Về tiêu chí xác định tộc người ở một số nước trên thế giới

KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ  
VỀ TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH TỘC NGƯỜI  
Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI*  
Khổng Diễn  
Viện Dân tộc học  
ác định thành phần dân tộc để quản lý dân cư, nhằm  
Xxây dựng và phát triển quốc gia độc lập, từ lâu đã  
được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm  
Ngày nhận bài: 22/2/2019  
Ngày phản biện: 28/2/2019  
Ngày duyệt đăng: 15/3/2019  
Bài viết phân tích những cách nhìn và ý kiến khác nhau về  
dân tộc, thành phần dân tộc, chủ yếu ở thế kỷ XX và đầu thế  
kỷ XXI của các nhà khoa học ở một số nước trên thế giới. Qua  
đó, cung cấp cái nhìn biện chứng trong việc đưa ra tiêu chí  
xác định thành phần dân tộc ở Việt Nam, giai đoạn hiện nay.  
DOI:  
Từ khóa: Tộc người; Tiêu chí xác định tộc người; Văn  
hóa dân tộc; Ngôn ngữ dân tộc; Ý thức tự giác tộc người.  
1. Quan điểm của các nhà khoa học Liên Xô cũ  
hội và sự xuất hiện của chế độ tư hữu. Với những  
thay đổi đó, dẫn đến sự tan rã của chế độ công xã  
nguyên thủy, cùng với sự thay thế các mối quan hệ  
huyết thống trước đó bằng quan hệ lãnh thổ. Ở châu  
Âu việc hình thành các bộ tộc đã hoàn tất vào thời  
kỳ trung đại, tức thời kỳ chế độ phong kiến. Với sự  
phát triển của mối quan hệ xã hội, sự gia tăng các  
mối quan hệ về kinh tế, văn hóa, sự sáng tạo và phổ  
biến các ngôn ngữ văn học và củng cố ý thức dân  
tộc, đã hình thành lên các dân tộc”2.  
Ngày nay, có nhiều ý kiến cho rằng, xã hội loài  
người tiến thẳng từ liên minh bộ lạc lên dân tộc,  
nghĩa là không qua bộ tộc. Có ý kiến cho rằng khái  
niệm bộ tộc mang tính thực dân, chỉ những người  
man di sống ở vùng biên của đế chế.  
Khi thảo luận các tiêu chí xác định dân tộc (tộc  
người) các nhà khoa học Xô Viết đều thống nhất  
với nhau rằng, khi xem xét về thành phần tộc người  
không căn cứ vào một tiêu chí nào, mà phải xét tổng  
thể. Vấn đề quan trọng là phải xem nhóm cư dân đó  
thuộc loại hình cộng đồng tộc người nào, đó là tộc  
người hay chỉ là một bộ phận của một tộc người (chỉ  
là nhóm địa phương, nhóm dân tộc học, nhóm tộc  
thuộc một tộc người).  
Stalin đã định nghĩa về dân tộc: Dân tộc là một  
cộng đồng người ổn định được hình thành trong lịch  
sử có chung ngôn ngữ, lãnh thổ, đời sống kinh tế,  
cùng chung một tố chất tâm lý, biểu hiện trong cùng  
một văn hóa, mà ở đó là dân tộc tư bản chủ nghĩa  
chứ không phải là tộc người (ethnic), nhưng các nhà  
khoa học Liên Xô trước đây vẫn vận dụng vào để  
xác định tộc người. Tuy không có nhiều ý kiến phê  
phán định nghĩa dân tộc của Stalin, nhưng khi xác  
định cụ thể những tiêu chí khác nhau thì họ tranh  
luận, đưa ra nhiều ý kiến. Đa số các nhà khoa học  
Liên Xô (cũ) cho rằng khái niệm tộc người tương  
đồng với khái niệm cộng đồng tộc người, cũng có  
tác giả cho rằng cộng đồng tộc người rộng hơn khái  
niệm tộc người. Theo N.N.Tsebocsarov có thể gọi  
cộng đồng tộc người là một nhóm tộc người gần  
gũi nhau về ngôn ngữ và văn hóa, nhưng cũng có  
thể gọi nó chỉ là một bộ phận của một tộc người với  
những nét độc đáo riêng về văn hóa và ngôn ngữ1.  
Giáo sư S I.Bruk coi cộng đồng tộc người là khái  
niệm bao trùm cho nhiều loại hình cao thấp khác  
nhau. “Về mặt lịch sử, những cộng đồng tộc người  
sớm hơn cả và tiêu biểu cho chế độ công xã nguyên  
thủy là bộ lạc, về sau do quá trình giải thể chế độ  
công xã nguyên thủy, đã xuất hiện liên minh bộ lạc,  
lôi cuốn sự gia tăng về mối liên hệ kinh tế, văn hóa  
giữa các bộ lạc, nhờ đó bộ tộc ra đời. Những bộ  
tộc đầu tiên ra đời ở thời kỳ chiếm hữu nô lệ, gắn  
với sự phát triển nhanh của lực lượng sản xuất xã  
Các nhà khoa học Xô Viết trước đây tương đối  
thống nhất với nhau, để xác định tộc người, phải có  
đủ 4 tiêu chí:  
1.1. Cùng cư trú trên một phạm vi lãnh thổ  
nhất định  
1. N.N. Tsebocsarov, “Vấn đề phân loại các cộng đồng người trong 2. S.I.Bruc (1962), Các quá trình phát triển tộc người và những  
các tác phẩm của các học giả Xô Viết”, Dân tộc học Xô Viết, số 4, nguyên tắc phân loại tộc người trong “Dân số và phân bố các dân  
1967.  
tộc trên thế giới”, Nxb. Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, Moscơva.  
* Bài viết là sản phẩm thuộc đề tài khoa học cấp Bộ: “Nghiên cứu đề xuất giải quyết một số vấn đề còn có  
ý kiến khác nhau về thành phần dân tộc”, mã số: ĐTCB.UBDT.04.18  
Volume 8, Issue 1  
39  
KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ  
Lãnh thổ tộc người như một điều kiện vật chất  
Đây là tiêu chí cực kỳ quan trọng, có người còn  
cơ bản để hình thành các cộng đồng tộc người. Nó cho rằng, đó là tiêu chí quan trọng nhất trong xác  
quyết định nhiều đặc điểm của đời sống con người. định tộc người. Tuy vậy cũng có ý kiến không nhất  
Tuy nhiên, trong thực tế có một số dân tộc như Do trí như vậy. Vì nó phụ thuộc vào hoàn cảnh và tình  
Thái, Di Gan, Ta Min v.v… có thời kỳ họ cư trú ở  
nhiều vùng lãnh thổ khác nhau, quốc gia khác nhau  
nhưng ngay cả khi đó, họ vẫn được coi là dân tộc  
(tộc người) riêng.  
huống cụ thể khi ta xác định các tộc người cụ thể.  
Ý thức tự giác tộc người có tính độc lập cao.  
Dẫu cho lãnh thổ bị ngăn cách, văn hóa bị đứt gãy,  
thậm chí cả ngôn ngữ mẹ đẻ bị mất đi thì ý thức tự  
giác tộc người vẫn được duy trì.  
1.2. Cùng nói một ngôn ngữ  
Mỗi dân tộc (tộc người) đều có ngôn ngữ riêng  
của mình. Cộng đồng ít bị phân hóa hơn cả là cộng  
đồng về ngôn ngữ. Nó không đơn thuần là một  
phương tiện để giao dịch mà quan trọng hơn, là một  
phương tiện để phát triển đời sống văn hóa tinh thần  
của họ. Chỉ có ngôn ngữ mẹ đẻ, được tiếp nhận từ  
tuổi ấu thơ mới có thể giúp con người hiểu được  
những sắc thái sâu sắc nhất của đời sống tinh thần,  
mới cho phép con người trong cùng một tộc người  
hiểu nhau một cách thấu đáo.  
Với bốn tiêu chí này, được các nhà khoa học Xô  
Viết tương đối thống nhất dùng để xác định thành  
phần tộc người, ít có những ý kiến tranh luận và  
phản đối.  
Những tiêu chí được đưa ra nhưng chưa có sự  
thống nhất  
- Kinh tế. Được đưa ra nhưng có một số nhà  
khoa học bác bỏ. Họ cho rằng, nếu đưa kinh tế vào  
thành một tiêu chí trong xác định tộc người, sẽ làm  
đơn giản hóa khái niệm về mối quan hệ giữa kinh  
tế và tộc người. Kinh tế là điều kiện cần thiết để  
tồn tại các hình thái của tộc người chứ không đặc  
trưng cho tính đặc thù của tộc người. Cộng đồng  
kinh tế và cộng đồng tộc người thường không trùng  
nhau. Cộng đồng kinh tế xuất hiện trước hết thông  
qua cộng đồng lãnh thổ kết hợp với cộng đồng  
quốc gia. Khi sự liên hệ về lãnh thổ bị phá vỡ thì  
mối liên hệ về kinh tế không còn nữa4. Có thể coi  
trọng sự phát triển của mối liên hệ kinh tế giữa các  
cộng đồng lãnh thổ có tính riêng biệt của một tộc  
người hay nhóm tộc người ở bên cạnh nhau trong  
quá trình hình thành tộc người, chứ không nên đồng  
thời tuyệt đối hóa những mối liên hệ ấy, không nên  
coi chúng là bất biến, và cũng không nên đem biểu  
tượng về những đặc điểm kinh tế của các tộc người  
thay thế cho khái niệm cơ sở kinh tế trong việc hình  
thành của chúng5  
- Tâm lý, là dấu hiệu cũng được một số nhà khoa  
học cho rằng, đó là một tiêu chí của tộc người. Trong  
cuốn “Tộc người và dân tộc”, Viện sỹ viện Hàn lâm  
Khoa học Liên Xô Bromley Iu.v, có thời kỳ là Viện  
trưởng Viện Dân tộc học Liên Xô, đã khẳng định,  
tâm lý là một tiêu chí của tộc người. Ông phản đối  
những ý kiến phủ nhận sự khác nhau về tâm lý giữa  
các tộc người, phản đối việc giải thích sơ sài hoặc  
tuyệt đối hóa những khác nhau đó. Ông coi tâm lý  
là vốn có của mỗi tộc người và nó tồn tại trong bất  
kỳ hình thái xã hội nào6.  
Không phải ngẫu nhiên mà phần lớn các tên gọi  
của tộc người lại trùng với từ “người” hay “người  
mình” trong ngôn ngữ của tộc người3.  
Việc phân nhóm theo mức độ thân thuộc của  
ngôn ngữ gọi là phân theo phả hệ. Cơ sở của sự  
phân loại này là sự tập hợp các ngôn ngữ bắt nguồn  
từ một ngôn ngữ gốc đã từng tồn tại trong quá khứ.  
Việc nghiên cứu vốn từ cơ bản và cấu tạo ngữ pháp  
các ngôn ngữ của một hệ, cho phép ta xác định  
được những ngôn ngữ ấy là ngôn ngữ có nguồn  
gốc chung, là ngôn ngữ thân thuộc. Mỗi ngữ hệ  
lại chia thành nhiều ngành, nhiều nhánh khác nhau  
hoặc cũng có thể là ngôn ngữ của một nhóm các tộc  
người (S.I.Bruc đã dẫn).  
Mặc dù ngôn ngữ là tiêu chí quan trọng trong  
xác định tộc người nhưng nó không phải là tiêu chí  
duy nhất, vì trên thế giới có nhiều tộc người nói  
chung một ngôn ngữ, nhưng lại có tộc người nói  
những ngôn ngữ khác nhau. Do vậy, khi xác định  
phải xét đến các tiêu chí khác nữa.  
1.3. Có chung các đặc điểm văn hóa  
Văn hóa là cái mà mỗi tộc người xây dựng nên  
trong quá trình lịch sử của mình, được truyền từ  
thế hệ này sang thế hệ khác. Mỗi tộc người đều có  
những sắc thái riêng, biểu hiện trong văn hóa vật  
chất (hay vật thể), văn hóa tinh thần (hay phi vật  
thể) và văn hóa xã hội. Không thể có hai tộc người  
lại cùng chung một văn hóa, nghĩa là không thể có  
hai nền văn hóa hoàn toàn giống nhau. Khi một tộc  
người đã để mất văn hóa của mình thì không còn  
là tộc người nữa (N.N.Tsebocsanov- đã dẫn). Tuy  
nhiên, văn hóa lại rất rộng, gồm nhiều nội dung  
khác nhau, cho nên khi xác định tộc người phải rất  
tinh tế và cẩn trọng, nếu không sẽ xảy ra bất đồng.  
Quan điểm này vấp phải nhiều ý kiến không  
đồng tình, thể hiện ở 4 số tạp chí Dân tộc học Xô  
Viết năm 1983. Theo V.I.Kozlov, các đặc tính tâm  
lý của các nhóm người phải được hiểu là những đặc  
điểm trong nhận thức của họ về các hiện tượng tự  
4. V.I.Kozlov (1970), Tộc người và kinh tế tộc người, Dân tộc học Xô  
Viết, số 6.  
1.4. Có cùng ý thức tự giác tộc người  
5. N.N.Tsebocsarov (1964), Những vấn đề nguồn gốc của các dân  
3. V.I.Kozlov (1979), Bàn về phân loại cộng đồng tộc người, trong tộc cổ đại và hiện đại, Nxb. Khoa học, Moscơva.  
“Dân tộc học đại cương”, Nxb. Khoa học, Moscơva.  
6. IuV.Bromley (1973), Tộc người và dân tộc học, Moscơva.  
40  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ  
nhiên và xã hội, các đặc điểm trong cách ứng xử tùng tộc. Lấy ý này để chỉ thị tộc, cũng trong văn  
trước những hoàn cảnh, tình huống khác nhau. Khi  
dân tộc có giai cấp đối kháng, có kẻ thống trị và  
người bị trị thì mỗi giai cấp có đặc tính tâm lý riêng,  
không có tâm lý chung cho tộc người.  
- Nội tộc hôn, cũng là dấu hiệu được đề cập đến  
trong xác định tộc người. Viện sỹ Iu. V.Bromley  
kiến nghị, phải coi tộc người là cộng đồng có nhiều  
ưu thế về sự kìm giữ nội tộc hôn, vì nó là tiêu chí rất  
quan trọng7. Quan điểm này cũng vấp phải những ý  
kiến phản đối. Người ta cho rằng, nội tộc hôn đảm  
bảo cho việc tái sản xuất dân cư, tồn tại bền vững  
trong xã hội ở vào một thời kỳ nhất định, nó không  
thuần túy là đặc tính cho một tộc người8.  
hiến đời Chu, chữ tộc được dùng để chỉ cộng đồng  
người có quan hệ thân thuộc, dòng tộc.  
Thuật ngữ dân tộc ở Trung Quốc mới có từ năm  
1899, do Lương Khải Siêu, có thời bị thất sủng ở  
trong nước, phải sang sinh sống ở nước Nhật, khi về  
nước, ông viết bài đã sử dụng thuật ngữ dân tộc. Từ  
đó tầng lớp trí thức tiến bộ, các nhân sỹ cải lương  
ở Trung Quốc mới sử dụng thuật ngữ này. Theo  
Lương Khải Siêu và những học giả dân chủ tư sản  
Trung Quốc, thuật ngữ này cũng không phải đã có  
ở Nhật Bản mà họ dịch từ Châu Âu sang. Chỉ từ sau  
năm 1903, hai chữ dân tộc mới sử dụng rộng rãi  
ở Trung Quốc. Những người thường sử dụng thuật  
- Nguồn gốc, cũng có các ý kiến cho rằng, nguồn ngữ này khi đó có Lương Khải Siêu, Lương Thị,  
gốc nên được coi là một đặc tính của tộc người9.  
Nhưng nhiều ý kiến phản bác, cho rằng nguồn gốc  
không đặc trưng cho các tộc người hiện tại.  
Trương Hán Viên, Tôn Trung Sơn v.v…  
Theo Lương Khải Siêu, một dân tộc (tộc người)  
phải có 8 yếu tố. Đó là: 1/Cùng sống trên một lãnh  
thổ, 2/Cùng huyết thống, 3/ Cùng chất thể hay chủ  
thể, 4/ Cùng ngôn ngữ, 5/ Cùng văn tự chữ viết, 6/  
Cùng tôn giáo, 7/ Cùng phong tục, 8/ Cùng sinh kế.  
Sau Lương Khải Siêu, là Uông Tỉnh Vệ, năm  
1905 đưa ra 6 điều kiện cho một dân tộc. Đó là:  
1.Cùng huyết thống, 2. Cùng ngôn ngữ, văn tự,  
3.Cùng nơi ở, 4. Cùng tập quán, 5. Cùng tín ngưỡng,  
tôn giáo, 6. Cùng tinh thần thể chất.  
Ta thấy 6 tiêu chí (điều kiện) do Uông Tỉnh Vệ  
đưa ra cũng gần giống với 8 tiêu chí của Lương  
Khải Siêu, chỉ sắp xếp lại và điều chỉnh một số tiêu  
chí: Đem ngôn ngữ và văn tự ghép làm một, đổi  
“chất thể” thành tinh thần thể chất, bỏ đi điều kiện  
cùng sinh kế.  
- Loại hình kinh tế - văn hóa. Lý thuyết về loại  
hình kinh tế - văn hóa và “khu vực dân tộc học - lịch  
sử”, được các nhà dân tộc học Xô Viết M.G.Levin,  
N.N.Tsebocsarov, B.V.Andrianov sáng tạo ra, người  
ta coi đây là một lý thuyết mới của Dân tộc học Xô  
Viết, nhưng đưa thành một tiêu chí để xác định tộc  
người thì nhiều ý kiến không tán thành. Theo họ  
thì lý thuyết này chỉ đúng đối với giai đoạn sớm  
của lịch sử xã hội. Nếu sử dụng cách phân loại này  
thì ngay cả các tộc người có dân số ít cũng bị chia  
thành những loại hình, những tộc người khác nhau.  
- Cuối cùng là Tổ chức xã hội, có ý kiến nêu ra,  
nhưng ít được thảo luận.  
2. Quan điểm của các nhà khoa học Trung Quốc  
Ở Trung Quốc, ngay từ những ngày đầu thành  
lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1949),  
nhà nước đã đưa cán bộ nghiên cứu dân tộc đến các  
vùng có nhiều dân tộc sinh sống tiến hành điều tra,  
nghiên cứu, đi sâu phân tích về lịch sử xã hội, tố  
chất tâm lý, ngôn ngữ văn tự, đời sống kinh tế, tên  
gọi của các dân tộc (tộc người), trên cơ sở tôn trọng  
nguyện vọng của các tộc thể để định tên, thành phần  
dân tộc10.  
Căn cứ vào sự ghi chép của lịch sử, từ trước  
công nguyên 2.000 năm, ở Trung Quốc đã có các  
dân tộc như ngày nay, đó là Hạ, Thương, Huân Dục,  
Cửu Lê, Hữu Miêu, Khương v.v..., đã có sự phân  
định về địa giới, khu vực. Chỉ có điều sử dụng các  
thuật ngữ không giống ngày nay mà thôi. Trong  
ngôn ngữ Trung Quốc, chữ dân đã tồn tại từ lâu  
trong kim văn, đến đời Chu, dân có nghĩa là ngu  
dần, bị nô dịch. Còn chữ tộc, có nghĩa là thúc thát,  
Tôn Trung Sơn năm 1924, trong cuốn “Tam dân  
chủ nghĩa” đã đưa ra 5 tiêu chí cho dân tộc (tộc  
người). Đó là: 1. Cùng huyết thống, 2.Cùng sinh  
hoạt (phương pháp mưu sinh), 3. Cùng ngôn ngữ, 4.  
Cùng tôn giáo, 5. Cùng phong tục tập quán.  
Theo các nhà khoa học Trung Quốc hiện nay  
(Hoàng Quang Học đã dẫn) Tôn Trung Sơn đã nhấn  
mạnh đến yếu tố sinh hoạt, tức yếu tố kinh tế, nhìn  
chung, các tiêu chí đưa ra của Tôn Trung Sơn đã  
có những tiến bộ so với Lương Khải Siêu và Uông  
Tỉnh Vệ, nhưng vẫn giữ hai tiêu chí là huyết thống  
và tôn giáo để cấu thành dân tộc thì vẫn không thật  
khoa học.  
Rõ ràng các nhà khoa học tư sản không có khả  
năng giải đáp vấn đề dân tộc một cách khoa học, còn  
lẫn lộn giữa chủng tộc và dân tộc, đưa huyết thống  
hoặc hình dáng chất thể (chủ thể), của nhân chủng  
học (nhân học thể chất) để cấu thành dân tộc, đem  
chủng tộc, một phạm trù của sinh học vào dân tộc  
(tộc người), một phạm trù của lịch sử xã hội là không  
thể chấp nhận được.  
7. Iu.V.Bromley (1969), Tộc người và nội tộc hôn, Dân tộc học Xô  
Viết, số 6.  
8. Khổng Diễn (1995), Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam, Nxb.  
Khoa học Xã hội, Hà Nội.  
9. Shelepov G.V (1968), Nguồn gốc chung như là một đặc điểm của  
cộng đồng tộc người, Dân tộc học Xô Viết, số 4.  
10. Hoàng Quang Học (chủ biên, 1995), Nhận biết các dân tộc Trung  
Quốc, Nxb. Dân tộc, Bắc Kinh.  
Các nhà dân tộc học Macxít ở Trung Quốc, kể  
cả trước và sau năm 1949, vẫn kiên trì tuân thủ định  
nghĩa của I.V.Stalin.  
Volume 8, Issue 1  
41  
KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ  
Chỉ từ Hội nghị Trung ương 3 của Đảng Cộng  
Trước hết, tất cả những tộc người nói các ngôn  
sản Trung Quốc (1978) với chính sách cải cách, mở ngữ có quan hệ nhưng không thể hiểu được nhau  
cửa của Đặng Tiểu Bình, các nhà Dân tộc học nước một cách dễ dàng, thuộc ngữ hệ Thái được coi là có  
này mới đưa thêm một số tiêu chí vào xác định dân chung một ngôn ngữ theo sắc lệnh hành chính.  
tộc của Stalin, như: cùng một phong tục tập quán,  
tách khỏi tố chất tâm lý. Vấn đề ý thức dân tộc được  
đặt ra, được coi là một đặc trưng quan trọng của dân  
tộc (tộc người). Ở Trung Quốc, sau Hội nghị Trung  
ương 3 của Đảng Cộng sản Trung Quốc 1978, các  
nhà khoa học tổ chức một số cuộc hội thảo về vấn  
đề này. Nhìn chung vẫn có 3 loại ý kiến khác nhau:  
1/Loại 1, cho ý thức dân tộc (tộc người) là tích cực,  
là động lực gốc của sự phát triển. Nếu mất nó, sẽ  
mất khả năng sống và dân tộc sẽ suy vong, 2/ Loại  
ý kiến thứ hai, cho ý thức dân tộc là tiêu cực, nó là  
nguyên nhân làm gia tăng mâu thuẫn dân tộc. Trong  
những điều kiện đặc biệt, rất khó có thể phân định  
ranh giới giữa ý thức dân tộc và chủ nghĩa dân tộc.  
Do vậy, cần phải hạn chế phạm vi tác động của nó.  
3/ Loại ý kiến thứ 3 (còn được coi là trung tính).  
Khuyên mọi người cần phải phân tích cụ thể, không  
khái quát tính chất và tác động của nó. Ý thức dân  
tộc và chủ nghĩa dân tộc là hai vấn đề khác nhau,  
nhưng lại có sự liên hệ mật thiết, khi bị áp bức thì ý  
thức dân tộc là tích cực tiến bộ, và ngược lại, ở xã  
hội dân chủ tự do, thì nó là tiêu cực11.  
Thứ hai là, tất cả những người theo Phật giáo  
truyền thống, kể cả những người nói thứ tiếng khác  
ngữ hệ Thái, đều xem là có chung một tôn giáo -  
một tiêu chí dùng để xác định tộc người. Do vậy,  
khó có thể nói rằng ở đầu thế kỷ XX có ít nhất 85%  
dân số thuộc thành phần tộc người là của quốc gia  
Xiêm. Những khác biệt giữa họ được giải thích là  
những khác biệt về khu vực hơn là khác biệt về tộc  
người. Vì thế số đông người lẽ ra phải được nhận là  
người Lào thì lại được giải thích là người Đông Bắc  
hay người miền Bắc (Ch. Keyes - đã dẫn).  
Những người nói tiếng Khmer và những người  
nói các thứ tiếng liên quan đến ngôn ngữ Khmer  
ở vùng Đông Bắc, những người nói tiếng Mã Lai  
ở miền Nam cũng như những người theo Hồi giáo  
ở đó cũng trở thành người Thái ở miền Nam nước  
Xiêm. Mặc dù có sự phản ứng của các tộc người  
bản địa đối với chính sách “hội nhập quốc gia” vào  
những thập niên đầu thế kỷ XX, nhưng cho đến năm  
1930 một hệ thống giáo dục tiểu học bắt buộc vẫn  
được thực hiện, trong đó sử dụng một cấu trúc ngôn  
ngữ Thái Trung ương đã được chuẩn hóa như một  
phương tiện chỉ dẫn.  
3. Về xác định (nhận diện) tộc người ở Thái  
Lan  
Vấn đề lớn nhất ở đất nước này, vào thập niên  
đầu tiên thế kỷ XX, mà Chính phủ Trung ương phải  
đối mặt, là sự tồn tại một bộ phận lớn dân số người  
nhập cư và hậu duệ của những người di cư từ miền  
nam Trung Quốc. Số lượng người Hoa ở nhà nước  
Xiêm vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã tăng  
vọt, tỷ lệ tăng dân số của người Hoa cao hơn tỷ lệ  
tăng của tổng dân số cả nước, số người Hoa tăng từ  
6,2% năm 1870 lên 9,8% năm 1917, đến năm 1947,  
dân số người Hoa chiếm 12,0% dân số nước Thái  
Lan (Ch.Keyes).  
Nhà nghiên cứu Luang Wichit cho rằng việc lần  
ra các mối liên hệ di truyền giữa các ngôn ngữ Thái  
khác nhau có thể thấy một nguồn gốc chung cho  
tất cả những người nói tiếng Thái. Thậm chí những  
người có chung nguồn gốc này truy nguyên lại là  
cư dân của Vương quốc Nam Chiếu ở Vân Nam,  
Trung Quốc, cũng được cho rằng có chung các đặc  
điểm khác.  
Từ đó người ta sử dụng khái niệm Maha  
Manachak (đế chế Thái vĩ đại) theo mô hình mà  
Hiler đã làm với người Đức ở châu Âu. Đế chế này  
liên kết tất cả mọi người Thái, cho dù họ định cư  
ở đâu, vào một nhà nước duy nhất với Xiêm (Thái  
Lan) là hạt nhân. Chính quan điểm này ở Hội thảo  
Việt Nam học lần 1, tại Hà Nội, năm 2005 Charles  
Keyes đưa ra ý kiến phản đối với cái gọi là “Cộng  
đồng Thái” ở một số nước Đông Nam Á và Nam  
Trung Quốc. Ông cho rằng không thể truy nguồn  
gốc chung để thành lập cộng đồng hiện nay.  
Nước Thái Lan, trước năm 1939 gọi là Xiêm.  
Theo Charls Keyes, vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế  
kỷ 20, ở nước Xiêm đã thực hiện một dự án “Xác  
định tộc người sinh sống trong phần đất có chủ  
quyền của nhà nước”, nó là dự án dân tộc chí. Dự  
án này, theo các nhà khoa học Thái Lan và Hoa Kỳ,  
không những mang tính chủ nghĩa thực dân phương  
Tây mà còn là công cụ cho việc tiến tới một chương  
trình nghị sự làm bá chủ các đối tượng bị trị của  
các nhà lãnh đạo Xiêm. Nó xác định vị trí và đối  
chiếu với cả chính những tộc người thuộc giới tinh  
hoa theo một trật tự mới - xã hội hiện đại. Tiêu chí  
ngôn ngữ được sử dụng vào cuối thế kỷ XIX và  
đầu thế kỷ XX, xã hội Xiêm được xem là một xã  
hội phức tạp; người bản địa chiếm khoảng 20%  
dân số cả nước, những người này nói các ngôn ngữ  
không thuộc ngữ hệ Thái, hơn một nửa số người  
Xiêm được xem là người Lào, bao gồm những tộc  
người nói nhiều ngôn ngữ và phương ngữ Thái. Nếu  
không xác định rõ các tộc người của nước này, thì  
số lượng lớn người Lào ở đất Xiêm sẽ là cái cớ để  
người Pháp mở rộng ảnh hưởng về phía Tây. Vì lúc  
đó Pháp cai trị Đông Dương. Vua Chulalongkorn và  
các cố vấn của ông đã đề ra một chính sách gọi là  
“Hội nhập quốc gia”12.  
11. Hách Thời Viễn, Dương Cảnh Sở (1998), Ý thức dân tộc, Tạp chí  
Dân tộc, Bắc Kinh, tháng 10.  
12. Charles F.Keyes (2002), Những tộc người ở châu Á: Những vấn  
đề khoa học và chính trị trong việc phân loại các nhóm người ở  
Thái Lan, Trung Quốc và Việt Nam, Journal of Asian Studies, số 4.  
42  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ  
Việc đồng hóa các dân tộc thiểu số ở Thái Lan  
vẫn tồn tại đến ngày nay. Những người dân tộc thiểu  
số không nói ngôn ngữ Thái, bị gọi là “Chao Khao”,  
có nghĩa là thấp kém, hay nổi dậy chống đối nhà  
nước Thái. Các dân tộc thiểu số, kể cả những người  
nước ngoài nhập cư vào Thái Lan đều phải đổi họ,  
tên gọi và phải cải đạo, theo Phật giáo. Điều đó đã  
bị một số nhà Dân tộc học ở nhiều nước, kể cả các  
nhà khoa học ở chính Thái Lan phản ứng quyết liệt.  
Dân tộc có một số đặc điểm:  
- Mỗi dân tộc (nhỏ) có thể trở thành cơ sở của  
việc hình thành một dân tộc (lớn) như trường hợp  
dân tộc Áo, Hunggari, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ v.v…  
- Mỗi dân tộc có ngôn ngữ riêng, những ngôn  
ngữ trên chưa thống nhất với nhau trong từng vùng,  
đôi khi khác nhau hoàn toàn là do có nhiều dân tộc  
di cư, nhập cư ở xen lẫn nhau.  
- Kinh tế của dân tộc là tự cung tự cấp, việc trao  
đổi kinh tế không phát triển và không chặt chẽ là  
nguyên nhân dẫn đến ngôn ngữ và tiếng nói chưa  
thống nhất trong một dân tộc.  
- Mỗi dân tộc có tâm lý và văn hóa bậc trung ở  
một mức độ nhất định. Ở một số nước, mỗi dân tộc  
có lãnh thổ riêng của mình.  
4. Về xác định tộc người ở nước Cộng hòa  
Dân chủ Nhân dân Lào  
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, Việt Nam đã  
cử các đoàn cán bộ về lĩnh vực dân tộc sang cùng  
với cán bộ Lào, nghiên cứu về các tộc người ở đất  
nước này, do đó cách xác định tộc người ở Lào  
không khác nhiều so với cách xác định của Việt  
Nam. Vào giữa những năm của thập niên 90 thế  
kỷ XX, cả nước Lào có 38 tộc người13. Đến năm  
2005, theo kết quả Tổng điều tra dân số toàn quốc,  
nước Lào có 49 tộc người, được xếp vào 4 ngữ hệ  
(family): Lào - Thái, Môn-Khmer, Hán - Tạng và  
Mông - Jìu Miền (Mông - Dao)14. Tại Hội nghị 6  
Quốc hội Lào (khóa VI), ngày 24/11/2008 đã công  
nhận kết quả của năm 2005, Quốc hội ra quyết nghị  
số 213/QH: Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào  
chỉ có 1 dân tộc lớn, là dân tộc Lào và 49 dân tộc  
nhỏ (ethnic). Không sử dụng các thuật ngữ như Lào  
Lùm, Lào Thâng và Lào Sủng; không được sử dụng  
các tên gọi có tính chất miệt thị, khinh thường, chia  
rẽ như dân tộc đa số, dân tộc thiểu số v,v…do lịch  
sử để lại15.  
So sánh bảng danh mục các tộc người ở Lào  
(theo Quyết định 213/QH) với bảng Danh mục các  
tộc người ở Việt Nam (Theo Quyết định 121/TCTK  
năm 1979) chúng tôi thấy ở Lào, những tộc người  
nói ngôn ngữ Việt - Mường đều xếp vào ngữ hệ  
Môn - Khmer mà không có ngữ hệ hoặc nhóm ngôn  
ngữ Việt - Mường; Ở Lào xếp thành 3 tộc người  
là: Tà Ôi, Pa Cô và Ôi, thì ở Việt Nam, chỉ là 1 tộc  
người Tà Ôi: Ở Lào xếp làm 2 tộc người: Thái, Phu  
Thay thì ở Việt Nam Phu Thay hay Pu Thay chỉ là  
tên gọi khác của Thái; Ở Lào có 2 tộc người: Lự và  
Nhuồn thì ở Việt Nam, Nhuồn là tên gọi khác của  
Lự. Cũng ở tài liệu này các nhà khoa học Lào đã  
trình bày tiêu chí xác định tộc người ở Lào như sau:  
“Dân tộc là một cộng đồng người được sinh ra trong  
lịch sử, gồm các đặc trưng về mặt ngôn ngữ, lịch sử,  
nguồn gốc sinh ra gắn liền với tên gọi của dân tộc  
và các đặc trưng về cơ cấu, hệ tư tưởng, tâm lý được  
thể hiện trong cộng đồng văn hóa”.  
Dân tộc xuất hiện không phải do mong muốn của  
con người, không phải do ý chí của chính quyền, mà  
do kết quả tác động của các qui luật kinh tế - xã hội.  
Một nước có thể có một hoặc nhiều dân tộc.  
5. Đối với các nhà khoa học phương Tây  
Từ lâu các nhà khoa học phương Tây, trong đó  
có các nhà Dân tộc học, Nhân học xã hội, đã cho  
rằng: Tộc người (ethnic hay ethnic group) là những  
thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong xã hội và  
trên các phương tiện báo chí. Đa số ý kiến thường  
cho rằng các đặc trưng như văn hóa, xã hội, ngôn  
ngữ đã cấu thành nên tộc người. Bắt đầu từ giữa  
thập niên 50 của thế kỷ 20. Với công trình “Các  
hệ thống chính trị ở vùng cao Burma” (viết về tộc  
người Kachin), năm 1954 của E. R. Leach, tính  
thuyết phục về văn hóa, ngôn ngữ của tộc người  
bị nghi ngờ16. Ông cho rằng người Kachin không  
thể tìm thấy trong bất cứ một thuộc tính văn hóa  
nào mà tất cả họ chia sẻ. Tính riêng biệt của người  
Kachin chỉ có thể hiểu được khi xem xét cơ cấu các  
mối quan hệ của họ với những người láng giềng,  
là người Shan, những người mà với các tiêu chuẩn  
thông thường phải được coi là một nhóm tộc người  
riêng. Ông kết luận: “Các qui ước thông thường về  
các nhân tố tạo nên một văn hóa một xã hội đã tạo ra  
không còn phù hợp nữa”. Ông khẳng định, tổ chức  
xã hội cơ bản hơn văn hóa.  
Nhà nhân học Michael Moeman, khi nghiên  
cứu về các mối quan hệ tộc người ở Thái Lan (năm  
1965), tập trung vào tộc người Lự, ông cho rằng,  
ngôn ngữ, văn hóa và tổ chức xã hội trong tộc  
người không hoàn toàn tương đồng với nhau, do  
vậy không cần phải có một nền văn hóa đặc trưng17.  
Năm 1969 Fredrik Barth, trong cuốn sách  
“Nhóm tộc người và biên giới tộc người” (ở phần  
giới thiệu), ông cho rằng: Trong khi không có một  
13. Nguyễn Duy Thiệu (1996), Cấu trúc tộc người ở Lào, Nxb. Khoa  
học Xã hội, Hà Nội.  
14. Lao National Front for Construction (2005), The Ethnics Group  
in Lao PDR, Vientian.  
16. Cuốn sách này đã được Viện Dân tộc học Việt Nam dịch ra tiếng  
15. Mặt trận Lào xây dựng đất nước, Thông tư hướng dẫn phổ biến, Việt, bản dịch lưu tại Thư viện Viện Dân tộc học  
sử dụng tên gọi số lượng các dân tộc tại nước Cộng hòa dân chủ 17. Michael Moeman (1965), Ethnic iđentification in a Complex -  
nhân dân Lào, số 004/TMX ngày 20.01.2009.  
civilization Who are the Lue ? American Anthropologist.  
Volume 8, Issue 1  
43  
KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ  
tập hợp các đặc điểm văn hóa nào là bền vững để nhấn mạnh đến: Tính cộng đồng, ý thức tự nhận của  
phân biệt nhóm tộc người này với nhóm tộc người người dân và dân số. Người ta cho rằng, một dân tộc  
khác thì không thể lấy các tiêu chí văn hóa làm các  
muốn tồn tại được phải có một dân số nhất định, ít  
nhất là 10 vạn người, nếu không sẽ bị đồng hóa bởi  
các dân tộc cùng cư trú, nhất là bởi các dân tộc có  
dân số đông hơn.  
Như vậy cho đến nay, vấn đề xác định tiêu chí  
hay đặc trưng của tộc người, trên thế giới vẫn còn  
những ý kiến khác nhau. Vấn đề là căn cứ vào tình  
hình thực tế, chúng ta phải xác định lấy những tiêu  
chí của chúng ta để có thể áp dụng được trong cả  
nước ở giai đoạn hiện nay.  
đặc trưng cơ bản để xác định các nhóm tộc người18.  
Giáo sư Chares F.Keyes ở trường Đại học  
Washington tại Seattle Hoa Kỳ, người đã có nhiều  
năm cùng cộng tác với Viện Dân tộc học Việt Nam,  
tán đồng với quan điểm của các nhà khoa học trên  
(E.R.Leach, M.Moeman, F.Barth v.v…) ông đã viết  
một loạt bài về xác định tộc người nói chung, ở các  
nước châu Á như Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam  
nói riêng (đã dẫn), Một học sinh người Việt Nam  
của ông là Phan Ngọc Chiến đã có bài giới thiệu về  
tiêu chí đặc điểm văn hóa trong xác định thành phần  
tộc người của ông (tại Hội thảo năm 2002 ở thành  
phố Hồ Chí Minh).  
Ở Việt Nam, nhằm phục vụ công tác nghiên cứu  
XĐTPDT, từ thập niên 1970 đến nay đã có 6 hội  
thảo bàn về tiêu chí XĐTPDT, tạm chia thành ba  
đợt.  
Theo Ch. F.Keyes: “Một tộc người phải được  
quan niệm là một cộng đồng người, kết hợp với  
nhau về một dòng dõi chung mà họ cùng chia sẻ,  
nhưng không giống như dòng họ trong gia phả,  
bằng cách chỉ ra cụ thể một ông hay bà tổ chung và  
không nhất thiết phải là một sự kiện có thật, chỉ có  
niềm tin có chung một dòng dõi cũng có giá trị như  
chung một dòng dõi có thật”19.  
Trong khi đó nhà nhân học Canada đã có nhiều  
năm hợp tác nghiên cứu với Viện Dân tộc học  
Việt Nam, lại đề cao đặc điểm văn hóa. Theo ông,  
văn hóa cho phép chúng ta trả lời những câu hỏi:  
“Chúng ta là ai, tại sao và như thế nào chúng ta  
khác với người khác, cái gì phân định chúng ta vào  
trong các phạm trù xã hội được xây dựng dựa trên  
nền tảng về tuổi, giới, dòng dõi, địa vị hôn nhân, tài  
sản, nghề nghiệp, kỹ năng quyền lực…Những phạm  
trù nhấn mạnh khác nhau tùy theo thế giới quan được  
xem xét”. “Quan điểm dân tộc học trung tâm (ethno  
- centric) cũng hàm ý rằng các nhà phát triển không  
hiểu hay từ chối việc thừa nhận khả năng tồn tại của  
nền văn hóa bản địa truyền thống”. Tóm lại, văn hóa  
cho phép chúng ta xây dựng hiện thực của chúng  
ta20.  
Đợt 1 gồm hai cuộc hội thảo tại Hà Nội vào  
tháng 6 và tháng 11 năm 1973 do Viện Dân tộc học  
tổ chức. Đợt 2 gồm hai cuộc hội thảo vào tháng 7 và  
tháng 10 năm 2002 tại Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh  
do Viện Dân tộc học tổ chức. Đợt 3 gồm hai cuộc  
hội thảo tại Hà Nội vào năm 2014 do hội đồng Khoa  
học Công nghệ ꢀy ban Dân tộc tổ chức.  
Trong các cuộc hội thảo, những vấn đề lý thuyết  
được giới thiệu và phân tích. Kinh nghiệm các nước  
trên thế giới và khu vực áp dụng vào điều kiện Việt  
Nam được trao đổi và thảo luận. Mặc dù còn đôi  
khác biệt, nhưng ý kiến chung tương đối thống nhất  
là Khác với Liên Xô, cũng khác với Trung Quốc,  
Việt Nam không coi lãnh thổ tộc người, đặc điểm  
kinh tế, nguồn gốc lịch sử là các tiêu chí XĐTPDT.  
Các yếu tố tâm lý, nguồn gốc lịch sử trong một số  
trường hợp nằm trong đặc điểm văn hóa hay ý thức  
dân tộc. Vì thế, kết luận chung là các nhà Dân tộc  
học Việt Nam trước sau vẫn thống nhất chỉ áp dụng  
ba tiêu chí XĐTPDT, bao gồm ý thức tự giác tộc  
người, đặc điểm văn hóa và ngôn ngữ, ngoài ra, tùy  
từng vùng, từng dân tộc có thể áp dụng thêm các  
tiêu chí mềm nhưng linh hoạt và bảo đảm tính khoa  
học. Trong ba tiêu chí, tiêu chí đặc điểm văn hóa  
hàm ý có chung một số đặc trưng chứ không phải  
có chung tất cả các thành tố văn hóa. Để XĐTPDT,  
cần áp dụng cả ba tiêu chí, mỗi tiêu chí được nghiên  
cứu không đơn lẻ, mà trong mối quan hệ tổng thể  
với các tiêu chí khác, không có tiêu chí nào là duy  
nhất mà chỉ có sự tổng hòa của các tiêu chí, do các  
tiêu chí kết hợp lại.  
Gần đây, trong một số tài liệu của Liên hợp  
quốc, khi viết về các dân tộc (tộc người) bản địa, họ  
18. Bath Fredric (1969), Introduction in Group and Boundaries  
Boston Little Brown.  
19. Phan Ngọc Chiến, “Quan điểm của một số nhà khoa học phương  
Tây về tiêu chí đặc điểm văn hóa trong việc xác định thành phần  
dân tộc ở Việt Nam”, Hội thảo bàn về tiêu chí xác định lại thành  
phần dân tộc ở Việt Nam , thành phố Hồ Chí Minh ngày 18/10/2002.  
20. Don Mccaskill (2005), Từ người các bộ tộc thiểu số: Sự chuyển  
đổi của các dân tộc bản địa: Một cuộc tranh luận lý thuyết, trong  
Hợp tuyến “Tính dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam và Đông  
Nam Á” Hà Nội.  
Đây là những kết luận đúng đắn, phù hợp với  
điều kiện nước ta, là thành tựu khoa học, thực tiễn  
có ý nghĩa to lớn của công tác XĐTPDT Việt Nam.  
44  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ  
Tài liệu tham khảo  
Phan Ngọc Chiến (2002), Quan điểm của một  
số nhà khoa học phương Tây về tiêu chí đặc  
điểm văn hóa trong việc xác định thành phần  
dân tộc ở Việt Nam, Hội thảo bàn về tiêu chí  
xác định lại thành phần dân tộc ở Việt Nam,  
thành phố Hồ Chí Minh ngày 18/10/2002.  
N.N. Tsebocsarov (1967), Vấn đề phân loại các  
cộng đồng người trong các tác phẩm của các  
học giả Xô Viết, Dân tộc học Xô Viết, số 4.  
N.N.Tsebocsarov (1964), Những vấn đề nguồn  
gốc của các dân tộc cổ đại và hiện đại, Nxb.  
Khoa học, Moscơva.  
Khổng Diễn (1995), Dân số và dân số tộc người  
ở Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.  
S.I.Bruc (1962), Các quá trình phát triển tộc  
người và những nguyên tắc phân loại tộc  
người trong “Dân số và phân bố các dân tộc  
trên thế giới”, Nxb. Viện Hàn lâm Khoa học  
Liên Xô, Moscơva.  
Don Mccaskill (2005), Từ người các bộ tộc  
thiểu số: Sự chuyển đổi của các dân tộc bản  
địa: Một cuộc tranh luận lý thuyết, trong  
Hợp tuyến “Tính dân tộc và quan hệ dân tộc  
ở Việt Nam và Đông Nam Á” Hà Nội.  
Khổng Diễn (2002), Một số vấn đề về xác định  
lại thành phần dân tộc ở Việt Nam. Kỷ yếu  
Hội thảo bàn về tiêu chí xác định lại thành  
phần dân tộc ở Việt Nam (tại Hà Nội ngày  
02. 7. 2002, thành phố Hồ Chí Minh ngày  
18.10.2002).  
Hoàng Quang Học (chủ biên, 1995), Nhận biết các  
dân tộc Trung Quốc, Nxb. Dân tộc, Bắc Kinh;  
Nguyễn Duy Thiệu (1996), Cấu trúc tộc người ở  
Lào, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.  
Hách Thời Viễn, Dương Cảnh Sở (1998), Ý thức  
dân tộc, Tạp chí Dân tộc, Bắc Kinh, tháng 10.  
Bath Fredric (1969), Introduction in Group and  
Boundaries, Boston Little Brown.  
Charles F.Keyes (2002), Những tộc người ở  
châu Á: Những vấn đề khoa học và chính trị  
trong việc phân loại các nhóm người ở Thái  
Lan, Trung Quốc và Việt Nam, Journal of  
Asian Studies, số 4.  
V.I.Kozlov (1979), Bàn về phân loại cộng đồng  
tộc người, trong “Dân tộc học đại cương”,  
Nxb. Khoa học, Moscơva.  
Iu.V.Bromley (1973), Tộc người và dân tộc học,  
Moscơva.  
V.I.Kozlov (1970), Tộc người và kinh tế tộc người,  
Iu.V.Bromley (1969), Tộc người và nội tộc hôn,  
Dân tộc học Xô Viết, số 6. Michael Moeman  
(1965), Ethnic iđentification in a Complex  
- civilization Who are the Lue? American  
Anthropologist.  
Shelepov G.V (1968), Nguồn gốc chung như là  
một đặc điểm của cộng đồng tộc người, Dân  
tộc học Xô Viết, số 4.  
Dân tộc học Xô Viết, số 6.  
Lao National Front for Construction (2005), The  
Ethnics Group in Lao PDR, Vientian.  
Mặt trận Lào xây dựng đất nước, Thông tư  
hướng dẫn phổ biến, sử dụng tên gọi số  
lượng các dân tộc tại nước CHDCND Lào,  
số 004/TMX ngày 20.01.2009.  
THE CRITERIA FOR DETERMINING ETHNIC GROUPS  
IN A NUMBER OF COUNTRIES AROUND THE WORLD  
Khong Dien  
Institute of Anthropology  
Abstract: Determining the ethnic composition to manage  
the population, to build and develop an independent nation,  
has long been interested in many countries around the world.  
The paper analyzes different perspectives and opinions on  
ethnicity and ethnic composition, mainly in the 20th century  
and early 21st century of scientists in some countries around  
the world. Thereby, providing dialectical view in making  
criteria for determining ethnic composition in Vietnam in the  
current period.  
Received: 22/2/2019  
Revised: 28/2/2019  
Accepted: 15/3/2019  
DOI:  
Keywords: Human race; Criteria for determining ethnic  
groups; Native culture; National language; The sense of self-  
awareness among human race.  
Volume 8, Issue 1  
45  
pdf 7 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 15860 Free
Bạn đang xem tài liệu "Về tiêu chí xác định tộc người ở một số nước trên thế giới", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfve_tieu_chi_xac_dinh_toc_nguoi_o_mot_so_nuoc_tren_the_gioi.pdf