Nghiên cứu ý niệm sự tình chuyển động trong Tiếng Việt

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
v
NGHIÊN CỨU Ý NIỆM SỰ TÌNH  
CHUYỂN ĐỘNG TRONG TIẾNG VIỆT  
LÝ NGỌC TOÀN*; NGUYỄN THỊ VÂN ANH**  
*Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, ✉ lytoandhcs75@gmail.com  
**Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, ✉ nguyenthivananhdhcsnd@gmail.com  
Ngày nhận bài: 12/8/2017; ngày hoàn thiện: 29/9/2017; ngày duyệt đăng: 15/11/2017  
TÓM TẮT  
Chuyển động là yếu tố trung tâm đối với sự trải nghiệm của con người, nó có sức lan tỏa trong  
cuộc sống hàng ngày cũng như trong nhu cầu giao tiếp của chúng ta. Thông qua việc phân tích các  
mẫu thức từ vựng hóa trong chuyển động, Leonard Talmy (2000) đã phân định ngôn ngữ thành  
hai loại dựa trên các yếu tố tham gia vào quá trình giải mã sự tình chuyển động, đó là ngôn ngữ  
định khung động từ (verb-framed) và ngôn ngữ định khung phụ từ (satellite-framed). Dựa trên sự  
phân định này, bài báo tập trung phân tích ý niệm chuyển động trong tiếng Việt, đồng thời làm rõ  
sự khác biệt về ý niệm chuyển động giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ khác. Ý niệm hóa chuyển  
động trong tiếng Việt không chỉ đơn thuần được thể hiện thông qua sự từ vựng hóa, phạm trù hóa,  
mà còn có sự tham gia của quá trình ý niệm hóa về giá trị văn hóa, yếu tố trung tâm tạo nên sự đa  
dạng về ý niệm hóa chuyển động trong tiếng Việt.  
Từ khóa: từ vựng hóa, ý niệm hóa, sự tình chuyển động, ngôn ngữ định khung động từ, ngôn ngữ  
định khung phụ từ  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
con người dựa vào các ý niệm phản ảnh nội dung  
các kết quả của hoạt động nhận thức thế giới của  
con người dưới dạng những “lượng tử” (module)  
của tri thức. Các ý niệm nảy sinh trong quá trình  
cấu trúc hóa thông tin về sự tình khách quan trong  
thế giới, cũng như về những thế giới tưởng tượng  
và sự tình khả dĩ trong thế giới đó. Các ý niệm quy  
cái đa dạng của những hiện tượng quan sát được  
và tưởng tượng về một cái gì đó thống nhất, đưa  
chúng vào một hệ thống và cho phép lưu trữ những  
kiến thức về thế giới.  
Ý niệm là đơn vị của tư duy, là yếu tố của ý  
thức. Việc nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa  
ngôn ngữ và văn hóa sẽ không đầy đủ nếu thiếu  
khâu trung gian này (Trần Văn Cơ, 2009, tr.26). Ý  
niệm là kết quả của quá trình tri nhận và là quá trình  
tạo ra biểu tượng tinh thần (mental representation).  
Cấu trúc của biểu tượng tinh thần bao gồm ba  
thành tố: trí tuệ, cảm xúc và ý trí. Cả ba thành tố  
này đều được biểu hiện trong ngôn ngữ: trong ngữ  
âm, từ vựng và ngữ pháp. Trong quá trình tư duy,  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
71  
Số 10 - 11/2017  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
v
Chuyển động là yếu tố trung tâm đối với sự trải nghiệm của con người, nó có sức lan tỏa trong  
cuộc sống hàng ngày cũng như trong nhu cầu giao tiếp của chúng ta. Tuy nhiên, mỗi ngôn ngữ diễn đạt  
chuyển động bằng những phương thức khác nhau; có thể thông qua quá trình ý niệm của sự từ vựng hóa  
(lexicalization), hay thông qua quá trình ý niệm các thành phần bổ ngữ động từ (verb modifiers) (Talmy,  
2000). Trong tiếng Việt, động từ chuyển động có những nét khác biệt với khung phân định của Talmy trên  
hai phương diện: khác biệt trong cách biểu đạt ngôn ngữ về chuyển động và khác biệt về ý niệm của giá  
trị văn hóa trong chuyển động. Xét trên sự khác biệt về ý niệm của sự từ vựng hóa, thì tiếng Việt dường  
như mang đặc tính của cả hai loại ngôn ngữ mà Talmy đã phân định. Trên bình diện về giá trị văn hóa,  
ý niệm về giá trị văn hóa trong chuyển động được thể hiện rõ sự khác biệt trong quá trình ý niệm không  
gian trong chuyển động.  
2. SỰ TÌNH CHUYỂN ĐỘNG VÀ KIỂU HÌNH NGÔN NGỮ  
Leonard Talmy nhà ngôn ngữ học người Mỹ mô tả sự tình chuyển động như là một tình huống bao  
gồm một sự chuyển động hay duy trì một trạng thái định vị tĩnh. Theo ông, sự tình chuyển động có thể  
được phân tích thành sáu thành phần ngữ nghĩa cơ bản: (1) hình (figure) hay còn gọi là vật chuyển động,  
(2) nền (ground), (3) đường dẫn (path), (4) chuyển động (motion), (5) cách thức (manner), (6) tác nhân  
(cause). Bốn thành phần đầu được xem như là các thành phần trung tâm của sự tình bởi vì nó là những  
thành phần cốt lõi. Hai thành phần còn lại liên quan đến các yếu tố bên ngoài của sự tình. Talmy đã miêu  
tả các thành phần trên qua các ví dụ sau:  
(2a) The pencil  
Cái bút chì  
Hình  
rolled  
lăn  
Chuyển động  
Cách thức  
off  
ra khỏi  
đường dẫn  
the table.  
cái bàn  
nền  
(2b) The pencil  
Cái bút chì  
Hình  
blew  
bay  
Chuyển động  
Tác nhân  
off  
ra khỏi  
đường dẫn  
the table  
cái bàn  
nền  
Cả hai trường hợp trên, cái bút chì đóng vai trò là hình và cái bàn đóng vai trò là nền của sự tình  
chuyển động, cái thường biểu đạt nguồn của chuyển động. Cụm từ ra khỏi có vai trò như là đường dẫn  
cho chuyển động. Hai động từ lăn và bay diễn tả thành phần chuyển động. Ngoài ra, động từ lăn được xếp  
vào nhóm động từ có cách thức chuyển động (manner of motion), bởi vì nguồn chuyển động xuất phát từ  
chính bản thân cái bút chì. Động từ bay được xếp vào nhóm động từ chuyển động tác nhân bởi vì nguồn  
chuyển động không phải xuất phát từ cái bút chì.  
Talmy đã đưa ra giả thuyết rằng, ngôn ngữ có thể được xếp loại thành hai nhóm dựa trên nền tảng mà  
chúng giải mã thông tin của một miền nghĩa đặc biệt trên cấu trúc ngữ pháp và từ vựng. Có hai nhóm khác  
biệt như sau: nhóm ngôn ngữ định vị thông tin chuyển động trong chính bản thân động từ, hay còn gọi  
nhóm ngôn ngữ định khung động từ (verb-framed) và nhóm thứ hai định vị thông tin chuyển động thông  
qua thành phần phụ (satellite), hay còn gọi nhóm ngôn ngữ định khung phụ từ (satellite-framed).  
Trong cấu trúc sự tình chuyển động của tiếng Việt, động từ chuyển động mang tính lưỡng phân bởi vì  
nó vừa thuộc nhóm ngôn ngữ định khung động từ và vừa thuộc nhóm ngôn ngữ định khung phụ từ. Hay  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
Số 10 - 11/2017  
72  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
v
nói cách khác, kiểu hình ngôn ngữ hai chiều của  
Talmy không phù hợp cấu trúc của sự tình chuyển  
động trong tiếng Việt. Slobin (2004) khi nghiên  
cứu một số ngôn ngữ như tiếng Tây Ban Nha, tiếng  
Hàn Quốc, hay tiếng Thái, ... đã bổ sung một mẫu  
thức ngôn ngữ, đó là ngôn ngữ định khung hư từ  
(equipollently- framed). Trong kiểu hình của ngôn  
ngữ này, đường dẫn rất đa dạng về từ loại, nó có  
thể là động từ, danh từ, giới từ hay trạng từ.... Kiểu  
hình ngôn ngữ này đã được nghiên cứu từ sớm với  
nhiều tên gọi khác nhau như cấu trúc đồng động từ  
(coverb) hay cấu trúc chuỗi động từ (serial-verb).  
(2c) Cái chai  
trôi  
vào  
trong động.  
The bottle float enter into the cave.  
Tuy nhiên, hai động từ trôi và vào trong ví dụ  
trên không kết hợp thành một nghĩa thống nhất,  
mà mỗi động từ đều giữ lại ý nghĩa độc lập của  
riếng nó, và mỗi động từ câu trên có thể thuộc  
hai loại ngôn ngữ. Câu trên thành hai câu độc  
lập sau:  
(2d) Cái chai  
(2e) Cái chai  
trôi  
vào  
trong động.  
trong động.  
3. Ý niệm trong phạm trù hóa động từ  
chuyển động  
Xét trong trường hợp khi tiếng Việt thuộc  
nhóm ngôn ngữ định khung phụ từ, đường dẫn cho  
động từ chuyển động không chỉ là những giới từ  
như trong tiếng Anh (over, to, through, up,...), mà  
nó có thể là những động từ.  
Ngôn ngữ học tri nhận cho rằng mỗi một ngôn  
ngữ tương đương với một hệ thống nhất ý niệm, mà  
nhờ đó người bản ngữ lĩnh hội, cấu trúc hóa, phân  
loại và thuyết giải dòng thông tin từ thế giới bên  
ngoài nhập vào (Trần Văn Cơ, 2009, tr.32). Vai trò  
chủ chốt của ý niệm trong tư duy là phạm trù hóa,  
cho phép tập hợp những đối tượng có sự giống nhau  
nhất định thành những lớp tương ứng.  
Nhóm 1: Đường dẫn cho động từ chuyển động  
là giới từ  
Tiếng Việt  
Quanh  
Dưới  
Tiếng Anh  
around  
under  
Trên  
Dọc theo  
over  
along  
Dixon R.M.W (2005) đã đưa ra ý niệm phạm  
trù hóa về động từ chuyển động thông qua ý niệm  
về nghĩa và đặc tính riêng của những động từ này.  
Theo ông, vai trò chung nhất của động từ chuyển  
động là mô tả sự di chuyển, phần lớn động từ  
chuyển động đều là nội động từ, và hầu hết các  
động từ chuyển động đều cần một cụm giới từ định  
vị. Theo ông, có bảy nhóm động từ chuyển động.  
(xem Bảng 1)  
Nhóm 2: Đường dẫn cho động từ chuyển động  
là động từ.  
Tiếng Việt  
Tiếng Anh  
Qua  
Về  
Vào  
Ra  
Sang  
Lên  
Xuống  
Ở
through  
back  
into  
out of  
across  
up  
down  
at  
again  
to  
Tuy nhiên, trong tiếng Việt động từ chuyển  
động được phạm trù hóa không chỉ dựa trên những  
tính chất chi phối của động từ, mà còn được dựa  
trên những đặc điểm kết hợp của động từ (Nguyễn  
Kim Thản, 1976, tr.97). Theo ông, động từ chuyển  
động được phạm trù hóa theo hai nhóm từ đó là  
thực từ và hư từ. Khi động từ chuyển động thuộc  
nhóm thực từ, thì chúng có khả năng làm thành  
phần phụ của cum từ và có khả năng độc lập tạo  
thành câu (Nguyễn Kim Thản, 1976, tr.68). Phần  
Lại  
Đến  
Như vậy, trong cấu trúc sự tình chuyển động  
của tiếng Việt có thể tồn tại song song hai động từ  
như trong ví dụ sau:  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
73  
Số 10 - 11/2017  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
v
Bảng 1: Nhóm động từ chuyển động  
Nhóm ĐT  
Chạy  
Đặc tính  
Các động từ chính  
Nhảy, trèo, leo, bơi, bay, chơi, vẫy,  
bò, trườn  
Diễn tả cách thức chuyển động  
Diễn tả chuyển động có sự tham gia của thành Qua, trở lại, vào, thoát, dời, đến thăm,  
phần định vị nơi chốn thoát khỏi, đi ra  
Đến  
Diễn tả nguyên nhân gây cho vật khác chuyển Gửi, chuyển, ăn trộm, mang đi, lấy đi,  
động có sự tham gia thành phần định vị nơi chốn nâng lên  
Đưa  
Diễn tả chuyển động trong sự tham gia sự đang Theo, dẫn, đi trước, theo sau, dẫn  
Theo  
chuyển động của vật khác  
đường  
Diễn tả chuyển động có sự tham gia của vật  
chuyển động  
Mang  
Chuyển, chở, mang, vận chuyển  
Diễn tả nguyên nhân gây ra cho vật khác chuyển  
động  
Ném  
Rơi  
Ném, tưới, kéo, rót, xịt, đẩy, hất, lôi  
Rơi, rớt, trượt, lật, tràn,đổ, ngã, vấp  
Diễn tả sự chuyển động bất chợt  
lớn động từ chuyển động trong tiếng Việt thuộc  
nhóm này và có khả năng kết hợp được với nhiều  
những hư từ khác tạo nên sự đa dạng về ngữ nghĩa  
cũng như về cú pháp trong câu:  
(3b)  
Con cò bay lả bay la.  
Bay ra phương Bắc, bay vào phương Nam.  
(Ca dao)  
4. Ý NIỆM VỀ HƯỚNG CỦA ĐỘNG TỪ  
CHUYỂN ĐỘNG TRONG TIẾNG VIỆT  
(3a) Mày đi theo bà cụ,  
Mày đi ra theo bà cụ,  
Hướng là một khái niệm trừu tượng được xây  
dựng từ những sự đối lập các mặt cụ thể khác nhau  
của thế giới khách quan thông qua sự phản ứng (so  
sánh, sắp xếp, bình giá…) một cách có ý thức của  
con người, tùy thuộc vào tính chất khác nhau cụ thể  
của sự phản ứng mang sắc thái chủ quan ấy mà ta  
có thể chia hướng ra làm nhiều loại: hướng không  
gian, hướng thời gian, và hướng tâm lý. Nếu cho  
rằng hướng là biểu hiện trực tiếp của sự so sánh hay  
đối lập giữa sự vật và hiện tượng khách quan với  
nhau thông qua ý niệm của con người, thì chính sự  
vật và hiện tượng khách quan gắn liền với hướng  
trên, khi hiện ra, lại luôn luôn mang ý nghĩa giới hạn  
của quá trình ý niệm hóa (Nguyễn Lai, 2001, tr.56).  
Mày đi ra để theo bà cụ,  
Mày đi ra để theo kịp bà cụ.  
(Nguyễn Kim Thản, 1976, tr.88)  
Khi động từ chuyển động thuộc nhóm hư từ,  
chúng không có nghĩa từ vựng mà chỉ có nghĩa  
ngữ pháp và chúng không thể đứng độc lập tạo  
thành câu hay kết hợp để tạo nên các cụm từ.  
Những hư từ này có vai trò quan trọng trong việc  
không chỉ hạn chế khả năng làm tiêu chí phân định  
động từ mà còn có khả năng phân định các nhóm  
nhỏ trong nội bộ động từ (Nguyễn Kim Thản,  
1976, tr.65). Nhóm động từ chuyển động này có  
số lượng không lớn trong tiếng Việt, chúng bao  
gồm: ra, vào, lên, xuống, sang, qua, về, lại, tới,  
đến. Nếu đối chiếu nhóm từ này trong tiếng Anh,  
thì chúng có vai trò như là những trạng ngữ hạn  
định về hướng cho động từ.  
4.1. Hướng không gian  
Hướng không gian mang tính cụ thể và khách  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
Số 10 - 11/2017  
74  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
v
quan với sắc thái đối lập chặt chẽ, người quan sát  
có thể nhận biết hoạt động của chúng. Loại hướng  
này được biểu hiện và tồn tại dưới nhiều hình thái,  
thông qua hoạt động thực tiễn của con người trong  
không gian. Hướng không gian được hình thành  
thông qua quá trình ý niệm hóa không gian khi  
có sự tương tác giữa con người và không gian.  
Loại hướng này luôn mang tính đối xứng như:  
lên # xuống, vào # ra… bởi lẽ trong quá trình ý  
niệm hóa về không gian con người đóng vai trò  
trung tâm, làm mốc cho quá trình ý niệm hóa.  
Động từ “xuống” ám chỉ một sự chuyển động  
xuất phát từ một điểm cao xuống một điểm thấp  
hơn. Nó có thể sử dụng để chỉ hướng cũng như  
mối quan hệ của con người.  
Động từ “sang” ám chỉ một sự chuyển động  
xuất phát từ một điểm này sang một điểm khác  
theo hướng nằm ngang.  
Trong tiếng Việt một số động từ được xếp vào  
nhóm động từ chuyển động có hướng như: ra-vào,  
lên-xuống, sang.  
Động từ “ra” ám chỉ một chuyển động có xuất  
phát từ một điểm nhỏ đến một điểm lớn hơn. Nó  
chỉ đề cập đến hướng của chuyển động, chứ không  
đề cập đến mối tương quan với con người.  
Những động từ chuyển động có hướng này  
luôn đề cập đến một vị trí đặc biệt cụ thể, không  
đề cập một hướng chung chung.  
(4a) Chúng ta hãy ra phòng khách.  
Trong ví dụ trên, có lẽ người nói đang ở một vị  
trí nào đó nhỏ hơn như trong phòng ngủ hay nhà  
bếp,... và mời một ai đó đi ra phòng khác một vị  
trí lớn hơn.  
Động từ “vào” ám chỉ một sự chuyển động  
xuất phát từ một điểm lớn đến một điểm nhỏ hơn.  
Nó chỉ đề cập đến hướng của chuyển động.  
(4b) Tôi vào nhà vì trời đang mưa.  
Trong ví dụ (4b), có lẽ người nói đang ở một vị  
trí nào đó rộng hơn như: ngoài sân, ngoài vườn,...  
và di chuyển vào trong nhà một vị trí nhỏ hơn.  
Động từ “lên” ám chỉ một sự chuyển động xuất  
phát từ một điểm thấp đến một điểm cao hơn. Nó  
có thể vừa được sử dụng để chỉ hướng và chỉ mối  
quan hệ của con người.  
4.2. Hướng thời gian  
Hướng thời gian cũng được hình thành thông  
qua quá trình ý niệm hóa về thời gian của con  
người. Ý niệm hóa về thời gian được phân định  
trên trục thời gian theo quá trình vận động: khởi  
đầu, tiếp tục hay kết thúc, sự phân chia này tương  
ứng với quá khứ, hiện tại và tương lai. Hướng thời  
gian đã bắt đầu trừu tượng và diện đối lập của nó  
không chặt chẽ cao độ như hướng không gian.  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
75  
Số 10 - 11/2017  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
v
Hướng thời gian trong tiếng Việt được thể hiện  
thông qua những động từ chỉ hướng như: lên, tới  
hay ra.  
5. Ý NIỆMVỀYẾUTỐVĂN HÓATRONG  
CHUYỂN ĐỘNG  
Trong ý niệm về yếu tố văn hóa, những động từ  
chuyển động có hướng này còn được sử dụng với  
những nghĩa rộng hơn khi muốn ám chỉ về hướng  
của chuyển động theo địa lý. Điểm xuất phát và  
nơi đến có mối tương quan về địa lý với nhau theo  
một quy ước thống nhất: Đông-Tây, Nam-Bắc.  
Địa hình của đất nước Việt Nam có hình chữ S,  
có phần rộng nhất là ở miền Bắc và phần hẹp là  
ở miền Nam, và Việt Nam còn được chia làm ba  
vùng khác nhau đó là: Bắc, Trung, và Nam. Cho  
nên, hướng từ các tỉnh ngoài Bắc so với các tỉnh  
ở trong miền Nam được quy định là “vào”, và các  
tỉnh trong miền Nam so với các tỉnh ngoài bắc  
được quy định là “ra”.  
(4c) Điều đó đã gợi lên trong tôi nhưng cảm  
giác buồn.  
(4d) Họ phải làm tới ngày mai mới xong công việc.  
(4e) Chúng tôi đã tìm ra câu trả lời.  
Động từ chỉ hướng “lên” trong (4c) mang sắc  
thái hiện thực của sự bắt đầu hành động với ý nghĩa  
thời gian, động từ chỉ hướng “tới” trong (4d) ghi  
nhận sự tiếp diễn quá trình hành động với ý nghĩa  
thời gian, và động từ chỉ hướng “ra” trong (4e) thể  
hiện kết quả gắn với sự báo hiệu kết thúc quá trình  
hành động với ý nghĩa thời gian.  
4.3. Hướng tâm lý  
Hướng tâm lý là hướng mang sắc thái cảm  
xúc chủ quan trong việc bình giá thuộc tính của  
sự vật và hiện tượng khác quan. Quá trình này  
được thực hiện không phải thông qua con đường  
diễn đạt bằng khái niệm mà thông qua con đường  
bộc lộ cảm xúc trong quá trình ý niệm hóa. Sự  
đối lập về sự bình phẩm khác nhau được thực  
hiện thông qua quá trình ý niệm hóa và không  
ứng trực tiếp với những điểm mốc theo hướng vận  
động lôgic giữa không gian và thời gian. Sự đối  
lập trong hướng tâm lý được phân chia theo định  
hướng tâm lý như: tiêu cực, trung tính, và tính cực.  
(5a) Từ thành phố Hồ Chí Minh, anh ra Hà Nội  
bằng gì?  
(5b) Tôi sẽ vào thành phố Hồ Chí Minh mấy  
ngày.  
- Chỉ hướng tâm lý tích cực được thể hiện  
thông qua động từ chỉ hướng “ra” hay “lên”: đẹp  
ra, khỏe ra, mập ra, tăng lên, cao lên….  
Trong ví dụ 5a, động từ được sử dụng để chỉ  
sự di chuyển từ thành phố Hồ Chí Minh ở miền  
Nam đến Hà Nội ở miền Bắc là động từ “ra”. Có  
lẽ trong trường hợp này, người nói đang ở miền  
Trung hay miền Bắc muốn vào thành phố Hồ Chí  
Minh ở miền Nam, cho nên người nói đã sử dụng  
động từ “vào”.  
- Chỉ hướng tâm lý tiêu cực được thể hiện  
thông qua động từ chỉ hướng “đi”: xấu đi, ốm đi,  
nghèo đi….  
- Chỉ hướng tâm lý trung tính được thể hiện  
thôngquađộngtừchỉhướng“lại”:ốmlại,khỏelại…  
Trong một vùng, mối quan hệ giữa các tỉnh  
ở phía Bắc thì sự chuyển động theo một quy tắc  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
Số 10 - 11/2017  
76  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
v
chiều thẳng đứng và theo hướng Bắc-Nam. Trong  
trường hợp này những động từ như: lên-xuống  
được sử dụng để diễn tả chuyển động.  
- Động từ chuyển động + lên: nâng lên, tốc lên,  
hét lên,....  
- Động từ chuyển động + xuống: hạ xuống, cúi  
xuống, quỳ xuống,....  
(5a) Tôi lên Điện Biên tham người bạn cũ.  
(5b) Cô ấy xuống Hà Nội thăm chồng.  
6. KẾT LUẬN  
Ý niệm là quá trình tư duy của con người về thế  
giới xung quanh. Thế giới xung quanh được tiếp  
nhận thông qua hệ thống các giác quan và được  
thể hiện thông qua quá trình trải nghiệm của con  
người. Mỗi quốc gia hay nền văn hóa khác nhau có  
những sự trải nghiệm về thế giới xung quanh khác  
nhau. Chuyển động được xem như là nhân tố trung  
tâm của quá trình tri nhận và tư duy của con người.  
Việc khảo sát và tìm hiểu ý niệm về chuyển động  
trong tiếng Việt cho ta thấy sự khác biệt cơ bản  
giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ khác. Sự khác biệt  
không những được thể hiện trong quá trình ý niệm  
về đặc tính của ngôn ngữ về chuyển động, mà còn  
thể hiện sự khác biệt trong sự ý niệm về giá trị văn  
hóa trong chuyển động./.  
Nếu xét theo hướng chuyển động nằm ngang,  
khi diễn tả chuyển động trong mối quan hệ giữa  
các tỉnh, người nói thường sử dụng động từ “sang”.  
(5c) Tôi vừa sang Lai Châu về.  
Ngoài ra, hai động từ “lên” và “xuống” còn  
được sử dụng để diễn tả mối quan hệ cá nhân.  
Động từ “xuống” diễn đạt hướng chuyển động từ  
người có địa vị cao xuống người có địa vị thấp hơn  
và ngược lại.  
(5d) Chủ tịch tỉnh đi xuống các huyện.  
(5e) Tôi báo cáo lên Viện trưởng.  
Đối với người Việt Nam, cơ quan làm việc  
thường được xem như là một nơi quan trọng, cho  
nên, khi diễn tả chuyển động từ một nơi nào đó  
đến cơ quan người ta thường dùng động từ “lên”.  
Tài liệu tham khảo:  
1. Trần Văn Cơ (2009), Khảo luận, Ẩn dụ tri  
nhận, NXB Lao động-Xã hội, Hà Nội.  
2. Nguyễn Đình Hòa (1979), Vietnamese verbs,  
(5f) Bố cháu lên cơ quan rồi.  
New York: Barron’s Edducation series.  
Điểm xuất phát của hướng chuyển động thường  
là yếu tố quan trọng nhất vì điều này cho biết điểm  
xuất phát là nơi rộng hay là nơi hẹp, cao hay thấp,  
trái hay phải,.... Nếu di chuyển từ một nơi hẹp  
đến một nơi rộng, thì hướng chuyển động sẽ là  
“ra”, trái lại nếu di chuyển từ một nơi rộng đến nơi  
hẹp hơn hướng chuyển động sẽ là “vào”. Nhiều  
động từ chuyển động có thể đi kèm với động từ có  
hướng tạo nên kết cấu chuỗi động từ (serial verb  
construction): đi ra, mở ra,....  
3. Nguyễn Lai (2001), Nhóm từ chí hướng vận  
động, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.  
4. Nguyễn Kim Thản (1976), Động từ trong  
tiếng Việt, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.  
5. Lý Toàn Thắng (2009), Ngôn ngữ học tri  
nhận, NXB Phương Đông, Cà Mau.  
6. Dixon R.M.W. (2005), A Semantic Approach  
to English Grammar: Oxford: OUP.  
- Động từ chuyển động + ra: bêu ra, bộc lộ ra,  
cởi ra, nong ra, nói ra,....  
7. Evans, V. (2006): Cognitive Linguistics: An  
Introduction: Edingburgh: EUP  
- Động từ chuyển động + vào: đậy vào, khép  
vào, cuộn vào, đóng vào,....  
8. Talmy, L. (2000), Toward a Cognitive  
Semantics (2 vols). Cambridge, MA: MIT Press.  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
77  
Số 10 - 11/2017  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
v
A STUDY OF INTERCULTURAL COMMUNICATION ON MOTION EVENTS  
IN VIETNAMESE  
LY NGOC TOAN, NGUYEN THI VAN ANH  
Abstract: Movement is a central element to the human experience; it is very pervasive in everyday  
life as well as our communication demands. Through the analysis of lexicalization patterns in motion,  
Leonard Talmy (2000) has classified the language into two categories based on the factors involved in  
the process of decoding the motion events, namely verb - framed and satellite - framed. Based on this  
identification, the article focuses on analyzing the concept of motion in Vietnamese, and clarifying the  
differences between the motion conceptualization in Vietnamese and other languages. The concept of  
motion in Vietnamese is expressed through not only the lexicalization and categorization, but also in  
contribution of the concept of the cultural values, a central element in creating diversities of motion  
events in Vietnamese.  
Keywords: lexicalization, conceptualization, motion event, verb-framed, satellite-framed  
Received: 12/8/2017; Revised: 29/9/2017; Accepted for publication: 15/11/2017  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
Số 10 - 11/2017  
78  
pdf 8 trang Mãnh Khiết 15/01/2024 11660 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu ý niệm sự tình chuyển động trong Tiếng Việt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_y_niem_su_tinh_chuyen_dong_trong_tieng_viet.pdf