So sánh-đối chiếu thành ngữ có hình ảnh con chuột trong Tiếng Việt và Tiếng Đức

VĂN HÓA - VĂN HỌC  
v
SO SÁNH-ĐỐI CHIẾU THÀNH NGỮ  
CÓ HÌNH ẢNH CON CHUỘT  
TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ĐỨC  
LÊ THỊ BÍCH THỦY*  
*Đại học Ngoại ngữ - ĐHQG Hà Nội, lethibichthuy78@gmail.com  
Ngày nhận bài: 26/8/2018; ngày sửa chữa: 10/10/2018; ngày duyệt đăng: 20/12/2018  
TÓM TẮT  
Bài viết nhằm mục đích chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt về ý nghĩa của các thành ngữ  
tiếng Việt và tiếng Đức chứa thành tố chỉ con chuột. Bằng phương pháp miêu tả và so sánh, kết  
hợp với các thao tác phân tích, thống kê và tổng hợp, bài viết cho thấy một số nét tương đồng  
giữa thành ngữ trong hai ngôn ngữ trên: Hình ảnh con chuột chủ yếu gắn với nghĩa tiêu cực; các  
thành ngữ đều mang giá trị giáo huấn, dạy dỗ, có tính phê phán, chê bai hay phàn nàn. Tuy nhiên,  
mỗi ngôn ngữ đều có những nét đặc trưng riêng. Thành ngữ tiếng Việt phản ánh những nét đặc  
trưng văn hóa của làng quê Việt Nam, trong khi đó thành ngữ tiếng Đức liên quan nhiều tới tín  
ngưỡng,...  
Từ khóa: chuột, thành ngữ, văn hóa  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Trong bài viết này, chúng tôi sử dụng thao  
tác thống kê, phân tích và tổng hợp, cũng như so  
sánh đối chiếu các thành ngữ có yếu tố chỉ con  
chuột trong tiếng Đức và tiếng Việt. Thành ngữ  
tiếng Việt được chúng tôi tham khảo chủ yếu  
trong “Từ điển Thành ngữ - Tục ngữ - Ca dao Việt  
Nam. Quyển thượng” của Việt Chương (2005) và  
“Thành ngữ học Tiếng Việt” của Hoàng Văn Hành  
(2004). Thành ngữ tiếng Đức được tập hợp từ Từ  
điển Duden Redewendungen: Wörterbuch der  
deutschen Idiomatik (2012) và Lexikon der Zitate  
und Redensarten.  
Việc học tiếng Đức đối với nhiều người Việt  
không hề đơn giản, học thành ngữ tiếng Đức lại  
càng phức tạp hơn. Vì vậy, chúng tôi nghĩ cần có  
những nghiên cứu so sánh-đối chiếu liên quan  
tới cặp ngôn ngữ này, qua đó chỉ ra những điểm  
tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ để giúp  
cho người học một mặt gặp ít khó khăn hơn, mặt  
khác hiểu rõ hơn về văn hóa Đức. Với mục đích  
nêu trên, bài viết này tập trung vào nghiên cứu  
đối chiếu thành ngữ tiếng Đức và tiếng Việt có sử  
dụng hình ảnh con chuột, để qua đó thấy được sự  
giống nhau và khác nhau của các nghĩa biểu trưng,  
cũng như dấu ấn văn hóa của hai dân tộc trong các  
thành ngữ đó.  
Để phục vụ cho bài viết này, chúng tôi thống  
kê được 23 thành ngữ có thành tố chỉ con chuột  
trong tiếng Đức và 23 thành ngữ có thành tố chuột  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
83  
Số 17 (01/2019)  
VĂN HÓA - VĂN HỌC  
v
trong tiếng Việt1. Trong bài viết này chúng tôi  
không muốn so sánh về mặt cấu trúc thành ngữ ở  
hai ngôn ngữ, mà chỉ muốn so sánh hình ảnh con  
chuột với các nét nghĩa biểu trưng cũng như dấu  
ấn của hai nền văn hóa Đức và Việt được thể hiện  
qua các thành ngữ có thành tố chỉ chuột trong tiếng  
Đức và tiếng Việt.  
riêng lẻ (Duden Universal; Burger, 2007, tr. 11-12;  
Fleischer và các tác giả khác, 2001, tr.108-109).  
Như vậy, thành ngữ được đặt trong quan hệ đối lập  
với các cấu trúc tự do (Fleischer, 2001, tr.108) hay  
các cụm từ tự do (Burger, 2007, tr.12).  
Theo Burger (2007), thành ngữ có những đặc  
điểm chung sau đây: 1) Thành ngữ bao gồm ít nhất  
là hai từ trở lên; 2) Các cấu phần của một thành  
ngữ chỉ có thể được hiểu trong phạm vi của thành  
ngữ đó, nếu một yếu tố thay đổi thì nghĩa của thành  
ngữ sẽ mất đi, bị hiểu sai hoặc trở nên vô nghĩa; 3)  
Sự khác nhau giữa nghĩa từ vựng và nghĩa thành  
ngữ: nếu sự khác nhau càng lớn thì tính thành ngữ  
càng cao.  
2. QUAN NIỆM VỀ THÀNH NGỮ  
2.1. Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Việt  
Trong tiếng Việt, thành ngữ được đa số tác giả  
hiểu là cụm từ/ngữ/tổ hợp từ cố định (Hoàng Phê,  
2003, tr.915; Nguyễn Thiện Giáp, 2002, tr.77; Mai  
Ngọc Chừ, 2015, tr.190; Hoàng Văn Hành, 2004,  
tr.27) và có giá trị biểu trưng về mặt nghĩa (Mai  
Ngọc Chừ, 2015, tr.190). Ngoài ra, Hoàng Phê  
(2003) cũng đề cập tới việc không thể giải thích  
nghĩa tổng thể của thành ngữ bằng nghĩa của các  
từ tạo nên nó. Trong số các định nghĩa của các tác  
giả nêu trên, chúng tôi thấy quan điểm về thành  
ngữ của Hoàng Văn Hành (2004, tr.27) diễn đạt  
trọn vẹn nhất cách hiểu về thành ngữ: Đó là “một  
loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái - cấu  
trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về nghĩa, được sử dụng  
rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong  
khẩu ngữ.”  
Ví dụ: Thành ngữ Öl auf die Lampe gießen  
được cho là có tính thành ngữ rất cao; người ta  
không thể dựa vào nghĩa của từng từ trong thành  
ngữ trên để suy ra nghĩa tổng thể của thành ngữ.  
Nếu dịch từng từ trong thành ngữ trên, ta có “đổ  
dầu vào đèn”. Tuy nhiên, nghĩa của thành ngữ trên  
lại là “uống rượu”. Nếu thay từ “Lampe” (đèn)  
bằng một từ khác, ví dụ như “Pfanne” (chảo)  
thì nghĩa “uống rượu” của thành ngữ Öl auf die  
Lampe gießen không còn nữa.  
3. PHÂN BIỆT THÀNH NGỮ VỚI TỤC  
NGỮ, CỤMTỪ CỐ ĐỊNHVÀ CỤMTỪTỰ DO  
Như vậy, có thể thấy thành ngữ có hai đặc trưng  
nổi bật là: 1) Tính ổn định, cố định về thành phần  
từ vựng và cấu trúc; 2) Tính hoàn chỉnh và bóng  
bẩy về nghĩa (Hoàng Văn Hành, 2004, tr.28-29).  
Trong nghiên cứu của mình, Hoàng Văn Hành  
(2004, tr.38) đã đưa ra những đặc trưng dùng làm  
tiêu chí để nhận diện thành ngữ và tục ngữ, qua  
đó làm nổi bật sự khác biệt giữa hai loại này. Các  
đặc trưng đó là đặc trưng về hình thái cấu trúc, có  
vần điệu, có đối điệp; chức năng biểu hiện nghĩa  
định danh; chức năng biểu hiện hình thái nhận  
thức và đặc trưng ngữ nghĩa. Ở ba đặc trưng đầu  
tiên, thành ngữ có sự phân biệt rõ ràng với tục ngữ.  
Trong khi thành ngữ là tổ hợp từ cố định, mang  
quan hệ hình thái thì tục ngữ là câu cố định và  
mang quan hệ cú pháp. Thành ngữ định danh sự  
vật, hiện tượng, quá trình, biểu thị khái niệm bằng  
hình ảnh biểu trưng, còn tục ngữ định danh sự tình,  
sự kiện, trạng huống, biểu thị phán đoán bằng hình  
tượng biểu trưng. Chỉ ở đặc trưng ngữ nghĩa thì ở  
Ví dụ: Thành ngữ Chuột chạy cùng sào có tính  
ổn định rất cao. Không thể thay thế chuột bằng  
mèo, hay sào bằng que trong thành ngữ trên, vì  
khi đó nghĩa gốc của thành ngữ đó sẽ mất. Xét  
về nghĩa, thành ngữ trên rất hoàn chỉnh, trọn vẹn;  
ngoài ra nó còn có sự bóng bẩy về nghĩa, mang  
tính hình tượng cao.  
2.2. Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Đức  
Trong giới Đức ngữ học, thành ngữ được  
nhiều tác giả cho là các cụm từ cố định mà nghĩa  
tổng thể của nó không thể suy ra từ các thành tố  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
Số 17 (01/2019)  
84  
VĂN HÓA - VĂN HỌC  
v
cả thành ngữ và tục ngữ, hai tầng ngữ nghĩa được  
tạo bằng phương thức so sánh và ẩn dụ hóa.  
chuột ngày hoặc biến thể là Nhấm nhắt như chuột  
ngày xuất phát từ thực tế về thói quen sinh hoạt  
của loài chuột là thường đi tìm thức ăn về đêm,  
khi mọi người đã đi ngủ. Lúc đó chuột ăn vụng  
dễ dàng hơn, không sợ bị bắt. Nhưng khi kiếm ăn  
ban ngày, lúc mọi người đang thức, nó sẽ phải lén  
lút hoạt động. Thành ngữ này chê bai những kẻ đi  
lại, ra vào lén lút, làm việc ám muội. Chuột vốn là  
loài hay phá hoại ngấm ngầm và trốn trong nhà mà  
nhiều khi ta không biết. Đến khi cháy nhà, bị khói  
hun thì chuột mới lộ ra. Tương tự như thế, trong  
cuộc sống có những kẻ làm chuyện xấu một cách  
ngấm ngầm và chỉ lộ chân tướng, bị phát hiện khi  
có chuyện. Điều này có thể thấy trong thành ngữ  
Cháy nhà ra mặt chuột. Thành ngữ Mèo mẹ bắt  
chuột con cũng dùng để chê bai những người có  
khả năng lớn nhưng lại chỉ làm những việc nhỏ.  
Hay khi muốn chê những việc lúc đầu có vẻ to tát,  
hoành tráng nhưng khi kết thúc lại gần như chẳng  
có gì, rất đối lập với lúc đầu, người Việt dùng Đầu  
voi đuôi chuột. Và để chê người ta làm được việc  
này nhưng lại làm hỏng việc khác, người Việt có  
thành ngữ Đánh chuột làm vỡ bình sứ/Ném chuột  
vỡ lu, còn khi muốn chê ai đó không che dấu được  
toàn bộ hành vi, sự việc và bị lộ một phần bí mật,  
người Việt nói Chuột chạy hở đuôi. Những người  
làm việc không tới nơi tới chốn sẽ bị chê là Dở dơi  
dở chuột/Nửa dơi nửa chuột, còn những kẻ bày  
cách cho kẻ xấu biết lối tránh tội, không bị trừng  
phát sẽ bị phê phán là Bày đường cho chuột chạy.  
Khác với Hoàng Văn Hành, Nguyễn Thiện  
Giáp (2002, tr.79-86) lại phân biệt thành ngữ với  
ngữ định danh và cụm từ tự do. Ông phân biệt  
thành ngữ với ngữ định danh dựa trên các đặc  
điểm về nội dung và về mặt cấu trúc cú pháp, phân  
biệt với cụm từ tự do ở mặt hình thức và sự hoàn  
chỉnh về nghĩa. Cụ thể thì thành ngữ là tên gọi gợi  
cảm của hiện tượng nào đó, có ý nghĩa cụ thể, hình  
thành ở phạm vi mà sự phản ánh đòi hỏi cần có  
sự bình giá và biểu cảm, hay gặp quan hệ tường  
thuật,...; còn ngữ định danh là tên gọi thuần túy  
của sự vật, diễn đạt đồng thời quan hệ chủng và  
loại, có cả diện chung và diện riêng của ý nghĩa,  
hình thành ở phạm vi hoạt động trí tuệ của con  
người, ít gặp quan hệ tường thuật. Thành ngữ khác  
với cụm từ tự do ở tính hoàn chỉnh về nghĩa và tính  
phi cú pháp trong quan hệ.  
4. THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG  
ĐỨC CÓ CHỨA HÌNH ẢNH CON CHUỘT  
4.1. Thành ngữ tiếng Việt  
Trong suy nghĩ của người Việt, khi nói tới  
chuột, thường chúng ta nghĩ ngay tới con vật bẩn  
thỉu, chuyên phá hoại, gây bệnh dịch, ăn vụng, ...,  
tức là những ý nghĩ rất xấu về con vật này. Có  
thể thấy điều này trong định nghĩa đầu tiên về  
con chuột ở Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê, 2003,  
tr.185). Vì thế, hình ảnh con chuột trong thành ngữ  
tiếng Việt có thành tố “chuột” cũng thường gắn  
liền với những ý nghĩa tiêu cực.  
Tiếng Việt có 6 thành ngữ có thành tố “chuột”  
chỉ sự châm biếm. Trước hết có thể kể đến Chuột  
gặm chân mèo. Mèo và chuột vốn là kẻ thù truyền  
kiếp, thế mà chuột lại dám đến gần mèo, thậm chí  
gặm chân mèo. Thành ngữ này chỉ hành động liều  
lĩnh, nguy hiểm. Cũng đặt trong mối quan hệ với  
mèo nhưng thành ngữ Chuột cắn dây cột mèo vừa  
có giá trị phê phán, vừa có giá trị châm biếm, cười  
những kẻ ngu muội cứu giúp kẻ thù của mình.  
Tương tự như vậy, để phê phán và chê cười những  
kẻ không ra gì nhưng lại tỏ vẻ, chúng ta có Chuột  
chù đeo đạc; để phê phán, châm biếm những kẻ  
xấu xa phải núp dưới vỏ hào nhoáng để che bớt  
sự xấu xa của mình, người Việt dùng Chuột đội vỏ  
trứng. Cũng châm biếm nhưng có tính trào phúng  
Trong số 23 thành ngữ có yếu tố “chuột” của  
tiếng Việt, có tới 11 thành ngữ mang hàm ý phê  
phán, chê bai. Liên quan tới chê bai về hình thức  
có thể kể đến các thành ngữ sau đây: Hôi như  
chuột chù dùng để chê bai về tính chất của ai đó  
(có mùi rất hôi), còn Lù rù như chuột chù phải  
khói được sử dụng để miêu tả dáng vẻ của một  
người trông rất lù rù, kém tinh ranh. Ngoài các  
thành ngữ trên thì các thành ngữ khác chủ yếu  
chê bai về tính cách. Ví dụ thành ngữ Thì thụt như  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
85  
Số 17 (01/2019)  
VĂN HÓA - VĂN HỌC  
v
là thành ngữ Chuột chù lại có xạ hương và Voi đú,  
chó đú, chuột chù cũng nhảy cẫng. Ở thành ngữ  
đầu tiên, ta thấy chuột chù vốn rất hôi, vậy mà lại  
khoe là mình thơm. Dựa trên ý đó, thành ngữ này  
hàm ý chỉ những kẻ không có tài cán gì nhưng lại  
khoe mẽ. Trong khi đó thành ngữ thứ hai cười chê  
những kẻ đua đòi, thích bắt chước người khác một  
cách ngu ngốc, vì thế trở nên lố bịch.  
tr.319), những người nông dân trước đây thường  
gác cây sào trong nhà để vắt quần áo hay treo đồ  
đạc, vì vậy mới có hình ảnh Chuột chạy cùng sào,  
chuột mà leo lên sào, bị đuổi thì chỉ còn đường  
chạy từ đầu nọ sang đầu kia, để rồi cuối cùng cũng  
sẽ bị bắt. Ở nông thôn Việt Nam, để mèo không đi  
lang thang sang nhà khác, người ta cũng hay dùng  
dây để cột con mèo lại, vì thế mới có thành ngữ  
Chuột cắn dây cột mèo. Ngoài ra, còn một số hình  
ảnh khác đặc trưng cho văn hóa của Việt Nam như  
bình sứ hay cái lu; đây vốn là những thứ rất quý  
giá đối với người dân Việt thời xưa; vì thế mới có  
thành ngữ Đánh chuột làm vỡ bình sứ/Ném chuột  
vỡ lu.  
Ngoài những thành ngữ mang tính phê phán,  
châm biếm hay trào phúng kể trên, các thành ngữ  
trong tiếng Việt có thành tố chuột (5) còn cho thấy  
triết lý sống hoặc những bài học giáo huấn/bài học  
kinh nghiệm. Khi nói về việc làm những chuyện  
vừa sức, phù hợp với khả năng, người Việt dùng  
Mèo nhỏ bắt chuột con; nói về sự cần cù, nhẫn nại  
khi làm việc gì đó giống như con mèo rình chuột,  
người Việt nói Rình như mèo rình chuột. Trong  
cuộc sống có những lúc chúng ta rơi vào tình trạng  
nguy hiểm, đe dọa đến tính mạng thì không khác  
nào chuột sa cũi mèo, hoặc khi tình thế đến bước  
đường cùng, con người cũng giống như chuột chạy  
cùng sào, hay bỗng nhiên được sống trong một gia  
đình giàu có, sung túc thì chẳng khác nào chuột sa  
chĩnh gạo/chuột sa hũ nếp/chuột sa lọ mỡ. Triết lý  
là người đã nhiều tuổi sẽ không còn bạo gan như  
những thanh niên trẻ tuổi nữa được thể hiện qua  
thành ngữ Mèo già lại thua gan chuột nhắt.  
4.2. Thành ngữ tiếng Đức  
Trong số 23 thành ngữ tiếng Đức có hình ảnh  
chuột, có 10 thành ngữ được dùng để phê phán,  
chê bai hay phàn nàn. Để phê phán ai đó có cách  
hành xử không ổn, để cho người khác phải chờ đợi  
quyết định của mình quá lâu nhưng cuối cùng lại  
đưa ra một quyết định có tính tiêu cực, làm người  
kia thất vọng, người Đức dùng thành ngữ Mit  
jemandem Katz und Maus spielen (Chơi trò mèo  
và chuột). Để chỉ những người đã một lần ăn cắp  
thì sẽ luôn lặp lại chuyện đó trong những lần sau,  
người Đức sử dụng Die Katze lässt das Mausen  
nicht (Mèo không để chuột yên). Tương tự như  
vậy, để miêu tả cách hành xử hỗn láo, xấc xược  
của người nào đó, tiếng Đức dùng sich mausig  
machen. Khi phàn nàn, kêu ca về một hoàn cảnh,  
sự việc nào đó không ổn, người Đức có thành ngữ  
Mäuse merken/riechen (Nhận ra/ngửi thấy chuột)  
hay Das ist eine Maus im Mehl (Có một con chuột  
trong đống bột mì). Từ thực tế là khi con chuột  
(màu xám) ở trong đống bột mì màu trắng thì sẽ  
bị phát hiện ra ngay, và rõ ràng là đống bột có vấn  
đề. Cũng mang nghĩa phàn nàn, nhưng thành ngữ  
zum Mäusemelken sein (Vắt sữa chuột) lại miêu  
tả tâm trạng bực mình, phát điên lên vì việc gì đó.  
Thành ngữ này xuất phát từ thực tế là: Vắt sữa  
chuột là một công việc hết sức khó khăn và không  
hề dễ chịu chút nào. Khi phàn nàn về việc dù đã  
rất cố gắng, đã tư vấn hết sức xong vẫn không  
thu được kết quả như ý, người Đức nói Der Berg  
Trong số 23 thành ngữ được lựa chọn để nghiên  
cứu, chỉ có duy nhất một thành ngữ dùng hình ảnh  
con chuột để miêu tả hình dáng bên ngoài của con  
người khi họ bị ướt sũng. Đó là thành ngữ Ướt như  
chuột lột.  
Bên cạnh các nét nghĩa biểu trưng được trình  
bày ở trên, các thành ngữ có hình ảnh chuột còn  
ghi đậm khá rõ dấu ấn văn hóa Việt. Ví dụ qua  
thành ngữ Chuột sa chĩnh gạo/Chuột sa hũ nếp/  
Chuột sa lọ mỡ, ta có thể thấy Việt Nam là một  
nước nông nghiệp, lương thực chính là gạo, ngoài  
ra người Việt cũng hay dùng gạo nếp làm lương  
thực, thay vì dùng dầu ăn như hiện nay thì trước  
đây họ lại dùng mỡ để nấu ăn. Hay hình ảnh cây  
sào cũng rất quen thuộc với nông thôn Việt Nam,  
nhất là trong quá khứ. Theo Việt Chương (2005,  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
Số 17 (01/2019)  
86  
VĂN HÓA - VĂN HỌC  
v
kreißt und gebar eine Maus (Quả núi trở dạ rồi  
sinh ra một con chuột). Để chê bai cái gì đó quá  
ít ỏi, người Đức dùng thành ngữ Das trägt eine  
Maus auf dem Schwanze fort (Cái đó thì một con  
chuột cũng mang được trên cái đuôi của mình).  
Sự chê bai còn thấy ở thành ngữ graue Maus (Con  
chuột xám) vốn dùng để chỉ một người không có  
gì nổi bật, ở thành ngữ weiße Mäuse sehen (nhìn  
thấy chuột trắng) vốn dùng để miêu tả tình trạng  
tâm lý bị ảo giác.  
mỡ), dùng để miêu tả cuộc sống sung sướng, no  
đủ, giống như con chuột vốn rất thích ăn thịt mỡ  
thì nay được ngồi ở đúng nơi nó thích. Chuột vốn  
là con vật hay bị đuổi bắt nên nó phải ẩn mình,  
phải giữ im lặng, hay chỉ quan sát từ xa và điều  
đó cũng đi vào thành ngữ Đức Still wie eine Maus  
(im lặng như chuột) hay Mäuschen sein/spielen  
wollen (Muốn là/đóng vai một con chuột nhắt)  
dùng để chỉ một người muốn quan sát, nghe ngóng  
một cách bí mật sự kiện hoặc cuộc thoại nào đó.  
Khi muốn nói không có gì thay đổi, mọi chuyện  
đã định sẵn rồi, người Đức nói Davon beißt die  
Maus keinen Faden ab (Con chuột không cắn đứt  
sợi chỉ). Thành ngữ này bắt nguồn từ câu chuyện  
liên quan tới ngày 17/3 là ngày mà con chuột của  
Thánh Gertrud cắn sợi chỉ ở con quay và điều đó  
có nghĩa là công việc đồng áng cho mùa đông đã  
chấm dứt và có thể chuyển sang công việc đồng  
áng cho mùa hè. Nếu con chuột không cắn đứt chỉ  
ở con quay thì mọi thứ vẫn giữ nguyên như cũ,  
không có gì thay đổi. Cũng có nguồn gốc từ câu  
chuyện trong quá khứ, khi tàu bè thường hay bị  
chìm, không trừ bất cứ ai, bất cứ thứ gì, người Đức  
nói Mit Mann und Maus untergehen (Cả người và  
chuột đều chết chìm). Con chuột tượng trưng cho  
những thứ nhỏ bé, không có ý nghĩa cũng theo  
người chìm xuống biển.  
So với các thành ngữ mang tính phê phán, chê  
bai, phàn nàn thì các thành ngữ có tính châm biếm  
ít hơn hẳn (1): Có thể thấy một chút châm biếm  
nhẹ nhàng ở (Vor Scham/Angst) am liebsten in ein  
Mauseloch kriechen (chỉ muốn bò ngay vào hang  
chuột do xấu hổ/sợ hãi) khi nói tới tâm lý rất xấu  
hổ/sợ hãi của ai đó.  
Số lượng các thành ngữ chỉ sự bông đùa cũng  
rất ít (2): Khi muốn đùa bỡn, người Đức dùng hình  
ảnh những con chuột trắng weiße Mäuse để chỉ  
cảnh sát giao thông trong trang phục màu trắng;  
hay muốn đe dọa bông đùa người Đức nói dass  
dich das Mäuslein beißt (Chuột nhắt cắn đấy),  
nhưng thực chất thành ngữ này lại có nghĩa là “cậu  
điên à?”.  
Bên cạnh đó, người Đức cũng đưa ra triết lý,  
giáo huấn thông qua các thành ngữ có thành tố  
chuột (9): Khi khuyên ai đó muốn đạt được nhiều  
thứ thì phải dùng đúng mồi, trong tiếng Đức có  
thành ngữ Mit Speck fängt man Mäuse (Dùng thịt  
mỡ sẽ bắt được chuột). Hoặc cũng từ việc đúc rút  
kinh nghiệm trong cuộc sống, người Đức thấy  
những phụ nữ lớn tuổi cũng muốn tìm kiếm các  
chàng trai trẻ, giống như những con chuột già  
cũng thích ăn thịt mỡ như trong thành ngữ Alte  
Mäuse fressen auch gern Speck. Khi miêu tả  
hoàn cảnh sống của ai đó rất nghèo túng, người  
Đức dùng hình ảnh con chuột trong nhà thờ Arm  
wie eine Kirchmaus (Nghèo như con chuột trong  
nhà thờ), vì nhà thờ không phải là nơi có đồ ăn  
cho chuột có thể tìm kiếm hoặc ăn vụng thức ăn.  
Ngược lại với thành ngữ trên là Wie die Maus im  
Speck sitzen (Như con chuột ngồi trong miếng thịt  
Hình ảnh con chuột không chỉ xuất hiện trong  
các thành ngữ mang tính phê phán, châm biếm,  
hay giáo huấn như trên, mà còn xuất hiện trong  
các thành ngữ miêu tả tính cách (khen) hay miêu  
tả hình thức của con người: Trong mắt người Đức,  
chuột là con vật rất nhanh nhẹn, hoạt bát và vì vậy  
họ mới so sánh những người nhanh nhẹn, hoạt  
bát với con chuột flink wie eine Maus (nhanh như  
chuột). Và người nào đó bị ướt từ đầu tới chân,  
trông thật đáng thương sẽ được so sánh với một  
con chuột vừa tắm xong: wie eine gebadete Maus.  
Dấu ấn văn hóa Đức cũng thể hiện khá rõ qua  
các thành ngữ. Ví dụ hình ảnh nhà thờ trong thành  
ngữ arm wie eine Kirchmaus (Nghèo như chuột  
trong nhà thờ). Đa số người Đức theo đạo Thiên  
chúa giáo và vì vậy có thể thấy rất nhiều nhà thờ ở  
Đức. Đây chính là một biểu tượng cho tín ngưỡng  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
87  
Số 17 (01/2019)  
VĂN HÓA - VĂN HỌC  
v
sa chĩnh gạo/Chuột sa hũ nếp/Chuột sa lọ mỡ  
(tiếng Việt) và Wie die Maus im Speck sitzen (như  
con chuột ngồi trong miếng thịt mỡ) (tiếng Đức),  
dùng chỉ miêu tả hoàn cảnh sống sung sướng, no  
đủ của ai đó.  
của họ. Ngoài ra còn thấy loại lương thực chính  
được người Đức sử dụng nhiều là bột mì (Mehl)  
hay thịt mỡ (Speck) cũng xuất hiện trong thành  
ngữ có thành tố chuột.  
Bảng 1 bên dưới là bảng biểu thống kê về mức  
độ đa nghĩa của thành ngữ có thành tố chuột tiếng  
Việt và tiếng Đức.  
5.2. Sự khác biệt  
Tiếng Đức có duy nhất một thành ngữ mà ở đó  
cả con chuột (hoạt bát, nhanh nhẹn), cũng như cả  
nghĩa của thành ngữ có thành tố chuột đều mang  
nghĩa tích cực. Đó là flink wie eine Maus (nhanh  
như chuột), dùng để khen một ai đó có tính cách  
nhanh nhẹn, khéo léo khi di chuyển hoặc khi làm  
việc. Trong khi đó, tiếng Việt không có một thành  
ngữ nào gắn với hình ảnh con chuột lại mang tính  
tích cực như vậy. Tương tự, các thành ngữ chỉ sự  
bông đùa cũng chỉ xuất hiện trong tiếng Đức.  
5. SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT  
TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT VÀ  
TIẾNG ĐỨC  
5.1. Sự tương đồng  
Hình ảnh con chuột gắn với những điều không  
tốt đẹp, đều xuất hiện ở cả hai ngôn ngữ. Theo  
đó, nghĩa của các thành ngữ gắn với hình ảnh con  
chuột cũng thường mang tính tiêu cực. Phần lớn  
các thành ngữ trong hai ngôn ngữ Việt và Đức đều  
mang tính phê phán, chê bai, phàn nàn hay châm  
biếm. Bên cạnh đó cũng có khá nhiều thành ngữ  
mang tính triết lý, giáo huấn, dạy dỗ.  
Chuột trong thành ngữ tiếng Đức gắn liền với  
yếu tố màu sắc là trắng và xám như trong thành  
ngữ weiße Mäuse, weiße Mäuse sehen hay graue  
Maus. Yếu tố màu sắc gắn liền với chuột không hề  
xuất hiện trong tiếng Việt.  
Và để miêu tả hình thức của ai đó bị ướt từ  
đầu đến chân, người Việt và người Đức đều dùng  
hình ảnh con chuột bị ướt để so sánh. Người Việt  
nói Ướt như chuột lột, còn người Đức nói Wie eine  
gebadete Maus (Ướt như con chuột vừa tắm xong).  
Thành ngữ tiếng Đức có nguồn gốc gắn với  
các câu chuyện liên quan tới tín ngưỡng, còn thành  
ngữ tiếng Việt không có hiện tượng đó. Tuy nhiên,  
nét văn hóa của làng quê Việt Nam hiện lên khá rõ  
trong thành ngữ tiếng Việt, đó là hình ảnh cây sào,  
chĩnh gạo, hũ nếp, lọ mỡ, bình sứ,… Trong khi đó,  
những hình ảnh của văn hóa làng quê ở Đức rất  
mờ nhạt.  
Chuột trong các thành ngữ tiếng Việt và tiếng  
Đức đều được đặt trong quan hệ với mèo, với mỡ  
(nhưng ở tiếng Việt là lọ mỡ, còn tiếng Đức là  
miếng thịt mỡ); đều gắn với các động từ như cắn,  
bị bắt. Ngoài ra, ở cả hai ngôn ngữ đều xuất hiện  
thành ngữ có hình ảnh con chuột và bản thân thành  
ngữ đó mang tính tích cực, mặc dù hình ảnh con  
chuột trong các thành ngữ đó không làm người ta  
liên tưởng tới sự tiêu cực hay tích cực. Đó là Chuột  
6. KẾT LUẬN  
Bài viết này cho thấy một số khác biệt trong  
thành ngữ có hình ảnh con chuột trong tiếng Đức  
và tiếng Việt. Hình ảnh con chuột trong thành ngữ  
Bảng 1: Mức độ đa nghĩa của thành ngữ có thành tố chuột tiếng Việt và tiếng Đức  
Ngữ  
Phê phán, Châm biếm,  
nghĩa  
Triết lý, giáo Miêu tả hình Miêu tả tính  
chê bai,  
trào phúng  
Bông đùa  
huấn  
thức  
cách (khen)  
phàn nàn  
Thành ngữ  
Tiếng Việt  
Tiếng Đức  
11  
10  
6
1
0
2
5
8
1
1
0
1
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
Số 17 (01/2019)  
88  
VĂN HÓA - VĂN HỌC  
v
Mai Ngọc Chừ (chủ biên), Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt  
Hùng, Bùi Minh Toán (2015), Nhập môn ngôn ngữ học,  
NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.  
tiếng Đức gắn với màu sắc, với tín ngưỡng và với  
sự nhanh nhẹn, nhưng những điều này không thấy  
xuất hiện trong thành ngữ tiếng Việt. Ngược lại,  
một số hình ảnh đặc trưng cho văn hóa làng quê  
thể hiện khá sắc nét trong tiếng Việt, còn trong  
tiếng Đức rất mờ nhạt.  
Việt Chương (2005), Từ điển Thành ngữ - Tục ngữ - Ca dao  
Việt Nam, Quyển thượng, NXB Tổng hợp Đồng Nai.  
Nguyễn Thiện Giáp (2002), Từ vựng học Tiếng Việt, NXB  
Giáo dục, Hà Nội.  
Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng không phải là  
không có những điểm tương đồng giữa hệ thống  
thành ngữ của hai ngôn ngữ này, ví dụ hình ảnh  
con chuột ướt sũng được dùng để tả một người bị  
ướt từ đầu đến chân, hình ảnh con chuột trong cả  
hai ngôn ngữ phần lớn đều mang nghĩa tiêu cực,  
các thành ngữ đều có giá trị giáo huấn, dạy dỗ, có  
tính phê phán, chê bai hay phàn nàn. Trong các  
nghiên cứu sau, chúng tôi sẽ tìm hiểu kỹ thêm về  
nguồn gốc xuất xứ của các thành ngữ để có thể làm  
rõ nét hơn dấu ấn văn hóa Đức và Việt./.  
Hoàng Văn Hành (2004), Thành ngữ học Tiếng Việt, NXB  
Khoa học xã hội, Hà Nội.  
Hoàng Phê (2002) (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà  
Nẵng, Đà Nẵng.  
T.G (2018), Hình ảnh chuột trong các sáng tác dân gian,  
baoxuan/200802/hinh-anh-chuot-trong-cac-sang-tac-  
dan-gian-1794818/>.  
Burger, Harald (2007), Phraseologie. Eine Einführung am  
Beispiel des Deutschen. Erich Schmidt Verlag. Berlin.  
Duden Redewendungen: Wörterbuch der deutschen  
Idiomatik (Duden - Deutsche Sprache in 12 Bänden,  
Band 11) (2012).  
Chú thích:  
1. Trong luận văn của mình, Nguyễn Thị Bảo (2003)  
đã thống kê được 47 thành ngữ tiếng Việt có thành tố chuột.  
Con số đó trong nghiên cứu của Phan Văn Quế là 30 và của  
Trịnh Cẩm Lan là 37 (dẫn theo Nguyễn Thị Bảo 2003, tr.16).  
Duden  
–
Deutsches  
Universalwörterbuch:  
Das  
umfassende Bedeutungs-wörterbuch der deutschen  
Gegenwartssprache (2015): Bibliographisches Institut.  
Fleischer, Wolfgang/Helbig, Gerhard/Lerchner, Gotthard  
(Hrsg.) (2001): Kleine Enzyklopädie. Deutsche Sprache.  
Peter Lang. Frankfurt am Main.  
Tài liệu tham khảo:  
Nguyễn Thị Bảo (2003), Ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ động vật  
trong thành ngữ tiếng Việt (so sánh với thành ngữ tiếng  
Anh), Luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ học, TP. Hồ Chí Minh.  
Lexikon der Zitate und Redensarten. Königswinter: Tandem  
Verlag. (o.J.)  
A CONTRASTIVE ANALYSIS OF VIETNAMESE AND GERMAN IDIOMS  
CONTAINING THE IMAGE OF A MOUSE  
LE THI BICH THUY  
Abstract: This paper aims to point out the similarities and differences in meaning of Vietnamese  
and German idioms containing the image of a mouse. Using descriptive and comparative methods  
in combination with the critical analysis, statistics and synthesis, this article points out shows  
some similarities of the Vietnamese and German idioms: Mice are often negatively associated  
negative things; almost idioms have the educational, critical and complaining values. However,  
each language has its own special features. Vietnamese idioms have special features of culture of  
the village in Vietnam, while German idioms are related to religion, etc.  
Keywords: mouse, idioms, culture  
Received: 26/8/2018; Revised: 10/10/2018; Accepted: 20/12/2018  
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ  
89  
Số 17 (01/2019)  
pdf 7 trang Mãnh Khiết 13/01/2024 12120 Free
Bạn đang xem tài liệu "So sánh-đối chiếu thành ngữ có hình ảnh con chuột trong Tiếng Việt và Tiếng Đức", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfso_sanh_doi_chieu_thanh_ngu_co_hinh_anh_con_chuot_trong_tien.pdf