Giọng điệu nghệ thuật trong thể loại ngâm khúc

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH  
HO CHI MINH CITY UNIVERSITY OF EDUCATION  
TẠP CHÍ KHOA HỌC  
JOURNAL OF SCIENCE  
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN  
Tập 16, Số 2 (2019): 72-82  
SOCIAL SCIENCES AND HUMANITIES  
Vol. 16, No. 2 (2019): 72-82  
ISSN:  
1859-3100  
GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT TRONG THỂ LOẠI NGÂM KHÚC  
Đàm Thị Thu Hương  
Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh  
Tác giả liên hệ: Email: [email protected]  
Ngày nhận bài: 29-8-2018; ngày nhận bài sửa: 31-10-2018; ngày duyệt đăng: 27-02-2019  
TÓM TẮT  
Giọng điệu là một trong những hình thức nghệ thuật làm nên giá trị đặc trưng của thể loại  
ngâm khúc. Bước vào từng khúc ngâm, không khó để nhận ra giọng buồn thương, ai oán là giọng  
điệu chủ đạo của thể loại. Song hành với giọng điệu đó còn là giọng suy tư triết lí, khi thể loại này  
không chỉ viết về nỗi buồn cá nhân mà còn gửi gắm những suy ngẫm về cuộc đời và thế thái nhân  
tình. Sự xuất hiện của giọng điệu này vừa làm nên nét độc đáo cho thể loại vừa góp phần khẳng  
định sự hòa quyện giữa cảm xúc và lí trí trong việc bộc lộ thế giới bên trong của chủ thể.  
Từ khóa: thể ngâm khúc, giọng điệu nghệ thuật, thế kỉ XVIII-XIX.  
1.  
Đặt vấn đề  
Giọng điệu nghệ thuật là vấn đề ít được các nhà nghiên cứu bàn đến khi đề cập thể  
loại ngâm khúc. Chỉ riêng nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, khi tìm hiểu giọng điệu nghệ  
thuật trong truyện Kiều đã liên hệ với các khúc ngâm để thấy được giọng điệu cảm thương  
như là một mẫu số chung của trào lưu nhân đạo trong văn học thế kỉ XVIII-XIX. Tuy  
nhiên, đó có phải là giọng điệu đặc trưng của thể loại ngâm khúc? Bản thân thể loại này chỉ  
có một giọng lĩnh xướng duy nhất hay kết hợp nhiều giọng điệu khác nhau? Đó là vấn đề  
chính được đặt ra trong bài nghiên cứu này.  
2.  
Nội dung  
2.1. Khái niệm giọng điệu nghệ thuật  
Xét về mặt từ nguyên, giọng chủ yếu biểu thị mặt âm thanh “khí lực” của người nói  
còn “điệu” biểu thị đường nét, màu sắc của giọng. Sự kết hợp của cả hai thành tố này  
không phải là sự cộng gộp một cách giản đơn, máy móc mà là sự hợp nhất thành một chỉnh  
thể “mang nội dung biểu thị thái độ, cảm xúc, tư thế của chủ thể phát ngôn qua lời văn  
nghệ thuật” (Nguyễn Đăng Điệp, 2002, tr. 34). Tuy nhiên, xét đến giọng điệu nghệ thuật  
trong các khúc ngâm, chúng tôi không tiến hành tìm hiểu và phân tích giọng điệu tác giả  
mà chủ yếu quan tâm đến giọng điệu thể loại. Khi các tác phẩm cùng chung cảm hứng  
nghệ thuật, cùng những biểu hiện về mặt lời văn và chức năng biểu đạt thì hẳn nhiên nó  
cũng có quyền có được một giọng điệu riêng, nhằm khu biệt giữa thể loại này với thể loại  
khác. Cũng tựa như, chỉ cần lắng nghe chất giọng mà phân biệt được người này người kia,  
thông qua âm hưởng mà đoán định được tiếng tơ hay tiếng trúc; nhờ giọng điệu mà văn  
học có thể nhận biết được bản chất, đặc trưng của thể loại. Vì thế, khi tìm hiểu về hình thức  
72  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Đàm Thị Thu Hương  
nghệ thuật biểu đạt nên đặc trưng quan trọng của các khúc ngâm, nhất thiết không thể bỏ  
qua vấn đề về giọng điệu.  
Giọng điệu “là phương tiện cơ bản cấu thành hình thức nghệ thuật của văn học. Nó  
vừa liên kết các yếu tố hình thức khác nhau, làm cho chúng cùng mang một âm hưởng nào  
đó, cùng có chung một khuynh hướng nhất định, vừa là chỗ dựa chính để các yếu tố của  
tác phẩm quy tụ lại và định hình, thống nhất với nhau theo một kiểu nào đó” (Nguyễn  
Đăng Điệp, 2002, tr. 13). Vì thế, tuy chỉ là hình thức mang tính quan niệm nhưng giọng  
điệu không phải là không có cơ sở hay thước đo để xác định. Bàn đến giọng điệu, tổng  
quan và cụ thể nhất có thể viện dẫn ý kiến của M. B. Khravchenko. Ông cho rằng, thứ  
nhất, giọng điệu gắn với cảm hứng chủ đạo, nó góp phần làm tăng hay giảm hiệu suất cảm  
xúc của tác phẩm văn chương; thứ hai, trong một tác phẩm, có sự xuất hiện của giọng điệu  
chủ yếu và các sắc điệu bao quanh với tư cách là bè đệm; thứ ba, giọng điệu thể hiện ở  
nhiều cấp độ khác nhau: từ ngữ, kết cấu, cách thức tạo nhịp, gieo vần, cách sử dụng motif  
và xây dựng hình tượng. Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, người đầu tiên quan tâm đến  
giọng điệu xét về mặt thi pháp, đã thấy rằng giọng điệu vừa là hiện tượng ngôn ngữ được  
thể hiện qua lời văn nghệ thuật vừa là hiện tượng siêu ngôn ngữ, gắn liền với hệ thống sự  
kiện, motif và hình ảnh đặc thù. Gần đây nhất, trong chuyên luận nghiên cứu về Giọng  
điệu trong thơ trữ tình, tác giả Nguyễn Đăng Điệp đã tường tận chỉ ra công thức phân tích  
giọng điệu như sau: thứ nhất, xác định tư thế của người nói và điểm nhìn nghệ thuật trong  
tác phẩm; thứ hai, khảo sát nghệ thuật xây dựng lời văn để biểu hiện giọng điệu; thứ ba,  
vai trò của hình tượng và motif trong việc thể hiện giọng điệu; thứ tư, lí giải chức năng và  
vai trò giọng điệu trong chỉnh thể nghệ thuật. Tuy không thể áp dụng toàn bộ lí thuyết này  
vào việc tìm hiểu thơ ca trung đại vốn có những đặc trưng riêng so với văn học hiện đại  
nhưng đây cũng là những cơ sở lí thuyết quan trọng giúp chúng tôi đi vào tìm hiểu giọng  
điệu thể loại ngâm khúc.  
2.2. Giọng điệu chủ đạo: giọng điệu buồn thương, ai oán  
Thế giới của các khúc ngâm là cả một khung trời buồn. Hiếm có một thể loại nào mà  
mọi thành tố cấu thành nên nó, từ nội dung đến hình thức và từng bộ phận tạo nên mỗi  
thành tố đó đều đậm đặc một nỗi buồn. Nếu như Phan Ngọc, khi tìm hiểu giọng điệu nghệ  
thuật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, đã chỉ ra môi trường tình thương trong tác phẩm  
thì bầu khí quyển bao quanh các khúc ngâm là nỗi buồn, từ thiên nhiên tạo vật đến con  
người cùng chung sự mất mát, li tán, chia lìa “Phong trần đến cả sơn khê - Tang thương  
đến cả hoa kia cỏ này” (Cung oán ngâm). Hoa, cỏ, trăng, sao thì tiêu điều, xơ xác. Con  
người thì đau khổ, héo hắt. Hình tượng con người trong các khúc ngâm là con người cô  
đơn, con người hoài niệm – mộng tưởng và con người nhỏ bé. Ứng với mỗi hình tượng  
ấy là những khung thời gian – không gian tương hợp cũng được bao phủ trong một nỗi  
sầu. Con người cô đơn bao giờ cũng xuất hiện trong thời gian chiều tối và không gian  
vắng lặng, con người hoài niệm – mộng tưởng thường gắn với thời gian quá khứ và  
73  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 16, Số 2 (2019): 72-82  
không gian của kí ức và những giấc mơ. Và con người nhỏ bé luôn được đặt trong không  
gian xa xôi, cách trở của thiên nhiên và không gian cuộc đời với nhiều sóng gió và hư  
huyễn. Tất cả đều được góp nhặt nhằm dệt nên dây tơ chùng trong khúc nhạc nội tâm của  
thể loại ngâm khúc.  
Giọng điệu buồn thương ấy còn được thể hiện qua một liều lượng rất lớn những từ  
chỉ nỗi buồn, niềm đau được sử dụng. “Mã nghệ thuật” này được xuất hiện thông qua hai  
con đường: hoặc là trực tiếp, nghĩa là dễ dàng tìm thấy những từ khóa thể hiện cảm thức bi  
ai; hoặc là gián tiếp, nghĩa là, những “từ khóa” được tìm ra thông qua những đối tượng,  
biểu hiện và từ ngữ xét về mặt hình thức không nói đến nỗi buồn của con người.  
Trong các khúc ngâm, không quá khó để nhặt ra những từ ngữ trực tiếp chỉ về nỗi  
buồn: sầu, rầu, buồn, não, muộn, phiền, bi thiết, bi thương, oán sầu… Nhóm từ này thường  
chiếm tỉ lệ gần hay trên 50% hệ thống các từ chỉ tâm trạng trong hầu hết các khúc ngâm:  
trong Chinh phụ ngâm là 23/48 từ (47,91%), Cung oán ngâm 20/39 từ (51,28%), Ai tư vãn  
là 13/27 từ (48,14%), Thu dạ lữ hoài ngâm là 10/16 từ (62,5%), Bần nữ thán là 19/47 từ  
(40,42%), Quả phụ ngâm là 10/24 từ (41,66%)… Trước và sau thể loại ngâm khúc, có lẽ  
không một tác phẩm và thể loại nào sở hữu một “tập đoàn ngôn ngữ” viết về nỗi buồn  
“xôm tụ” đến thế. Thể loại này không chỉ thu nạp các từ Hán Việt đã có mà còn bổ sung  
những từ thuần Việt, kết hợp từ thuần Việt và Hán Việt, Hán Việt với Hán Việt… tạo nên  
một đội quân đông đảo và bề thế viết về nỗi buồn. Thêm vào đó, để diễn tả một cách đầy  
đặn và sâu sắc nguồn cảm xúc bi ai, thể loại ngâm khúc tìm cách kết hợp nó với những từ  
có ý nghĩa nhấn mạnh. Thứ nhất là tính từ chỉ mức độ của cảm xúc như thống thiết, thảm  
thiết, xót xa, dằng dặc, dặc dặc… Thứ hai là kết hợp với những từ chỉ số lượng nhiều như  
trăm, nghìn, vạn; những danh từ chỉ sự dung chứa như khối, bể, gánh… Thứ ba là những  
cách nói ngoa dụ, phóng đại: Sầu đầy giạt bể, thảm cao ngất trời, Bao nỗi thảm chứa thành  
biển cả, Bao nỗi đau đủ để xây thành, Ngán tình duyên sầu chất nên non…Nỗi buồn tràn ra  
khỏi bể, mối sầu chất đầy lên non, nỗi muộn phiền có thể chồng làm gối, thổi làm cơm…  
nghĩa là sự buồn đau đã vượt qua rất nhiều những giới hạn thông thường. Nếu sự kết hợp  
với những từ chỉ mức độ tạo nên độ thẳm sâu của cảm xúc thì với những hình ảnh so sánh  
phóng đại ở đây, câu thơ chạm đến độ cao vời vợi không cùng của tình cảm. Và ở cả hai  
cách biểu hiện, những từ trực tiếp chỉ nỗi buồn đã góp phần diễn tả giọng điệu bi ai rất đặc  
trưng của thể loại.  
Đặc biệt hơn, trong thể loại ngâm khúc, có những từ ngữ không trực tiếp diễn tả nỗi  
buồn nhưng lại đóng vai trò là “đường link” liên kết đến tâm trạng bi thương của nhân vật.  
Những từ ngữ này trước hết gắn với việc miêu tả thiên nhiên. Nói cách khác, thiên nhiên  
trở thành nhân vật “nói hộ”, “nói giùm” cho tâm trạng con người. Lớp từ tả cảnh này  
không giống với cách miêu tả thông thường, chú ý đến đường nét, màu sắc, vị trí của cảnh  
hay tương quan giữa các cảnh mà chỉ gắn với những từ chuyên dụng về tâm trạng, nhất là  
những nỗi buồn đau đớn và rũ rượi của con người: ngập ngừng, sùi sụi, ngao ngán, đau,  
74  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Đàm Thị Thu Hương  
khóc …Thiên nhiên lúc này có ý nghĩa đặc biệt trong việc biểu hiện sức mạnh tâm hồn, nó  
trở thành “phương tiện nội tâm hóa” (Chu Ngọc Chi, tr. 216). Không dừng lại ở đó, các tác  
giả còn thông qua con đường miêu tả dáng điệu bên ngoài, từ dung mạo đến cử chỉ, điệu  
bộ, việc làm của nhân vật để bộc lộ thế giới nội tâm sầu buồn của họ. Phần lớn đây là  
những từ láy gợi hình ảnh như ngẩn ngơ, bơ phờ, thơ thẩn, thẹn thùng, khắc khoải, thẫn  
thờ, chơ vơ, lủi thủi, lặng lẽ… Với những từ ngữ này, các tác giả tỏ ra là những người rất  
sành tâm lí nhân vật. Bởi lẽ, những biểu hiện bề mặt của cảm xúc bao giờ cũng là kết quả  
của những diễn biến đến từ nội tâm. Hẳn phải xuất phát từ một tâm trạng đầy nỗi niềm, đau  
đớn, con người mới có sự ngoại lộ những biểu hiện về dáng vẻ, dung quang như thế. Lớp  
từ này chiếm số lượng đáng kể trong mỗi khúc ngâm. Trong Thiếu nữ hoài xuân ngâm  
khúc, đó là sự góp mặt phong phú của những từ như tần ngần, thơ thẩn, ngậm ngùi, ngơ  
ngẩn, bứt rứt… Trong Tự tình khúc, thế giới nội tâm của người kẻ sĩ được bộc lộ qua  
những từ chỉ biểu hiện bề ngoài như bàng hoàng, ngơ ngẩn, dùng dắng… Trong Chinh  
phụ ngâm, đó là hệ thống các từ như ngẩn ngơ, bơ phờ, thơ thơ thẩn thẩn, thẹn thùng, thẫn  
thờ… Có thể thấy, khác với lớp từ Hán Việt ở trên, lớp từ thuần Việt tỏ rõ ưu thế của mình  
trong việc đi sâu vào những biểu hiện cụ thể, rõ rệt và ít nhiều biến chuyển trong tâm trạng  
của nhân vật, làm nổi rõ giọng điệu buồn thương ai oán.  
Giọng điệu bi ai của thể loại còn được thể hiện qua những hình ảnh rất đặc trưng cho  
nỗi buồn. Thế giới của các khúc ngâm là một bể rộng mênh mang ngập tràn nước mắt, từ  
nước mắt của thiên nhiên như “sương sa như khóc thương người lẻ loi” hay “tiếng chim  
nhạn lạc đàn khóc vì lẻ bạn” đến muôn vàn dòng nước mắt của con người, nhất là người  
phụ nữ - những con người như được sinh ra từ nước mắt. Nàng chinh phụ trong Chinh phụ  
ngâm khi thì cố giấu, cố nén nỗi đau trong lòng bằng những giọt nước mắt “sùi sụt”, khi thì  
không thể kìm nén, che giấu được nữa đã để lệ chảy tràn trên gò má, thấm đẫm từng chiếc  
khăn tay “mở khăn lệ chàng trông từng tấm”. Chủ thể trữ tình trong Thu dạ lữ hoài ngâm  
khi nghĩ đến tình cảnh của mình nơi đất khách xa xôi, ngóng về quê nhà mà “lệ trào đôi  
mắt”. Cô gái nơi hương thôn thương thân phận muộn mằn của mình mà tuôn rơi đôi hàng  
lụy nhỏ “lụy tuôn rơi hoen ố má hồng” (Hương thôn nữ thán). Người thiếu nữ chờ đợi  
người tình tri kỉ nên “giọt lệ tình lai láng năm canh” (Thiếu nữ hoài xuân ngâm khúc). Như  
chính lời đúc kết của nhân vật trữ tình trong Quả phụ ngâm:  
Kiếp bạc mệnh sống theo nước mắt  
Hồ lệ đầy sống ắt còn lâu  
Bao giờ khóc ráo lệ sầu  
Bao giờ tóc trắng điểm đầu mới thôi (Quả phụ ngâm)  
Cả cuộc đời người phụ nữ - nằm trong hệ quy chiếu của thân phận “tài hoa bạc  
mệnh” thường gắn liền với những giọt nước mắt. Từ khi cất tiếng khóc chào đời cho đến từ  
giã cõi đời này, chưa một lần nào họ không nhỏ lệ u sầu. “Nước mắt” là tấm kính trong soi  
tỏ cuộc đời khổ đau, bất hạnh của họ.  
75  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 16, Số 2 (2019): 72-82  
Các khúc ngâm còn dùng những hình ảnh gợi nên cảm thức bi ai khiến giọng điệu  
của thể loại cứ ngùi ngùi thương cảm. Đó là những hình ảnh chỉ sự bấp bênh trôi dạt, như  
chiếc bách sóng đào (Hàn sĩ thán), cánh hoa bèo trôi dạt, hoa rơi ngọn cỏ, cơn mưa gió tả  
tơi (Thán Kiều), phận bèo mây (Ai tư vãn), nổi chìm bể khổ, chân bèo lưu lạc, chìm cá giạt  
bèo (Tự tình khúc), hoa trôi nước chảy, hoa trôi góc bể (Chinh phụ dạ tĩnh ngâm khúc),  
thân ba đào, phận nổi chìm dâu bể đầy vơi (Hàn nho thán)… Đó là hình ảnh gợi nên sự  
chia li, cách biệt như quan san nghìn dặm, dặm tràng sa khơi, ngoài viễn tái, lối biên quan,  
hải giác thiên nhai, góc bể chân trời, buổi tiễn đưa, cuộc thảm biệt, tấm thương li, tử biệt  
sinh li, li biệt, li hận, chia đôi gánh tình, duyên đứt đường tơ, đường mây rẽ lối, chia cây  
rụng lá, âm dương đôi ngả, lìa nhân gian… Việc xuất hiện dày đặc những hình ảnh này đã  
gia tăng nồng độ thương cảm và xót xa trong lời thơ của thể loại.  
Giọng điệu bi ai là âm hưởng chính vang lên trong thể loại ngâm khúc cũng biến  
chuyển với nhiều sắc thái, cung bậc khác nhau tùy theo từng hoàn cảnh thể hiện. Khi cảm  
thương về thân phận mình thì giọng thơ ngậm ngùi, than thở. Câu thơ cứ như chùng xuống,  
trĩu nặng:  
Một mình than thở canh dài  
Thẹn thùng với nguyệt, ngậm ngùi với hoa (Thán Kiều)  
Giữa đường đứt gánh than ôi!  
Chút thân góa bụa ngậm ngùi sương khuê (Quả phụ ngâm)  
Sao người ta đi đôi về đủ  
Mà thân mình ủ rủ cô đơn (Thiếu nữ hoài xuân ngâm khúc)  
Có khi giọng thơ là lời dằn dỗi, hờn giận trước số phận và cuộc đời:  
Thôi nhắm mắt cho qua ngày tháng  
Cũng liều mình trong đám hư không (Thán Kiều)  
Trời đã phải dở dang là thế  
Thôi thì thôi phó để trời xoay  
(Hàn sĩ thán)  
Hai câu thơ có từ “thì thì” ở đây đã được tác giả bỏ đi, vì theo như người phản biện  
là câu thơ trích sai nguyên văn nhưng thật sự đó là văn bản cổ, các tác giả viết như vậy.  
Nhưng để tránh người đọc hiểu không đúng, người viết đã bỏ đi.  
Thậm chí cảm xúc được đẩy lên cao hơn, sự hờn dỗi hóa thành lời mai mỉa, chua  
chát. Những tiếng sao khéo, khéo cợt nhau như những từ khóa góp phần định hình cho  
giọng điệu biến chuyển đó:  
Ông xanh sao khéo xoay vần  
Thân này chịu khổ mấy lần nữa sao (Thán Kiều)  
Khéo vô duyên bấy cửu trùng  
Thắm nào nhuộm lại tơ hồng cho tươi (Cung oán ngâm)  
Hóa công sao khéo cợt nhau  
Giam làm chi mãi để đau khúc vàng (Hàn nho thán)  
76  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Đàm Thị Thu Hương  
Từ giọng mỉa mai, châm biếm, các nhân vật cũng không kiềm giữ trạng thái căm  
giận, oán hờn của mình, để từ đó giọng chửi, giọng mắng được cất lên:  
Chống tay ngồi ngẫm sự đời  
Muốn kêu một tiếng cho dài kẻo căm (Cung oán ngâm)  
Chém cha cái bả thanh lâu  
Làm cho chính bạch nhuốm màu phấn son (Thán Kiều)  
Muốn vạch trời kêu lên một tiếng  
Trách trăng già làm chuyện bất nhân (Lý Thị vọng phu ngâm)  
Như một dàn giao hưởng có giọng lĩnh xướng và những giọng bè, giọng phụ họa,  
giọng làm nền, trong thể loại ngâm khúc, giọng điệu bi ai cũng được chuyển hóa thành  
những sắc điệu khác nhau, khi ngậm ngùi, than vãn, dằn dỗi khi thì oán trách, căm hờn, tức  
giận. Đây là những sắc điệu cần thiết nhằm làm bật lên “giọng điệu bi ai” của thể loại.  
2.3. Sự chêm xen của giọng điệu suy tư triết lí  
Theo quy luật tâm lí thông thường, khi con người rơi vào nỗi phiền muộn, họ có ý  
thức nghiền ngẫm và suy tư về thân phận mình, rộng ra là cả kiếp nhân sinh. Tiếng nói  
chiêm nghiệm ở đây vừa là lời giãi bày của nhân vật trữ tình vừa là lời phát ngôn của tác  
giả, những người đang bộc lộ cái nhìn của mình về nhân thế. Vì thế lắng nghe trong từng  
khúc ngâm, bên cạnh giọng điệu bi thương ai oán còn là giọng điệu suy tư triết lí mang dấu  
ấn riêng của thể loại.  
Giọng điệu này trước hết nằm trong trường từ vựng viết về cuộc đời và thân phận  
con người. Quan tâm đến các khúc ngâm, phần nhiều các nhà nghiên cứu chỉ dừng lại ở  
những từ chỉ cảm xúc buồn nhưng ít ai chú ý đến lớp từ này (trừ tác phẩm Cung oán  
ngâm). Nói đến cuộc đời nhiều sóng gió, đổi thay, các tác giả dùng những từ quen thuộc  
như bãi bể nương dâu, nỗi đoạn trường, bước phong trần, cõi phong ba… Cuộc đời trôi  
nổi, lênh đênh, trôi dạt sẽ gắn liền với những từ kiếp phù thế, thân thế phù trầm, kiếp phù  
sinh… Sống trong cuộc đời ấy, con người cũng mang thân phận khổ đau như mệnh bạc,  
phận bèo mây, phận long đong… Những vấn đề gắn với số phận con người cũng được các  
tác giả nhắc đến như duyên kiếp và số mệnh. Cụ thể qua những lời “độc bạch” của nhân  
vật, kiếp nhân sinh nằm trong vòng chi phối chủ yếu của những quan niệm đến từ Phật  
giáo và Nho giáo. Thế nên, rất nhiều thuật ngữ của những hệ tư tưởng, tôn giáo này ngự trị  
trong thể loại ngâm khúc. Từ cái nhìn của Phật giáo, nhân vật trữ tình trong các khúc ngâm  
cho rằng mọi sự hợp tan đều là nhân duyên; mọi sự khổ đau, thăng trầm đều là quả kiếp,  
nợ nghiệp. Khi họ chưa tìm được một nửa của mình nghĩa là mối duyên lành, duyên hảo  
hợp chưa đến. Khi họ phải sống trong cảnh đọa đày đau khổ thì đó chính là món nợ phù  
sinh, là nỗi oan nghiệp phải trả “Nỡ đày đọa phong trần nặng kiếp - Để tơ vương oan  
nghiệp lạ đời” (Tự tình khúc)… Và khi họ phải sống trong cảnh góa bụa chia lìa thì đó là  
mối lương duyên đã đứt “Tơ duyên đứt nợ như đeo đẳng - Cảnh cô đơn nỗi đắng niềm  
cay” (Quả phụ ngâm). Từ cái nhìn của Nho giáo, nhân vật trữ tình trong các khúc ngâm tự  
77  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 16, Số 2 (2019): 72-82  
chiêm nghiệm và luận giải cho những bất hạnh, thương tâm của cuộc đời mình là do sự sắp  
đặt của tạo hóa, sự trêu đùa của số phận hay là sự bày tuồng làm vui của hóa công. Bằng  
cách này hay cách khác, họ nói nhiều đến những từ ngữ biểu thị cho lực lượng tàng ẩn  
nhưng có sức mạnh vô hình đó như con tạo, cơ trời, hóa công, tay tạo hóa, máy tạo, trẻ tạo  
hóa, khuôn tạo hóa, thiên cơ… Trường từ vựng này không còn là câu chuyện cảm xúc  
thông thường mà nó được nâng lên thành những triết lí sâu xa về cuộc đời, thể hiện sự suy  
tư và trở trăn về những vấn đề hết sức quan yếu của nhân loại. Cũng từ đó giọng điệu suy  
tư, triết lí của thể loại được hình thành.  
Song song đó, thể loại ngâm khúc cũng lựa chọn cho mình những kiểu câu riêng mà  
trước hết là hệ thống câu hỏi khá dày đặc. Thông qua những câu hỏi này, con người ghi  
dấu ấn sự tồn tại của bản thân thông qua con đường tự ý thức và khám phá vào sâu bản thể.  
Dễ dàng tìm thấy những câu hỏi được đánh dấu bằng những từ như “ai”, “đâu”, “nào”,  
“gì”, “sao”… trong đó ám ảnh lớn nhất, thường trực không nguôi đối với con người là  
hành trình đi tìm nguyên nhân của những nỗi đau khổ. Trong các khúc ngâm, nhóm câu  
hỏi này chiếm số lượng khá đông đảo. Đáng kể nhất là Cung oán ngâm (15 lần), Tự tình  
khúc, Hương thôn nữ thán (11 lần), Ai tư vãn (10 lần). Chiếm số lượng ít ỏi hơn là Chinh  
phụ ngâm, Bần nữ thán (9 lần), Hàn sĩ thán (8 lần), Hàn nho thán (7 lần). Công thức quen  
thuộc của loại câu nghi vấn là: đại từ để hỏi “ai” + động từ chỉ hành động (làm, xui, khiến,  
gây, bày…):  
Khóc vì nỗi thiết tha sự thế  
Ai bày trò bãi bể nương dâu (Cung oán ngâm)  
Ai xui khiến tây đông đôi ngả  
Đem chữ tình mà bẻ làm hai (Chinh phu ngâm 2)  
Ai làm số phận xui nên  
Há thua sắc thắm há hèn màu tươi (Bần nữ thán)  
Cùng là việc truy tìm nguyên cớ, nhân vật trữ tình đặt ra hàng loạt những câu hỏi “vì  
sao”. Hệ thống câu hỏi này cũng rất phong phú đa dạng với nhiều biến thể tương đồng  
(như Vì ai? Vì đâu? Sao? Cớ sao? Cớ chi? Làm sao? Làm chi?...) cùng với sự chuyển đổi  
vị trí khá linh hoạt, có thể mở đầu, ở giữa câu hoặc dừng lại ở chỗ kết thúc câu:  
Vì đâu nhân quả dở dang  
Hay là tại số đoạn trường chửa xong (Thán Kiều)  
Hay là số phận làm sao  
Xui ra duyên phận hẩm hiu thế này (Bần nữ thán)  
Trời làm chi cực bấy trời  
Vì đâu ác nghiệt cho người lênh đênh (Hàn sĩ thán)  
Các khúc ngâm quan tâm đến cả những câu hỏi có nhiều lựa chọn, thường bắt đầu  
bằng những từ “hay”. Con người loay hoay không biết tìm đâu ra nguyên nhân của nỗi đau  
78  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Đàm Thị Thu Hương  
khổ nên cùng lúc đặt ra biết bao nhiêu giả thiết để lí giải cho những nông nỗi mà mình phải  
gánh chịu.  
Tưởng thế sự ai làm nên nỗi  
Nghĩ càng thêm tức tối trăm chiều  
Hay là số phận làm sao  
Xui ra duyên phận hẩm hiu thế mà  
Hay là kém da ngà mắt phượng  
Hóa cho nên bướm chán ong chê  
Hay là nắng chẳng thương huê  
Để rầu bông thắm, để xơ nhị vàng (Bần nữ thán)  
Cả ba dạng câu hỏi đều góp phần thể hiện những trăn trở, băn khoăn của con người  
trong hành trình tìm kiếm nguyên nhân gây ra nỗi đau khổ. Con người hoang mang, ngơ  
ngác trước số phận bi thương đã được an bài thế nhưng họ cũng không đành lòng chấp  
nhận hay buông xuôi phó mặc. Tìm cách phản ứng với cuộc đời, con người đưa ra hàng  
loạt những lời cật vấn những mong tìm kiếm câu trả lời phần nào có thể an ủi, xoa dịu nỗi  
đau hay chí ít chỉ là để giãi bày tâm trạng cô đơn, sầu tủi đang chất chồng trong cõi lòng.  
Thế nên, câu hỏi ở đây thuộc dạng câu hỏi tu từ, cái vỏ ngoài là câu hỏi những cái lõi bên  
trong lại là lời than thở, độc thoại với chính nội tâm bi thiết.  
Phù hợp với giọng điệu suy tư, triết lí, nhân vật trữ tình còn dùng những dạng câu  
khẳng định (có thể xuất hiện hoặc ẩn giấu chữ “là”), nhằm khái quát nên một chân lí:  
Kiếp người là kiếp ươn hèn  
Phải vâng số mệnh há nên trách trời (Quả phụ ngâm)  
Câu thơ dạng này thường là câu đơn trần thuật với hai vế ngắn gọn, chủ ngữ nêu lên  
khái niệm, thường là những khái niệm về cuộc đời và kiếp người; vị ngữ nêu lên tính chất,  
đặc điểm, nói cách khác là xác định nội hàm của khái niệm đó. Những câu thất trong cấu  
trúc thể thơ song thất lục bát cũng thường đảm nhiệm nội dung này. Với hình thức đối,  
nhịp phân tách quen thuộc dứt khoát 3/4, câu thơ nêu lên những tư tưởng gãy gọn, vững  
chắc:  
Cuộc dâu bể/ gây nên đau đớn  
Kiếp phù sinh/ giam bạn quần thoa (Thán Kiều)  
Kìa thế cục/ như in giấc mộng  
Máy huyền vi/ mở đóng khôn lường (Cung oán ngâm)  
Cũng có khi các tác giả của các khúc ngâm dùng những câu ghép ở cặp câu thất,  
nhưng đó cũng chỉ là những kiểu câu đơn giản, phù hợp để nêu lên những luận đề thuộc  
phương diện lí trí. Quan hệ nguyên nhân - hệ quả được dùng nhiều hơn cả:  
Nghèo khó hóa tình duyên cũng nhạt  
Quê mùa nên tài sắc cũng thua (Hương thôn nữ thán)  
Vì một nỗi thua tiền thua bạc  
79  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 16, Số 2 (2019): 72-82  
Hóa cho nên thua sắc thua tài (Bần nữ thán)  
Còn trứng nước thương vì đôi chút  
Chữ tình thâm chưa thoát được đi  
Vậy nên nấn ná đòi khi  
Hình tuy còn ở phách thì đã theo (Ai tư vãn)  
Cặp quan hệ từ “(Vì)… nên (hóa cho nên)” hay quan hệ từ chỉ kết quả “vậy nên” đem  
đến cho câu thơ dáng vẻ của một công thức có tính suy luận chắc chắn AB. Những từ  
ngữ chỉ cảm xúc, những từ láy gợi hình gợi cảm ít được khai thác trong các câu thơ trên.  
Phần lớn là những danh từ chung chỉ sự khái quát, đôi ba động từ hay tính từ chỉ tính chất  
nhằm làm cụ thể và rõ hơn cho nội dung được nói đến. Nhịp thơ ngắn, câu thơ sắc gọn, rắn  
rỏi một lần nữa hữu hình hóa cho sức mạnh biểu đạt về một vấn đề vốn không chỉ đến từ  
cảm xúc.  
Cũng lựa chọn những từ liên kết giàu ý nghĩa nhưng các tác giả của thể loại ngâm  
khúc không hướng đến việc dẫn dắt và đẩy cảm xúc đến mức cao trào (qua những từ chỉ sự  
tăng tiến như “càng… càng”, những hư từ chỉ sự gia tăng như lại, còn, thêm nữa…) mà  
dùng nó như là công cụ để biểu thị lập luận, suy xét vấn đề. Những từ này phần lớn đánh  
dấu sự chuyển biến trong nhận thức và suy ngẫm của con người, là phút giây con người  
dừng lại thật lâu và thật chậm trong trải nghiệm của chính mình. Họ bắt đầu soi xét vấn đề  
từ nhiều góc độ, lật đi lật lại những gì đã và đang trăn trở để có được cái nhìn sâu sắc, thấu  
triệt hơn. Bằng những từ “thà rằng”, “cũng thì”, “song”, người chinh phụ trong Lý thị vọng  
phu ngâm tự rút ra kết luận cho nỗi chua chát mà mình đang gánh chịu:  
Thà rằng chưa biết chi chi  
Chăn đơn gối chiếc cũng thì ấm êm  
Song thế vị đã quen chua chát  
Lửa nhân tình thường đốt tâm can (Lý thị vọng phu ngâm)  
Khổ thơ chia nửa nhằm tạo tình huống đối sánh giữa điều giả thiết và kết quả hiện  
tại. Giả thiết được lập ra cho thấy con người có sự quay ngược trở lại với quá khứ để bày  
tỏ những khao khát, mong ước riêng tư, thầm kín. Tuy nhiên, giả thiết đó bị phủ nhận hoàn  
toàn thông qua liên từ “song” đánh dấu sự đối lập, tương phản. Sự quay trở về này chỉ mở  
ra cánh cửa của những hối tiếc, ân hận và đau khổ. Quá khứ là chiều thời gian không thể  
vãn hồi, cái con người đối diện và không thể rời bỏ đó là sự lẻ loi, đơn chiếc và sầu muộn  
trong hiện tại. Thế nên, nỗi buồn càng thêm một lần khắc khía khi con người tự thức nhận  
về cuộc đời mình.  
Cũng vậy, người cung nữ trong Cung oán ngâm không còn ảo tưởng và tự mãn về  
nhan sắc một thời từng làm say đắm bậc quân vương, nàng có sự thay đổi trong nhận thức  
thông qua cách lập luận bày tỏ sự nuối tiếc, hối hận:  
80  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Đàm Thị Thu Hương  
Ví sớm biết phận mình ra thế  
Giải kết điều ỏe họe làm chi  
Thà rằng cục kịch nhà quê  
Dầu lòng nũng nịu nguyệt kia hoa này (Cung oán ngâm)  
Người thiếu nữ trong Thiếu nữ hoài xuân ngâm khúc từ việc đối diện với thực tại là  
hình ảnh của đôi chim trời hạnh phúc đã có sự liên hệ ngược trở lại với bản thân để đi đến  
khẳng định về điều hiển nhiên, tất yếu phải có được. Đó là hạnh phúc trần thế mà con  
người có quyền và đáng được hưởng. Sự liên hệ đó đầy logic, được cụ thể hóa bằng việc  
trích dẫn hai đối tượng và từ nối “huống chi”:  
Để thân gái năm lo bảy liệu  
Kìa chim trời dan díu có đôi  
Huống chi cái kiếp làm người  
Lẽ đâu bỏ phí duyên trời cho đang (Thiếu nữ hoài xuân ngâm khúc)  
Có thể thấy, bằng nhiều cách lập luận khác nhau, con người trong các khúc ngâm  
không chỉ bày tỏ tình cảm mà còn tự đúc rút những kinh nghiệm sống cho chính bản thân  
mình thông qua những kết luận và khái quát về cuộc đời. Điều này làm cho hơi thơ nồng  
đặc chất suy tưởng triết học. Và cũng chính bởi điều đó mà hình tượng con người luôn hiện  
diện trong trạng thái trầm tư suy nghĩ. Những từ như “nghĩ”, “biết”, “ngẫm”… viền quanh  
thế giới cảm xúc “dường như chỉ ngưng đọng trên một khối sầu” (Đặng Thai Mai) xuất  
hiện với một dung lượng khá lớn trong từng khúc ngâm. Con người thường xuất hiện “một  
mình”, “riêng” biệt để cảm nhận nội tâm của chính mình. Thời gian cho dòng suy tư đó là  
khoảng chiều tối – những ồn ào náo nhiệt của một ngày trôi đi để mở ra khoảng không vô  
tận cho sự suy tư, chiêm nghiệm. Không gian vì thế cũng hoàn toàn tĩnh lặng đến tuyệt đối,  
sự tĩnh lặng cần thiết cho những hoạt động của tư duy và trí não. Chính hình tượng về con  
người, không gian và thời gian đó đã góp phần đắc dụng trong việc tạo nên giọng điệu suy  
tư, triết lí có mặt trong thể loại ngâm khúc.  
3.  
Kết luận  
Có thể thấy, bên cạnh giọng điệu thuần về cảm xúc với âm hưởng chính buồn thương  
ai oán, một mạch nước ngầm của dòng chảy suy tư, triết lí về cuộc đời và thân phận cũng  
xuất hiện trong các khúc ngâm. Giọng điệu đặc biệt này càng chứng minh rõ rệt cho hạt  
nhân nỗi buồn được nói đến của thể loại, đồng thời thể hiện sự hòa hợp của cả nhận thức  
và cảm xúc trong nỗi đau của chủ thể trữ tình. Nỗi buồn trong các khúc ngâm vì thế đã  
vượt ra khỏi giới hạn của những tâm sự riêng tư thầm kín mà đi vào địa hạt của những vấn  
đề phổ quát của toàn nhân loại. Giá trị độc đáo chưa từng được khai mở này đã đưa thể  
ngâm “phát triển đến tột độ quan niệm tự tình của thơ trữ tình trung đại” Việt Nam (Trần  
Đình Sử, 1999, tr. 183), ghi dấu ấn đậm nét vị trí của thể loại trong nền thơ ca dân tộc.  
81  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 16, Số 2 (2019): 72-82  
Tuyên bố về quyền lợi: Tá c giả xá c nhận hoàn toàn không có xung đột về quyền lợi.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Nguyễn Bá Cảnh. (1935), Việt Tiên ngâm khúc. Hà Nội: NXB Đông Tây.  
Chu Ngọc Chi. (?). Thán Kiều. Hà Nội: Phúc Văn xuất bản.  
Nguyễn Đăng Điệp. (2002). Giọng điệu trong thơ trữ tình. Hà Nội: NXB Văn học.  
Bùi Huy Đức. (1915). Hàn nho thán. Hà Nội: Thái Sơn xuất bản.  
Xuân Lan. (1925). Lý thị vọng phu ngâm. Hà Nội: Văn Minh xuất bản.  
Trần Đình Sử. (1999). Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam. Hà Nội: NXB Đại học  
Quốc gia.  
Phan Ngọc. (2001). Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều. NXB Thanh niên.  
Đinh Gia Thuyết. (đính chính và chú thích) (1953). Nữ tú tài và Bần nữ thán. Tân Việt, Sài Gòn.  
Ngô Văn Triện. (1925). Chinh phụ dạ tĩnh ngâm khúc. Hà Nội: Thực nghiệm.  
Nguyễn Quảng Tuân khảo đính và chú giải. (1997). Tổng tập văn học Việt Nam tập 13B, Ngâm  
khúc. Hà Nội: NXB Khoa học xã hội.  
(1932). Hàn sĩ thán. Nhật Hưng, Hà Nội: Nhật Hưng xuất bản.  
(1935). Quả phụ ngâm. Hà Nội: Thái Sơn Nguyễn Tân Chiên xuất bản.  
(1935). Quá xuân nữ thán. Hà Nội: Thái Sơn Nguyễn Tân Chiên xuất bản.  
(1935). Thiếu nữ hoài xuân ngâm khúc. Hà Nội: Thái Sơn Nguyễn Tân Chiên xuất bản.  
(1942). Hương thôn nữ thán. Hà Nội: Nguyễn Văn Chiêu xuất bản.  
THE ARTISTIC TONE IN ELEGY GENRE  
Dam Thi Thu Huong  
Ho Chi Minh City University of Education  
Corresponding author: Email: [email protected]  
Received: 29/8/2018; Revised: 31/10/2018; Accepted: 27/02/2019  
ABSTRACT  
The tone is one of the form of art that creates specific value for elegy genre. Entering every  
elegy, it is not difficult to realize the sorrowful and wairful tone is the main one of this genres.  
Besides, there is the thinking and philosophical tone, as this genre is not only about single sadness  
but also thinking about life. The occurence of this tone both creates the uniqueness of the genre but  
also contributes to the adherence between emotion and awareness in showing the inner world of  
human.  
Keywords: elegy genre, the artistic tone, XVIII-XIX centuries.  
82  
pdf 11 trang Mãnh Khiết 15/01/2024 11780 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giọng điệu nghệ thuật trong thể loại ngâm khúc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiong_dieu_nghe_thuat_trong_the_loai_ngam_khuc.pdf