Phương pháp học từ vựng Tiếng Hán hiện đại dựa vào mối liên hệ về ngữ âm, ngữ nghĩa với từ hán việt

TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 - 2019  
ISSN 2354-1482  
PHƢƠNG PHÁP HỌC TỪ VỰNG TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI DỰA VÀO  
MỐI LIÊN HỆ VỀ NGỮ ÂM, NGỮ NGHĨA VỚI TỪ HÁN VIỆT  
Đào Mạnh Toàn1  
Lê Hồng Chào1  
TÓM TẮT  
Tiếng Việt và tiếng Hán là hai ngôn ngữ cùng loại hình và có mối quan hệ gắn  
bó về lịch sử. Sự tương đồng về loại hình này dẫn tới một hệ quả tất yếu là điểm  
giống nhau giữa hai ngôn ngữ này về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp… là rất nhiều và  
điểm khác biệt là rất ít. Thực tế đã chứng tỏ rằng, biết vận dụng những điểm tương  
đồng giữa tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại để học tiếng Hán hiện đại là một cách  
học tốt, vì cách học này giúp người học rút ngắn thời gian, đạt hiệu quả cao hơn. Bài  
viết này giới thiệu phương pháp học từ vựng tiếng Hán hiện đại thông qua mối liên  
hệ về ngữ âm, ngữ nghĩa với từ Hán Việt.  
Từ khóa: Từ Hán Việt, phương pháp học tiếng Hán hiện đại, quan hệ ngữ nghĩa,  
quan hệ ngữ âm  
1. Vài nét về từ Hán Việt  
chuyển gốc Hán-Việt thì lại nhận thấy  
có 2 giai đoạn:  
1.1. Khái niệm từ Hán Việt  
Truy nguyên về những khởi thảo  
luận bàn về từ Hán Việt, chúng ta có thể  
lấy các học giả sau đây để làm đại diện  
nhƣ: Maspéro (1912) cho rằng “Âm  
Hán Việt đƣợc phát triển dựa trên ngữ  
âm phƣơng ngữ Tràng An thế kỷ IX-  
X”, ngƣợc về cột mốc lịch sử trƣớc đó,  
cũng đã có các học giả nhƣ Huỳnh Tịnh  
Của Paulus Của (1895), Trƣơng Vĩnh  
Ký (1889), trƣớc nữa là A. de Rhodes  
(1651). Khi biên soạn Đại Nam quốc  
âm tự vị, tác giả Huỳnh Tịnh Của  
Paulus Của (1895) đã quan tâm đến  
những “tự” đƣợc viết bằng chữ Nho,  
chữ Nôm… và những tác giả này đã có  
bàn luận về từ Hán Việt nhƣng chỉ là  
khởi thảo.  
1) Mượn chữ Hán phát âm theo  
giọng Trường An, nghĩa là mượn thẳng  
nơi giọng Trung Hoa, trong thời kỳ Bắc  
thuộc, do các quan lại Trung Hoa  
“dạy” ra.  
2) Mượn tiếng Hán - Việt, nghĩa là  
chữ Hán đọc theo giọng Việt Nam, hình  
thành thời tự chủ, nhất là thời Lý, hơn  
hai trăm năm, ít chịu ảnh hưởng của  
quan lại Trung Hoa, phiên thiết theo bộ  
Thiết vận, nhưng lại phát âm theo giọng  
Việt Nam thành tiếng Hán - Việt lưu  
hành cho tới nay”.  
Phan Ngọc (2000) trong giáo trình  
Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt và chữa lỗi  
chính tả, cho rằng: “Xét về mặt lịch sử,  
một từ Hán Việt là một từ được viết ra  
bằng chữ khối vuông của Trung Quốc,  
nhưng lại phát âm theo cách phát âm  
Hán Việt, người Việt vẫn dùng để đọc  
Lê Ngọc Trụ (1993) [1, tr. 25],  
“Khi xét tiếng Hán - Việt với tiếng Việt  
1Trƣờng Đại học Đồng Nai  
70  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 - 2019  
ISSN 2354-1482  
mọi văn bản viết bằng chữ Hán, dù đó  
là của người Hán mà không có chữ Hán  
Việt” [2; tr. 11].  
gốc Hán đọc theo cách đọc Hán Việt  
như vậy được gọi là từ Hán Việt”.  
Nguyễn Văn Khang (2007) quan  
niệm: 1) “Tất cả những từ Hán Việt có  
ít nhất một lần được dùng trong tiếng  
Việt như một đơn vị từ vựng trong văn  
cảnh giao tiếp thì đều được coi là từ  
Hán Việt”; và 2) “Chấp nhận là từ Hán  
Việt ở những biến thể khác nhau khi  
chúng đảm bảo được các điều kiện như:  
biến thể đó tuy có thể “đọc chệch phiên  
thiết” nhưng còn tồn tại trong một kết  
hợp Hán Việt hoặc bản thân nó đã có  
sự phân bố sử dụng (ngữ nghĩa) với các  
biến thể khác cùng gốc” [7, tr. 131].  
1.2. Phân loại từ Hán Việt  
Nguyễn Tài Cẩn (2000), Nguồn gốc  
và quá trình hình thành cách đọc Hán  
Việt, cho rằng “Cách đọc Hán - Việt  
thường được giải thích một cách khá  
đơn giản là cách đọc chữ Hán ở Việt  
Nam, theo lối đọc riêng của người Việt.  
Kể ra với một nội dung hiểu như thế mà  
đặt ra thuật ngữ “cách đọc Hán - Việt”  
thì quả cũng có điều chưa thực ổn.  
Nhưng vì thuật ngữ đã quá quen thuộc  
nên ta vẫn tạm dùng” [3, tr. 18].  
Theo Nguyễn Công Lý (2003), “Từ  
Hán Việt là lớp từ ngữ mà người Việt  
vay mượn của tiếng Hán; đọc theo âm  
đọc đời Đường, ngữ âm vùng Tràng An,  
và những từ ngữ ấy được người Việt  
phương Nam nhận thức và sử dụng theo  
cách riêng mình” [4, tr. 7].  
Đây là phƣơng diện có nhiều kiến  
giải rất khác nhau.  
Vƣơng Lực (1948) trong bài viết: 漢  
越語研究,嶺南學報,第九卷第一期 [8;  
tr. 8-9, tr. 58] dựa theo nguồn gốc đã  
chia từ ngữ tiếng Việt thành hai loại  
là tiếng Việt (nguyên văn: 越 語 Việt  
ngữ) và tiếng Hán Việt (漢越語 Hán  
Việt ngữ) và dựa theo thời điểm hình  
thành, chia tiếng Hán Việt thành ba loại  
là tiếng Hán Việt cổ (古漢越語 cổ Hán  
Việt ngữ), tiếng Hán Việt (漢越語 Hán  
Việt ngữ) và Hán ngữ Việt hóa (漢語越  
化).  
Huỳnh Thanh Xuân (2003) quan  
niệm “Từ Hán Việt là những từ gốc  
Hán được thu nhập vào trong tiếng  
Việt. Cách đọc từ Hán Việt, hay còn gọi  
là âm Hán Việt là đọc theo âm Việt  
những từ gốc Hán” [5, tr. 6].  
Theo Lê Xuân Thại (2005), muốn  
hiểu thế nào là từ Hán Việt, trƣớc hết  
phải xem xét thế nào là cách đọc Hán  
Việt [6, tr. 9-11]. Tác giả cho rằng  
“Cách đọc Hán Việt là cách đọc chữ  
Hán của người Việt bắt nguồn từ hệ  
thống ngữ âm tiếng Hán thời Đường,  
chịu sự chi phối của hệ thống ngữ âm  
tiếng Việt” [6, tr. 10]; “những từ mượn  
Nguyễn Văn Thạc (1968) đã chia  
lớp từ mƣợn Hán thành ba nhóm: nhóm  
Hán Việt cổ, nhóm Hán Việt và nhóm từ  
mượn qua tiếng địa phương.  
Nguyễn Văn Tu (1976) xuất phát từ  
góc độ từ mƣợn gốc Hán du nhập vào  
tiếng Việt tƣơng ứng với các thời kỳ  
71  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 - 2019  
ISSN 2354-1482  
lịch sử đã chia thành ba loại từ mƣợn  
Hán là từ Hán cổ, từ gốc Hán mượn của  
đời Đường, từ gốc Hán đã Việt hóa.  
Nguyễn Quang Hồng (1994) lấy  
Hán Việt làm trung tâm để tách ra làm  
ba loại là: Tiền Hán Việt; Hán Việt,  
Hậu Hán Việt.  
vị/từ/yếu tố) Việt gốc Hán”. “Việt gốc  
Hán” thì chia làm:  
i. “Gốc Hán trƣớc [đời] Đƣờng”,  
tức là cái mà Vƣơng Lực gọi là “Cổ  
Hán Việt”;  
ii. “Gốc Hán đời Đƣờng”, tức là cái  
mà Vƣơng Lực gọi là “Hán Việt”;  
iii. “Gốc Hán từ cuối đời Nguyên  
trở đi”, không nhiều nhƣng khó phủ  
nhận;  
Nguyễn Tài Cẩn (2000), trong  
Nguồn gốc và quá trình hình thành  
cách đọc Hán Việt, cũng dựa theo cách  
phân chia của Vƣơng Lực.  
iv. “Gốc Hán không/chƣa xác định  
thời điểm/nguyên nhân”, tức cái mà  
Vƣơng Lực gọi là “Hán ngữ Việt hóa”  
còn ta thì gọi là “Hán Việt Việt hóa”.  
2. Cơ sở vận dụng từ Hán Việt  
vào việc học tiếng Hán hiện đại  
2.1. Tiếng Việt và tiếng Hán có  
cùng loại hình ngôn ngữ  
Theo Nguyễn Công Lý, tác giả chia từ  
Hán Việt thành từ Hán cổ; từ Hán mượn  
của đời Đường; từ Hán được Việt hóa.  
Lê Đình Khẩn quan niệm “Từ gốc  
Hán trong tiếng Việt hiện đại, theo diễn  
biến thời gian chia thành ba loại: 1) Từ  
tiền Hán Việt (cũng gọi là cổ Hán Việt,  
hay Hán Việt cổ); 2) Từ Hán Việt; và 3)  
Từ hậu Hán Việt (cũng gọi là từ Hán  
Việt Việt hóa) [9, tr. 57].  
Xét về góc độ loại hình, tiếng Việt  
và tiếng Hán có cùng loại hình ngôn  
ngữ đơn lập, mang thanh điệu, âm tiết  
tính, quan hệ ngữ pháp đƣợc biểu thị  
chủ yếu bằng trật tự và hƣ từ. Các từ  
ghép mƣợn Hán có khả năng du nhập  
vào tiếng Việt cao và cũng không gặp  
nhiều khó khăn trong việc đồng hóa về  
mặt cấu trúc, ngữ âm,… Vận dụng đặc  
điểm này sẽ giúp ngƣời Việt học tiếng  
Hán đạt đƣợc hiệu quả cao hơn.  
Nguyễn Ngọc San quan niệm từ  
Việt gốc Hán bao gồm từ tiền Hán Việt,  
từ Hán Việt, từ Hán Việt Việt hóa. Sự  
phân chia này cũng đƣợc nhiều nhà  
nghiên cứu khác tán đồng.  
Nhƣng tình hình lại khác đối với  
học giả An Chi (2015). Trong bài viết  
“Hán Việt là gì?” đăng trên Năng lượng  
Mới số 466 (16-10-2015), tác giả không  
chấp nhận cách phân chia của Vƣơng  
Lực và cho rằng cách phân chia nhƣ  
vậy là bất hợp lý. Ông đề xuất cách  
phân chia nhƣ sau: Cái gọi là “Hán  
Việt” thì chúng tôi gọi là “(hình  
2.2. Từ Hán Việt được sử dụng  
nhiều trong vốn từ tiếng Việt hiện đại  
Bàn về vấn đề này, một số tác giả  
đã đƣa ra số liệu thống kê về tần suất sử  
dụng từ Hán Việt trong thƣ tịch nƣớc ta  
(tuy chƣa đầy đủ), cụ thể nhƣ sau:  
72  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 - 2019  
ISSN 2354-1482  
Bảng 1: Thống kê tần suất sử dụng từ Hán Việt trong thư tịch nước ta  
STT  
Tác giả  
Maspéro (1912)  
Tần suất sử dụng  
60% từ Hán Việt trong tiếng Việt.  
Những thuật ngữ khoa học xã hội trong tiếng  
Việt có thể vay mƣợn đến 80%.  
Từ 60% đến 70% vốn từ tiếng Việt.  
Chiếm quá nửa tổng số từ trong tiếng Việt.  
Trong phong cách nghị luận chiếm khoảng  
60%.  
1
2
Nguyễn Văn Tu (1980)  
3
4
5
Lê Xuân Thại (1990)  
Theo Phan Ngọc (2000)  
Nguyễn Lân (2002)  
6
Huỳnh Thanh Xuân (2003) Trên 70% từ vựng tiếng Việt.  
Cứ liệu thống kê của chúng tôi dƣới đây đƣợc dựa trên 1200 từ HSK4, do 郑  
捷、黄晓静 (2012) chủ biên [10; tr. 1-245], 新 HSK 考试系列四级词汇精讲精练,  
上海译文出版社.  
Bảng 2: Kết quả so sánh sự giống và khác nhau về mặt ngữ nghĩa của  
từ Hán Việt với tiếng Việt hiện đại  
Số lƣợng từ  
Giống nhau  
về nghĩa của  
từ  
Số lƣợng từ  
khác nhau về  
mặt ngữ nghĩa  
Tiêu chí  
so sánh  
Khác nhau về giống nhau  
nghĩa của từ  
về mặt  
ngữ nghĩa  
Từ đơn tiết  
27,8%  
51,9%  
2,2%  
334 từ  
623 từ  
26 từ  
Từ  
18,1%  
217 từ  
song tiết  
Trong đó, từ đa âm tiết (chủ yếu là  
song tiết) chiếm tỷ lệ cao nhất 51,9%;  
kế đến là từ đơn âm tiết là 27,8%.  
quan hệ rất mật thiết. Trên thực tế,  
ngƣời học tiếng Hán khi có đủ lƣợng từ  
vựng >= 600 từ sẽ dễ dàng đoán đƣợc  
nghĩa của từ Hán Việt và nghĩa của  
tiếng Việt rất dễ dàng.  
Các từ có từ Hán Việt trùng khít  
nghĩa hoàn toàn hoặc gần nghĩa chủ yếu  
chỉ nghề nghiệp (作家、作者、农民、  
医生、大夫、律师 ...); các động từ  
(chỉ ý kiến, nguyện vọng); các tính từ  
(chỉ màu sắc, mô tả); kinh tế; quân sự;  
văn hóa... Ngƣời học tiếng Hán hiện đại  
cũng cần chú ý đến mối liên hệ chung  
giữa âm Bắc Kinh (Bính âm) khi phát  
âm với âm Hán Việt, chúng có mối  
3. Vận dụng điểm giống nhau về  
ngữ âm, ngữ nghĩa của từ Hán Việt vào  
việc học từ vựng tiếng Hán hiện đại  
3.1. Khả năng phiên ghép từ  
Yêu cầu:  
(1) Phải biết đƣợc vốn từ Hán Việt  
cơ bản ( >= 600 từ).  
73  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 - 2019  
ISSN 2354-1482  
(2) Phải biết đƣợc vốn từ PinYin  
ứng với âm Hán Việt ( >= 600 từ).  
(3) Kiểm tra tính đúng sai.  
(âm đọc Bắc Kinh) và cách đọc tƣơng  
X
Y
XY  
QUAN  
/guān/  
观
CHÚNG  
/zhòng/  
众
QUAN CHÚNG: khán giả  
/guānzhòng/  
观众  
Trong đó:  
X: là từ Hán Việt (mang yếu tố bắt  
buộc).  
4) Âm tiết “运动” /yùndòng/ bao  
gồm hai âm tiết Hán Việt là VẬN và  
ĐỘNG gộp thành, “运” là VẬN, “动”  
là ĐỘNG, khi ghép hai âm tiết Hán  
Việt này lại với nhau, chúng vẫn mang  
nghĩa là “VẬN ĐỘNG” nhƣ trong  
tiếng Việt.  
Y: là từ Hán Việt hoặc thuần Việt.  
XY: là từ Hán Việt hoặc X phải là  
từ Hán Việt và dựa vào đó có thể phiên  
sang tiếng Hán hiện đại.  
Dựa vào mô hình trên, xét các ví dụ  
sau đây:  
5) Âm tiết “女儿” /nǚér/ bao gồm  
hai âm tiết Hán Việt là NỮ và NHI gộp  
thành, “女” là NỮ, “儿” là NHI, khi  
ghép hai âm tiết Hán Việt này lại với  
nhau, chúng vẫn mang nghĩa là “NỮ  
NHI” nhƣ trong tiếng Việt.  
1) Âm tiết “安全” /ānquán/ bao  
gồm hai âm tiết Hán Việt là AN và  
TOÀN gộp thành, “安” là AN, “全” là  
TOÀN, khi ghép hai âm tiết Hán Việt  
này lại với nhau, chúng vẫn mang nghĩa  
là “AN TOÀN” nhƣ trong tiếng Việt.  
2) Âm tiết “跳舞” /tiàowǔ/ bao gồm  
hai âm tiết Hán Việt là KHIÊU và VŨ  
gộp thành, “跳” là KHIÊU, “舞” là VŨ,  
khi ghép hai âm tiết Hán Việt này lại  
với nhau, chúng vẫn mang nghĩa là  
“KHIÊU VŨ” nhƣ trong tiếng Việt.  
3) Âm tiết “同情” /tóngqíng/ bao  
gồm hai âm tiết Hán Việt là ĐỒNG và  
TÌNH gộp thành, “同” là ĐỒNG, “情”  
là TÌNH, khi ghép hai âm tiết Hán Việt  
này lại với nhau, chúng vẫn mang nghĩa  
là “ĐỒNG TÌNH” nhƣ trong tiếng Việt.  
Ngoài ra, chúng ta có thể thông qua  
việc phiên ghép các từ để tạo ra từ mới,  
hay nói đúng hơn là phƣơng pháp  
ghép/thế từ vựng, cách này cần phải có  
sự kiểm tra và đối sánh với từ điển.  
Gọi X là một từ Hán Việt mang  
nghĩa gốc; Y là từ Hán Việt hoặc thuần  
Việt có thể thay thế đƣợc bằng những từ  
khác; XY: là từ Hán Việt hoặc X phải là  
từ Hán Việt và dựa vào đó có thể phiên  
sang tiếng Hán hiện đại.  
X + Y1,Y2,Y3, ... = XY1,2,3,...  
74  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 - 2019  
ISSN 2354-1482  
TỪ GHÉP MỚI DỰA VÀO  
PHIÊN ÂM SUY RA  
TỪ HÁN  
VIỆT  
TỪ HÁN VIỆT/THUẦN VIỆT  
Y1,2,3, …  
TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI  
X
XY1,2,3, …  
THỂ TÀI 体裁; THỂ THAO  
体操; THỂ TỪ 体词; THỂ  
LỰC 体力; THỂ LỆ 体例;  
THỂ DIỆN 体; THỂ PHÁCH  
体魄; THỂ THỨC 体式; THỂ  
HIỆN 体现; THỂ HÌNH 体型;  
THỂ NGHIỆM 体 验 ; THỂ  
DỤC 体育;…  
TÀI; THAO; TỪ; HỘI; LỰC; LỆ;  
DIỆN; PHÁCH; THỨC; HIỆN;  
HÌNH; NGHIỆM; DỤC; …  
THỂ  
Tỉ dụ nhƣ:  
Hoặc nhƣ khi chúng ta không biết  
từ “国家” /guójiā/: quốc gia, nhà nƣớc  
(có âm Hán Việt là QUỐC GIA) trong  
tiếng Hán hiện đại có hình thức ra sao,  
nhƣng khi chúng ta đã biết từ 国 trong  
từ 中国 /zhōngguó/ có một âm Hán  
Việt là Trung và một âm Hán Việt là  
Quốc; và từ 家 trong từ 家庭 /jiātíng/  
có một âm Hán Việt là Gia và một âm  
Hán Việt là Đình. Sau khi tiến hành  
phiên ghép, chúng ta sẽ có đƣợc từ 国  
家 QUỐC GIA.  
Hoặc nhƣ, khi chúng ta không biết  
từ “商量” /shāngliáng/: thƣơng lƣợng,  
bàn bạc (Có âm Hán việt là THƢƠNG  
LƢỢNG) trong tiếng Hán hiện đại viết  
nhƣ thế nào, nhƣng khi chúng ta đã biết  
từ 商 trong từ 商店 /shāngdiàn/ có một  
Hán Việt là Thƣơng và một âm Hán  
Việt là Điếm; và trong từ 量 trong từ 重  
量 /zhòngliàng/ có một âm Hán Việt là  
Trọng và một âm Hán Việt là Lƣợng.  
Sau khi tiến hành phiên ghép, chúng ta  
sẽ có đƣợc từ 商量 THƢƠNG LƢỢNG.  
Khi chúng ta không biết từ“安全”  
/ānquán/: an toàn (có âm Hán Việt là  
AN TOÀN) trong tiếng Hán hiện đại  
đƣợc viết nhƣ thế nào, nhƣng khi  
chúng ta đã biết từ 安 trong từ “安排”  
/ānpái/có một âm Hán Việt là AN và  
một âm Hán Việt khác là BÀI; và từ  
全 trong từ “完全” /wánquán/: hoàn  
toàn (có âm Hán Việt là HOÀN  
TOÀN”, sau khi có các âm tiết liên  
quan, chúng ta tiến hành phiên ghép  
sẽ tạo thành âm tiết mới có nghĩa là 安  
全 /ānquán/: AN TOÀN. Và dựa vào  
mô hình trên ta có thể ghép từ dựa  
trên âm Hán Việt của X nhƣ sau: AN  
ĐỊNH; AN PHẬN; AN HẢO; AN CƢ  
LẠC NGHIỆP; AN KHANG; AN  
LẠC; AN DÂN CÁO THỊ; AN NINH;  
AN BÀI; AN BẦN LẠC ĐẠO; AN  
TOÀN; AN TOÀN ĐẢO; AN TOÀN  
ĐĂNG; AN TOÀN ĐIỆN ÁP; AN  
TOÀN MÔN; AN NHIÊN; AN  
NHÀN; AN ỔN; AN TÂM; AN  
TÁNG; AN SINH; AN THẦN;...  
75  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 - 2019  
ISSN 2354-1482  
Trên đây là những từ đƣợc lấy làm  
ví dụ minh họa, hoặc có thể lấy những  
từ sau đây để minh họa rõ hơn:  
3.3. Có thể dựa vào Pinyin (phiên  
âm Bắc Kinh) để đoán nghĩa dựa trên  
vỏ ngữ âm  
爱情: ÁI TÌNH; 安静: AN TĨNH;  
安排: AN BÀI; 安全: ANTOÀN; 办法:  
BIỆN PHÁP; 保护: BẢO HỘ; 保证:  
BẢO CHỨNG; 报名: BÁO DANH; 变  
化: BIẾN HÓA; 标准: TIÊU CHUẨN;  
表示: BIỂU THỊ; 表演: BIỂU DIỄN;  
表扬: BIỂU DƢƠNG; v.v...  
Thông qua khảo sát, chúng tôi thấy  
đƣợc, số lƣợng từ Hán Việt có nghĩa  
giống hoàn toàn với nghĩa tiếng Việt  
hiện nay có tần suất sử dụng rất cao,  
chiếm tỷ lệ cao nhất là từ Hán Việt đa  
âm tiết (chủ yếu là từ song tiết), kế đến  
là từ Hán Việt đơn tiết.  
Còn rất nhiều từ ta có thể tiến hành  
phiên ghép theo cách trên, điều này cần  
một vốn từ Hán Việt và tiếng Hán hiện  
đại nhất định để nhận biết, nếu nhƣ  
chƣa có đủ số lƣợng từ để nhận biết thì  
cần tra cứu thêm ở từ điển để kiểm tra  
tính đúng sai của từ.  
Ngƣời học, nếu chú ý kỹ, trong  
những từ Hán Việt, chúng ta sẽ thấy,  
thanh điệu trong tiếng Hán hiện đại  
cũng góp phần quy định từ Hán Việt.  
Khi biết từ Hán Việt, ngƣời học có  
thể thông qua lớp từ này để đọc hiểu  
đƣợc nhiều hơn những văn bản sử dụng  
từ Hán Việt nhƣ các thƣ tịch Việt Nam  
và Trung Quốc xƣa.  
Để minh chứng cho nhận định trên,  
sau đây, cứ liệu sẽ đƣợc khảo sát thêm  
trong 5 câu đƣợc trích nguồn từ Bộ đề  
thi tiếng Hoa quốc tế HSK do Trung  
Quốc tổ chức, mã đề H41005.  
1. 在接受调查的学生中,有超过  
百分之八十的人希望自己能有机会出  
国留学,但只有大约百分之二十的人  
已经开始申请国外学校。[tr. 1; Câu 1]  
2. 有能力的人可以把复杂的事情  
变简单,而没能力的人却经常把简单  
的事情变复杂。这就是这两种人的区  
别。[tr. 1; Câu 7]  
3. 在教育孩子时,我们应该少批  
评、多鼓励。孩子在受到表扬时,往  
往会对自己更有信心,对学习的兴趣  
也会更大,成绩当然会提高。[tr. 11;  
Câu 67]  
4. 社会的发展不能光看经济的增  
长,还要重视环境的保护。环境如果  
被污染了,经济的增长也无法为我们  
带来美好的生活。[tr. 12; Câu 76]  
5. 这个省的大部分地方都是山,  
高度一般在 4000 米以上。因为太  
高,空气比别的地方少,刚到这里的  
人会感觉身体不舒服,但过一段时间  
之后,就会逐渐适应。[tr. 12; Câu 77]  
Dựa vào những từ in đậm trong 5  
câu trên, chúng ta có thể thấy đƣợc,  
3.2. Khả năng biểu đạt ý nghĩa  
Về phƣơng diện ngữ nghĩa, hầu nhƣ  
ai cũng thấy phần lớn các từ Hán Việt  
đều có một sắc thái ngữ nghĩa khác một  
cách khá rõ với các từ thuần Việt. Ðó là  
sắc thái “trang trọng”, hay “thi vị”, hay  
“cổ kính”, hay “bác học”, hay “mờ ảo”  
của các từ Hán - Việt (Cao Xuân Hạo,  
2007). Về phƣơng diện ngữ nghĩa, từ  
Hán Việt chiếm ƣu thế về mặt ngữ  
nghĩa so với từ thuần Việt.  
76  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 - 2019  
ISSN 2354-1482  
những từ này có nghĩa Hán Việt và  
nghĩa tiếng Việt hiện đại là hoàn toàn  
giống nhau mà không cần phải tra từ  
điển dịch thuật hay tầm nguyên từ điển,  
giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với  
nhau. Nếu nhƣ đi xa hơn nữa, xét về  
mặt ngữ âm, ngƣời học khi đã có đủ  
vốn từ cơ bản sẽ dễ dàng từ âm PinYin  
mà nghe ra đƣợc âm Hán Việt của từ  
vừa nghe hoặc đọc; và ngƣợc lại, sẽ từ  
âm Hán Việt mà truy nguyên ra đƣợc  
PinYin và tra tìm đƣợc chữ Hán cần  
dùng đến.  
Ví dụ, trong câu 4, ngƣời học tiếng  
Hán có số lƣợng từ 600 đến 1200 từ  
vựng cơ bản cũng đã nhận biết và liên  
hệ đƣợc thông qua việc phát âm.  
Thử xét những từ song âm tiết sau:  
TỪ HÁN  
NGHĨA TIẾNG  
VIỆT  
STT CHỮ HÁN  
PHIÊN ÂM  
VIỆT  
1
社会  
发展  
经济  
增长  
重视  
保护  
污染  
经济  
增长  
无法  
美好  
生活  
/shèhuì/  
Xã hội  
Xã hội  
2
/fāzhǎn/  
/jīngjì/  
Phát triển  
Kinh tế  
Phát triển  
3
Kinh tế  
4
/zēngzhǎng/  
/zhòngshì/  
/bǎohù/  
Tăng trƣởng  
Trọng thị  
Bảo hộ  
Tăng trƣởng  
Trọng thị; xem trọng  
Bảo hộ; bảo vệ  
Ô nhiễm  
5
6
7
/wūrǎn/  
Ô nhiễm  
Kinh tế  
8
/jīngjì/  
Kinh tế  
9
/zēngzhǎng/  
/wúfǎ/  
Tăng trƣởng  
Vô pháp  
Mĩ hảo  
Tăng trƣởng  
Không có biện pháp  
Mĩ hảo; tốt đẹp  
Sinh hoạt; cuộc sống  
10  
11  
12  
/měihǎo/  
/shēnghuó/  
Sinh/sanh hoạt  
Các từ đƣợc in đậm trên đều có  
ngữ: 1) quan hệ tuyến tính và 2) quan  
hệ liên tƣởng thì kết quả đạt đƣợc sẽ  
cao hơn.  
Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến  
sự hình thành trên? Lý do chính là giữa  
hai ngôn ngữ này có cùng loại hình  
ngôn ngữ. Điều này xảy ra trên các  
phƣơng diện:  
điểm chung là, nghĩa của từ Hán Việt và  
nghĩa trong tiếng Việt hiện đại hoàn toàn  
giống nhau. Có thể nhận biết đƣợc, khi  
có sự trùng khớp này thì những âm tiết  
Pinyin đƣợc phát ra rất dễ đƣợc nhận  
biết và đoán đƣợc nghĩa của chúng.  
Trong các từ đƣợc in đậm trên,  
ngƣời học tiếng Hán có thể áp dụng  
phƣơng pháp ghép/thế từ vựng để tìm  
ra đƣợc rất nhiều từ mới, trên cơ sở đó,  
nếu nhƣ ngƣời học ngoại ngữ dựa trên  
2 kiểu quan hệ chủ yếu trong ngôn  
1) Đồng hóa cao về mặt ngữ âm.  
2) Đồng hóa về mặt hình thái -  
cấu trúc.  
3) Đồng hóa về mặt ngữ nghĩa.  
4) Tƣ duy thói quen ngôn ngữ.  
77  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 - 2019  
ISSN 2354-1482  
Tuy có sự đối ứng giữa từ Hán Việt  
và ý nghĩa của chữ Hán tƣơng ứng  
trong việc học từ vựng tiếng Hán  
hiện đại, nhƣng trong quá trình sử dụng,  
nên chú ý đừng quá lạm dụng từ Hán  
Việt khi chƣa biết rõ về từ cần dùng, để  
tránh sai sót hoặc hiểu nhầm vì có sự  
thay đổi về mặt ngữ nghĩa, hoặc không  
có sự đối xứng giữa âm Hán Việt với ý  
nghĩa của tiếng Hán hiện đại, thảng  
hoặc có sự đối xứng, cũng sẽ có sự sai  
khác về mặt ngữ nghĩa.  
mức độ cao nhất) Nhất trên đời/Chẳng  
gì bằng/Cực kỳ/Hết mức.  
2. (Phó từ) biểu thị phạm vi thu hẹp)  
Chỉ có/vẻn vẹn/không quá/chỉ/mới có.  
3. Liên từ (đứng đầu phân câu sau,  
biểu thị sự trái ngược) Nhưng/Song/Chỉ  
có điều là.  
Ở tiếng Việt, từ “BẤT QUÁ” lại  
mang một sắc thái nghĩa hoàn toàn khác,  
với ý nghĩa là: “cùng lắm thì cũng chỉ...”.  
4) Từ 大家[11, tr. 293]/Dàjiā/âm  
Hán Việt là ĐẠI GIA, và có những nét  
nghĩa sau đây:  
4.1) 大家 1 gồm 2 nét nghĩa:  
1. Chuyên gia nổi tiếng/đại  
gia/nhà ... nổi tiếng;  
Tỉ dụ nhƣ:  
1) Từ 到底 /dàodǐ/ âm Hán Việt là  
ĐÁO ĐỂ, nhƣng nghĩa lại không phải là  
“chỉ sự khôn lanh trong cƣ xử, không  
nhƣờng nhịn, không chịu thiệt, nghĩa nhẹ  
hơn của đanh đá” nhƣ trong tiếng Việt.  
Trong tiếng Hán hiện đại, xét về mặt từ  
loại thì thuộc Phó từ, có 3 nét nghĩa 1.  
Cuối cùng/Kết quả; 2. Rốt cuộc; 3. Xét  
đến cùng/Xét cho cùng [11, tr. 293],  
những nghĩa này không giống với nghĩa  
của từ ĐÁO ĐỂ trong tiếng Việt.  
2. Thế gia/đại gia  
2
4.2) 大 家  
bạn,...  
chỉ mọi ngƣời, các  
Còn trong tiếng Hán hiện đại để chỉ  
những ngƣời giàu có thì dùng từ 土  
豪 /tǔ háo/ hoặc 大款 /dà kuǎn/.  
4. Một số ý kiến về vận dụng từ  
Hán Việt trong dạy và học tiếng Hán  
cho sinh viên học Ngữ văn nói chung  
và sinh viên học tiếng Hán hiện đại  
nói riêng  
2) Từ 困难 [11, tr. 853] /Kùnnán/ âm  
Hán Việt là KHỐN NẠN, trong tiếng  
Hán gồm 2 nét nghĩa:  
1. Rắc rối/khó khăn  
4.1. Đối với người dạy  
2. Nghèo khó/Khó khăn  
- Đƣa ra những danh mục từ Hán  
Việt quen thuộc, có nghĩa trùng khớp  
với tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại, sau  
đó, mở rộng sang những từ có nhiều nét  
nghĩa, những từ khó hơn.  
- Khi vận dụng nên đƣa vào ngữ  
cảnh cụ thể, ví dụ nhƣ là một bài văn  
biền ngẫu, thơ Đƣờng,… nhƣng những  
ngữ liệu này tất nhiên là bản chữ Hán,  
chƣa qua “biên chế”.  
Ý nghĩa không mang nghĩa xấu xa  
“hèn mạt, đáng khinh” nhƣ từ “thằng khốn  
nạn, đồ khốn nạn” trong tiếng Việt, mà chỉ  
“đang rơi vào hoàn cảnh khó khăn”.  
3) Từ “不过” [11, tr. 129] /Bùguò/  
âm Hán Việt là BẤT QUÁ, nhƣng trong  
tiếng Hán hiện đại có 3 nét nghĩa:  
1. (Dùng sau cụm hình dung từ  
hoặc hình dung từ song âm tiết, biểu thị  
78  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 - 2019  
ISSN 2354-1482  
- Đƣa ra quy luật giúp ngƣời học  
suy luận nghĩa dựa trên hình - âm -  
nghĩa của từ.  
- Trong quá trình học, cần có từ  
điển tầm nguyên, từ điển Hán Việt… để  
tra cứu, nhắc nhở sinh viên kiểm tra, đối  
chiếu, so sánh.  
rộng vốn từ, dựa trên các bình diện ngữ  
âm, ngữ nghĩa, ngữ dụng.  
- Cần có đức tính chịu khó làm  
việc, tƣ duy phân tích, tổng hợp, chuyên  
tâm học tập.  
5. Kết luận  
Trên đây là một vài trao đổi về cách  
học từ vựng tiếng Hán hiện đại thông  
qua mối liên hệ về ngữ âm, ngữ nghĩa  
với từ Hán Việt. Hy vọng bài viết sẽ  
giúp ích cho việc học tiếng Hán hiện đại  
trên cơ sở vận dụng từ Hán Việt. Tuy  
nhiên, tiếng Hán hiện đại và từ Hán  
Việt vẫn có nhiều trƣờng hợp không  
hoàn toàn giống nhau về ngữ âm, ngữ  
nghĩa, cho nên vẫn cần chú ý đến việc  
đối chiếu khi sử dụng phƣơng pháp này.  
4.2. Đối với người học  
- Cần học vốn từ cơ bản, những từ  
thƣờng dùng nhất, vốn từ cơ bản càng  
cao sẽ càng có lợi trong quá trình học.  
- Cần áp dụng những phƣơng pháp  
suy đoán từ vựng dựa trên từ Hán Việt  
đã biết nghĩa hoặc PinYin tƣơng ứng.  
- Cố gắng tìm những từ Hán Việt  
tƣơng ứng với tiếng Hán hiện đại để mở  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Lê Ngọc Trụ (1993), Tầm nguyên tự điển Việt Nam, Nxb thành phố Hồ  
Chí Minh  
2. Phan Ngọc (2000), Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt và chữa lỗi chính tả, Nxb  
Thanh niên, Hà Nội  
3. Nguyễn Tài Cẩn (2000), Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán  
Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội  
4. Nguyễn Công Lý (2002), Mở rộng vốn từ Hán Việt, Nxb Đại học Quốc gia  
thành phố Hồ Chí Minh  
5. Huỳnh Thanh Xuân (2003), Từ Hán Việt trong tiếng Việt hiện đại, Nxb Đại  
học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh  
6. Lê Xuân Thại (2005), Từ Hán Việt và việc giảng dạy từ Hán Việt trong SGK  
Ngữ văn THCS, Nxb Giáo dục, Hà Nội  
7. Nguyễn Văn Khang (2007), Từ ngoại lai trong tiếng Việt, Nxb Giáo dục,  
Hà Nội  
8. 王力 (1948), 漢越語研究, 嶺南學報、第九卷、第一期  
9. Lê Đình Khẩn (2002), Từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc  
gia thành phố Hồ Chí Minh  
10. 郑捷、黄晓静 (2012), 新 HSK 考试系列四级词汇精讲精练, 上海译文出  
版社  
11. Phan Văn Các (chủ biên) (2001), Từ điển Hán - Việt, Nxb thành phố Hồ  
Chí Minh  
79  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 - 2019  
ISSN 2354-1482  
THE PHONE-SEMANTIC RELATIONSHIP BASED ON  
METHOD OF LEARNING MODERN CHINESE VOCABULARY  
ABSTRACT  
Vietnamese and Chinese are two languages with the same type and with a close  
relationship in term of history. As a result, this leads to inevitable consequence that  
the similarities between these two languages in phonetics, vocabulary, grammar and  
so on are numerous, and, therefore, the differences are rare. In fact, it has been  
proved that taking advantage of the similarities between Vietnamese and Chinese in  
learning modern Chinese helps learners shorten time and achieve higher efficiency.  
This article introduces the method of learning modern Chinese vocabulary through  
the phonetic and semantic connection to Han Vietnamese words.  
Keywords: Han-Vietnamese words, modern Han learning method, semantic  
relationship, phonetic relationship  
(Received: 21/2/2019, Revised: 21/3/2019, Accepted for publication: 7/5/2019)  
80  
pdf 11 trang Mãnh Khiết 15/01/2024 9280 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phương pháp học từ vựng Tiếng Hán hiện đại dựa vào mối liên hệ về ngữ âm, ngữ nghĩa với từ hán việt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphuong_phap_hoc_tu_vung_tieng_han_hien_dai_dua_vao_moi_lien.pdf