Khảo sát cách dịch “Thoại đầu” tiếng trung trong tác phẩm “Hồng lâu mộng”

Dịch thuật  
v
KHẢO SÁT CÁCH DỊCH “THOẠI ĐẦU”  
TIẾNG TRUNG TRONG TÁC PHẨM  
“HỒNG LÂU MỘNG”  
NGUYỄN THỊ LUYỆN*; PHAN THANH HOÀNG**  
*Đại học Phúc Đán, Trung Quốc, nguyenluyen1185@gmail.com  
*Đại học Phúc Đán, Trung Quốc, jack_lucky_phan@yahoo.com  
Ngày nhận bài: 05/10/2018; ngày sửa chữa: 28/11/2018; ngày duyệt đăng: 25/02/2019  
TÓM TẮT  
“Thoại đầu” trong tiếng Trung là thành phần khởi ý, thành phần phụ trợ trong câu. Quan hệ của nó  
với toàn câu rất rời rạc, thậm chí lược bỏ thành phần này, câu vẫn có thể tồn tại được. “Thoại đầu”  
có rất nhiều chức năng khác nhau như: dẫn ra một quan điểm, dẫn ra tình hình mới hoặc chuyển  
ý… Bài viết khảo sát ngữ liệu của bản gốc và bản dịch, đối chiếu “thoại đầu” và cách dịch sang  
tiếng Việt tương ứng của dịch giả Vũ Bội Hoàng và thu được kết quả như sau: “thoại đầu” tiếng  
Trung Quốc được dịch thành kết cấu chủ vị, kết cấu giới từ + danh từ, giới từ + đại từ + động từ,  
quan hệ từ, động từ và phó từ… Bài viết hy vọng cung cấp phương thức dịch mới, đóng góp phần  
nhỏ trong quá trình chuyển thể từ tiếng Trung Quốc sang tiếng Việt, vừa không mất đi ý nghĩa của  
nguyên tác vừa phù hợp với văn phong tiếng Việt.  
Từ khóa: dịch thuật, Hồng Lâu Mộng, ngữ pháp chức năng, thoại đầu  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
của câu vẫn trọn vẹn. Thân Tiểu Long (1988,  
tr.366) cho rằng, “thoại đầu là thành phần khởi ý,  
mang tính phụ trợ cho toàn bộ câu”. Lý Phương  
Kiệt (1992, tr.88) cho rằng, “thoại đầu thường  
đứng đầu câu hoặc trước phân đoạn, nhằm dẫn ra  
một quan điểm nào đó, nghị luận hoặc bàn luận  
về một sự tình nào đó”. Đổng Tú Phương (2007,  
tr.74) đã bàn về chức năng và hình thức của “只  
见” trong văn viết tiếng Trung Quốc và cho rằng,  
“thành phần đánh dấu ngôn ngữ này mang chức  
năng dẫn ra tình hình mới và luôn nằm ngoài kết  
cấu câu”. Vương Ý (2015, tr.288) khi nghiên cứu  
về quá trình diễn biến của “只见” đã kết luận rằng,  
“Thoại đầu” (话头 huàtóu) theo “Từ điển quy  
phạm tiếng Trung hiện đại” của Lý Hành Kiện cho  
rằng “huàtóu là sự khởi đầu của lời nói hoặc chủ  
đề của lời nói” (李行健, 2004, tr.565). Có thể thấy  
ý nghĩa của “thoại đầu” giống như “khởi ngữ” của  
tiếng Việt.  
Mặt khác, giới học giả ngôn ngữ Trung Quốc  
lại cho rằng, “thoại đầu” là thành phần phụ ngoài  
câu, thường xuyên đứng ở vị trí đầu câu hoặc đầu  
mệnh đề, quan hệ của nó với toàn câu vô cùng rời  
rạc, thậm chí lược bỏ nó, câu vẫn tồn tại, ý nghĩa  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
Số 18 (3/2019)  
88  
dịch thuật  
v
Ví dụ:  
“ “只见” đã mất đi chức năng của động từ mà  
chuyển hóa thành ký hiệu ngôn ngữ, vai trò chính  
là nêu lên tính chủ quan của lời nói”.  
(1) 你知道,咱们都是老相与,不拘怎么  
样,看着他爷爷的分上,胡乱应了。  
Bài viết xét “thoại đầu” tiếng Trung như thành  
phần phụ của câu, không xét như “khởi ngữ” của  
tiếng Việt. Bài viết khảo sát ngữ liệu của bản gốc  
và bản dịch, đối chiếu “thoại đầu” và cách dịch  
sang tiếng Việt tương ứng của dịch giả Vũ Bội  
Hoàng và thu được kết quả như sau: “thoại đầu”  
chủ yếu được dịch thành kết cấu chủ vị, kết cấu  
giới từ + danh từ, giới từ + đại từ + động từ, quan  
hệ từ, động từ và phó từ...  
Bản dịch: Ông cũng biết đấy, chỗ chúng tôi  
chơi thân với nhau đã lâu, bất kỳ thế nào cũng nể  
mặt cha nó, nên tôi cứ nhận bừa.  
(2) “依小弟的意思,竟先看过脉,再说的  
为是。  
Bản dịch: Theo ý tôi, xem mạch trước đã, rồi  
hãy kể bệnh.  
Bài viết không bàn sâu về vấn đề phiên dịch  
ngữ nghĩa mà tập trung đối chiếu chức năng của  
“thoại đầu” thông qua bản gốc và sự lý giải trong  
bản dịch tiếng Việt để nhìn nhận sự lý giải của bản  
dịch đối với “thoại đầu” tiếng Trung Quốc.  
(3) 依我看来,这病尚有三分治得。  
Bản dịch: Cứ như tôi xem, thì bệnh còn ba  
phần có thể chữa được.  
Nhóm này có chức năng giống như “khởi ngữ”  
trong tiếng Việt. Hiện nay, giới Việt ngữ học có hai  
quan điểm về “khởi ngữ”:  
2. “THOẠI ĐẦU” MANG CHỨC NĂNG  
“DẪN QUAN ĐIỂM”  
Nhóm “thoại đầu” mang chức năng dẫn ra  
quan điểm nào đó thông thường bắt đầu câu bằng  
các từ như: “依我看” (Theo tôi thấy), “据我看来”  
(Như tôi thấy), “我想” (Tôi nghĩ), “我认为” (Tôi  
cho rằng)…  
Nhóm thứ nhất cho rằng, “khởi ngữ” là thành  
phần thứ yếu (thành phần phụ). Nhóm các tác giả  
có quan điểm này gồm Nguyễn Kim Thản, Hoàng  
Trọng Phiến, Trần Ngọc Thêm…  
Nhóm thứ hai cho rằng, khởi ngữ là “từ - chủ đề,  
chủ đề”. Nhóm này gồm các tác giả như: Trần Kim  
Phượng, Trương Văn Chình & Nguyễn Hiến Lê,  
Nguyễn Tài Cẩn, I.S.Bwsstrov, N.V.Xtankevich,  
Nguyễn Minh Thuyết…  
Nhóm này xuất hiện khá nhiều trong tác phẩm  
“Hồng Lâu Mộng”, thường được bắt đầu câu bằng  
các cụm từ sau: “你知道” (Ông cũng biết đấy),  
“你不知原故” (Cháu chưa biết rõ), “依我” (Theo  
ta), “依我看来” (Cứ như tôi xem), “依我的话”  
(Cứ như ý tao), “依我的主意” (Cứ ý ta), “依小  
弟的意思” (Theo ý tôi), “依你说” (Cứ như cháu  
nói), “但我想” (Nhưng tôi thiết tưởng), “你们不  
知” (Các ông không biết), “据我看来” (Nhưng ta  
xem), “据我看” (Theo tôi), “依我们愚见” (Theo  
ý chúng tôi)…  
Về từ loại của “khởi ngữ” các ý kiến chưa  
thống nhất. Một số tác giả chủ trương chỉ có danh  
từ mới có khả năng làm khởi ngữ: Nguyễn Tài Cẩn  
(1975, tr.180): “Từ - chủ đề….được biểu thị bằng  
danh từ…”. Nguyễn Minh Thuyết (1981, tr.55) cho  
rằng: “Từ - chủ đề nêu chủ đề câu nói và được biểu  
thị bằng danh từ có giới từ hoặc không có giới từ”.  
Một số tác giả khác chủ trương không chỉ danh từ  
mà vị từ (động từ và tính từ) có thể làm khởi ngữ:  
Diệp Quang Ban (1981, tr.54) cho rằng, “động từ  
và tính từ…cũng là khởi ngữ”; Trương Văn Chình,  
Nguyễn Hiến Lê (1963, tr.530) nhận định: “thể từ  
và trạng từ đều có thể dùng làm chủ đề”.  
Kết cấu của nhóm này có thể là kết cấu chủ vị,  
như: “你知道” (Ông cũng biết đấy) hoặc “giới từ  
+ danh từ” như: “依小弟的意思” (Theo ý tôi),  
“依我的话” (Theo ý tôi) hoặc “giới từ + danh từ +  
danh từ/đại từ + động từ”, như: “依你说” (Cứ như  
cháu nói), “依我看来” ( Cứ như tôi xem)…  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
89  
Số 18 (3/2019)  
Dịch thuật  
v
Nhóm “thoại đầu” tiếng Trung mang chức năng  
năng biểu thị mối quan hệ cú pháp giữa các từ  
(cụm từ, câu) mà còn có chức năng biểu thị mối  
quan hệ ngữ nghĩa giữa chúng.  
“dẫn quan điểm” khi dịch sang tiếng Việt vẫn giữ  
nguyên kết cấu, có thể là kết cấu chủ vị như: “Ông  
(chủ ngữ) cũng biết đấy (vị ngữ)”, có thể là “giới  
từ + danh từ” như: “Theo (giới từ) + ý tôi (danh  
từ)”, có thể là “giới từ + đại từ + động từ”, như:  
“cứ như (giới từ) + tôi (đại từ) + xem (động từ)”…  
Hoàng Phê (2003, tr.937) cho rằng ““thì” biểu  
thị quan hệ tiếp nối giữa hai sự việc, sự việc này  
xảy ra xong là tiếp nối ngay đến sự việc kia.”  
Trong bản dịch “Hồng Lâu Mộng”, các nhóm  
từ này đã được dịch ra như sau:  
Những ví dụ trên phản ánh sự tương đồng từ  
kết cấu, vị trí, từ loại và thậm chí sự ngắt nghỉ  
giữa thành phần khởi ý với nòng cốt câu của bản  
dịch và bản gốc. Từ đó cho thấy, nhóm “thoại đầu”  
mang chức năng “dẫn quan điểm” được hiểu đúng  
trong bản dịch tiếng Việt. Có thể kết luận, nhóm  
“thoại đầu” này giống như “khởi ngữ” với chức  
năng là thành phần phụ của tiếng Việt.  
(4) 正说着,只听丫鬟们说:  
Bảndịch:TậpNhânđươngnóithìahoànvàobáo.  
(5) 正说着,只见一群人簇着凤姐出来了。  
Bản dịch: Họ đương nói chuyện thì một đám  
3. “THOẠI ĐẦU” MANG CHỨC NĂNG  
“DẪN RA TÌNH HÌNH MỚI”  
người đưa Phượng Thư ra.  
(6) 正说着,只见宝钗那边笑道:  
Nhóm “thoại đầu” mang chức năng dẫn ra  
hoàn cảnh mới, tình hình mới thì nội dung trọng  
tâm nằm ở phía sau “thoại đầu”. Trong “Hồng  
Lâu Mộng”, nhóm này chủ yếu gồm các từ có  
kết cấu sau: “忽/只 + 动词” đứng đầu câu hoặc  
đứng trước mệnh đề. Ở nhóm này, “只见” xuất  
hiện nhiều nhất. Vương Ý (2015, tr.301) cho rằng:  
“chức năng của nó là dẫn ra tình hình mới, trọng  
điểm của câu nằm ở phía sau “只见”. Nhóm này  
được dịch thành ba loại từ mang ba chức năng  
khác nhau của tiếng Việt. Loại thứ nhất là quan hệ  
từ mang chức năng liên kết mệnh đề hoặc câu, loại  
thứ hai là động từ làm vị ngữ trong câu, loại thứ ba  
là phó từ làm thành tố phụ cho vị từ.  
Bản dịch: Đương nói thì Bảo Thoa ở đằng kia  
cười nói:  
Trong tác phẩm “Hồng Lâu Mộng”, một số từ  
“只见” được dịch thành “thì”, ngoài ra còn xuất  
hiện bản dịch “thì (quan hệ từ) + có (động từ biểu  
thị sự tồn tại)”.  
(7) 宝钗方欲说话时,只见王夫人房内的丫  
头来说:  
Bản dịch: Bảo Thoa đương muốn nói thêm, thì  
có a hoàn bên Vương phu nhân đến nói.  
Trong ví dụ (7), phía trước là nêu lên nội dung,  
phần quan trọng nằm ở phía sau, biểu đạt sự xuất  
hiện của một sự việc mới.  
3.1. Dịch thành quan hệ từ tiếng Việt  
Nhóm “thoại đầu” mang chức năng “dẫn ra  
tình hình mới” được dịch thành quan hệ từ tiếng  
Việt chủ yếu có “只见”, thường đứng ở đầu câu  
hoặc đầu phân đoạn thứ hai của câu. Nhóm thoại  
đầu này chủ yếu được dịch thành quan hệ từ “thì”,  
có tác dụng liên kết mệnh đề hoặc câu. Chúng tôi  
cho rằng, quan hệ từ có vị trí khá quan trọng trong  
câu tiếng Việt, vì quan hệ từ không chỉ có chức  
Trong câu tiếng Trung của ví dụ (4), (5), (6),  
(7) thì nội dung trọng tâm của câu nằm ở phía sau  
“只见” nhưng khi dịch sang tiếng Việt, nội dung  
câu trở nên bình đẳng giữa hai vế câu, nội dung  
toàn câu biến thành câu quan hệ, từ “thì” là tác  
nhân nối giữa các mệnh đề đó lại và biểu đạt các  
sự việc xảy ra liên tiếp nhau.  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
Số 18 (3/2019)  
90  
dịch thuật  
v
Theo quan điểm ngữ pháp chức năng của Cao  
Xuân Hạo (1991, tr.126), những trường hợp bắt  
buộc phải dùng “thì”: “Khi giữa các từ ngữ đặt ở  
chỗ tiếp xúc giữa Đề và Thuyết có thể ngẫu nhiên  
hình thành một mối quan hệ làm sai nghĩa của  
câu, làm cho câu trở thành vô nghĩa, hoặc không  
thành câu nữa”.  
năng của “thoại đầu”, chứ không phải chức năng  
của “phó từ + động từ” nữa. Tuy vậy, nhóm này đã  
được dịch thành động từ thính giác hoặc động từ  
thị giác tiếng Việt.  
Những “thoại đầu” được dịch thành động từ  
tiếng Việt gồm có “只见”, “只听”, “忽听”, “忽  
见”… Thân Tiểu Long (1993) khi nghiên cứu “câu  
quan hệ” trong tác phẩm “Thủy Hử” cho rằng,  
“只见” là một loại “thoại đầu”. Ngoài ra, Lã Cát  
Ninh (2004) khi nghiên cứu “Hồng Lâu Mộng” đã  
kết luận rằng, những câu có “只见” đứng trước  
kết cấu câu và những câu không có “只见” đứng  
trước kết cấu câu đều có ý nghĩa giống nhau, “只  
见” không có vai trò ngữ nghĩa. Lý Tương (2007),  
Tăng Kiểm Hồng (2010) cũng đã chỉ ra rằng, “只  
见” có chức năng “dẫn ra tình hình mới”. Chúng  
tôi tiến hành đối chiếu “只 + động từ” với bản  
dịch tiếng Việt thì thấy phần lớn được dịch thành  
động từ thính giác, thị giác như: “nghe”, “thấy”,  
“trông”, “trông thấy”… Ví dụ:  
Từ những câu dịch tiếng Việt (4), (5), (6), (7)  
cho thấy, từ “thì” dẫn ra mối quan hệ giữa hai  
mệnh đề và không thể lược bỏ. Trong ví dụ (5),  
nếu lược bỏ từ “thì”: “Họ đương nói chuyện một  
đám người đưa Phượng Thư ra”. Câu này sẽ được  
hiểu rằng: “Họ đang nói về câu chuyện một đám  
người đưa Phượng Thư ra”. Nội dung khác hoàn  
toàn so với văn bản gốc trong “Hồng Lâu Mộng”.  
Từ đó cho thấy, câu dịch trong tiếng Việt tương đối  
phụ thuộc vào quan hệ từ, nếu thiếu thành phần  
này thì nghĩa câu sẽ thay đổi.  
Có thể nói, nhóm “thoại đầu” tiếng Trung  
mang chức năng “dẫn ra tình hình mới” sau khi  
dịch thành quan hệ từ “thì” đã biến đổi chức năng,  
đồng thời làm thay đổi kết cấu và chức năng câu.  
Dịch như vậy là hiểu sai về “thoại đầu”. Chúng tôi  
cho rằng, trước hết phải hiểu đúng chức năng của  
nhóm “thoại đầu” này, từ đó tìm được cách dịch  
phù hợp với văn phong của người Việt.  
(8) 进入门来,只见有十数个大橱,皆用封  
条封着。  
Bản dịch: Đi vào trong cửa thấy mười mấy cái  
tủ lớn đều niêm phong cẩn thận.  
(9) 翻身看时,只见袭人和衣睡在衾上。  
Với những “thoại đầu” mang chức năng “dẫn  
ra tình hình mới” có thể dịch thành “bỗng”.  
Bản dịch: Giở mình trông ra, thấy Tập Nhân  
mặc cả áo nằm ngủ trên đệm.  
Xét từ phương diện ngữ nghĩa, “bỗng” biểu đạt  
(10) 一齐来至马前,只听苇中有人呻吟。  
hành động xảy ra đột nhiên, bất ngờ.  
Bản dịch: Rồi cùng đến chỗ buộc ngựa, nghe  
trong đám sậy có người rên rỉ.  
Xét từ quan hệ ngữ pháp, “bỗng” có thể đứng  
đầu câu hoặc giữa hai mệnh đề, không chỉ phù hợp  
với văn phong người Việt, mà còn phù hợp với  
chức năng “thoại đầu” tiếng Trung và giữ nguyên  
được ý nghĩa trong bản gốc.  
(11) 又行了半日,忽见街北蹲着两个大石  
狮子,三间兽头大门,门前列坐着十来个华冠  
丽服之人。  
3.2. Dịch thành động từ tiếng Việt  
Bản dịch: Đi một lúc lâu, trông thấy đường  
phía bắc có hai con sư tử đá quỳ, ba gian cổng  
chính có chạm đầu thú, trước cửa chừng mười  
người mũ áo chỉnh tề đứng xếp hàng.  
Kết cấu chính của nhóm “thoại đầu” này là  
“忽/只 (phó từ) + 动词 (động từ)”. Trong tiếng  
Trung, nhóm này đã bị chuyển hóa mang chức  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
91  
Số 18 (3/2019)  
Dịch thuật  
v
Trong tiếng Trung, nhóm “thoại đầu” này có  
Bản dịch thêm vào chủ ngữ “Bảo Ngọc” mà  
bản gốc không có, “thoại đầu” “只见” được dịch  
thành “thấy” và chỉ đích danh Bảo Ngọc thấy. “只  
见” trong bản gốc có ý dẫn ra nội dung phía sau  
chứ không phải chỉ hành động của một đối tượng  
nào đó. Chúng tôi cho rằng, sở dĩ bản dịch thêm  
vào chủ ngữ vì hiểu sai trong văn cảnh đó người  
“thấy” là “Bảo Ngọc” và hiểu sai chức năng của  
“只见” thành động từ chính của câu.  
chức năng là dẫn ra “tình hình mới”, là thành phần  
phụ trợ của câu. Các “thoại đầu” sau khi được dịch  
thành động từ đều đã biến đổi chức năng, biến  
thành vị ngữ động từ, có chức năng thuật lại sự  
việc. Các động từ này còn có thể đứng trước kết  
cấu chủ vị.  
Ngoài ra, nhóm “thoại đầu” này còn được dịch  
thành kết cấu “chợt (phó từ) + động từ (thính  
giác/thị giác)”, biểu thị hành động xảy ra nhanh,  
chớp nhoáng.  
Tương tự cách dịch có thể tham khảo phần 3.1,  
chúng tôi không nhắc lại. Ngoài ra, khi biểu đạt  
chức năng “dẫn ra tình hình mới” có thể dùng từ  
“chợt” cũng biểu đạt được ý nghĩa này. Tuy nhiên  
cần lưu ý về trật tự từ trong câu.  
(12) 忽听唿的一声帘子响,晴雯又跑进来  
问道:  
3.3 Dịch thành phó từ  
Bản dịch: Chợt nghe tiếng rèm “soạt” một cái,  
Tình Văn chạy vào hỏi:  
Nhóm “thoại đầu” mang chức năng này còn  
được dịch thành phó từ, nhưng có sự biến đổi về  
trật tự từ, vị trí của bản dịch và bản gốc khác nhau,  
ví dụ:  
(13) 这士隐正痴想,忽见隔壁葫芦庙内寄  
居的一个穷儒-姓贾名化,表字时飞,别号雨  
村者走了出来。  
(15) 忽见宝钗走来,因问:  
Bản dịch: Sĩ Ẩn đương lúc vẩn vơ suy nghĩ,  
chợt trông thấy một nhà nho nghèo, ở trọ trong  
miếu Hồ Lô, bên cạnh nhà mình, họ Giả tên Hóa,  
tên chữ là Thời Phi, biệt hiệu Vũ Thôn, đi đến.  
Bản dịch: Bảo Thoa chợt đến hỏi.  
Trong câu (15), “忽见” tu sức cho toàn bộ nội  
dung câu “宝钗走来,因问”, chứ không phải tu  
sức riêng “Bảo Thoa” hay động từ “đến hỏi” phía  
sau. Chúng tôi đồng ý rằng, “忽见” dịch thành  
“chợt” là đúng nhưng vị trí của “chợt” không phải  
đứng sau “Bảo Thoa” mà nên đứng đầu câu.  
Từ những câu trên cho thấy, “thoại đầu” sau  
khi được dịch thành động từ đã biến đổi chức  
năng, “thoại đầu” đã trở thành động từ chính của  
câu, phía sau đều là bổ ngữ.  
So sánh hai cách dịch:  
Thậm chí còn có trường hợp biến “thoại đầu”  
thành vị ngữ động từ chi phối toàn bộ câu, phía  
trước thêm vào chủ ngữ để làm rõ nghĩa câu:  
Chợt Bảo Thoa đến hỏi. (Tự dịch) (1)  
Bảo Thoa chợt đến hỏi. (Bản dịch) (2) (宝钗  
突然走来问)  
(14) 一直到了宁国府前,只见府门洞开,  
两边灯笼照如白昼,乱烘烘人来人往,里面哭  
声摇山振岳。  
Hai cách dịch trên có sự khác biệt lớn: Câu  
trong bản dịch (2) “chợt” nhấn mạnh đến động từ  
phía sau, mà người tạo ra hành động ấy là “Bảo  
Thoa”, đây là câu chủ vị; còn câu trong bản dịch (1)  
là câu vị từ, nhấn mạnh đến toàn bộ nội dung câu  
phía sau “chợt”, giống chức năng trong bản gốc.  
Bản dịch: Đến phủ Ninh, Bảo Ngọc thấy cửa  
phủ mở toang, đèn đuốc sáng như ban ngày, người  
đi lại tấp nập. Trong nhà tiếng khóc ầm lên, tưởng  
như rung động cả rừng núi.  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
Số 18 (3/2019)  
92  
dịch thuật  
v
sự việc không tích cực hoặc dùng ở thể phủ định.  
Ví dụ:  
Chúng tôi cho rằng, “忽见” có thể tham khảo  
cách dịch 3.1 hoặc dịch thành “chợt” nhưng cần  
lưu ý vị trí của “thoại đầu” trong bản gốc và bản  
dịch. Sự so sánh trên đây cho thấy, trật tự từ trong  
câu quyết định đến việc hiểu ý nghĩa của câu tiếng  
Trung và tiếng Việt.  
Nói đến thế mà nó vẫn không nghe. (Hoàng  
Phê, 2003, tr.310).  
“Nói đến” còn thường đi kèm luôn thể phủ  
định để tạo nên cụm từ “nói gì + đến”:  
4. “THOẠI ĐẦU” MANG CHỨC NĂNG  
“CHUYỂN Ý”  
Anh em nó còn chẳng giúp, nói gì đến người  
dưng. (Hoàng Phê, 2003, tr.733).  
Nhóm này thường gồm các từ sau đây: “却说”,  
“如今且说”, “话说”, “且说”… Ví dụ:  
Chúng tôi cho rằng, với nhóm có chức năng  
“chuyển ý” rất khó để tìm kiếm được một từ ngữ  
phù hợp về cả chức năng và nghĩa. Nhóm này  
mang tính chất khá đặc thù trong ngôn ngữ của  
người Trung Quốc, trong tiếng Việt rất hiếm khi  
sử dụng nên việc lược dịch nhóm này tương đối  
hợp lý.  
(16) 却说娇杏这丫鬟,便是那年回顾雨村  
者。  
Bản dịch: Nói đến Kiều Hạnh là người năm  
trước đã ngoảnh lại nhìn Giả Vũ Thôn.  
(17) 如今且说林黛玉自在荣府以来,贾母  
万般怜爱,寝食起居,一如宝玉、迎春、探  
春、惜春三个亲孙女倒且靠后。  
5. KẾT LUẬN  
Khảo sát cho thấy, “thoại đầu” được dịch thành:  
kết cấu chủ vị, kết cấu giới từ + danh từ (tương  
đương khởi ngữ tiếng Việt), quan hệ từ, động từ  
và phó từ. Về mặt chức năng, chỉ có “khởi ngữ” là  
mang trọn vẹn nội dung của “thoại đầu”, các cách  
dịch khác tuy hợp văn phong Việt Nam nhưng khi  
đối chiếu với bản gốc đã đánh mất ý nghĩa ban đầu  
và không đúng chức năng của “thoại đầu”.  
Bảndịch:NaynóiLâmĐạiNgọctừkhiđếnphủ  
Vinh, được Giả mẫu thương yêu muôn phần, ăn ở đi  
đứng, nhất nhất đều như Bảo Ngọc, ngay Nghênh  
Xuân, Thám Xuân, Tích Xuân cũng không bằng.  
(18) 且说次日午间,人回道:“请的那张先  
生来了。”  
(Bản dịch: Trưa hôm sau, người gác cửa vào  
trình: “Trương tiên sinh đã đến”)  
“Thoại đầu” có chức năng “dẫn ra quan điểm”  
được bản dịch lý giải đúng và không làm biến đổi  
chức năng câu.  
(19)话说史湘云跑了出来,怕林黛玉赶  
上,宝玉在后忙说:  
“Thoại đầu” có chức năng “dẫn ra tình hình  
mới” được dịch thành quan hệ từ, động từ và phó  
từ. Điều này cho thấy, bản dịch chưa lý giải đúng  
chức năng của nhóm này. Khi dịch thành quan hệ  
từ trong câu đã biến “thoại đầu” thành từ liên kết  
giữa các mệnh đề hoặc các câu với nhau; khi dịch  
thành động từ đã biến “thoại đầu” thành vị ngữ  
chính của câu; khi dịch thành phó từ, vị trí của  
“thoại đầu” và bản dịch không giống nhau, vì thế,  
“thoại đầu” trở thành thành tố phụ cho vị từ. Sự  
lý giải như vậy đều làm biến đổi chức năng của  
(Bản dịch: Sử Tương Vân sợ Đại Ngọc đuổi  
theo, chạy đi ngay. Bảo Ngọc ở đằng sau nói:)  
Trong số những từ được dịch thì đa số dịch  
thành “nói đến” hoặc “nay nói”. Trong cụm từ  
này, “nói” là động từ trung tâm, “nói đến” là chỉ  
hướng, hướng câu chuyện, hướng đến người hoặc  
sự vật cần nhắc đến.  
Trong tiếng Việt, “nói đến” thường hướng đến  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
93  
Số 18 (3/2019)  
Dịch thuật  
v
Nguyễn Tài Cẩn (1975), Ngữ pháp tiếng Việt: Tiếng -  
Từ ghép - Đoản ngữ, NXB Đại học và Trung học  
chuyên nghiệp, Hà Nội.  
“thoại đầu” tiếng Trung và biến đổi loại hình câu.  
Chúng tôi cho rằng, khi gặp nhóm “thoại đầu” này  
có thể dịch thành “bỗng”, “bỗng nhiên” hoặc  
“chợt” nhưng cần lưu ý về vị trí của “thoại đầu”  
trong bản gốc và bản dịch.  
Cao Xuân Hạo (1991), Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp  
chức năng: Quyển 1, NXB khoa học xã hội, Hà Nội.  
“Thoại đầu” có chức năng “chuyển ý” khó tìm  
được từ ngữ vừa giữ được chức năng của “thoại  
đầu” vừa phù hợp cách biểu đạt của tiếng Việt.  
Chúng tôi cho rằng, nhóm này nên lược dịch.  
Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963), Khảo  
luận về ngữ pháp Việt Nam, Đại học Huế, Huế.  
Hoàng Phê (2003), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng,  
Đà Nẵng.  
Tiêu chuẩn của dịch là Tín, Đạt, Nhã nhưng  
để đạt được Đạt và Nhã thì trước hết cần phải Tín.  
董秀芳 (2007), 汉语书面语中的话语标记“只见”, 南  
开语言学刊, (02):74-78+155  
李芳杰 (1992), 说“话头”,语言教学与研究, (03):  
88-107  
。
Bài viết xem xét cách dịch thông qua ngữ pháp  
chức năng, hy vọng đóng góp phần nhỏ trong quá  
trình chuyển thể nguyên tác từ tiếng Trung sang  
tiếng Việt, vừa không mất đi ý nghĩa của nguyên  
tác, vừa phù hợp với văn phong tiếng Việt./.  
。
李行健 (2004), 现代汉语规范词典,外语教学  
与研究出版社,语文出版社,北京。  
申小龙(1988), 中国句型文化,东北师范大  
Tài liệu tham khảo:  
学出版社,长春。  
Diệp Quang Ban (1981), Bàn về vấn đề khởi ngữ (hay  
chủ đề) trong tiếng Việt, NXB Đại học và Trung học  
chuyên nghiệp, Hà Nội.  
王懿 (2015), 论“只见”的功能演化,语言研  
究集刊,(02):298-311+360。  
AN INVESTIGATION ON HOW TO TRANSLATE “CHINESE HUATOU”  
IN “THE DREAM OF RED MANSIONS”  
NGUYEN THI LUYEN, PHAN THANH HOANG  
Abstract: Chinese “Huatou” is the starting element in the sentence. Its relationship to the whole  
sentence structure is very fragmentary, even if this component is excluded, the sentence can  
still exist. “Huatou” has many different functions such as: expressing a viewpoint, introducing  
a new situation or transfering of new ideas... The article explores the use of “Huatou” in several  
authentic Chinese texts and its equivalents in the translated versions by Vietnamese translator Vu  
Boi Hoang. The research results demonstrate that “Huatou” is used in various structures such as  
preposition + adjective, adjective + adjective + verb, conjuctives, verbs and adverbs... The article  
hopes to provide a new translation method, contributing a small part in Chinese-Vietnamese  
translation vice versa, without losing the intended meaning of the original texts, in accordance  
with Vietnamese style.  
Keywords: translation, the Dream of Red Mansions, functional grammar, huatou  
Received: 05/10/2018; Revised: 28/11/2018; Accepted for publication: 25/02/2019  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
Số 18 (3/2019)  
94  
pdf 7 trang Mãnh Khiết 13/01/2024 13500 Free
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát cách dịch “Thoại đầu” tiếng trung trong tác phẩm “Hồng lâu mộng”", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_cach_dich_thoai_dau_tieng_trung_trong_tac_pham_hong.pdf