Chỉ tố diễn ngôn với chức năng liên kết bổ sung thông tin trong tác phẩm “Gone with the wind” và bản dịch “cuốn theo chiều gió”

P. N. Diễm / Chỉ tố diễn ngôn với chức năng liên kết bổ sung thông tin trong tác phẩm...  
CHỈ TỐ DIỄN NGÔN VỚI CHỨC NĂNG LIÊN KẾT BỔ SUNG  
THÔNG TIN TRONG TÁC PHẨM “GONE WITH THE WIND”  
VÀ BẢN DỊCH “CUỐN THEO CHIỀU GIÓ”  
Phạm Ngọc Diễm  
Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh  
Ngày nhận bài 11/01/2019, ngày nhận đăng 27/02/2019  
Tóm tắt: Chỉ tố diễn ngôn (CTDN) xuất hiện với tần số khá cao trong giao tiếp  
tiếng Anh. Xét về phương diện ảnh hưởng, CTDN đóng vai trò rất quan trọng trong  
ngôn ngữ, đặc biệt là trong các đối thoại. Ngoài chức năng liên kết, CTDN còn chuyển  
tải nhiều hàm ý khác nhau trong ngữ cảnh khác nhau mà nó được sử dụng. Trong phạm  
vi bài viết này, chúng tôi trình bày khái quát về CTDN và đi vào phân tích cụ thể các  
CTDN and, but và now với chức năng là từ nối liên kết bổ sung thông tin. Từ đó, bài  
viết đối chiếu CTDN này trong tác phẩm Gone with the Wind với các tương đương dịch  
trong các hội thoại của các nhân vật của tác phẩm Cuốn theo chiều gió. Qua việc phân  
tích ngữ cảnh mà CTDN với chức năng liên kết được sử dụng, chúng tôi muốn tìm ra sự  
tương đồng và dị biệt trong việc chuyển dịch yếu tố này ở văn bản hội thoại giữa tiếng  
Anh và tiếng Việt.  
1. Đặt vấn đề  
Chỉ tố diến ngôn có nhiều chức năng khác nhau trong lời nói như chỉ ra ranh giới  
chủ đề, mở đầu hoặc kết thúc câu chuyện, phản ánh sự tương tác liên tục giữa người nói  
và người nghe mà còn thể hiện đặc trưng văn hóa và xã hội của cộng đồng sử dụng ngôn  
ngữ. Đây là các yếu tố lời nói xuất hiện thường xuyên trong giao tiếp và có vai trò quan  
trọng trong tiếp nhận cũng như truyền đạt thông tin. Chính vì vậy, nghiên cứu CTDN là  
nội dung cần thiết cho việc dạy - học tiếng (ngoại ngữ và tiếng mẹ đẻ), trong nghiên cứu  
văn hóa trong ngôn ngữ và dịch thuật.  
2. Các chỉ tố diễn ngôn trong ngữ nghĩa và ngữ dụng  
CTDN là “những đơn vị vựng độc lập với ngữ pháp của mệnh đề, thuộc bình diện  
diễn ngôn và có chức năng tương tác” [3; tr. 604]. Các yếu tố này được nghiên cứu dưới  
các góc độ khác nhau như ngữ pháp chức năng, ngữ dụng và cả góc độ nghiên cứu xã hội  
vì tần số xuất hiện cao và cho thấy vai trò thiết yếu của nó trong ngôn ngữ. Tính đa chức  
năng này “tích hợp nhiều quá trình tạo nghĩa khác nhau nhưng được thực hiện đồng thời  
để tạo nên diễn ngôn cũng như sự liên kết các đơn vị diễn ngôn thành một đơn vị thông  
báo hoàn chỉnh” [3; tr. 192].  
Theo [2; tr. 938] và [4; tr. 25], CTDN được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau  
và có nhiều tên gọi khác nhau như: tiểu tố ngữ dụng (pragmatic particle), tiểu tố liên kết  
ngữ dụng (pragmatic connective), kết tố ngữ nghĩa (semantic conjunct), tiểu tố diễn ngôn  
(discourse particle), biểu thức ngữ dụng (pragmatic expression)…  
“CTDN điển mẫu (prototypical) là hình thức lời nói có đặc trưng riêng về cả ngữ  
nghĩa lẫn cấu trúc. Về ngữ nghĩa, loại biểu thức này phải có một phương thức biểu đạt  
32  
Trường Đại học Vinh  
Tạp chí khoa học, Tập 47, Số 3B (2018), tr. 32-40  
nhất định phù hợp với ngôn cảnh. Về cấu trúc, CTDN phải nằm ở vị trí ban đầu của đơn  
vị ngữ điệu” [2; tr. 930], tức chúng thường đứng đầu câu nói.  
Khi nghiên cứu về chức năng của việc sử dụng CTDN trong giao tiếp, [1; tr. 384]  
khẳng định rằng loại thành tố này đóng vai trò rất quan trọng trong việc thể hiện cảm xúc  
của người nói. Đó là:  
- Làm cho lời nói tự nhiên hơn,  
- Làm tăng độ trôi chảy,  
- Bổ sung thông tin,  
- Chuyển chủ đề,  
- Bắt đầu đoạn hội thoại,  
- Kết thúc câu chuyện,  
- Chia sẻ kiến thức,  
- Làm thông tin trở nên rõ ràng hơn.  
Chỉ số diễn ngôn được sử dụng để nối các ý với nhau, quản lí và tổ chức những gì  
chúng ta nói, thể hiện quan điểm, ý kiến. Tuy vậy, hầu hết các nghiên cứu về CTDN hiện  
nay chỉ tập trung vào ngôn ngữ của người sử dụng tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ, chẳng  
hạn, người bản xứ hoặc người sử dụng song ngữ, vì thế việc sử dụng CTDN thích hợp  
trong giao tiếp tương đối dễ dàng đối với họ; nhưng ngược lại, đối với người nước ngoài  
sử dụng tiếng Anh thì điều này rất khó. Theo khảo sát sơ lược trong quá trình nghiên  
cứu, người Việt Nam ít có thói quen sử dụng những CTDN trong giao tiếp.  
Nhiều nghiên cứu đã được đưa ra để phân loại CTDN, tuy nhiên, phân loại khác  
nhau là có thể bởi vì mỗi nhà nghiên cứu tập trung vào các khía cạnh nhất định của các  
chỉ tố này. Theo [1; tr. 392], các loại CTDN thể hiện: sự tương tác giữa người nói và  
người nghe (interjections), chào đón hoặc tạm biệt (greeting and farewells expressions),  
kết nối thông tin (linking adverbials), thái độ đối với thông tin tiếp nhận được (stance  
adverbials), xưng hô (vocatives), phản hồi nhận thức (response elicitors), phản hồi thể  
hiện sự chú ý (response forms), sự do dự (hesitators).  
Trong phạm vi của bài báo, chúng tôi tập trung khảo sát các CTDN có tần suất sử  
dụng cao nhất có chức năng liên kết các đơn vị lời nói tiếng Anh và tiếng Việt tương  
đương được thể hiện rõ nhất trong cùng cuộc thoại từ tiểu thuyết Gone with the Wind  
(bản gốc tiếng Anh) và bản dịch Cuốn theo chiều gió.  
3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
Với mục đích phục phụ dạy - học ngoại ngữ và dịch thuật, bài viết đặt nhiệm vụ  
làm rõ chức năng liên kết để bổ sung thông tin (addition) của các CTDN and, but, now  
(tiếng Anh) trong Gone with the Wind và các CTDN tiếng Việt tương đương và, nhưng,  
nào, được, này… trong bản dịch Cuốn theo chiều gió.  
Số liệu về CTDN được chúng tôi khảo sát trong mối quan hệ giữa nội dung liên  
kết bổ sung thông tin cho thông báo trước đó (content) và biểu thức biểu đạt (linguistic  
expressions) chúng trong tiếng Anh (quy ước là L1) và tiếng Việt (quy ước là L2) theo  
Hình 1.  
33  
P. N. Diễm / Chỉ tố diễn ngôn với chức năng liên kết bổ sung thông tin trong tác phẩm...  
Hình 1: Mối quan hệ giữa nội dung biểu đạt và biểu thức biểu đạt chúng  
trong hai ngôn ngữ [5; tr. 47]  
Chúng tôi coi chức năng liên kết để bổ sung nội dung thông tin trong Gone with  
the Wind và Cuốn theo chiều gió là tương đương về nội dung (content) biểu đạt. Nội  
dung này là cơ sở chung, là tiêu chí để só sánh CTDN trong hai ngôn ngữ. Nhiệm vụ đặt  
ra là xác định: (i) chức năng liên kết và bổ sung thông tin cho thông báo trước đó của các  
CTDN and, but và now và các tương đương của chúng trong tiếng Việt, và (ii) các biểu  
thức ngôn ngữ (linguistic expressions) tương dương của các CTDN and, but và now  
trong tiếng Việt với cùng ngữ cảnh.  
4. Các chỉ tố diễn ngôn với chức năng liên kết lời nói trong tác phẩm “Gone  
with the Wind” và bản dịch “Cuốn theo chiều gió”  
Số liệu điều tra của chúng tôi cho thấy các CTDN với chức năng liên kết để bổ  
sung thông tin trong Gone with the Wind rất phong phú và đa dạng như and, but, well,  
now, so, then, in addition, I mean… Kết quả thống kê các chỉ tố này được miêu tả ở  
Bảng 1.  
Bảng 1: CTDN với chức năng liên kết và bổ sung thông tin trong Gone with the Wind  
Số lượt sử  
TT  
CTDN  
Tỉ lệ  
dụng  
1
2
3
4
5
6
7
and  
now  
272  
46,4%  
16,2%  
13,3%  
12,7%  
2,0%  
95  
78  
but  
so  
75  
I mean  
12  
in addition  
Các CTDN khác  
Tổng số  
12  
2,0%  
42  
7,1%  
586  
100%  
Số liệu cho thấy, các chỉ tố and, but, và now có tần số sử dụng cao nhất. Bước  
đầu, chúng tôi khảo sát những chỉ tố biểu đạt tương đương của chúng được thể hiện trong  
bản dịch Cuốn theo chiều gió.  
34  
Trường Đại học Vinh  
Tạp chí khoa học, Tập 47, Số 3B (2018), tr. 32-40  
4.1. Chỉ tố “and” và các tương đương của nó trong tiếng Việt  
Trong bản dịch Cuốn theo chiều gió, chỉ tố and (trong tiếng Anh) biểu đạt sự liên  
kết nhằm bổ sung (addition) thông tin được biểu đạt bằng nhiều chỉ tố khác nhau. Kết  
quả phân tích số liệu về việc sử dụng các CTDN tiếng Việt tương đương với chỉ tố and  
được miêu tả ở Bảng 2.  
Bảng 2: Các CTDN tiếng Việt được sử dụng tương đương với “and”  
CTDN tương đương  
Số lượng tương  
TT  
Tỉ lệ  
trong tiếng Việt  
đương  
1
2
3
4
và  
rồi  
173  
84  
9
63,6%  
30,8%  
3,3%  
và rồi  
Các CTDN khác  
Tổng số  
6
2,2%  
272  
100%  
Số liệu cho thấy và, rồi, và rồi… được coi là tương đương với and tùy thuộc vào  
ngữ cảnh. Trong đó, chỉ tố và có tỉ lệ tương đương với and cao nhất (chiếm 63,6%).  
Ví dụ 1:  
- “I‟ll marry him,” she thought coolly. “And then I‟ll never have to brother about  
money again.” [6; tr. 751]  
- Mình sẽ lấy hắn. Và mình sẽ không bao giờ lo nghĩ tới tiền bạc nữa. [8, tr. 505]  
Nội dung trong câu thứ nhất (trong cả câu tiếng Anh lẫn tiếng Việt) đều được bổ  
sung thông tin (nội dung) và được biểu đạt ở câu thứ hai thông qua chỉ tố and (tiếng  
Anh) và chỉ tố và (tiếng Việt).  
Ví dụ 2:  
- Think now how „twould hurt her and her so gentle.  
- And to think, Pa, that you said only last night I had disgraced the family!  
- And you said that I… [6; tr. 755].  
- Đừng làm má con muồn khổ, một người luôn luôn dịu hiền như vậy…  
- Ba nghĩ lại coi, tối qua ba mới bảo con là con làm hoen ố danh giá gia đình, rồi  
ngay sau đó ba lại làm như vậy.  
- Rồi ba còn nói rằng… [8; tr. 505].  
Chỉ tố and biểu đạt chức năng liên kết để bổ sung nghĩa cho thông báo trước đó  
không những tương đương nghĩa với chỉ tố và, rồi mà còn tương đương với lại (kết hợp  
với động từ chính) tiếng Việt.  
Ví dụ 3: Chỉ tố and có nghĩa tương đương với à.  
- Now, you wait right here till I come back, for I want to eat barbecue with you.  
And don‟t you go off philandering with thoese other girls, because I‟m mightly jealous.  
(6; tr. 136)  
35  
P. N. Diễm / Chỉ tố diễn ngôn với chức năng liên kết bổ sung thông tin trong tác phẩm...  
- Nào, bây giờ anh hãy đợi tôi ngay chỗ này cho tới khi tôi trở lại, vì tôi muốn dự  
dạ yên bên anh. À, anh, đừng có ve vãn cô nào đấy nghe, tôi hay ghen lắm đây. [8; tr.  
102]  
Như vậy, cùng là nội dung liên kết để bố sung thông tin cho lời nói trước đó  
(content) được biểu đạt bằng and (trong tiếng Anh) tương đương với các chỉ tố và, rồi, à  
hoặc một phương thức kết hợp khác trong tiếng Việt.  
4.2. Chỉ tố “now” và các tương đương của nó trong tiếng Việt  
Trong từng ngữ cảnh, chỉ tố now biểu đạt nghĩa liên kết và bổ sung thông tin có  
thể có các CTDN tương đương khác nhau trong tiếng Việt như nào, rồi đó... Số liệu về  
CTDN tiếng Việt (trong Cuốn theo chiều gió) tương đương với chỉ tố now (trong Gone  
with the Wind) được miểu tả ở Bảng 3.  
Bảng 3: Các CTDN tiếng Việt được sử dụng tương đương với “now”  
Số lượng  
tương  
đương  
CTDN tương đương  
TT  
Tỉ lệ  
trong tiếng Việt  
1
2
3
nào  
rồi đó  
87  
2
91,5%  
0,7%  
Các CTDN khác  
Tổng số  
6
2,2%  
95  
100%  
Trước hết, chỉ tố now có tương dương được biểu đạt bằng nào.  
Ví dụ 4:  
- You like „em red-headed, don‟t you, honey? Now come on, promise us all the  
waltzes and the supper. [6; tr. 11]  
- Như vậy là cưng ưa mấy thằng tóc đỏ, phải không? Nào, hứa với tụi này đi, hai  
bản luân vũ và buổi tối. [8; tr. 13]  
Rất có nhiều vấn đề cần bàn nếu xét toàn cục việc dịch thuật mẩu đối thoại này  
nhưng bài viết chỉ quan tâm đến vấn đề của now và nhận thấy rằng từ nào của nhân vật  
khiến cho người Việt có cảm nhận như một động viên trong khi tinh thần của now trong  
ngữ cảnh này không hề có chức năng như thế vì đây chính là một dấu hiệu lịch sự trong  
giao tiếp.  
Ví dụ 5:  
- Now, you wait right here till I come back, for I want to eat barbecue with you.  
[6; tr. 136]  
- Nào, bây giờ anh hãy đợi tôi ngay chỗ này cho tới khi tôi trở lại, vì tôi muốn dự  
dạ yên bên anh. [8; tr. 102]  
36  
Trường Đại học Vinh  
Tạp chí khoa học, Tập 47, Số 3B (2018), tr. 32-40  
Nghĩa liên kết và bổ sung thông tin được biểu đạt bằng chỉ tố now trong tiếng  
Anh còn được biểu đạt bằng chỉ tố rồi đó trong tiếng Việt.  
Ví dụ 6:  
- Now, Scarlett, we‟ve told you the secret, so you‟ve got to promise to eat supper  
with us.  
- Of course I will - Scarlett said automatically. [6; tr. 12]  
- Rồi đó, Scarllet, tụi này đã tiết lộ hết rồi, bây giờ cô phải hứa cùng ngồi ăn với  
bọn này đi. [8; tr. 13]  
Như vậy, chỉ tố now là một dấu hiệu che chắn (hedging) cốt để làm phát ngôn  
mềm mỏng hơn, lực ngôn trung sẽ yếu đi, tuyệt nhiên không thể có một tương đương có  
khả năng tạo nghĩa trân trọng hơn. Với những lập luận có tính ngữ dụng học này, chúng  
tôi nhận thấy rằng, now trong trường hợp này đứng thay cho I think (Tôi nghĩ) hoặc In  
my opinion (Theo tôi). Và như vậy, bản dịch của mẩu đối thoại trên nên sửa lại cho đúng  
với tinh thần bản gốc của tiếng Anh về thông tin giao tiếp và hơn nữa, cho thuần Việt  
trong ngữ dụng học.  
4.3. Chỉ tố “but” và tương đương của nó trong tiếng Việt  
Chức năng liên kết để bổ sung thông tin còn được biểu đạt bằng chỉ tố but (trong  
tiếng Anh) và chỉ tố nhưng trong tiếng Việt. Bảng 4 cho thấy số liệu về tính tương đương  
dịch thuật của but với CTDN trong tiếng Việt.  
Bảng 4: CTDN tiếng Việt được sử dụng tương đương với but  
Số lượng  
tương  
đương  
CTDN tương đương  
TT  
Tỉ lệ  
trong tiếng Việt  
1
2
nhưng  
Các CTDN khác  
Tổng số  
75  
3
96,1%  
3,8%  
78  
100%  
CTDN but (trong tiếng Anh) được coi là tương đương với nhưng (trong tiếng  
Việt) rất cao (chiếm đến 96.1%). Đôi khi chức năng liên kết của chỉ tố này cũng được coi  
là tương đương với tuy nhiên, tuy vậy… hoặc được biểu đạt thông qua yếu tố ngữ pháp  
của câu nói.  
Ví dụ 7:  
…Formerly, it had been Rhett who asked for her favors and she who helped the  
power. Now she was the beggar and a beggar in now position to dictate terms.  
- But I won‟t think of that now. [6; tr. 755]  
37  
P. N. Diễm / Chỉ tố diễn ngôn với chức năng liên kết bổ sung thông tin trong tác phẩm...  
…Lúc trước Rhett phải cầu cạnh nàng vì nàng còn đủ quyền lực. Bây giờ nàng  
chỉ là một con ăn mày, một con ăn mày không có quyền đặt điều kiện.  
- Nhưng mình sẽ không tìm tìm tới Rhett như một con ăn mày. [8; tr. 508]  
Lời thoại diễn ra các nhân vật đứng sau một CTDN khác là but được dịch là  
nhưng kèm sau đó là một lời đề nghị. CTDN but trước hết nhằm mục đích phản bác ý  
kiến của người khác; sau đó người diễn thoại chuyển ý để đưa ra một đề nghị khác; như  
vậy CTDN but không những đóng vai trò liên kết về phương hình thức mà còn liên kết  
về phương diện ý nghĩa với câu nói đứng sau nó, nhằm mục đích đưa ra ý tưởng của  
mình vừa muốn bác bỏ hoặc muốn nói lên suy nghĩ trái chiều của mình đối với ý kiến  
của nhưng không muốn nghĩ anh ta là áp đặt (lịch sự).  
Như vậy, CTDN and, but, now là các yếu tố có vai trò rất quan trọng trong diễn  
ngôn. Chúng có chức năng thông tin rất rõ ràng: liên kết và bổ sung thông tin cho phát  
ngôn trước đó; đồng thời thể hiện tính lịch sự trong giao tiếp. Qua việc đối chiếu CTDN  
trong bản dịch Anh - Việt trong ngữ cảnh khác nhau, chúng ta có thể thấy ngoài chức  
năng liên kết, CTDN còn chuyển tải nhiều hàm ý khác nhau trong ngữ cảnh khác nhau  
mà nó được sử dụng. Đối chiếu CTDN với các tương đương dịch trong bản dịch, chúng  
ta thấy có những điểm tương đồng và khác biệt khi dịch CTDN này từ tiếng Anh sang  
tiếng Việt.  
Trước hết, xét về mặt tương đồng, CTDN ở tiếng Anh khi dịch sang tiếng Việt,  
yếu tố này có thể dùng để cho vào khoảng trống trong hội thoại; người nói sử dụng chỉ tố  
diễn ngôn trong văn bản hội thoại. Bên cạnh việc thêm các phụ từ trong ngôn ngữ đích  
để chuyển tải trọn vẹn về ngữ nghĩa và hàm ý của người nói, ở một số trường hợp,  
Việc chuyển đổi CTDN sang một loại hình khác, hoặc lượt bỏ yếu tố này trong  
việc chuyển dịch từ ngôn ngữ nguồn - tiếng Anh sang ngôn ngữ đích - tiếng Việt trong  
những ngữ cảnh phân tích trên cho thấy, chúng ta cần có sự nghiên cứu và khảo sát sâu  
hơn về mặt so sánh và đối chiếu CTDN cú pháp nhưng chúng được chèn tự do trong diễn  
ngôn và được đánh dấu bằng cách tạm dừng ngữ điệu và dấu câu. Chúng thường có đa  
chức năng trong diễn ngôn, ngữ nghĩa và ngữ dụng.  
Nhìn chung, số liệu thống kê cho thấy các CTDN tiếng Anh với chức năng liên  
kết để bổ sung thông tin trong tác phẩm Gone with the Wind thường có nhiều CTDN  
tương đương trong bản dịch tiếng việt Cuốn theo chiều gió. Điều đó có nghĩa là tính  
đương đương dịch thuật của CTDN không phải là 1:1 trong các ngôn ngữ (tức CTDN  
này trong L1 tương đương với duy nhất một CTDN trong L2). Nguyên nhân của sự khác  
biệt này, theo chúng tôi, là do các đặc trưng văn hóa và xã hội trong tri nhận của cộng  
đồng sử dụng ngôn ngữ.  
5. Kết luận  
Trong khuôn khổ nghiên cứu những vấn đề cơ bản về chỉ số diễn ngôn, bài viết  
đã giới thiệu một cái nhìn khái quát về vai trò của CTDN trong hội thoại, và sơ lược đưa  
ra chức năng của CTDN là từ nối trong câu trong tiếng Anh so với những cách diễn đạt  
tương đương trong tiếng Việt. Chúng tôi hy vọng đây là bước khởi đầu để nghiên cứu  
sâu hơn cho CTDN, khi so sánh và đối chiếu các CTDN được chuyển dịch từ ngôn ngữ  
tiếng Anh sang ngôn ngữ tiếng Việt và ngược lại. Từ đó, việc nghiên cứu sâu hơn về việc  
chuyển dịch CTDN là rất cần thiết và hy vọng sẽ góp phần đưa ra được những phương  
38  
Trường Đại học Vinh  
Tạp chí khoa học, Tập 47, Số 3B (2018), tr. 32-40  
pháp dịch phù hợp và có thể áp dụng để giảng dạy tiếng Anh cho sinh viên thực hành  
dịch các CTDN trong văn bản hội thoại. Chính vì vậy, nghiên cứu CTDN là nội dung  
cần thiết cho việc dạy - học tiếng (ngoại ngữ và tiếng mẹ đẻ), trong nghiên cứu văn hóa  
trong ngôn ngữ và dịch thuật. Khi dạy các CTDN trong tiếng Anh (ngôn ngữ nguồn),  
người dạy cần giảng giải cho người học hiểu rõ về ý nghĩa tương đương, các sử dụng  
cùng với những sắc thái, tâm lí, thái độ tình cảm và những nét đặc trưng văn hóa của  
chúng trong tiếng Việt.  
Số liệu nghiên cứu cho thấy đúng như Tannen và cộng sự khẳng định: CTDN  
không những cung cấp thông tin về các thuộc tính ngôn ngữ (như ngữ nghĩa và nghĩa  
ngữ dụng, nguồn gốc, chức năng) của tập hợp các biểu thức thường được sử dụng, về cấu  
trúc các tương tác xã hội và ngữ huống, mà còn cung cấp thông tin về năng lực nhận  
thức, biểu cảm, năng lực xã hội và ngôn bản của người sử dụng chúng [7; tr. 205]. Chức  
năng của các CTDN phong phú và đa dạng. Mỗi một phân tích, đối chiếu các chỉ tố loại  
này chúng ta đều có thể phát hiện ra một nét mới về vai trò và chức năng của chúng trong  
diễn ngôn. Và chúng ta nhận thấy sự cần thiết của việc dạy - học sử dụng CTDN trong  
lời nói, nhận thấy vai trò của văn hóa và xã hội trong giao tiếp ngôn ngữ.  
Mặc dù đã đạt được một số yêu cầu nêu trong mục đích nghiên cứu, nhưng bài  
báo vẫn còn một số hạn chế. Hạn chế lớn nhất là số liệu chỉ được điều tra dựa trên tác  
phẩm Gone with the Wind và một bản dịch. Khi số liệu điều tra dựa trên nhiều diễn ngôn  
khác nhau (về cả ngôn ngữ đích và ngôn bản nguồn) thì kết quả nghiên cứu về CTDN  
tương đương trong hai ngôn ngữ sẽ chính xác hơn.  
Trong những nghiên cứu tiếp theo, chúng tôi sẽ sẽ phối kết hợp nhiều nguồn tài  
liệu để có được số liệu về loại CTDN này trong tiếng Anh và tiếng Việt, đồng thời sử  
dụng các phương pháp nghiên cứu đa dạng hơn để có kết quả cao hơn và thiết thực hơn  
cho thực tiễn dạy - học ngoại ngữ và dịch thuật.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Fraser B. , An Approach to Discourse Markers, Pragmatics, Vol.14, 1990, pp. 383-  
395.  
[2] Fraser B., “What are discourse markers?” Pragmatics, Vol. 31, 1999, pp. 931-952.  
[3] Genetti C. (ed.), How Languages Work: An Introduction to Language and  
Linguistics, Cambridge University Press, 2014.  
[5] Le Dinh Tuong, Tran Ba Tien, Introdtuction to Contrastive Linguistics, Vinh  
University, 2018.  
[6] Mitchell M., Gone with the Wind, Macmillan Publisher, 2005.  
[7] Tannen D. (et al.), The Handbook of Discourse Analysis, Wiley-Blackwell, 2015.  
[8] Vũ Kim Thư, Cuốn theo chiều gió, NXB Thời Đại, 2009.  
39  
P. N. Diễm / Chỉ tố diễn ngôn với chức năng liên kết bổ sung thông tin trong tác phẩm...  
SUMMARY  
DISCOURSE MARKERS WITH THE FUNCTION OF ADDITION  
IN THE WORK “GONE WITH THE WIND”  
AND THE VIETNAMESE TRANSLATION “CUỐN THEO CHIỀU GIÓ”  
Discourse markers (DMs) appear with high frequency in English  
communication. In terms of influence, DMs play a very important role in language,  
especially in dialogues. Apart from the function of linking, DMs also conveymany  
different implications in the different context in which they are used. With the scope of  
this article, we present an overview of the discourse markers and analyze discourse  
markers such as and, but, now with the function of addition. Since then, the article  
compares these DMs in the work Gone with the Wind with translation equivalents in the  
conversations of the characters in Cuốn theo chiều gió. By analyzing the context in  
which the DMs are used, we want to find out the similarities and differences in  
translating these DMs in the conversation text between English and Vietnamese.  
40  
pdf 9 trang Mãnh Khiết 15/01/2024 15600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chỉ tố diễn ngôn với chức năng liên kết bổ sung thông tin trong tác phẩm “Gone with the wind” và bản dịch “cuốn theo chiều gió”", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchi_to_dien_ngon_voi_chuc_nang_lien_ket_bo_sung_thong_tin_tr.pdf