dọc sông Mã thanh Hóa, trong ”Đóng góp của các dân tộc nhóm
ngôn ngữ Tày - Thái trong tiến trình lịch sử Việt Nam”, Kỷ yếu Hội nghị Thái
học Việt Nam lần thứ IV, Nxb. ĐHQGHN.
A.V. Superanskaja (2002), Địa danh là gì, Đinh Lan Hương dịch, Nguyễn Xuân
Hoà hiệu đính (bản thảo).
[10] Vũ Thị Thắng (2012), Đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa của thành tố chung trong
địa danh Như Thanh và Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa, T/c Ngôn ngữ và đời sống
(7), tr34 - 41.
[11] Mai Văn Tùng (2010), Thiết chế và cấu trúc mường của người Mường ở Thanh
Hóa, T/c Nghiên cứu Đông Nam Á (10), tr54 - 59.
Vu Thi Thang
ABSTRACT
Field’s toponym is the language unit used to name natural entities, the non-
residential lands used for farming. These toponyms often have little variation and are
relatively stable in language. Their presence is an important evidence of language,
culture and local history. The paper examines some prominent features of Thanh Hoa
fields’ toponyms in order to clarify its values in preserving linguistic and cultural
features of Thanh Hoa.
Keywords: Field’s toponym, Thanh Hoa’s toponym, names of the fields.
VAI TRÒ LỜI DẪN CỦA HỘI THOẠI
TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC
Mai Thị Hảo Yến1
TÓM TẮT
“Hội thoại vẫn thường là một kỹ thuật quan trọng để đặc tả nhân vật và được dùng
thường xuyên trong tác phẩm văn học” [1]. Hội thoại trong tác phẩm văn học được gọi
là thoại dẫn. Một thoại dẫn thường có cấ u trú c tổ ng quá t : lời dẫn (Lờ i ngườ i dẫ n, kể,
nói, viết) và lời được dẫn (Lờ i thoạ i, ý nghĩ củ a nhân vậ t). Với tư cách là một trong hai
1 TS. Giảng viên Khoa Khoa học Xã hội, trường Đại học Hồng Đức.
76
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015
thành phần làm nên thoại dẫn, lời dẫn có một vai trò rất lớn trong hội thoại nói riêng và
trong tác phẩm nói chung. Vai trò ấy, có thể nhận thấy như sau: Lời dẫn giúp tạo dựng
chân dung nhân vật; Lời dẫn tái hiện các hoạt động xảy ra đồng thời với lời được dẫn -
lời thoại của nhân vật; giúp hiểu sâu hơn về nội tâm của nhân vật và lời dẫn giúp cho
việc xác định nghĩa thật sự của lời - lời được dẫn một cách chính xác hơn.
Từ khóa: Lời dẫn, thoại dẫn, tác phẩm văn học.
1. MỞ ĐẦU
Từ thờ i Hy Lạp cổ đại , người ta đã đượ c nó i đến sự dẫn thoại . Platon khi bàn về
các phương thức tự sự, đã phân biệt hai phương thứ c cơ bản “diegesis” , tiếng Anh dịch
là “telling”, chúng tôi tạm dịch là “diễn”, “trình diễn” - đượ c hiểu là sự trình bày lại cá c
sự kiện dườ ng như nó đang diễn ra trướ c mắt ngườ i nghe , ngườ i kể . Kịch là một kiểu
trình diễn. Aristote - học trò của Platon mở rộng khái niệm “mime sis” thành khái niệm
“bắt chướ c” (imitation) và xem “diegesis” - “kể” là một dạng của “bắt chước”.
Nhờ có sự dẫn thoại mà chú ng ta có các thoại dẫn trong diễn ngôn nó i và viết
Thoại dẫn là lờ i thoạ i vố n có trong hộ i thoạ i thự c sự củ a đờ i số ng đượ c đưa và o trong
diễn ngôn (Lờ i nó i) của người nói (hoặ c viết).
.
Ví dụ : <1> Helooked Angten her furiously and said: “Why can‟t you stop it?
Really! Why do you go on with this comedy?” [1].
(Hắn nhìn cô ta mộ t cách điên cuồ ng và nó i: “Sao cô không chấm dứ t nó đi? Quái
thật! Sao cô cứ tiếp tụ c diễn cái trò hài kịch đó ?”).
Đây là mộ t TD , trong đó có lờ i dẫn củ a ngườ i nó i “He… said” và lờ i thoại thự c
sự củ a mộ t “he” (ngôi thứ ba nào đó ) “Why… comedy?”.
2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1. Các nhà ngôn ngữ họ c hiện n ay phân biệt hai hình thứ c dẫn thoại cơ bản
Trự c tiếp và gián tiếp (tứ c thoại dẫn trự c tiếp direct speech - TDTT và thoại dẫn gián
tiếp - indireet speech - TDGT). TD vớ i hai hình thứ c TDTT và TDGT đượ c Aristote
:
xem là thuộ c phạ m trù “bắt chướ c” và gọ i tên là oratio recta - TDTT và oratio obliqua -
TDGT. TDTT là mộ t kiểu “showing” (diễn) và TDGT là một kiểu “kể”.
Tuy nhiên, sự dẫn thoại không chỉ là dẫn các đơn vị hộ i thoại như cách hiểu lâu
nay. Tư tưởng, cảm nghĩ của nhân vật hoặc chính tác giả cũng có thể được dẫn
. Tư
tưở ng, cảm nghĩ có thể được dẫn , là vì chúng phải có hình thức biểu hiện bằng ngôn
ngữ . “Nó i không phải là con đườ ng sử dụ ng ngôn ngữ duy nhất , chúng ta còn dùng
ngôn ngữ để suy nghĩ . Do đó , mộ t quá trình suy nghĩ cũ ng có thể đượ c chiếu xạ” (15)
Cho nên khái niệm dẫn thoại sẽ đượ c mở rộ ng không chỉ bao gồ m dẫn lờ i hộ i thoại
mà còn dẫn cả ý nghĩ nữa . Ý nghĩ cũ ng có thể được dẫn trự c tiếp và gián tiếp . Tuy
77
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015
nhiên, bài viết này chỉ bàn đến dẫn lời và vai trò của lời dẫn của hội thoại trong tác
phẩm văn học.
2.2. Thông thườ ng, trướ c khi lờ i thoại - lờ i đượ c dẫn xuất hiện không chỉ có mộ t
lờ i dẫn kiểu như : (Tôi nó i) cho lờ i đượ c dẫn : (Em về đi !), hoặc: “Anh ta nó i :”cho lờ i
đượ c dẫn “Cô hãy về đi !”… mà bao giờ cũ ng có rất nhiều lờ i kể , lờ i miêu tả về nhân
vật hộ i thoại , về ngữ cảnh củ a hộ i thoại , hoặc về hành độ ng củ a nhân vật…Lờ i dẫn
nằm trong “dò ng chảy” củ a tác phẩm.
Để xác định lờ i dẫn cho mộ t lờ i được dẫn , hoặc nhiều lờ i đượ c dẫn , vì vậy quả
là rất khó khăn . Do đó , chúng tôi chỉ xem là lời dẫn cho lời được dẫn, nếu ở vị trí trước
lờ i đượ c dẫn thì lờ i dẫn là câu cuố i cù ng trong lờ i tự sự củ a tác giả trướ c khi lờ i đượ c
dẫn xuất hiện . Trườ ng hợ p lờ i dẫn có vị trí ở giữ a lờ i đượ c dẫn thì dễ thấy , vì thông
thườ ng chú ng chỉ là một câu, còn trường hợp vị trí lời dẫn ở sau lời được dẫn thì chúng
tôi sẽ xem lờ i dẫn là câu xuất hiện ngay sau lờ i đượ c dẫn. Ví dụ:
<2> ... A Phủ lâm râm đến giữa nhà, khấn vào bàn thờ cúng ma một lát rồi
quay sang bên bếp, đứng trước nén hương và lá cờ. A Phủ cúi đầu thề:
- Tôi là Vừ A Phủ, tôi đã đem trình ma em tôi là Vừ A Châu...
(Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài)
thì chúng tôi xem lời dẫn là câu “A Phủ cúi đầu thề:” mà thôi.
Hoặc <3>... Hình ảnh Mỵ Nương hiện ra. Trương Chi thở dài. Nàng ngả người
trên đệm. Nàng lấy những ngón tay thon thả gỡ tóc. Nàng bảo chàng:
- Hát đi!
(Trương Chi - Nguyễn Huy Thiệp)
thì lời dẫn là câu : “Nàng bảo chàng: ”. Có nghĩa l à lời kể : “Hình ảnh Mỵ
Nương hiện ra . Trương Chi thở dài . Nàng ngả người trên đệm . Nàng lấy những ngón
tay thon thả gỡ tóc” không thuộ c phạm vi nghiên cứ u củ a bài viết này.
Vớ i mộ t câu dẫn trướ c lờ i dẫn , cũng có thể hiểu được nội dung ngữ nghĩa củ a
lờ i dẫn (vì lời dẫn bao giờ cũng định hướng cho cách hiểu lời được dẫn cho người đọc -
trong tác phẩm tự sự nó i chung ). Trườ ng hợ p như thế này là đa số . Tất nhiên, để hiểu
đầy đủ và chính xác mộ t lờ i th oại, chúng ta không thể không đặt nó trong bối cảnh
chung (ngữ cảnh , tình huống ) mà nó được thực hiện . Điều này giải thích vì sao có
nhữ ng trườ ng hợ p, nếu chỉ căn cứ vào mộ t câu dẫn trướ c lờ i đượ c dẫn thôi thì chưa đủ ,
mà phải căn cứ từ nhiều câu trước đó. Ví dụ:
<4> Nhưng mó c rồ i, cụ cũng phải quát một câu cho nhẹ người.
- Chí Phèo đấy hở?…
(Chí Phèo - Nam Cao)
Sẽ rất khó giải thích cho hành vi “móc rồi” trong lời dẫn “nhưng móc rồi
, cụ
cũng phải quát một câu cho nhẹ người” . “Mó c” cái gì mớ i đượ c chứ ? Đành phải quay
lại những câu trước đó. “…Nhữ ng lú c như thế này thì mộ t ngườ i dẫu khôn ngoan cũ ng
không thể bình tĩnh đượ c . Nhất là khi trông thấy mộ t t hằng chỉ đến vò i tiền uố ng rượ u
78
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015
như Chí Phèo. Tuy vậy, cụ cũng móc sẵn 5 hào. Thà móc sẵn để tống nó đi cho chóng .
Nhưng mó c rồ i, cụ cũng phải quát một câu cho nhẹ người.
- Chí Phèo đấy hở?…
Rõ ràng, phải từ nhiều câ u trướ c đó , chúng ta mới hiểu đầy đủ nội dung thông
tin trong lờ i dẫn. Tuy nhiên, nhữ ng trườ ng hợ p như thế này rất hiếm gặp.
2.3. Trong tác phẩm văn học, vị trí lời dẫn đa số là ở trước lời được dẫn (như
các trường hợp <2>, <3>, <4> trên). Nhưng cũng không ít trường hợp, vị trí lời dẫn có
thể nằm ở giữa lời được dẫn hoặc sau lời được dẫn . Trong các tác phẩm củ a Nguyễn
Công Hoan, kiểu lời dẫn có vị trí ở giữa lời được dẫn xuất hiện tương đối nhiều . Đặc
biệt là các truyện ngắn , tiểu thuyết Việt Nam hiện đại gần đây , vị trí lời dẫn ở giữa lời
đượ c dẫn lại rất phổ biến. Ví dụ:
<5> Nếu mày tìm được lửa thì mày là mẹ thật! Nó bật cười. - Và tìm ra lửa thì
tao sẽ nghĩ ra cách để cho người ta tìm thấy chúng mình.
(Tâm hồn mẹ - Nguyễn Huy Thiệp)
Lời dẫn có vị trí sau lời được dẫn, như:
<6> - Có việc gì thế, con rể ơi?
Ông Mờng hỏi Bân, bao giờ cũng thế, vẫn thân thiết như ngày trước...
(Mường Giơn - Tô Hoài)
Tất nhiên, lời dẫn có vị trí ở trước, trong hay sau lời được dẫn là hoàn toàn nằm
trong ý đồ nghệ thuật của tác giả. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này trong một bài viết khác.
2.4. Với tư cách là một trong hai thành phần làm nên thoại dẫn - hội thoại trong
tác phẩm văn học, lời dẫn có một vai trò rất lớn. Vai trò ấy, có thể nhận thấy như sau:
2.4.1. Lời dẫn giúp tạo dựng chân dung nhân vật
Ví dụ:
<7> Chị Dậu ôm con vào ngồi bên phản, sờ tay vào trán chồng và sẽ sàng hỏi:
- Thế nào? Thày em có mệt lắm không? Sao chậm về thế? Trán đã nóng lên đây mà!
(Tắt đèn - Ngô Tất Tố)
Ngoài lời nói rất đỗi ân cần và dịu dàng của chị, thì những nét miêu tả trong lời
dẫn như “ôm con vào ngồi bên phản”, rồi “sờ tay vào trán chồng” và “sẽ sàng hỏi” là
những miêu tả vô cùng quan trọng, cùng với lời được dẫn - “Thế nào? Thày em có mệt
lắm không? Sao chậm về thế? Trán đã nóng lên đây mà!” đã góp phần tạo dựng nên chị
Dậu - một người vợ dịu hiền, yêu thương chồng con hết mực...
Hay là lúc anh Dậu ốm đau. Ngô Tất Tố viết:
<8> Chị Dậu rón rén bưng một bát lớn đến chỗ chồng nằm:
- Thày em hãy cố ngồi dậy húp ít cháo cho đỡ xót ruột...
(Tắt đèn - Ngô Tất Tố)
79
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015
Chị Dậu “rón rén”. Tất cả tình yêu thương và sự quan tâm của chị đều được thể
hiện trong dáng đi “rón rén” ấy.
Nhưng một chị Dậu hoàn toàn khác, khi “người ta đem lại cho chị một cái xác
người”, xác người đó vừa “run rẩy cầm bát cháo, anh mới kề vào miệng” thì bọn “cai lệ
và người nhà lý trưởng đã sầm sập tiến vào”. Ngô Tất Tố viết:
<9> Chị Dậu run run:
- Nhà cháu đã túng, lại phải đóng cả sưu của chú nó nữa nên mới lôi thôi như
thế. Chứ cháu có dám bỏ bê tiền thuế của nhà nước đâu! Hai ông làm phúc nói với ông
Lý cho cháu khất...
Rồi:
Chị Dậu vẫn cố thiết tha:
- Khốn nạn! Nhà cháu đã không có, dẫu ông có chửi mắng cũng đến thế thôi.
Xin ông trông lại!
...
Chị Dậu xám mặt, vội vàng đặt con xuống đất, chạy đến đỡ lấy tay hắn:
- Cháu van ông, nhà cháu mới tỉnh được một lúc, ông tha cho!
Sau đó:
... Hình như tức quá, không thể chịu đựng được, Chị Dậu... liều mang cự lại:
- Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ!
Và:
Chị Dậu nghiến hai hàm răng:
- Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem!
(Tắt đèn - Ngô Tất Tố)
Ngoài lời nói, thì những miêu tả của tác giả về trạng thái sự thay đổi tâm lý theo
mức độ tăng dần từ “run run”, đến “thiết tha”, đến “xám mặt”, rồi “liều mạng” và cuối
cùng là “nghiến hai hàm răng” lại. Nếu không có những miêu tả này trong lời dẫn, thì
nhân vật của Ngô Tất Tố làm sao có thể định vị trong lòng người đọc lâu đến thế!
Một nhân vật khác mà sự nổi tiếng là điều không cần phải bàn cãi - Chí Phèo.
Đoạn cuối của tác phẩm - khi Chí Phèo “đến ngõ nhà cụ Bá. Hắn xông vào nhà”...
<10> ... Cụ Bá ... ném bẹt năm hào xuống đất, cụ bảo hắn:
- Cầm lấy mà cút đi cho rảnh. Rồi làm mà ăn chưa cứ báo người ta mãi thế à?
Hắn trợn mắt chỉ tay vào mặt cụ:
- Tao không đến đây xin năm hào.
Rồi:
... Hắn vênh cái mặt lên, rất là kiêu ngạo:
- Tao đã bảo là tao không đòi tiền.
Và:
Hắn dõng dạc:
80
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015
- Tao muốn làm người lương thiện!
Cuối cùng:
Hắn lắc đầu:
- Không được! Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết
mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa. Biết không! Chỉ còn
một cách... biết không! Chỉ còn một cách là ... cái này! Biết không!
(Chí Phèo - Nam Cao)
Một thằng “chỉ biết uống rượu”, “không lúc nào tỉnh” và “chỉ làm có mỗi một
việc là rạch mặt ăn vạ” sao có thể “vênh cái mặt lên, rất là kiêu ngạo” như vậy! Lại còn
“dõng dạc”, rồi “lắc đầu” một cách điềm đạm, chín chắn nữa! Một cái “lắc đầu” để
chấp nhận sự thật đớn đau - không có con đường quay trở lại! Một cái “lắc đầu” - để từ
chối kiếp sống của một con quái vật làng Vũ Đại. Một cái “lắc đầu” để làm một con
người đúng nghĩa. Nếu không có những chỉ dẫn này trong lời dẫn, làm sao chúng ta
“nhìn” thấy được một Chí Phèo hiên ngang đàng hoàng đi tới cái chết để từ bỏ kiếp
sống tha hóa, kiếp sống vô nghĩa của mình được!
2.4.2. Lời dẫn tái hiện các hoạt động xảy ra đồng thời với lời được dẫn - lời
thoại của nhân vật:
Ví dụ: <11> Cô giáo Mạ vừa lôi trong túi xách ra những gói quà đặt lên mặt
bàn vừa cười:
- Kể cũng thất điên bát đảo nhưng xét cho cùng thì sống dễ lắm! Bố có nhớ
không? Lớp học ngày ấy có...
(Sống dễ lắm - Nguyễn Huy Thiệp)
Cô giáo Mạ “vừa lôi trong túi xách ra những gói quà đặt lên mặt bàn”,“vừa
cười” là các hoạt độ ng diễn ra đồ ng thờ i vớ i lờ i nó i(lờ i đượ c dẫn- “Kể cũng thất điên bát
đảo nhưng xét cho cùng thì sống dễ lắm! Bố có nhớ không? Lớp học ngày ấy có… ”) đượ c
dẫn lại trong lời dẫn.
Hoặc: <12> Thị vừ a thở vừ a vậ t nhau vớ i hắ n vừ a hổ n hển: “Ô hay … buông
ra… tôi kêu…tôi kêu làng. Tôi kêu làng bây giờ !”
(Chí Phèo - Nam Cao)
“Thị vừ a thở ” , “vừ a vật nhau” , “vừ a hổ n hển” là các hoạt độ ng diễn ra đồ ng
thờ i vớ i lờ i nó i (lờ i đượ c dẫn - “Ô hay … buông ra… tôi kêu…tôi kêu làng . Tôi kêu
làng bây giờ!”) đượ c dẫn lại trong lời dẫn.
2.4.3. Lời dẫn giúp hiểu sâu hơn về nội tâm của nhân vật
Ví dụ: <13> Lão chua chá t bảo:
- Ông giáo nó i pha!̉iKiếp con chó là kiếp khổ thì taóahkiếp cho nó lmà kiếp ngườ i…
81
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 23. 2015
(Lão Hạc - Nam Cao)
Hoặc: <14> Bà đồ vờ vịt hỏi:
- Nhà ai thế cụ?
(Đó n khá ch - Nam Cao)
Hay: <15> Lão lắ c đầ u chá n nả n bảo tôi:
- Ấy thế mà bây giờ hết nhẵn, ông giáo ạ ! Tôi ố m có mộ t trận ấy thôi.
(Lão Hạc - Nam Cao)
Nhữ ng từ : “chua chát , vờ vịt, lắc đầu, chán nản” trong các ví dụ trên đều là
nhữ ng độ ng từ miêu tả cử chỉ , cách thức, thái độ củ a nhân vật khi thự c hiện hành độ ng
nói năng. Đó là những chỉ dẫn quan trọng giúp ta hiểu sâu hơn về những diễn biến
trong nội tâm nhân vật.
2.4.4. Lời dẫn giúp cho việc xác định nghĩa thật sự của lời - lời được dẫn một
cách chính xác hơn.
Ví dụ: <16> - Là người trong nghề, ông có biết đến tên tuổi nhiếp ảnh gia Hạo
Nhiên thực hiện bộ ảnh với Cao Thùy Linh?
- Tôi chả biết ông ấy là ai. Nhưng như thế là thành công đúng không? Tôi chưa
từng biết ông ấy, nay cả nước biết. Tôi không được nổi tiếng bằng rồi. (cười)
(Nguồn Zing.vn - Sống trẻ, ngày 01.5.2014)
Toàn bộ phát ngôn “Tôi chả biết ông ấy là ai. Nhưng như thế là thành công đúng
không? Tôi chưa từng biết ông ấy, nay cả nước biết. Tôi không được nổi tiếng bằng rồi.”
đã được hiểu theo một nghĩa khác - đầy hàm ý với lời dẫn “cười” một cách mỉa mai của
người nói được người viết - người kể dẫn lại. Nếu không có lời dẫn - không căn cứ vào lời
dẫn thì nghĩa của phát ngôn - của hành động nói năng này của nhân vật sẽ khó có thể xác
định được một cách đúng đắn, thậm chí còn có thể bị hiểu sai.
3. KẾT LUẬN
Với những nghiên cứu trên, rõ ràng lời dẫn quả thực hết sức quan trọng và phổ
biến. Phổ biến, bởi người ta thường rất hay dẫn lời của một ai đó khi nói hoặc khi viết.
Tất cả các phong cách ngôn ngữ khác nhau đều sử dụng thoại dẫn cũng như sự dẫn
thoại. Cùng một phát ngôn, nhưng lời dẫn với những dụng ý khác nhau - điểm nhìn hay
thái độ khác nhau của người dẫn, thì lời được dẫn - hay phát ngôn của nhân vật sẽ được
hiểu theo những nghĩa khác nhau. Chúng tôi hy vọng rằng, việc chỉ ra tầm quan trọng
của lời dẫn, giúp chúng ta hiểu hội thoại một cách chuẩn xác hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
82
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò lời dẫn của hội thoại trong tác phẩm văn học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
vai_tro_loi_dan_cua_hoi_thoai_trong_tac_pham_van_hoc.pdf

