Thiên nhiên và cuộc sống thôn quê trong thơ chữ hán Đặng Huy Trứ và Nguyễn Khuyến

TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 26. 2015  
THIÊN NHIÊN VÀ CUỘC SỐNG THÔN QUÊ  
TRONG THƠ CHỮ HÁN ĐẶNG HUY TRỨ VÀ NGUYỄN KHUYẾN  
Lê Thị Nƣơng1  
TÓM TẮT  
Đề tài thôn quê trong thơ trung đại Việt Nam có mối quan hệ sâu sắc với nền văn  
hóa dân tộc. Đằng sau mỗi lũy tre làng luôn ẩn chứa một nếp sống, phong tục tập  
quán và đặc sắc văn hóa riêng biệt. Thơ ca trung đại Việt Nam là di sản quý giá góp  
phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống đã tồn tại hàng nghìn  
năm. Đặng Huy Trứ và Nguyễn Khuyến là hai thi nhân tiêu biểu của thế kỉ XIX đã kế  
thừa và phát huy thành tựu đó của thơ ca. Với những thi phẩm bằng chữ Hán về thôn  
quê, các thi nhân đã thể hiện cảnh sắc thiên nhiên cũng như cuộc sống người dân lao  
động mộc mạc, giản dị và đậm đà tinh thần dân tộc.  
Từ khóa: Thiên nhiên thôn quê, thơ chữ Hán  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Trên tiến trình phát triển của thơ trung đại Việt Nam, đến cuối thế kỷ XIX,  
thơ chữ Hán vẫn đƣợc nhiều tác giả lựa chọn để gửi gắm tâm tình. Tuy nhiên,  
kiểu chữ vuông cao quý ở giai đoạn này không chỉ khắc họa cái cao nhã mà còn là  
nơi để các thi nhân thể hiện niềm tự hào dân tộc qua những vần thơ về cảnh bình  
dị, dân dã ở thôn quê. Đề tài thôn quê vốn đƣợc thể hiện chủ yếu ở mảng thơ chữ  
Nôm, song thơ chữ Hán là một thứ ngôn ngữ ngoại nhập cũng đã có những phá vỡ  
quy phạm để phù hợp với hoàn cảnh lịch sử xã hội giai đoạn này. Đặng Huy Trứ  
và Nguyễn Khuyến là hai tác giả để lại nhiều thi phẩm có đóng góp không nhỏ  
trong sự phát triển của thơ ca trung đại Việt Nam. Một trong những biểu hiện của  
sự phát triển đó là đƣa chất hiện thực vào thơ chữ Hán và dần thoát khỏi những  
ƣớc lệ sáo mòn của văn chƣơng nhà nho. Từ sáng tác của thơ thời Trần đến Đặng  
Huy Trứ và Nguyễn Khuyến đã có bƣớc tiến đáng kể về đề tài và phạm vi phản  
ánh. Trong những giai đoạn đầu, đề tài thôn quê chƣa phải là đối tƣợng để thi  
nhân phản ánh mà chỉ đƣợc bộc lộ gián tiếp qua tƣ tƣởng, tình cảm của tác giả.  
Đến thế kỷ XIX, hình ảnh thiên nhiên và cuộc sống thôn quê đã đƣợc khắc họa  
phong phú và đa dạng, là đối tƣợng thẩm mĩ của văn học. Đó cũng chính là xu thế  
phát triển theo hƣớng dân tộc hóa, giàu tinh thần nhân văn, nhân bản của thơ ca  
trung đại Việt Nam.  
1 ThS. Giảng viên khoa Khoa học Xã hội, Trường Đại học Hồng Đức  
87  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 26. 2015  
2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU  
2.1. Thiên nhiên thôn quê sinh động, đa sắc màu  
Thiên nhiên là đối tƣợng thẩm mỹ quan trọng của văn học trung đại đặc biệt là  
thơ ca. Các thi nhân Việt Nam vừa ảnh hƣởng quan điểm sáng tác theo hƣớng “điền  
viên sơn thủy” của cổ học Trung Hoa vừa bộc lộ tình cảm sâu sắc với thiên nhiên đất  
Việt. Trong vũ trụ rộng lớn, con ngƣời và thiên nhiên luôn có mối quan hệ gắn bó, hòa  
đồng, có sự tƣơng giao theo quan niệm “thiên nhân tƣơng dữ”, “thiên nhân tƣơng  
cảm”. Văn học phƣơng Đông thƣờng coi thiên nhiên trong sự hòa đồng, gắn bó. Cảnh  
vật thiên nhiên đƣợc hiểu theo nghĩa rộng nhất là toàn bộ thế giới tự nhiên xung quanh  
cuộc sống con ngƣời. Đó là các yếu tố thiên nhiên nhƣ gió mây, sông núi, hoa lá, cỏ  
cây, chim muông... (phong, hoa, tuyết, nguyệt, sơn thủy, thảo, diệp, điểu, vân...).  
Ở mỗi dân tộc, mỗi thời kì, thiên nhiên đƣợc thể hiện khác nhau và mang giá trị  
thẩm mỹ riêng biệt. Thiên nhiên thôn quê Việt Nam vừa có những nét chung của  
thiên nhiên khu vực Đông Á nhƣng cũng có những đặc sắc riêng biệt. Đặc biệt là  
những vần thơ viết về thiên nhiên thôn quê. Đó là sự kết hợp hài hòa của những đối  
cực, thiên nhiên thôn quê vừa có vẻ đẹp mộc mạc dân dã mà không kém phần tao  
nhã, mĩ lệ; vừa quen thuộc mà cũng mới lạ đầy sáng tạo, vừa ảnh hƣởng vẻ đẹp ngoại  
nhập nhƣng vừa mang bản sắc dân tộc. Vì vậy, chúng ta có thể tìm hiểu thiên nhiên  
thôn quê trên hai bình diện là thiên nhiên mộc mạc, dân dã và thiên nhiên tao nhã mĩ  
lệ. Theo nội hàm từ bình dị, dân dã có nghĩa là “điều bình thƣờng và giản dị”, “quê  
mùa và chất phác” [8; tr 238]. Vì vậy, thiên nhiên thôn quê mang vẻ đẹp bình dị, dân  
dã là thiên nhiên gắn với cuộc sống của ngƣời nông dân và là thiên nhiên gần gũi, quen  
thuộc đối với dân tộc Việt.  
Thiên nhiên trƣớc thế kỉ XIX hầu hết nói về cảnh có núi, có sông, có chim  
muông, hoa cỏ, có “ngàn mai gió cuốn”, có “dặm liễu sƣơng sa”... Có nhiều cảnh đẹp  
sang trọng nhƣng dƣờng nhƣ vẫn có sự xa lạ với đông đảo ngƣời dân Việt. Có lẽ do  
quan điểm sáng tác mang tính chất quan phƣơng, hƣớng thƣợng nên thi nhân phải  
mƣợn cảnh cao sang quý phái ở nƣớc ngoài và điển cố để vẽ nên một bức tranh mĩ lệ.  
Vì vậy, dù có nhiều cảnh đẹp nhƣng thiếu sắc màu, hƣơng vị của quê hƣơng đất nƣớc.  
Đặng Huy Trứ và Nguyễn Khuyến đã đem vào thơ chữ Hán cảnh nông thôn Việt Nam  
với vẻ đẹp mộc mạc, thanh đạm mà vô cùng thi vị. Theo khảo sát, số bài thơ viết về  
thiên nhiên của Đặng Huy Trứ là 18/65 chiếm tỉ lệ 27,7% tổng số bài thơ viết về thôn  
quê. Trong khi đó, số bài thơ viết về thiên nhiên của Nguyễn Khuyến là 69/158, chiếm  
tỉ lệ 43,7%. Kết quả này cho thấy thiên nhiên thôn quê có một vị trí quan trọng trong  
sáng tác chữ Hán của hai thi nhân.  
Thiên nhiên luôn có mối quan hệ mật thiết với tâm trạng thi nhân và phần nào  
phản ánh thực tại xã hội đƣơng thời. Đặng Huy Trứ cũng đã thể hiện bức tranh hiện  
thực đƣơng thời qua hình ảnh thiên nhiên đa sắc màu. Khi xã hội thịnh trị thì xuất hiện  
88  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 26. 2015  
hình ảnh thiên nhiên tƣơi vui, đầy sức sống và khi xã hội khủng hoảng thì thiên nhiên  
cũng trở nên ảm đạm, tối tăm. Chúng ta bắt gặp cảnh làng quê thanh bình, yên ả với  
tiếng sáo trẻ chăn trâu:  
Thiền chung hỗ đáp xao tân nguyệt  
Mục địch tƣơng yêu lộng vãn tình  
(Chuông chùa làm rung động mảnh trăng non  
Sáo mục đồng véo von nhƣ trêu ghẹo ánh chiều)  
(Phong tống trạo ca)  
Và có lúc, thi nhân còn cảm nhận cảnh xuân tƣơi phơi phới giữa tiết trời thu, vẻ  
đẹp yên bình, giản dị của thôn dã tạo nên một bức tranh thủy mặc ngập ánh sáng. Theo  
gót chân của thi nhân bên bờ sông Mã, ngƣời đọc bất ngờ nhận ra cảnh đẹp vừa gần  
gũi vừa nên thơ:  
Nhàn lai túng bộ Mã giang lân  
Bích thủy thanh sơn nhƣ cố nhân  
Lạo hậu đàm hoa lăng ảnh động  
Vũ dƣ lam sắc họa đồ tân  
Nhai đàm hạng thuyết tri phong tục  
Mục xƣớng tiều ca tẩy thổ trần  
Huống thị điền viên thanh nhất sắc  
Thu trung biệt chiếm thập phần xuân  
(Dã hứng)  
(Đƣợc lúc thƣ nhàn, tạm thả gót dạo chơi trên bờ sông Mã/ Non xanh nƣớc biếc  
nhƣ ngƣời bạn cũ/ Sau cơn lụt, bóng hoa ấu trong đầm lay động/ Mƣa tan, sắc núi nhƣ  
bức tranh mới mẻ/ Câu chuyện, lời bàn trên đƣờng, trong ngõ xóm cho biết phong tục  
của dân/ Tiếng hát của chú mục đồng và bác tiều phu rửa sạch bụi trần/ Huống chi ruộng  
vƣờn lại xanh một màu/ Trong mùa thu mà vẻ xuân nhƣ đã chiếm mƣời phần rồi).  
Bên cạnh đó, có những vần thơ khắc họa cảnh lũ lụt nơi thôn quê với hình ảnh  
nƣớc dâng choán ngợp cả làng quê yên ả. Cảnh lũ lụt đó có lẽ đã trở thành mối cảm  
hoài trong sâu thẳm tâm hồn mỗi ngƣời dân Việt Nam:  
Điền mê giới hạn nan tầm kệ  
Lộ thất tiền trình tạm phóng tiêu  
Đình dẫn ngƣ hà thành tiểu hác  
Đê nhân lậu nghị quyết tu điều  
(Thu đại thủy)  
89  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 26. 2015  
(Ruộng không còn trong thấy bờ, khó tìm ra mốc/ Đƣờng ngập cả lối đi phải cắm  
cây làm dấu/ Sân thành ao nhỏ, tôm cá kéo đến/ Đê do mối đục, vỡ một đoạn dài).  
Những địa danh Sầm Sơn, Quảng Xƣơng, Hà Trung, Hòn Mê... xuất hiện trong  
thơ Đặng Huy Trứ không phải với vai trò xác định phƣơng vị địa lý mà là nơi thể hiện  
thiên nhiên đặc trƣng của mỗi vùng miền vào những mùa khác nhau. Đó là những hình  
ảnh chân thực và mang bản sắc của văn hóa Việt Nam.  
Cũng là thiên nhiên thôn quê làng Việt, nhƣng cụ Tam Nguyên làng Yên Đổ lại  
có cái nhìn, có cách khắc họa riêng biệt. Cảnh vật quê mùa nơi bùn lầy nƣớc đọng vốn  
đã quen thuộc với khu vực Bắc bộ. Đó là mặt ao, bờ giậu, bụi tre, con đƣờng, lũ lụt,  
hạn hán, con trâu, con chó, con ngỗng...  
Dã đĩnh một cao tam xích thiển  
Viên sơ bại diệp nhất phân hoang  
Nhiễu đình xách thực nga khuy úng  
Tỵ thấp đầu can khuyển thƣợng sàng.  
(Lụt mùa thu)  
(Thuyền đi ngoài đồng, nƣớc lút con sào, nơi nông cũng ba thƣớc/ Vƣờn rau nát  
cả lá, bỏ hoang mất một phần/ Con ngỗng tìm ăn quanh sân, ngó đầu vào vại/ Con chó  
tránh ƣớt tìm khô, nhảy lên cả giƣờng).  
Những cảnh thiên nhiên chân thực đến mức thô mộc khó có thể thành thơ vậy mà  
đƣợc “nhà thơ của quê hƣơng làng cảnh Việt Nam” (Xuân Diệu) khắc họa một cách nhẹ  
nhàng và sinh động. Những hình ảnh đó vẫn xuất hiện đâu đây trong cuộc sống của  
ngƣời dân vùng đồng bằng Bắc bộ nƣớc ta ngày nay: “Thơ Yên Đổ vẫn phảng phất bay  
lượn giữa quê hương làng cảnh đồng chiêm trũng Hà Nam! Trên quê hương làng mạc  
Việt Nam tất cả! Bởi Nguyễn Khuyến đã tạo nên tình yêu quê hương làng mạc trong văn  
học Việt Nam ta, tình yêu đồng bào bà con dân quê trong xóm làng mình” [1; tr 444].  
Nhƣ vậy, thiên nhiên trong thơ trung đại thế kỉ XIX đã có bƣớc chuyển mình  
mạnh mẽ so với thiên nhiên đƣợc khắc họa trƣớc đó. Không còn là cảnh tƣợng trƣng  
ƣớc lệ, không phải là vẻ đẹp điển phạm công thức mà là vẻ đẹp bắt nguồn từ chính bức  
tranh hiện thực. Vì vậy, những vần thơ khắc họa thiên nhiên thôn quê cũng đã góp  
phần khẳng định xu hƣớng dân tộc hóa, hiện thực hóa của thơ ca trung đại Việt Nam:  
“Nguyễn Khuyến đã bỏ lại sau mình những tầm chương, trích cú, những vay mượn ồn  
ào, những vần thơ quý phái tẻ nhạt, đưa văn học về với cội nguồn dân tộc, với làng  
quê, với người nông dân nghèo khó vất vả” [7; tr 30].  
2.2. Cuộc sống con ngƣời thôn quê  
Việt Nam thời trung đại là một đất nƣớc nông nghiệp, là cái nôi của nền văn  
minh lúa nƣớc. Phần lớn ngƣời dân nƣớc ta là nông dân, là những ngƣời thuần phác cả  
90  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 26. 2015  
đời gắn bó với quê hƣơng ruộng đồng. Đây là tầng lớp đông đảo, là nơi lƣu giữ những  
giá trị văn hóa truyền thống hàng ngàn đời nay của dân tộc. Nhƣng thật nghịch lý khi  
nhân vật chính trong văn học suốt gần mƣời thế kỉ lại là những minh quân, lƣơng thần,  
những nhân vật của tầng lớp cao quý mà vắng bóng ngƣời dân lao động. Điều này có  
thể lí giải do tƣ tƣởng đặc thù của chế độ phong kiến, văn học chính thống phải đề cao  
giai cấp thống trị, văn học phải hƣớng thƣợng. Đến thế kỉ XIX, khi mà rƣờng cột của  
chế độ phong kiến đang lung lay trên đà sụp đổ, những nhân vật mẫu mực trƣớc đó  
không còn là hình mẫu lí tƣởng của văn học nữa thì hình ảnh ngƣời nông dân bắt đầu  
xuất hiện với vẻ đẹp tự nhiên, mộc mạc.  
Hơn nữa, nho sĩ là một tầng lớp trí thức thuộc tứ dân, nho sĩ là dân nhƣng đƣợc  
vị nể hơn vì theo đạo học và đứng đầu giai tầng “sĩ, nông, công, thƣơng”. Vậy nên:  
“Nho sĩ gắn với cuộc sống nông thôn, không dính líu với đời sống kinh doanh, sản xuất  
của đô thị” [3; tr 123]. Vậy nên, phản ánh đời sống nông dân là một mảng quan trọng  
trong sáng tác nhà nho trung đại. Thi sĩ xứ Huế (Đặng Huy Trứ) và thi sĩ đồng bằng  
Bắc bộ (Nguyễn Khuyến) cùng có những cảm nhận về hình tƣợng ngƣời nông dân và  
cuộc sống ngƣời dân, cùng trân trọng và phát hiện vẻ đẹp tiềm ẩn của những con ngƣời  
lam lũ nhƣng các thi nhân thể hiện ở các sắc thái khác nhau.  
Hình ảnh ngƣời nông dân trƣớc thế kỉ XIX cũng đã đƣợc đề cập đến nhƣng mới  
là hình tƣợng mang tính ƣớc lệ “ngƣ, tiều, canh, mục” phụ họa cho tâm cảnh, cho nhân  
sinh quan của nhà thơ. Ngƣời dân lao động chƣa đƣợc miêu tả cụ thể về cuộc sống, về  
dáng vẻ cho đến đời sống tinh thần với tất cả buồn vui, lo toan của cuộc sống đời  
thƣờng. Phải đến thế kỉ XIX thì chúng ta mới có thể có cái nhìn hiện thực về diện mạo  
cuộc sống những ngƣời dân cùng khổ với hình ảnh cụ thể chân thực. Đó là ông lão bán  
than (Kiến lão ông đài than), ông già đan đồ tre (Lão ông biên trúc), ông già tƣới rau  
(Cấp tuyền quán thái), ngƣời thợ cày (Canh phu giáo độc), ngƣời đàn bà chăn tằm  
(Tang phụ tự tàm)... trong thơ thi sĩ họ Đặng:  
Bạch phát cân trung mãn  
Kim ô bối thƣợng huyền  
Chỉ duyên sinh kế cấp  
Cần khổ bất tri niên  
(Kiến lão ông đài than)  
(Tóc trắng đầy trong khăn/ Vàng đen đè trĩu lƣng/ Chỉ vì sinh kế quẫn/ Nhọc  
nhằn quên tháng năm).  
Một lão ông lam lũ, vất vả quên cả tuổi tác để kiếm kế mƣu sinh. Bài thơ vừa gợi  
lên bao cảm xúc về ngƣời lao động vừa thể hiện lòng thƣơng cảm của thi nhân trƣớc  
cuộc sống khốn khó của ngƣời dân.  
Hình ảnh ngƣời phụ nữ vốn đã thƣa vắng trong văn chƣơng nhà nho, ngƣời phụ  
nữ nông thôn lại càng ít đƣợc xuất hiện trong thơ ca. Thế kỉ XVIII là thời kì mà ngƣời  
91  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 26. 2015  
phụ nữ xuất hiện trong văn học với nhiều cuộc đời và số phận khác nhau. Nhƣng phần  
lớn là hình mẫu điển phạm của văn học Trung Hoa, là những giai nhân tài sắc, khuê  
các nơi lầu son gác tía. Đặng Huy Trứ đã trân trọng đƣa hình ảnh ngƣời phụ nữ nông  
thôn vào thơ. Ông đã khắc họa hình ảnh ngƣời thôn nữ với công việc nhà nông cụ thể  
với vẻ đẹp tảo tần, lam lũ, chịu thƣơng chịu khó:  
Mỗi tòng tự dƣỡng thận vi cơ  
Nhất khuông, nhất bạc thân kiêm lí  
Tam khởi, tam miên hậu bất vi  
Ti vị li bồn tiên vấn giá  
(Tang phụ tự tàm)  
(Mỗi lần cho tằm ăn, ngƣời phụ nữ phải rất thận trọng, tỉ mỉ/ Một giỏ, một nong  
đều đích thân phải làm cả/ Ba thức ba ngủ cùng với nong tằm không làm gì khác đƣợc/  
(Vất vả là thế) nhƣng khi tơ chƣa ra khỏi nồi đã phải tất tả chạy đi hỏi giá).  
Nguyễn Khuyến cũng là ngƣời viết hay về nông thôn vì ông sống gắn bó, chan  
hòa với ngƣời nông dân, ông cũng có những niềm vui và những nỗi lo toan của ngƣời  
nông dân. Nguyễn Khuyến xuất thân từ nông thôn, ông làm quan chỉ mấy năm rồi lại  
trở về trí sĩ ở nông thôn và sống một cuộc đời thanh bạch. Thơ ông thể hiện cách sinh  
hoạt làm ăn nhƣ những ngƣời dân quê bình thƣờng khác, đó là điều kiện thuận lợi để  
nhà thơ thông cảm với nông dân, và sống hòa mình với nông dân. Chính vì vậy, đây là  
“lần đầu tiên trong lịch sử văn học nước nhà - đây nói văn viết - đời sống người nông  
dân được nói đến một cách chính xác, mặc dù mới chỉ là một vài nét sơ sài” [5; tr 14].  
Thi nhân than thở cho cảnh cày cấy vất vả quanh năm, buồn chán trƣớc cảnh mất mùa,  
lũ lụt, hạn hán, sƣu thuế, nợ nần... đổ lên đầu ngƣời nông dân. Ông là nhà nho nghèo  
nên đời sống của ông gần nông dân. Vì vậy: “Làm nên cái độc đáo của riêng nhà thơ  
thì chủ yếu là những vần thơ Nguyễn Khuyến viết về nông thôn, bao gồm những vần  
thơ viết về con người, cảnh vật thiên nhiên và về phong tục tập quán. Về phương diện  
này không có một nhà thơ nào đương thời viết được bằng ông, và trước đó, trong lịch  
sử văn học Việt Nam cũng chưa ai viết được như ông” [4; tr 748 ].  
Những bài thơ chữ Hán của Nguyễn Khuyến mang tên “Hung niên - I”, “Hung  
niên - II” gợi lên cảnh mất mùa liên tiếp năm này qua năm khác của ngƣời nông dân. Nếu  
nhƣ ở bài thứ nhất, tác giả gợi lên cảnh tƣợng thê lƣơng, ảm đạm đến quay quắt của ngƣời  
nông dân mất mùa thì ở bài thứ hai lại là hiện thực gợi lên những câu hỏi nhói lòng:  
Hạn thậm đông tiền cốc bất thu  
Thê phong kim hạ lãnh nhƣ thu  
Phần giao thặng chúc tằng xan vị?  
Úng để lƣu bồi khẳng túy vô?  
(Hung niên - II)  
92  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 26. 2015  
(Vụ đông trƣớc vì đại hạn nên mùa đã mất/ Vụ hạ này lại gió rét, lạnh nhƣ mùa  
thu/ Cháo thừa ở bãi tha ma đã từng ăn chƣa?/ Rƣợu sót ở đáy hũ có thèm uống không?).  
Vị quan thanh liêm là ngƣời luôn hƣớng ngòi bút vào những sinh hoạt và lao  
động thƣờng nhật của ngƣời dân quê Yên Đổ. Điều đó một lần nữa khẳng định:  
“Nguyễn Khuyến chính là nhà thơ viết về nông thôn số một của văn học dân tộc (…)  
Quả thật phải đến Nguyễn Khuyến, văn học mới thực sự bước xuống đồng ruộng, đến  
với người dân nơi thôn dã và từ cuộc sống lam lũ mà cũng không kém phần thơ mộng  
của làng cảnh Việt Nam, thơ ca mới được kết tinh trở nên chân thực, chi tiết, sinh động  
đến như vậy” [7; tr 18]. Từ góc độ thi pháp học và góc độ văn hóa học, chúng ta nhận  
thấy bức tranh nông thôn trong thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến chính là biểu hiện quá  
trình chuyển biến trong nguyên tắc nhìn nhận và phản ánh thực tại của văn chƣơng nhà  
Nho. Đó cũng là quá trình dân tộc hóa thể loại, hƣớng văn chƣơng đến gần hiện thực  
cuộc sống bộn bề của ngƣời nông dân.  
Văn học thế kỉ XIX là giai đoạn kết thúc vẻ vang trong tiến trình văn học trung  
đại Việt Nam và mở ra một thời kì văn học mới sau này. Với những sáng tác về thiên  
nhiên và cuộc sống thôn quê, Đặng Huy Trứ và Nguyễn Khuyến đã phá bỏ những quy  
phạm của văn học trung đại và mở ra xu hƣớng hiện thực hóa thơ ca. Hai nhà thơ đã  
vận dụng thứ văn tự cung đình, cao nhã để phản ánh một đề tài giản dị đời thƣờng  
mang hơi thở của cuộc sống hàng ngày. Phải là ngƣời thấu hiểu và đồng cảm với ngƣời  
dân quê thì các thi nhân mới có thể có những vần thơ chân thực đến nhƣ vậy. Đó cũng  
chính là giá trị nhân đạo của thi ca giai đoạn này.  
3. KẾT LUẬN  
Sáng tác chữ Hán của Đặng Huy Trứ và Nguyễn Khuyến đã thể hiện sự vận  
động, sự dịch chuyển đề tài phản ánh trong văn học. Hai nhà thơ đã đƣa chất liệu cuộc  
sống đời thƣờng vào thể loại thơ bác học, quan phƣơng. Sự đồng điệu trong cái nhìn về  
cuộc sống thôn quê của hai tác giả đã vƣợt ra ngoài những quy phạm, lễ nghi của chế  
độ phong kiến và thể hiện tinh thần thân dân sâu sắc. Trong sáng tác của văn chƣơng  
nhà nho, thôn quê chiếm một vị trí quan trọng, đó có thể là nơi di dƣỡng tâm hồn, là  
nơi che chở và là nơi thi nhân ẩn nhàn. Ở mỗi giai đoạn, thiên nhiên và cuộc sống thôn  
quê hiện lên đậm nhạt với những sắc thái khác nhau. Đến thế kỉ XIX, những hình ảnh  
thân quen, mộc mạc đó mới đƣợc khắc họa một cách đầy đủ, rõ ràng hơn và cụ thể  
hơn. Di sản thơ ca của văn học trung đại đã góp phần không nhỏ vào việc thể hiện  
cuộc sống tâm hồn và văn hóa dân tộc Việt.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]  
[2]  
Xuân Diệu (2001), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, Nxb. Trẻ.  
Lại Văn Hùng (Tuyển chọn và giới thiệu) (2009), Nguyễn Khuyến - tác phẩm  
văn học, Nxb. Giáo dục.  
93  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 26. 2015  
[3]  
[4]  
[5]  
[6]  
[7]  
Trần Đình Hƣợu (1995), Nho giáo và văn học trung cận đại Việt Nam, Nxb.  
Văn hóa Thông tin, Hà Nội  
Nguyễn Lộc (1999), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế  
kỷ XIX, Nxb. Giáo dục.  
Hoàng Ngọc Phách, Lê Thƣớc, Lê Trí Viễn (1957), Văn thơ Nguyễn Khuyến,  
Nxb. Giáo dục.  
Hoàng Phê (Chủ biên) (1994), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. KHXH - TT Từ điển  
học, Hà Nội.  
Vũ Thanh (tuyển chọn và giới thiệu) (2007), Nguyễn Khuyến về tác giả và tác  
phẩm, Nxb. Giáo dục.  
THE NATURE AND LIFE OF COUNTRYSIDE IN HAN SCRIPT POETRY BY  
DANG HUY TRU AND NGUYEN KHUYEN  
Le Thi Nuong  
ABSTRACT  
The theme of countryside in medieval poetry has a profound relationship with  
national culture. Behind each bamboo village, there are distinctive lifestyle, customs and  
special culture. Vietnam medieval poetry is one of valuable heritage contributed  
conserves and promotes traditional culture values that existed thousands of years. Dang  
Huy Tru and Nguyen Khuyen are two typical bards of the 19th century who succeeded  
and promoted those achievements. With poems about countryside in Han script, the  
bards presented nature scenery as well as the rustic life of working people there.  
Key words: Natural countryside, Han script poetry  
94  
pdf 8 trang Mãnh Khiết 15/01/2024 17740 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thiên nhiên và cuộc sống thôn quê trong thơ chữ hán Đặng Huy Trứ và Nguyễn Khuyến", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthien_nhien_va_cuoc_song_thon_que_trong_tho_chu_han_dang_huy.pdf