Phong cách học tri nhận/thi pháp học tri nhận: Nơi giao cắt của ngôn ngữ học, nghiên cứu văn chương và khoa học tri nhận

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH  
HO CHI MINH CITY UNIVERSITY OF EDUCATION  
TẠP CHÍ KHOA HỌC  
JOURNAL OF SCIENCE  
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN  
Tập 16, Số 2 (2019): 183-199  
SOCIAL SCIENCES AND HUMANITIES  
Vol. 16, No. 2 (2019): 183-199  
ISSN:  
1859-3100  
PHONG CÁCH HỌC TRI NHẬN/THI PHÁP HỌC TRI NHẬN:  
NƠI GIAO CẮT CỦA NGÔN NGỮ HỌC,  
NGHIÊN CỨU VĂN CHƯƠNG VÀ KHOA HỌC TRI NHẬN  
Nguyễn Thế Truyền  
Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh  
Tác giả liên hệ: Email: [email protected]  
Ngày nhận bài: 29-10-2018; ngày nhận bài sửa: 05-12-2018; ngày duyệt đăng: 27-02-2019  
TÓM TẮT  
Phong cách học tri nhận (PCHTN) (cũng gọi là thi pháp học tri nhận - TPHTN) là một lĩnh  
vực nghiên cứu mới của phong cách học phương Tây đương đại. PCHTN quan tâm nghiên cứu việc  
đọc hiểu văn chương và chỉ ra các cách thức xử lí ngôn ngữ và văn chương của người đọc trên cơ  
sở những hiểu biết về cơ chế tri nhận của người đọc cũng như các cấu trúc tri nhận của tác phẩm  
văn chương. PCHTN giúp chúng ta hiểu văn chương và ngôn ngữ từ cách nhìn của khoa học tri  
nhận và cũng gián tiếp gợi ra các cách thức sáng tạo văn chương có hiệu quả.  
Từ khóa: phong cách học tri nhận, thi pháp học tri nhận, tác nhân kích thích, nguồn lực tri  
nhận, năng lực tri nhận, cấu trúc tri nhận.  
1.  
1.1. Định nghĩa  
Lĩnh vực nghiên cứu được đề cập trong bài hiện nay có hai tên gọi có thể dùng thay  
Tổng quát về phong cách học tri nhận/ thi pháp học tri nhận  
thế cho nhau. Về cơ bản, không có nhiều khác biệt ở nội hàm, song khi dùng tên gọi nào,  
nhà nghiên cứu có hàm ý nhấn mạnh hệ hình nghiên cứu, hoặc về ngôn ngữ học hoặc về thi  
pháp học. Trong bài viết này, chúng tôi dùng cách gọi tên sóng đôi như cách làm của nhóm  
tác giả NØrgaard, Busse & Montoro (2010, p. 7) nhằm phản ánh nội dung nghiên cứu bao  
quát của lĩnh vực này mà tên gọi PCHTN (cognitive stylistics), hay TPHTN (cognitive  
poetics), theo chúng tôi, không phản ánh hết. Tuy nhiên, do trọng tâm nghiên cứu ở lĩnh  
vực chuyên môn của mình, trong nhiều trường hợp, chúng tôi dùng tên gọi PCHTN để chỉ  
chung cho cả lĩnh vực này.  
Peter Stockwell, người có hẳn một chuyên luận về lĩnh vực nghiên cứu này, khi giới  
thiệu ngắn gọn về PCHTN/TPHTN, đã viết: “TPHTN là tất cả những gì về đọc văn  
chương” (“Cognitive poetics is all about reading literature”; Stockwell, 2002, p. 1). Sự  
phân biệt quan trọng của TPHTN với thi pháp học cấu trúc luận (structuralist poetics) là ở  
chỗ một bên nghiên cứu về văn chương, một bên nghiên cứu về việc đọc tác phẩm văn  
chương. Tức PCHTN/TPHTN xuất pháp từ phía người đọc, từ quá trình tiếp nhận, liên  
quan nhiều đến lí thuyết tiếp nhận, phê bình phản ứng bạn đọc, hiện tượng học, đến tâm lí  
183  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 16, Số 2 (2019): 183-199  
học, khoa học tri nhận, chứ không phải đặt nền tảng của mình trên lí thuyết sáng tác và chủ  
nghĩa cấu trúc. Trong PCHTN/TPHTN, tác phẩm văn chương, các hiện tượng văn chương  
đóng vai trò tác nhân kích thích (stimuli) đối với sự tiếp nhận của người đọc; còn các năng  
lực tinh thần đóng vai trò nguồn lực tri nhận (cognitive resources) để xử lí, xác lập nghĩa.  
Sau đây là một số định nghĩa nêu cụ thể hơn về nội dung nghiên cứu của lĩnh  
vực này.  
“PCHTN, một lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ khá mới mẻ và đang phát triển nhanh  
chóng, cố gắng miêu tả và giải thích cái xảy ra trong tâm trí người đọc lúc họ đối mặt với  
ngôn ngữ (văn chương)” (Burke, 2006, p. 10444).  
PCHTN/TPHTN “nhấn mạnh phững phương diện của việc đọc mà người tiêu thụ  
vận hành khi họ xử lí văn bản văn chương” (NØrgaard, Busse and Montoro, 2010, p. 7).  
“TPHTN không nghiên cứu chỉ một mình văn bản, và cũng không ngay cả trong hình  
thức đặc biệt là nghiên cứu văn bản văn chương; nó nghiên cứu việc đọc văn chương (it is  
the study of literary reading). Dùng sự phân biệt của Ingarden (1973)1, văn bản văn chương  
là đối tượng tự trị (autonomous object), có một tồn tại vật chất trong thế giới, nhưng văn  
chương là một đối tượng dị trị (heteronomous object), tồn tại chỉ khi được kích hoạt và bị  
ràng buộc với sự ý thức làm cho sống động của người đọc” (Stockwell, 2002, p. 165).  
“TPHTN, như tôi hiểu về nó, cung cấp những lí thuyết tri nhận giải thích một cách  
hệ thống mối quan hệ giữa cấu trúc của văn bản văn chương và hiệu quả nhận được của  
chúng” (Tsur, 2002, p. 279).  
“PCHTN kết hợp loại hình phân tích ngôn ngữ một cách hiển ngôn, nghiêm ngặt và  
chi tiết về văn bản văn chương với một sự suy xét hệ thống, trên nền tảng am hiểu lí thuyết  
về những quá trình và cấu trúc tri nhận làm cơ sở cho việc tạo lập và tiếp nhận ngôn ngữ.  
PCHTN, như chúng tôi vừa định nghĩa, vừa cũ vừa mới. PCHTN là cũ với cái nghĩa, trong  
khi tập trung vào mối quan hệ giữa lựa chọn ngôn ngữ và hiệu quả, phong cách học luôn  
luôn quan tâm cả văn bản lẫn sự giải thích của người đọc về văn bản. Cái mới ở PCHTN là  
con đường trong đó sự phân tích ngôn ngữ dựa vào một cách hệ thống những lí thuyết liên  
hệ sự lựa chọn ngôn ngữ với những quá trình và cấu trúc tri nhận” (Semino and Culpeper,  
2002, p. ix).  
1.2. Quá trình hình thành  
Về thời điểm ra đời của PCHTN, Katie Wales cho biết: “TPHTN hoặc PCHTN, hoặc  
tu từ học tri nhận (cognitive rhetoric) xuất hiện vào những năm 90 của thế kỉ XX2” (Wales,  
1
Ingarden, R., 1973. The Literary Work of Art: An Investigation on the Borderlines of Ontology, Logic, and Theory of  
Literature. Northwestern University Press.  
2
Mốc thời điểm này không tính đến những nghiên cứu sớm hơn trước đó rất nhiều của Tsur (trường đại học Tel Aviv,  
Israel), một nhà TPHTN thuộc phái ‘phi kinh điển’: “Reuven Tsur, người đã có những nghiên cứu về TPHTN từ đầu  
những năm 70 thế kỉ XX, trước rất lâu những xuất bản đầu tiên của ngôn ngữ học tri nhận” (Gavins and Steen,  
2003, p. 3).  
184  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Nguyễn Thế Truyền  
2011, p.64). Peter Stockwell cho biết TPHTN thoạt đầu được những người hoạt động trong  
lĩnh vực phong cách học khai phá (Stockwell, 2002, p. 60).  
Theo Verdonk, lúc ban đầu, những phân tích và giải thích tri nhận của PCHTN tập  
trung vào ẩn dụ, hoán dụ và những phép tu từ khác, nhưng sau đó PCHTN vạch ra những  
khái niệm tri nhận khác, như khung và lí thuyết lược đồ để nghiên cứu vấn đề đọc hiểu văn  
bản của người đọc, khái niệm hình và nền để giải thích phản ứng của bạn đọc về sự lạ hóa,  
và một loạt những khái niệm lí thuyết khác từ khoa học tri nhận (Verdonk, 2006,  
p. 10433). Ấn phẩm quan trọng nhất của PCHTN/TPHTN tập trung trong bốn quyển sách,  
gồm chuyên luận của Stockwell (2002), và ba tuyển tập bài viết do các nhóm tác giả sau  
đây biên soạn: Semino and Culpeper (2002), Gavins and Steen (2003), Brône and  
Vandaele (2009).  
PCHTN là sự tiếp nối truyền thống của phong cách học văn chương khi mối quan  
tâm chủ yếu của nó vẫn là vấn đề về văn chương, tuy định hướng tiếp cận có khác đi.  
Michael Burke nhận định: “PCHTN có thể nói là đã được phát triển chủ yếu từ phong cách  
học văn chương, một lĩnh vực cũng được biết đến với tên gọi ‘ngôn ngữ học văn chương’”  
(Burke, 2006, p. 10444). Tác giả cũng cho biết thêm: “Sự khác biệt chủ yếu giữa phong  
cách học văn chương dòng chủ lưu với PCHTN là trong khi cái thứ nhất tập trung hầu như  
chủ yếu vào ngôn ngữ và phong cách, và những khía cạnh khác của sự xử lí hình thức, thì  
cái thứ hai mở rộng những đặc trưng của quy trình xử lí ‘từ dưới lên’ (bottom-up) này, và  
cũng xem xét các phương diện trí nhớ, xúc cảm, tri nhận của quy trình xử lí ‘từ trên xuống’  
(top-down)” (Burke, 2006, p. 10444). Đặc trưng cơ bản của PCHTN là tính chất ứng dụng:  
“TPHTN tự nó là hiện thân của nguyên lí ứng dụng” (Stockwell, 2002, p. 166). Phụ đề  
(trong trang bìa) đặt trước tên quyển sách Cognitive Poetics: Goals, Gains and Gaps  
(Brône and Vandaele, 2009) cũng ghi là “Ứng dụng của ngôn ngữ học tri nhận”.  
1.3. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu  
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu  
Nhà nghiên cứu David West quan niệm một cách rõ ràng đối tượng nghiên cứu của  
PCHTN: “Đối tượng nghiên cứu của PCHTN là trải nghiệm đọc (readerly experience).  
Tùy theo những hoạt động trong lĩnh vực này, trải nghiệm đọc là một kết quả, một mặt, của  
từ ngữ trên trang giấy, của các đặc điểm ngữ nghĩa, cú pháp, ngữ âm của văn bản, những  
cái đóng vai tác nhân kích thích để gợi ra những ý nghĩ và cảm xúc phức tạp ở người đọc;  
một mặt khác, của những năng lực tri nhận của người đọc, những cái chắc chắn can thiệp  
vào, và quyết định bản chất việc trải nghiệm của người đọc về văn bản (và, quả thực, của  
mọi đối tượng, mĩ học hoặc những lĩnh vực khác, trên thế giới). Trong sự tương tác của hai  
lực này, trải nghiệm đọc xuất hiện, và đó là cái mà Peter Stockwell nói đến như là sự đan  
dệt ‘texture’. Trải nghiệm đọc này là đối tượng nghiên cứu mang tính nguyên tắc mà các  
185  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 16, Số 2 (2019): 183-199  
nhà phong cách học quan niệm, hơn là những vấn đề về tiểu sử tác giả, ngữ cảnh lịch sử và  
xã hội của văn bản, hoặc là văn bản như một thực thể tự nó3” (West, 2016, p. 110).  
Theo Peter Stockwell, chúng ta có thể đọc văn chương bất cứ lúc nào chúng ta muốn,  
“nhưng khi chúng ta muốn suy nghĩ về cái chúng ta đang làm lúc chúng ta đọc, khi chúng  
ta muốn phản ánh và hiểu nó, thì chúng ta không đơn giản là đọc; chúng ta đang dính líu  
đến một khoa học về việc đọc. Đối tượng khám phá của khoa học này không phải chỉ đơn  
độc về kĩ xảo tác phẩm văn chương, hoặc chỉ riêng về người đọc, mà là quá trình đọc mang  
tính chất tự nhiên hơn, lúc một người ở trong mối quan hệ tương liên với một đối tượng  
khác” (Stockwell, 2002, p. 1-2).  
Phương diện tinh thần của việc đọc, các nhân tố tinh thần của việc tạo nghĩa làm cho  
PCHTN khác với nghiên cứu truyền thống về văn chương ưu tiên thành tố văn bản, dựa  
trên cơ sở của sự phân tích, giải thích hình thức, chức năng, hiệu quả của các hiện tượng  
văn chương. Nói một cách văn vẻ thì PCHTN chính là “đọc hiểu việc đọc hiểu tác phẩm  
văn chương”.  
1.3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu  
Nói về nhiệm vụ nghiên cứu của PCHTN, Michael Burke cho rằng: “Vì vậy, tại lõi  
hạt nhân của nó, PCHTN nhằm tới việc trả lời hai câu hỏi chính: thứ nhất, ‘người ta làm gì  
khi người ta đọc’ (what do people do when they read)? Và thứ hai, ‘cái gì xảy ra với người  
đọc lúc họ đọc’ (what happens to people when they read)? Hàm chứa trong hai câu hỏi này  
là vai trò của quá trình xúc cảm và tri nhận có ý thức và vô thức khi một cá nhân hoặc một  
nhóm người đối mặt với một văn bản ngôn ngữ – cái đã được thiết kế có chủ định nhằm  
mục đích gây ra một cảm xúc nào đó ở người đọc” (Burke, 2006, p. 10444). Trong hai câu  
hỏi mà Burke đưa ra, câu hỏi thứ nhất nhằm giải quyết vấn đề hoạt động của người đọc,  
bao gồm quá trình vận dụng các năng lực trí tuệ để tri nhận, lí giải về văn bản văn chương.  
Câu hỏi thứ hai nhằm giải quyết vấn đề tác động, hiệu quả của văn bản văn chương đối với  
người đọc, bao gồm nhận thức, cảm xúc và hiệu quả thẩm mĩ.  
David West phát biểu trực tiếp hơn về nhiệm vụ của PCHTN: “Lúc chúng ta đọc một  
văn bản văn chương, chẳng hạn như một bài thơ, một truyện ngắn, một tiểu thuyết, hoặc  
lúc chúng ta xem một vở kịch, chúng ta có một tư tưởng nào đó, hoặc tạo ra một cách hiểu  
nào đó, hoặc trải nghiệm một cảm xúc nào đó. Nhiệm vụ của PCHTN là giải thích những  
tư tưởng, cách hiểu và cảm xúc đó trong một cách thức mang tính nguyên tắc bằng việc  
xem xét vừa cả về ngôn ngữ của tác phẩm văn chương và cả với cái chúng ta biết về trí tuệ  
con người và cách thức nó thực hiện chức năng trong những thể nghiệm của nó ở thế giới  
3
Theo Gerard Steen, văn bản vẫn là “nhân tố độc lập cục bộ trong đối tượng khảo sát” của PCHTN” (Steen, 2002,  
p.184), và “Nếu tri nhận (cognition) được định nghĩa như sự ứng xử hoặc xử lí tri nhận, thì văn bản có thể không được  
xem như tri nhận, ngoại trừ là một hoán dụ: văn bản là sản phẩm của tri nhận hoặc tác nhân kích thích của tri nhận. Nếu  
sự cấu trúc lại vấn đề như thế được chấp nhận thì văn bản yêu cầu một sự khảo sát với tư cách những sản phẩm hoặc tác  
186  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Nguyễn Thế Truyền  
bên trong” (West, 2016, p. 110). Nhiệm vụ nghiên cứu này của PCHTN ở phương diện thứ  
hai (hiểu biết về trí tuệ con người) là một nhiệm vụ cực kì khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải  
có sự kết hợp với các khoa học liên ngành như sinh học thần kinh, mĩ học tri nhận, tâm lí  
học diễn ngôn.  
1.4. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu  
1.4.1. Cách tiếp cận  
Cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu của PCHTN là cách tiếp cận hai chiều: kết hợp  
quy trình xử lí “từ dưới lên” (bottom-up) của sự xử lí hình thức về ngôn ngữ, phong cách,  
thủ pháp nghệ thuật, với quy trình xử lí “từ trên xuống” (top-down) về các phương diện trí  
nhớ, xúc cảm, tri nhận (Burke, 2006, p. 10444). Hướng xử lí từ dưới lên là hướng phân tích  
vi mô, đi từ văn bản văn chương như một tác nhân kích thích, ứng với thành tố “phong  
cách” hay “thi pháp” trong tên gọi của lĩnh vực nghiên cứu; còn hướng xử lí từ trên xuống  
là hướng phân tích vĩ mô, đi từ người đọc với tư cách bộ xử lí (bộ máy giải mã), ứng với  
thành tố “tri nhận” trong tên gọi của lĩnh vực nghiên cứu (West, 2016, p. 110). Kết quả  
nghiên cứu của PCHTN là sản phẩm tương tác của hai quy trình này.  
1.4.2. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu thế giới bên trong của tâm trí con người khi tiếp xúc với văn chương là  
một việc làm cực kì phức tạp. Khi đọc văn chương, người ta vui buồn, ngạc nhiên, sợ hãi  
hoặc thích thú. Những trạng thái cảm xúc đó có những biểu hiện bên ngoài ở cơ thể, người  
nghiên cứu có thể quan sát hoặc thu thập tư liệu qua phỏng vấn. Nhưng những ý nghĩ, tâm  
tư bên trong não của con người khi họ tiếp xúc với thế giới văn chương thì làm thế nào để  
khám phá? Nói về các phương pháp nghiên cứu trong PCHTN, David West giới thiệu một  
cách bao quát như sau: “Để thu thập dữ liệu về trải nghiệm đọc, những nhà PCHTN có thể  
điều tra cái người đọc thực (real reader) nói về trải nghiệm của họ khi đọc văn bản văn  
chương, như Michael Burke đã làm, chẳng hạn, trong quyển sách gần đây của ông,  
Literary Reading, Cognition and Emotion (2011)4, khi ông đưa cho đối tượng sinh viên của  
mình những bảng câu hỏi và yêu cầu họ tự xem xét nội tâm về trải nghiệm đọc của họ;  
hoặc như Richards đã làm trong thí nghiệm ‘phê bình thực hành’ nổi tiếng của mình”, lúc  
ông đưa cho sinh viên những bài thơ và thu thập những phản ứng bằng ngôn ngữ viết của  
họ (Richards 19295). Nhà PCHTN cũng có thể thực hiện những thí nghiệm khoa học, như  
Willie van Peer đã làm trong Stylistics and Psychology (1986)6, lúc ông đưa ra cho những  
nhóm đối tượng khác nhau những phiên bản được thay đổi đi một mức độ không đáng kể  
của cùng một văn bản và phân tích những phản ứng khác nhau của họ” (West, 2016,  
nhân kích thích, và điều này có thể thực hiện bằng phương tiện phân tích trực tiếp hoặc với sự giúp đỡ của người cung  
cấp tin” (Steen, 2002, p.186).  
4 Burke, M., 2011. Literary Reading, Cognition and Emotion. London: Routledge.  
5 Richards, I. A., 1929. Practical Criticism: A Study of Literary Judgment. London: Kegan Paul.  
6 van Peer, W., 1986. Stylistics and Psychology. London: Croom Helm.  
187  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 16, Số 2 (2019): 183-199  
p.110). Từ ý kiến của David West, chúng ta thấy các nhà PCHTN dùng hai phương pháp  
nghiên cứu chủ yếu là phương pháp điều tra xã hội học và phương pháp thực nghiệm.  
Ngoài ra, nhà PCHTN còn có thể sử dụng phương pháp nội quan, là phương pháp tự thể  
nghiệm thông qua suy xét nội tâm của nhà nghiên cứu dựa trên “việc đọc cá nhân của  
chính họ” (Semino and Culpepre, 2002, p. XI) với tư cách là một người đọc tự nhiên hay  
một người đọc lí tưởng.  
2.  
Một số nội dung nghiên cứu cụ thể  
Nội dung nghiên cứu của PCHTN/TPHTN rất phong phú, đa dạng. Chúng ta có thể  
chia những nội dung nghiên cứu này làm hai nhánh: nhánh những nội dung nghiên cứu  
xuất phát từ các khái niệm công cụ của ngôn ngữ học tri nhận và khoa học tri nhận, gồm  
những vấn đề như: hình và nền (figures and grounds), điển mẫu và việc đọc (prototypes  
and reading), chỉ xuất tri nhận (cognitive deixis), ngữ pháp tri nhận (cognitive grammar),  
kịch bản và lược đồ (scripts and schemas), thế giới diễn ngôn và không gian tinh thần  
(discourse worlds and mental spaces), ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor) trong tác phẩm  
văn chương, văn học như những dụ ngôn (literature as parable), thế giới văn bản (text  
worlds)…; và nhánh những nội dung nghiên cứu xuất phát từ các vấn đề truyền thống của  
nghiên cứu ngôn ngữ và văn chương, như: kết cấu văn bản và cảm nghĩ khi đọc (texture  
and feeling of reading), kiểu/phong cách tư duy trong hư cấu tự sự (mind style in narrative  
fiction), ngôn ngữ không gian (spatial language) trong ngôn ngữ nhân vật, cái tôi phân thân  
(split selves) trong tiểu thuyết, sự câu thúc tri nhận đối với sáng tạo ngôn từ (cognitive  
constraints on verbal creativity), hướng tiếp cận tri nhận đối với xây dựng nhân vật  
(cognitive approach to characterisation)... Sau đây, chúng tôi giới thiệu một số nội dung  
nghiên cứu của hai nhánh đó.  
2.1. Những nội dung nghiên cứu xuất phát từ các khái niệm công cụ của ngôn ngữ tri  
nhận và khoa học tri nhận  
2.1.1. Hình và nền (figures and grounds)  
Khái niệm hình và nền là ý tưởng cơ sở và rất quan trọng của ngôn ngữ học tri nhận  
cũng như khoa học tri nhận. Bộ máy tri nhận của con người nhận thức thế giới không phải  
như một toàn thể đồng nhất mà thông qua sự phân biệt hình và nền. Hình là vật nằm ở tiêu  
điểm của sự tri giác, có biên giới xác định, nổi bật lên trên nền; còn nền là khung bối cảnh  
rộng hơn xác định hình. Hình gắn bó với nền: nền giúp xác định hình, nhưng hình làm cho  
nền có sinh khí. Ví dụ về hình/nền trong văn bản văn chương:  
trong bí mật  
[nền]  
yên lặng không nói gì  
[hình hàm ẩn một người, hình bình thường]  
và đường phố đầy những ngôi sao [hình kì dị]  
(Pablo Picasso, trong bí mật)7  
7 Dẫn lại và dịch theo bản của Stockwell, 2003, p.16.  
188  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Nguyễn Thế Truyền  
Đặc trưng bản thể của hình và nền, cũng như tương tác qua lại của chúng là một vấn  
đề then chốt khi xem xét hình/nền trong nghệ thuật. Theo Stockwell, trong hầu hết các tự  
sự hư cấu, nhân vật là hình, ngược lại với nền là khung cảnh của chúng. Hình có những  
đường ranh giới (ví dụ bằng tên riêng), và chúng mang theo hoặc phát triển dần dần những  
đặc điểm cá nhân và tâm lí cụ thể. Về phương diện phong cách, chúng có khả năng là tiêu  
điểm của tác phẩm tự sự, hoạt động xuyên qua các khung cảnh khác nhau, và có khả năng  
liên kết với những động từ hành động có chủ ý, ngược lại với những loại động từ chỉ thuộc  
tính và sự tồn tại dùng miêu tả cho bối cảnh. Nhưng đôi khi, về phương diện chủ đề, khung  
cảnh có thể trở thành hình, nổi lên trên bối cảnh để đảm đương thân phận của một ‘nhân  
vật’ trong văn bản (Stockwell, 2002, p. 15). Mặt khác, sự tri nhận của chúng ta về các hiện  
tượng văn chương còn phụ thuộc vào khả năng chúng ta nhận thức phong cách và sự khác  
biệt về phong cách giữa các đối tượng. Những đặc trưng nổi trội về phong cách dễ dàng  
được xem là hình. “Hình và nền, vì vậy, cũng là đặc trưng cơ bản của việc phân tích phong  
cách văn chương” (Stockwell, 2002, p. 15).  
Vì kết cấu của tác phẩm văn chương là một kết cấu sinh động, phong phú đa đạng về  
hình – nền, nên đọc văn bản văn chương “là một trải nghiệm năng động, liên quan đến một  
quá trình thay mới (renewing) sự chú ý để tạo ra và theo dõi mối quan hệ giữa hình và nền”  
(Stockwell, 2002, p. 18). Những vận động năng động thông qua đọc “có thể được hiểu như là  
quá trình của xác lập hình ‘figuring’ và xác lập nền ‘grounding’, đem lại những hình ảnh gây  
ấn tượng và sự vang vọng lâu dài trong tâm trí người đọc” (Gavins and Steen, 2003, p. 13).  
Hình và nền liên quan đến sự chú ý của tri giác con người. “Những nhân tố nào đó  
trong trường thị giác được lựa chọn chú ý, và những cái này sẽ là những nhân tố được xem  
như hình. Điều này cũng có nghĩa rằng nền thuộc một trường thị giác bị loại bỏ, hoặc mang  
đặc trưng bị sao nhãng. Cần chú ý rằng “đây không đơn giản là vấn đề cấu trúc mà vừa cấu  
trúc lẫn nhận thức” (Stockwell, 2003, p. 16), vì vậy sự chú ý phần nào mang tính chủ quan.  
Những nhà tâm lí học tri nhận đã dùng ẩn dụ ‘đèn pha’ (spotlight) như một phương tiện để  
lí giải tiêu điểm của sự chú ý” (Stockwell, 2002, p. 18). Trong phạm vi văn bản, sự tập  
trung chú ý đối với hình và sự lãng quên cục bộ đối với nền cũng đúng như vậy. “Một văn  
bản văn chương dùng những khuôn mẫu phong cách để tập trung sự chú ý về một đặc  
trưng cụ thể trong phạm vi không gian văn bản. Trạng thái nguyên thủy của những khuôn  
mẫu này sẽ thay đổi theo bối cảnh, nhưng sự chú ý chỉ được duy trì bằng một sự thay mới  
liên tục sự quan tâm về phong cách, bằng một quá trình liên tục thay mới quan hệ hình và  
nền” (Stockwell, 2002, p. 18). Nguyên nhân của hiện tượng này là vì sự chú ý, một cách  
điển hình, bị thu hút bởi chuyển động (trong trường thị giác) và những nhân tố nổi bật, hấp  
dẫn ‘vật lôi cuốn sự hấp dẫn’ (attractor)” khác về độ sáng, kích cỡ, sự độc đáo, khác  
thường… Vì thế, những nhân tố trong tầm nhìn mà bất động hay không có gì nổi bật sẽ  
ngay lập tức không được chú ý. Trong khuôn khổ văn bản, điều này có nghĩa rằng ‘tính  
189  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 16, Số 2 (2019): 183-199  
mới’ (newness) sẽ là chìa khóa đối với sự chú ý. Khi đối tượng của sự chú ý (chẳng hạn là  
nhân vật trong tự sự hư cấu hay một lâu đài hoặc khung cảnh thiên nhiên trong thơ trữ tình)  
di chuyển và thay đổi cùng với sự phát triển của văn bản, thì sự chú ý cũng di chuyển để  
dõi theo đối tượng. Văn bản văn chương phải kết cấu như thế nào đó để thu hút sự chú ý  
của người đọc ngay từ hình hay nền đầu tiên, và duy trì sự chú ý đó trong suốt chiều dài  
của văn bản, cho đến kết thúc, với những hình nổi bật nhất. Khi có nhiều đối tượng (nhiều  
hình) thì sẽ có ‘ganh đua sự chú ý’ (Stockwell, 2002, p. 19) và chúng có thể sẽ là hình/nền  
của nhau. Về phương diện văn bản, cái được đề cập tới nhiều, chiếm nhiều không gian văn  
bản, hoặc được diễn đạt với những từ ngữ lệch chuẩn là đáng chú ý nhất” (Stockwell,  
2002, p. 19).  
Hình hiển nhiên được chú ý hơn nền, nhưng không phải lúc nào cũng như vậy, nhất  
là trong văn chương và các hình thức nghệ thuật khác. Nhà văn có nhiều cách thức để làm  
nổi bật sự chú ý vào nền, “cải trang (reconfiguring) nó thành hình và thành đối tượng của  
sự quan tâm” (Stockwell, 2002, p. 20). Chiến lược đảo ngược hình/nền là một trong chiến  
lược quan trọng của sáng tác văn chương, tạo ra nhiều cảm xúc thẩm mĩ cho người đọc.  
Một số chiến lược khác về hình/nền như: nền đơn giản để tôn hình, làm nổi bật hình; hình  
tương phản với nền; hình phức tạp và nền mơ hồ pha trộn lẫn nhau…  
2.1.2. Chỉ xuất tri nhận (Cognitive deixis)  
Chỉ xuất (deixis) là sự móc nối nghĩa của từ ngữ với ngữ cảnh. Chỉ xuất được thảo  
luận trong triết học và ngôn ngữ học để giải quyết vấn đề nghĩa và cách hiểu từ ngữ trong  
văn bản, và nó là trung tâm của quan niệm sự nghiệm thân về nhận thức (embodiment of  
perception).  
Theo Stockwell (Stockwell, 2002, p. 42), trong đọc tác phẩm văn chương, vị trí  
của người đọc trong quan hệ với tác giả và văn bản văn chương được thể hiện qua sơ đồ  
sau đây:  
Hình 1. Các quan hệ chỉ xuất trong đọc văn chương  
190  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Nguyễn Thế Truyền  
Trong thế giới thực, chúng ta có một tác giả với bản tính con người thực, người đã  
sáng tác nên văn bản văn chương. Và chúng ta, người đang đọc tác phẩm văn chương,  
cũng mang bản tính con người thực. Nhưng trong văn bản văn chương (thế giới hư cấu), lại  
có một tác giả hàm ẩn và một người đọc hàm ẩn mà tác giả đó hướng tới, và câu chuyện do  
một người kể chuyện kể ra về những nhân vật cho một người nghe chuyện kể cụ thể trong  
thế giới đó. Thế giới hư cấu có thể được giới thiệu, phân tích bởi một tiếng nói ở bên  
ngoài, và tất cả những cách đọc có thể có về văn bản văn chương được lĩnh hội qua người  
đọc lí tưởng.  
Khi đọc tác phẩm văn chương, người đọc phải nắm được các quan hệ chỉ xuất như  
vừa nói (cũng tức là những ngữ cảnh khác nhau của các tình tiết, sự việc trong văn bản văn  
chương và trong quan hệ tri nhận với người đọc) thì mới hiểu đúng tác phẩm văn chương  
và thu nhặt được những thông tin cần thiết.  
Stockwell cho biết: vì sự xuất hiện của sự diễn đạt chỉ xuất là tùy thuộc vào ngữ  
cảnh, nên việc đọc một văn bản văn chương liên quan đến quá trình tạo ngữ cảnh (context-  
creation) để theo dõi những điểm móc nối (anchor-points) với ngữ cảnh của các diễn đạt  
chỉ xuất này. Trong nghĩa này, hoạt động đọc là sáng tạo, dùng văn bản để cấu trúc lên  
những thế giới có thể dàn xếp về mặt tri nhận, và quá trình này là sống động và liên tục  
chuyển đổi (Stockwell, 2002, p. 42).  
Một hướng tiếp cận quan trọng về chỉ xuất tri nhận là lí thuyết chuyển đổi chỉ xuất  
(deictic shift theory). Lí thuyết chuyển đổi chỉ xuất chủ yếu giới hạn trong tình huống chỉ  
xuất điển mẫu ‘tôi là trung tâm’ (egocentric), nhưng nó có thể mở rộng cho 6 chiều chỉ  
xuất của ngữ cảnh văn bản văn chương (tri giác, không gian, thời gian, quan hệ xã hội, văn  
bản, thành phần cấu tạo; Stockwell, 2002, p. 45-46) qua khái niệm sự phóng chiếu chỉ xuất  
(deictic projetions) với tư cách một quá trình tri nhận.  
Lí thuyết chuyển đổi chỉ xuất mô hình hóa những nhận thức chung khi người đọc đặt  
mình bên trong thế giới văn bản và xác lập một tư thế tri nhận (cognitive stance) trong thế  
giới văn bản được cấu trúc về phương diện tinh thần. Khả năng tưởng tượng này là một sự  
chuyển đổi chỉ xuất cho phép người đọc hiểu những sự diễn đạt chỉ xuất liên quan đến  
trung tâm chỉ xuất đã được chuyển đổi. Nói cách khác, người đọc có thể thấy sự vật gần  
giống như trong cách nhìn của nhân vật hay người kể chuyện bên trong thế giới văn bản,  
và điều đó đem lại sự mạch lạc khi người đọc theo dõi câu chuyện.  
Vay mượn thuật ngữ của tin học, sự di chuyển chỉ xuất khi đọc tác phẩm văn chương  
có thể là “đẩy vào” (push) từ trung tâm chỉ xuất của người đọc thực (real reader) đi vào vai  
trò của người đọc hàm ẩn (implied reader) hoặc người nghe chuyện kể (narratee), hoặc của  
người kể chuyện (narrator), nhân vật (character), tức là đi vào những trường chỉ xuất thấp  
hơn, từ trái sang phải của sơ đồ ở Hình 1. Thâm nhập vào những đoạn hồi tưởng, giấc mơ,  
191  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 16, Số 2 (2019): 183-199  
kịch trong kịch, truyện trong truyện, thư, nhật kí của nhân vật trong tiểu thuyết… là những  
ví dụ về sự đẩy vào trong một trường chỉ xuất.  
Ngược lại, đi từ phải sang trái của sơ đồ ở Hình 1 là thoát ra (pop), từ trung tâm chỉ  
xuất của nhân vật, từng bước, rồi gấp sách lại và trở về đời sống thực. Đoạn kết có sự xuất  
hiện trở lại của người kể chuyện, hoặc khi họ xen vào bình luận tình tiết của câu chuyện  
hoặc khi có tiếng nói bên ngoài thế giới hư cấu là những ví dụ về sự chuyển đổi chỉ xuất  
kiểu thoát ra.  
Các kiểu thay đổi chỉ xuất nhiều hình nhiều vẻ trong tác phẩm văn chương và trong  
quá trình tri nhận năng động của người đọc mang lại nhiều hứng thú thẩm mĩ khác nhau,  
và cũng là chủ đề quan tâm nghiên cứu của nhiều công trình trong PCHTN.  
2.1.3. Kịch bản và lược đồ (Script and schema)  
Theo Peter Stockwell thì một trong những ứng dụng sớm nhất từ khoa học tri nhận  
đối với văn chương là lí thuyết lược đồ (schema theory). Lí thuyết lược đồ nguyên gốc  
được phát triển như một công cụ cung cấp cho những chương trình vi tính trong nghiên  
cứu trí tuệ nhân tạo một “hiểu biết” về ngữ cảnh, cái có thể giúp những chương trình này  
xử lí ngôn ngữ (Stockwell, 2002, p. 75). Trong lĩnh vực ngôn ngữ học, cái cấu trúc ý niệm  
vạch ra từ bộ nhớ trợ giúp việc hiểu phát ngôn này lúc ban đầu được gọi là kịch bản  
(script). Một lược đồ là “một bộ cấu trúc khái niệm chứa những thông tin tương đối khái  
quát và được lưu giữ trong bộ nhớ dài hạn” (Culpeper, 2002, p. 262). Còn một kịch bản  
“bao gồm những nhân tố được giả định là liên quan trong một tình huống: đạo cụ, người  
tham dự, điều kiện, kết quả; và chuỗi sự kiện” (Stockwell, 2002, p. 78).  
Kịch bản (cũng như lược đồ) là những mô hình tri nhận khái quát sở hữu chung cho  
hầu hết mọi người trong cùng một nền văn hóa. Người đọc phải kích hoạt những kịch bản  
(lược đồ) liên quan để xác lập nghĩa cho văn bản họ đang đọc. Kịch bản cung cấp một kho  
phức hợp thông tin về những tình huống mà người đọc biết trước, cái “làm cho họ dễ dàng  
định hướng và tương tác trong những tình huống đó” (Steen, 2003, p. 68). Nhóm ba tác giả  
Emmott, Alexander và Marszalek cho biết về vai trò của một lược đồ là “chứa những thông  
tin xuất phát chung trợ giúp cho việc đọc hiểu bằng cách cho phép người đọc ngoại suy  
(extrapolate) những chi tiết hoặc là không được đề cập mọi phương diện trong văn bản hoặc  
không được chỉ rõ”. Lược đồ “giúp người đọc có thể lấp đầy những ‘lỗ hổng’ của những  
thông tin được đưa ra trong văn bản” (Emmott, Alexander and Marszalek, 2014, p. 268).  
Đánh giá ý nghĩa của lí thuyết lược đồ đối với nghiên cứu phong cách học, nhóm ba tác  
giả Emmott, Alexander và Marszalek nhận định: “Lí thuyết lược đồ là quan trọng không chỉ  
vì nó giải thích cho cơ chế trung tâm mà mọi người đọc đều vận hành, mà còn vì hiệu quả đặc  
biệt mà tác giả có thể có thể tạo ra thông qua việc lật đổ, khai thác, sửa đổi hoặc vi phạm hiểu  
biết lược đồ của người đọc” (Emmott, Alexander and Marszalek, 2014, p. 268).  
192  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Nguyễn Thế Truyền  
Lược đồ không phải nhất thành bất biến mà thay đổi từ cộng đồng văn hóa này sang  
cộng đồng văn hóa khác, và theo thời gian, đặc biệt là nó phải luôn tiến hóa để đáp ứng  
nhu cầu tri nhận về một thế giới (thế giới thực và thế giới văn chương) luôn thay đổi. Theo  
Stockwell thì: “Nói khái quát, có ba cách thức trong đó một lược đồ có thể tiến hóa:  
- Phát triển dần lên (accretion) – thêm vào những nhân tố mới cho lược đồ;  
- Điều chỉnh (tuning) – biến đổi những nhân tố hoặc quan hệ trong lược đồ;  
- Tái cấu trúc (restructuring) – tạo ra những lược đồ mới”.  
(Stockwell, 2002, p. 79)  
Lược đồ và sự thay đổi lược đồ có thể hiểu qua những ví dụ minh họa rất sinh động  
của Stockwell: “Chẳng hạn, với những người đọc chỉ có hiểu biết sơ lược về thể loại  
truyện khoa học viễn tưởng (science fiction), lược đồ của truyện khoa học viễn tưởng, một  
cách điển hình, có những thành tố như: phi thuyền, súng la-de, người máy (đạo cụ); nhà  
khoa học, nhà thám hiểm, người ngoài hành tinh (người tham dự); bối cảnh ngoài trái đất  
hoặc du hành vượt thời gian hoặc không gian (điều kiện); sự tiết lộ về tương lai, hoặc việc  
tránh thoát khỏi những hậu quả bất lợi của nó (kết quả); và chiến tranh không gian hoặc  
những cuộc đọ súng la-de (chuỗi sự kiện). Với những người đọc nhiều hơn về truyện khoa  
học viễn tưởng, lược đồ của họ phát triển dần lên thêm một số đặc tính, như hiệu ứng thời  
gian giãn nở của du hành với tốc độ nhanh hơn ánh sáng giữa các thiên hà, hoặc những cỗ  
máy ‘tâm hồn lệch lạc’, hoặc những bộ não siêu dị về cấu trúc... Vào những năm 60 của  
thế kỉ XX, có một sự thay đổi rõ rệt trong truyện khoa học viễn tưởng từ không gian vũ trụ  
sang không gian tinh thần bên trong (inner space), và một sự quan tâm về truyện khoa học  
viễn tưởng tâm lí, sinh học và xã hội, những loại truyện yêu cầu một sự điều chỉnh lược đồ  
truyện khoa học viễn tưởng với nhiều người đọc. Những tiểu thể loại mới trong truyện  
khoa học viễn tưởng sau đó đã xuất hiện, như dòng truyện ‘thế giới máy tính bá chủ’  
(cyberpunk) hoặc ‘truyện khoa học viễn tưởng nữ quyền’ (feminist science fiction) – với  
một số nhà phê bình, điều này liên quan đến việc điều chỉnh lược đồ của họ xa hơn nữa,  
với một số người khác, điều này đòi hỏi một sự tái cấu trúc triệt để về lược đồ” (Stockwell,  
2002, p. 79).  
Lí thuyết lược đồ đã được dùng để xem xét lại vấn đề tính văn chương (literariness)  
và ngôn ngữ văn chương. Như nhiều người đã bàn luận, hầu hết diễn ngôn hằng ngày là  
duy trì lược đồ, cũng có nghĩa là xác nhận những lược đồ đang hiện hữu. Nơi nào sự xác  
nhận lược đồ có tính khuôn mẫu, như trong nhiều diễn ngôn quảng cáo, khi đó có sự gia cố  
lược đồ. Thỉnh thoảng, những nhân tố hoặc chuỗi sự kiện bất ngờ trong nội dung ý niệm  
của văn bản có thể đưa ra một cách tiềm năng một sự phá vỡ lược đồ (schema disruption),  
một thách thức đối với cấu trúc hiểu biết hiện có của người đọc. Sự phá vỡ lược đồ có thể  
được giải quyết hoặc bằng việc bổ sung cho lược đồ (tương đương với cách thức phát triển  
dần lên nói ở trên), hoặc bằng một sự làm mới lược đồ một cách cơ bản – một sự thay đổi  
193  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 16, Số 2 (2019): 183-199  
lược đồ tương đương với cách thức điều chỉnh vừa nói ở trên, hoặc khái niệm lạ hóa  
(defamiliarisation, refamiliarisation) (Stockwell, 2002, p. 79).  
Lí thuyết lược đồ trong ngữ cảnh văn chương chỉ ra ba lĩnh vực khác nhau trong lược  
đồ vận hành: “lược đồ thế giới, lược đồ văn bản, và lược đồ ngôn ngữ” (Stockwell, 2002,  
p. 80). Lược đồ thế giới liên quan đến những công việc phải làm với nội dung; lược đồ văn  
bản hình dung kì vọng của chúng ta về con đường mà lược đồ thế giới xuất hiện với chúng  
ta trong phạm vi của tổ chức cấu trúc và chuỗi sự kiện của chúng; lược đồ ngôn ngữ chứa  
những quan niệm của chúng ta về những hình thức thích hợp của những khuôn hình ngôn  
ngữ và phong cách trong đó chúng ta mong chờ một chủ đề hiện ra. Dùng hai lược đồ sau  
cùng nhau, sự phá vỡ trong trông đợi của chúng ta về cấu trúc văn bản hoặc cấu trúc phong  
cách sẽ cấu thành sự lệch chuẩn diễn ngôn, cái đưa ra một khả năng có thể cho sự làm mới  
lược đồ (Stockwell, 2002, p. 80). Một lược đồ văn chương không phải là một lược đồ  
thông thường mà là một cấu trúc ý niệm cấp độ cao, tổ chức những con đường đọc của  
chúng ta lúc chúng ta ở trong ngữ cảnh văn chương. Vì thế, nó là một loại lược đồ tổ chức  
(constitutive schema) hơn là giống một kế hoạch (plan) hoặc một mục tiêu (goal) trong  
thuật ngữ của lí thuyết lược đồ trước đây” (Stockwell, 2002, p. 80).  
Lí thuyết lược đồ là “lí thuyết hạt nhân trong phong cách học vì nó được dùng để giải  
thích cho một loạt hiện tượng bao gồm những nhân tố chủ chốt của việc xử lí văn bản, đặc  
thù thể loại, việc cấu trúc thế giới hư cấu, và một danh sách kéo dài của những hiệu ứng  
đặc biệt bao gồm cả sự lạ hóa” (Emmott, Alexander and Marszalek, 2014, p. 279).  
2.2. Những nội dung nghiên cứu xuất phát từ các vấn đề truyền thống của nghiên cứu  
ngôn ngữ và văn chương  
2.2.1. Sự đảo ngược cốt truyện và những nút xoắn trong văn xuôi hư cấu  
Những nghiên cứu của PCHTN về nội dung này tập trung vào việc xem xét người  
đọc dùng kĩ năng tri nhận của mình để đọc hiểu sự đảo ngược của cốt truyện và những thủ  
pháp nghệ thuật khác trong xây dựng cốt truyện (chẳng hạn những nút xoắn về cốt truyện).  
Vì cốt truyện đóng một vai trò chìa khóa trong các thể loại văn chương bình dân, phục vụ  
cho mục đích giải trí là chủ yếu (Emmott, 2003, p. 145), nên ngữ liệu nghiên cứu thường  
được chọn là truyện kể, tiểu thuyết điều tra hình sự, tiểu thuyết lịch sử. Công cụ phân tích  
chủ yếu là lí thuyết khung ngữ cảnh ‘contextual frame theory’ (Emmott, 1997)8. Lí thuyết  
khung ngữ cảnh có tính chất tương tự như lí thuyết thế giới văn bản nhưng nó tập trung cụ  
thể vào các ngữ cảnh của thế giới hư cấu được cấu trúc như thế nào (Emmott, 2003,  
p. 146), ví dụ khung ngữ cảnh của truyện ma hay truyện khoa học viễn tưởng. Người đọc  
khi theo dõi sự việc trong truyện thì họ phải thực hiện những suy luận trong khung hoặc  
8 Emmott, C., 1997. Narrative Comprehension: A Discourse Perspective. Oxford: Oxford University Press.  
194  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Nguyễn Thế Truyền  
xuyên khung ngữ cảnh để hiểu các tình tiết được nói đến. Họ có khi cũng phải đánh giá lại  
nhân vật hoặc cảnh huống để nắm bắt được logic của mạch truyện.  
2.2.2. Kiểu tư duy (Mind style)  
Các kiểu tư duy khác nhau (của nhân vật, người kể chuyện, tác giả) sẽ có những cấu  
trúc và quá trình tri nhận khác nhau, được phản ánh qua các mô hình ngôn ngữ khác nhau  
trong văn bản. Người đọc nhận thức và giải thích các cấu trúc và quá trình tri nhận đó như  
thế nào? Đây là vấn đề mà PCHTN phải giải quyết và giải quyết trên một khung lí thuyết  
cụ thể nào đó về tri nhận. Trong “A cognitive stylistic approach to mind style in narrative  
fiction”, Semino thử nghiệm nghiên cứu phong cách tri nhận của mình về kiểu tư duy  
“mind style”. “Semino phân biệt khái niệm kiểu tư duy với điểm nhìn ý thức hệ  
‘ideological point of view’, và khẳng định rằng cái thứ nhất là được xây dựng trên cơ sở  
cách thức ngôn ngữ phản ánh những cấu trúc ý niệm đặc biệt và những thói quen tri nhận  
đặc trưng cho một thế giới quan cá nhân” (Semino and Culpeper, 2002, p. XIII). Để cho  
bạn đọc thấy kiểu tư duy được tạo ra về phương diện ngôn ngữ như thế nào, Semino đã  
dùng lí thuyết lược đồ, lí thuyết ẩn dụ tri nhận, lí thuyết pha trộn ý niệm và phân tích các  
nội dung tương ứng trong tác phẩm văn chương.  
Theo Semino, kiểu tư duy “bao gồm những thói quen, năng lực và giới hạn tri nhận  
đặc trưng của một cá nhân” “liên quan đến bộ nhớ dài hạn và quá trình tri nhận” (Semino,  
2002, p. 97). Những nghiên cứu trước đây về kiểu tư duy tập trung chủ yếu vào từ vựng và  
ngữ pháp, nhưng sau đó chuyển sang dựa vào mô hình ngôn ngữ và lí thuyết tri nhận để  
phân tích đặc điểm tư duy của nhân vật hoặc người kể chuyện, đặc biệt tập trung vào kiểu  
tư duy có vấn đề về tri nhận, những căn bệnh tinh thần. Trong nghiên cứu của mình,  
Semino phân tích hai kiểu tư duy khác thường của hai nhân vật trong hai tác phẩm khác  
nhau. Nhân vật thứ nhất là Alekos, một nhân vật phụ trong tác phẩm “Captain Corelli’s  
Mandolin” (Cây đàn măng-đô-lin của đại úy Corelli) của tác giả Louis de Bernières  
(1994). Alekos là một người chăn dê, sống biệt lập với xã hội loài người, có tâm trí đơn  
giản, giống trẻ con. Khi một người lạ là một người lính đổ bộ xuống núi Aenos bằng dù,  
mang theo máy thu phát vô tuyến, một số vũ khí bao gồm lựu đạn cầm tay, vì thiếu những  
từ ngữ liên quan, nên anh ta dùng cách thức “từ vựng hóa dưới chuẩn”  
(underlexicalisation) gọi “dù” là “nấm” (mushroom), “người lính” là “thiên sứ” (angel),  
“máy thu phát vô tuyến” là “hộp kim loại” (metal box), “lựu đạn” là “quả thông sắt” (iron  
pine cone). Nhìn từ góc độ lí thuyết lược đồ, Alekos thiếu những lược đồ về cái dù, giao tiếp  
vô tuyến và những vũ khí chiến tranh hiện đại, mà cũng không có khả năng thay đổi, bổ sung  
những lược đồ mới, nên chọn cách hiểu (và có khuynh hướng hiểu) những khía cạnh mới của  
trải nghiệm bằng những lược đồ cũ về tự nhiên (ví dụ: quả thông) hoặc tín ngưỡng (ví dụ:  
thiên sứ). Những ẩn dụ của Alekos thực hiện chức năng lấp đầy lỗ hổng từ vựng trong bộ nhớ  
của anh ta nhưng lại gây ra hiệu quả hài hước của sự hiểu nhầm hoặc lỗi tri nhận.  
195  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 16, Số 2 (2019): 183-199  
Nhân vật thứ hai là Clegg, một nhân vật chính trong tiểu thuyết “The Collector”  
(Nhà sưu tập) của John Fowles (1963). Clegg là một thư kí, 25 tuổi, thuộc tầng lớp trung  
lưu, mồ côi từ nhỏ, không có bạn bè, không có bạn gái hoặc trải nghiệm tình dục, đam mê  
sưu tập bướm, say đắm Miranda, nữ sinh viên trường nghệ thuật Luân Đôn. Lúc thắng  
được một khoản tiền lớn từ cá độ bóng đá, Clegg bỏ làm việc, mua một ngôi nhà ở thôn  
quê với các trang thiết bị cần thiết và bắt cóc Miranda để chiếm giữ cô ta hoàn toàn cho  
mình. Trong ngôn ngữ của mình (với tư cách nhân vật hoặc người kể chuyện ngôi thứ  
nhất), Clegg thường xuyên dùng cách diễn đạt ẩn dụ về bướm và sưu tập bướm. Như Clegg  
diễn tả sự sóng đôi giữa việc bắt cóc Miranda với việc bắt một con bướm quý hiếm, giữa  
cảm xúc của anh ta về sắc đẹp của Miranda với sắc đẹp của bướm, giữa nỗ lực quyến rũ  
của Miranda với anh ta để mong muốn được tự do với một con sâu bướm cố gắng rướn  
mình lớn lên thành một con bướm (Cô ta giống con sâu bướm cần ba tháng để thành bướm  
nhưng lại cố gắng làm điều đó trong một vài ngày). Trong ẩn dụ bướm của Clegg, miền  
nguồn là bướm, sưu tập bướm, miền đích là Miranda (và có thể cho phụ nữ nói chung). Có  
khi miền đích còn mở rộng sang cho cả con người (Tôi nghĩ chúng ta chỉ như côn trùng,  
chúng ta sống một khoảnh khắc thời gian rồi chết và đó là định mệnh). Cách dùng ẩn dụ  
bướm (BETTERFLY metaphor) liên quan đến kiểu tư duy, tính cách và hành động của anh  
ta, chúng diễn đạt một tâm trí rối loạn và tội phạm của một người bệnh tâm thần phân liệt.  
Mục đích bắt giữ Miranda cũng song song với mục đích sưu tập bướm của anh ta. Mặc dù  
anh ta bị Miranda hấp dẫn, anh ta lảng tránh bất cứ mối quan hệ tình dục nào9: tất cả mọi  
điều anh ta muốn là có sự kiểm soát toàn bộ và quyền sở hữu không giới hạn đối với  
Miranda. Anh ta đơn giản chỉ xem Miranda như một con bướm quý hiếm sưu tập được.  
Nghiên cứu của Semino cho chúng ta thấy việc khảo sát những mô hình ẩn dụ tri  
nhận phi quy ước, xuất hiện đi xuất hiện lại trong một văn bản cụ thể phản ánh hệ thống ý  
niệm của người tạo ra nó – những ẩn dụ ý niệm mang khí chất riêng (idiosyncratic  
conceptual metaphor; Semino, 2002, p. 109). Cách dùng mang tính hệ thống về ẩn dụ phản  
ánh thói quen tri nhận mang khí chất, phong cách riêng của một cá nhân là một kiểu tư  
duy. Kiểu tư duy này quyết định phong cách ngôn ngữ cũng như phong cách hành động  
của nhân vật, người kể chuyện hay của tác giả, nên nó là một hướng nghiên cứu được đặc  
biệt quan tâm với PCHHTN.  
2.2.3. Xây dựng nhân vật và đọc hiểu nhân vật  
Trong lịch sử nghiên cứu văn chương, theo Culpeper, đã xảy ra những cuộc tranh  
luận về tình trạng bản thể luận của nhân vật. Có hai quan điểm đối nghịch nhau. Quan  
điểm thứ nhất ‘nhân tính hóa’ (humanise) nhân vật, xem nhân vật là sự mô phỏng hoặc  
9 Vừa do quan điểm luân lí, vừa do Clegg là một người đàn ông yếu ớt điển mẫu: bất lực về tình dục.  
196  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Nguyễn Thế Truyền  
miêu tả con người thực (có khi cực đoan hơn xem nhân vật là con người thực) và cho rằng  
nhân vật có thể thảo luận độc lập với văn bản. Quan điểm thứ hai xem nhân vật là sản  
phẩm của cốt truyện, hoặc đơn giản là một hiện tượng văn bản, một sự tồn tại thuần túy  
văn bản (Culpeper, 2002, p. 252). Cả hai quan điểm này đều cực đoan. Một cách tiếp cận  
hợp lí về nhân vật là dung hòa hai ý kiến cực đoan vừa nói. Trong quá trình đọc tác phẩm  
văn chương, nhân vật xuất hiện như là kết quả của một sự tương tác phức tạp giữa thông  
tin đến từ văn bản và những hiểu biết có sẵn trong đầu chúng ta. Vì vậy, như một hệ quả,  
một sự giải thích đầy đủ về xây dựng nhân vật (characterisation) cần phải chú trọng cả  
phương diện tri nhận và phương diện văn bản (Culpeper, 2002, p. 251-52). Việc đọc hiểu  
văn bản văn chương (cũng như đọc hiểu nhân vật) là một sự kết hợp của những quá trình  
từ trên xuống (bị chi phối bởi những kiến thức có sẵn trong bộ nhớ) với những quá trình từ  
dưới lên (bị chi phối bởi những nhân tố văn bản), và việc đọc hiểu có tính chất xoay vòng  
(nghĩa là cái bạn thấy bị ảnh hưởng bởi cái bạn biết, và cái bạn biết bị ảnh hưởng bởi cái  
bạn thấy). Trong những kiến thức có sẵn, thì những lược đồ về nhân vật (đời thực hoặc hư  
cấu) đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu nhân vật. Đó có thể xem như những “khuôn  
mẫu tri nhận” (cognitive stereotypes) hoặc những cấu trúc tri nhận lưu giữ trong bộ nhớ,  
được kích hoạt khi đọc, và tạo thành cái khung định hướng tri nhận. Những kiến thức có  
sẵn về nhân vật (chứ không phải những thông tin văn bản) chiếm vị trí ưu tiên trong việc  
hình thành ấn tượng về nhân vật ở người đọc. Và vì lí do “tiết kiệm lực tri nhận” (cognitive  
economy), chúng ta có khuynh hướng gắn những thông tin văn bản về nhân vật với những  
lược đồ xã hội đã có, hơn là cố gắng phân tích, giải thích chúng cặn kẽ từ một cách nhìn  
nhận khác (Culpeper, 2002, p. 266). Những nhà văn có tài, bằng trực giác của mình, luôn  
nhận thức rõ các nguyên lí tri nhận như vậy, và họ có những chiến lược xây dựng nhân vật  
khác nhau để vừa dựa vào sức mạnh hỗ trợ của quán tính tri nhận tác phẩm văn chương  
của người đọc, vừa phá vỡ nó ở những chỗ cần thiết để tạo ra sự mới mẻ, bất ngờ.  
Culpeper nêu phát hiện của mình như sau: “Một cách nhà văn khai thác sự giải thích nhân  
vật dựa vào lược đồ là tạo ra một tình huống trong đó nhân vật được xây dựng theo một  
loại lược đồ cụ thể, nhưng rồi lại bắt buộc người đọc phải từ bỏ toàn bộ lược đồ đó và kích  
hoạt một cái khác” (Culpeper, 2002, p. 266). Một chiến lược khác của nhà văn về xây dựng  
nhân vật là nhà văn có thể giới thiệu những thông tin không mạch lạc, mơ hồ hoặc khác  
thường về nhân vật để ngăn chặn người đọc thiết lập một cách hiểu về nhân vật bằng cách  
tích hợp đơn giản những thông tin lược đồ với thông tin văn bản. Đương nhiên kiểu xử lí  
thông tin “không tự động” (non-automatic) này có liên quan đến lí thuyết lạ hóa (Culpeper,  
2002, p. 267), nó là một chiến lược làm “gián cách” hiểu biết thông thường của người đọc  
với những thông tin hiện hữu trước mắt.  
197  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 16, Số 2 (2019): 183-199  
Từ chiều hướng ngược lại, người đọc cũng có những chiến lược tri nhận khác nhau về  
nhân vật (ít nỗ lực hoặc nỗ lực cao về tri nhận) và những chiến lược này được cập nhật theo  
từng loại diễn ngôn thông qua sự từng trải của họ về các loại hình văn bản và nhân vật.  
3.  
Kết luận  
PCHTN “tập trung quan tâm miêu tả, định nghĩa và giải thích vai trò của tri nhận và  
cảm xúc trong tiến trình đọc” (Burke, 2006, p. 10444). PCHTN là một phần kết quả của  
việc nghiên cứu ngôn ngữ và văn chương trong “kỉ nguyên của khoa học tri nhận” và là  
“một chương mới trong lí thuyết văn chương” (Gavins and Steen, 2003, p. 10). Lĩnh vực  
PCHTN “vẫn còn nhiều vấn đề trong những năm tháng hình thành của nó. Cái gì xảy ra  
trong não, trong tâm trí và thân thể của cá nhân người đọc lúc họ đối diện với văn bản, đặc  
biệt là văn bản văn chương – cái được thiết kế về chủ đề và phong cách để tạo nên hiệu quả  
cảm xúc ở người đọc – không phải là một câu hỏi có thể nhanh chóng và dễ dàng trả lời”  
(Burke, 2006, p. 10446). Những tiến bộ trong ngôn ngữ học tri nhận, tâm lí học tri nhận, và  
tâm lí học diễn ngôn, cũng như trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và sinh học thần kinh, không  
nghi ngờ gì đã truyền sức mạnh cho lĩnh vực PCHTN phát triển, nhưng PCHTN cũng cần  
những cố gắng vượt bậc của những nhà khoa học hoạt động trong lĩnh vực xử lí diễn ngôn  
văn chương tương tác liên đối tượng này, để họ vừa khắc phục được những “kẽ hở” (gaps)  
về lí luận trong những ứng dụng ban đầu, vừa có những khám phá mới, mang đúng những  
đặc trưng của một lĩnh vực liên ngành, nằm trên biên giới vừa tinh tế vừa trừu tượng của  
văn chương và ngôn ngữ.  
Tuyên bố về quyền lợi: Tá c giả xá c nhận hoàn toàn không có xung đột về quyền lợi.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Brône, G. and Vandaele, J., eds. (2009). Cognitive Poetics: Goals, Gains and Gaps. Berlin and  
New York: Mouton de Gruyter.  
Burke, M., (2006). Cognitive stylistics. In: Brown, K, ed. Encyclopedia of language and  
linguistics. pdf. New York: Elsevie, 10444-10446.  
Culpeper, J., (2002). A cognitive stylistic approach to characterisation. In: Semino, E. and  
Culpeper, J., eds. Cognitive stylistics: Language and cognition in text analysis.  
Amsterdam/Philadelphia: John Benjamin, 251-77.  
Emmott, C., (2003). Reading for pleasure: a cognitive analysis of ‘twists in the tale’ and other plot  
reversal in narrative texts. In: Gavins, J. and Steen, G., eds. Cognitive Poetics in Practice.  
London and New York: Routledge, 145-159.  
Emmott, C., Alexander, M. and Marszalek, A., (2014). Schema theory in stylistics. In: Burke, M.,  
ed. The Routledge Handbook of Stylistics. London and New York: Routledge, 268-283.  
198  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Nguyễn Thế Truyền  
Gavins, J. and Steen, G., eds. (2003). Cognitive Poetics in Practice. London and New York:  
Routledge.  
Nørgaard, N., Busse, B. and Montoro, R., (2010). Key Terms in Stylistics. London: Continuum.  
Semino, E., 2002. A cognitive stylistic approach to mind style in narrative fiction. In: Semino, E.  
and Culpeper, J., eds. Cognitive stylistics: Language and cognition in text analysis.  
Amsterdam/Philadelphia: John Benjamin, 95-122.  
Semino, E. and Culpeper, J., eds. (2002). Cognitive stylistics: Language and cognition in text  
analysis. Amsterdam/Philadelphia: John Benjamin.  
Stockwell, P., (2002). Cognitive Poetics: An Introduction. London: Routledge.  
Stockwell, P., (2003). Surreal figures. In: Gavins, J. and Steen, G., eds. Cognitive Poetics in  
Practice. London and New York: Routledge, 13-26.  
Tsur, R., (2002). Aspects of Cognitive Poetics. In: Semino, E. and Culpeper, J., eds. Cognitive  
stylistics: Language and cognition in text analysis. Amsterdam/Philadelphia: John Benjamin,  
279-318.  
Verdonk, P., 2006. Style. In: Brown, K., ed. Encyclopedia of language and linguistics. pdf. New  
York: Elsevie, 10421-10435.  
Wales, K., (2011). A Dictionary of Stylistics (Third edition). London and New York: Routledge.  
West, D., (2016). Cognitive stylistics. In: Sotrirova, V., ed. The Bloomsbury Companion to  
Stylistics. London and New York: Bloomsbury, 109-121.  
COGNITIVE STYLISTICS/COGNITIVE POETICS: THE INTERFACE  
BETWEEN LINGUISTICS, LITERARY STUDIES AND COGNITIVE SCIENCE  
Nguyen The Truyen  
Ho Chi Minh City University of Education  
Corresponding author: Email: [email protected]  
Received: 29/10/2018; Revised: 05/12/2018; Accepted: 27/02/2019  
ABSTRACT  
Cognitive stylistics (also called cognitive poetics) is a new field of study in contemporary  
Western stylistics. Cognitive stylistics is interested in researching the literary reading and identify  
the ways of handling the language and literature of the reader on the basis of understanding the  
cognitive mechanisms of the reader as well as the cognitive structures of the literary works.  
Cognitive stylistics helps us understand literature and language from the perspective of cognitive  
science and it also indirectly elicits effective ways of creating literature.  
Keywords: cognitive stylistics, cognitive poetics, stimuli, cognitive resource, cognitive  
faculty, cognitive structure.  
199  
pdf 17 trang Mãnh Khiết 15/01/2024 12000 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phong cách học tri nhận/thi pháp học tri nhận: Nơi giao cắt của ngôn ngữ học, nghiên cứu văn chương và khoa học tri nhận", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphong_cach_hoc_tri_nhanthi_phap_hoc_tri_nhan_noi_giao_cat_cu.pdf