Thơ chơi - Từ Nguyễn Công Trứ đến tản đà dưới góc nhìn tư duy thơ như là một tiểu thể loại

T
Ạ
P CHÍ KHOA H  
Ọ
C
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - S  
Ố
42.2018  
“THƠ CHƠI” - TỪ NGUYỄN CÔNG TRỨ ĐẾN TẢN ĐÀ  
DƢỚI GÓC NHÌN TƢ DUY THƠ NHƢ LÀ MỘT TIỂU THỂ LOẠI  
Lê Thị Dung1  
TÓM TẮT  
“Thơ chơi”  
-
một hiꢀn tượng thú vị trong dòng chảy văn học Viꢀt Nam không chỉ ngày  
nay mà “thơ chơi” có tiền đề từ văn học bác học truyền thống. Đặc biꢀt “thơ chơi” phát  
triển rực rỡ từ giai đoạn văn học cuối thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX qua một  
số tác giả tiêu biểu. Chặng văn học này bꢁt đầu từ Nguyễn Công Trứ ngông nghênh, kiêu  
bạt, đến một Cao ꢂá Quát cao siêu và kết thúc là một Tản Đà ngất ngưởng, đa tài đa tình  
hưng không chỉ dựng ở châm biếm, đả kích, trào phúng mà họ còn là những “người chơi  
thơ sành điꢀu” mang đến giọng điꢀu thơ riêng biꢀt, tạo nên một “tiểu thể loại” văn học  
.
N
.
Từ  
khóa: Thơ chơi, chơi thơ, thơ chơi Nguy  
ĐỀ  
ễ
n Công Tr  
ứ,  
thơ chơi  
Tả  
n
Đà.  
1. ĐẶT V  
Homeros - Cha đẻ  
tiếng lòng đồng c m mãnh li  
hành với loài người cho đến ngày t  
muôn đời sau vẫn là “bạn đồng hành”, “người bạn đường” cùng những h  
đời, v n khẳng định chỗ đứng riêng trong tâm hồn độc gi : Buồn người ta cũng làm thơ, vui  
người ta cũng ngâm thơ, làm thơ, cảnh đẹp, trăng sáng, gặp cô gái xinh... đều nên thơ. Thơ  
không chỉ mang tính “khoa h c giáo dục”, đạo “cửa Khổng sân Trình” nữa, mà những điề  
“khuôn phép” đó được gi i phóng ngay từ khi còn “trứng nước”, khi thơ ca còn ở ạng “  
thành văn”: Cô kia c t c ven sông/ Cái váy thì c c, cái lông thì dài. (Ca dao). Cho đến thơ  
i, nền văn học nước nhà, xu t hi n m t hiện tượng “thơ chơi” Nhà thơ Phùng Quán  
viết:“ t ngày tôi h t n a ngày say/ N m dài chi u v u ng m tr i mây/ H ng lên múa bút,  
thơ lên cót/ Thơ rượu, thơ tình, thơ cỏ cây” (Thơ chơi - Phùng Quán).  
t trong các chức năng của văn học là chức năng giải trí. Văn học Vi  
ừ lâu đời đã phong phú, đa dạng: ngay t các sáng tác dân gian ca dao, hò, vè, chèo, t  
n tiếu lâm… tiếng cười luôn phát khởi để đáp ứng đời s ng tinh  
sau nh ng giờ đồng áng v t vả quên đi cả những đói  
n hàn. Ở lĩnh vực văn học bác học, tuy thơ chơi, sự chơi, vui đùa, bông nhại, gi i trí  
không nhiều như văn học dân gian, song các tác gi thời trung đại cũng có nhi u sáng tác,  
vui v , mang l i tiếng cười s ng khoái cho nhân dân ch không h n ch là nói chí, t lòng (c  
tác ph m ch Hán và tác ph m ch Nôm). Vì th chúng tôi quan sát, kh o c u về thơ chơi  
giai đoạn t Nguy n Công Trứ đến Tản Đà dưới góc nhìn tư duy nghệ thu ở 3 phương  
diện: Thơ chơi trong văn học dân gian và văn học bác h c truy n th ng; so sánh giữa thơ  
chơi và chơi thơ, sự t h p gi a y u t tr tình và y u t trào l ng.  
ẤN  
Từ  
c
ủa thơ ca Hy Lạp cho đế Kinh Thi hay ca dao, thơ vẫn là  
n
ả
ệ
t và quảng đại. Thơ phát khởi từ trong lòng người đọc, song  
n thế. Đúng thế, thơ ca từ xưa đến nay cho đến mãi  
, n , ái a cuộc  
ậ
ỉ
ộ
ố
củ  
ẫ
ả
ọ
u
ả
d
bất  
ꢁ
ỏ
ộ
mớ  
ấ
ệ
ộ
-
Mộ  
ế
ử
ằ
ế
ầ
ꢁ
ờ
ứ
Mộ  
ệt Nam vốn dĩ  
t
ừ
ấu hài  
cho đến truyện cười, truy  
ệ
ố
thầ  
n của người dân lao động, để vui v  
ẻ
ữ
ấ
khổ  
bầ  
ả
ả
ề
ẻ
ạ
ả
ứ
ẳ
ỉ
ỏ
ả
ẩ
ữ
ẩ
ữ
ế
ả
ứ
ừ
ễ
ật  
ọ
ề
ố
kế  
ợ
ữ
ế
ố
ữ
ế
ố
ộ
1 Trung tâm Nghiên cứu ꢃhoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Hồng Đức  
5
T
Ạ
P CHÍ KHOA H  
Ọ
C
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - S  
Ố
42.2018  
2. N  
2.1. “Thơ chơi” trong văn học dân gian và văn học bác học truyền thống  
“Thơ chơi” ra đời - m  
t hiện tượng đột bi n, giao thoa giữa văn học dân gian và văn  
chương bác học, đồng thời cũng là hiện tượng thơ độc đáo. Tiếng cười giải trí trong văn  
ọc dân gian nói chung và văn học bác học được đẩy cao lên đỉnh điểm là “thơ trào phúng  
Ộ
I DUNG  
ộ
ế
h
phát tri  
mà vượt lên trên “  
điều đó ảnh hưởng sâu sắc đến các tác phẩm văn xuôi, truyện ng  
ỉ sau. Cho đến hiện nay, phong trào “thơ chơi” càng được n  
cây…” ngày càng trở thành trào lưu, phổ ng trong cu c s  
t ph n c a cu c s ng. Vì thế, chúng tôi xem xét thơ chơi như một th  
ng.  
t Nam, chúng ta th  
ven sông/ Cái váy thì c c cái lông thì dài/ Thuy  
ng chẳng bán để dài quét sân. Có l ằng người c t lên l  
t là một chàng trai nào đó có ý chòng ghẹo, đùa vui, tếu táo, tán t nh cô  
gái váy cộc đang mải mê c t cỏ ven sông. Dĩ nhiên còn có cả ời đối đáp của cô có v  
không thua kém chàng trai (Thuy n chài nó tr quan hai/ Thưa rằng chẳng bán để dài  
quét sân). Lời thơ, ý thơ kiể ấy là thơ chơi, nó bột phát t nhiên, h n nhiên, m c m c,  
nhưng thật sâu s ỡi cô tát nước bên đàng Sao cô múc ánh trăng  
c, thú v . Câu ca dao:  
vàng đổ đi” là l i b c phát của chàng trai, đùa cợt bông lơn cô gái đang tát nước bên  
đường. Đó cũng là “thơ chơi”. Lời c  
a chàng trai c t lên m t cách h n nhiên, t nhiên  
để ỏi cô gái tát nước đêm trăng, là cái cớ để đưa đẩy, để t chuy n tình m t cách kín  
đáo. Từ ý thơ đến hình tượng nó lung linh toả sáng như “ánh trăng vàng” vậy. Câu ca  
dao hi n lên m t b c tranh tuyệt đẹp: Hình nh một cô gái tát nước đêm trăng thật tr  
tình, thật thơ mộng.  
Đến Hồ Xuân Hương  
bài thơ vịnh c như: C  
nh v  
Những câu thơ kiểu như: Hai chân đạp xuống năng năng nhꢀc/ M  
thích mau (D t c i) hay Chành ra ba góc da còn thi u/ Khép lại đôi bên thịt v  
cái qu t). Bài thơ trước h t là s tài hoa về chơi chữ, chơi phép đối cả ý và thanh, đùa vui,  
u táo, hóm hỉnh. Thơ chơi như không nhằm mục đích giáo huấn, treo gương đạo lý thánh  
hi n, ho c lên án t cáo ai c , không v i mà hồn nhiên, vô tư, trong sáng. Loại thơ chơi  
kiểu như Xuân Hương cũng thật hiếm có trong thi đàn dân tộc. V nh c nh vật đâu phải là  
ục đích chính của bà, mà đó chỉ là cái cớ để bà b c l cái tôi trữ tình đa cảm, yêu đời, khát  
khao giàu nữ tính… i l i diễn đạt bình dân, t u táo, hóm h nh, tinh ngh ch, phù h p v  
phong cách thơ của bà, đã đem đến cho người đọc những liên tưởng b  
t ng , thú v  
Nguy n Công Tr nhà thơ điển hình c a sự chơi, muốn s ng t do, phá khuôn  
, nhi u ham mu n và s ng h t mình, không chịu được s ki m to a Nho giáo,  
ể
n thành một dòng” với đội ngũ sáng tác đông đảo. Không ph  
ả
i chỉ thơ trào phúng,  
s
ự trào phúng” đó hẳn là sự chơi, cách chơi, phương diện chơi… tất c  
ả
ế
ắ ể ế ữ  
n, ti u thuy t nh ng th  
k
ở
r
ố
ộ
.
“Thơ rượu, thơ tình, thơ  
ng c a chúng ta, tr thành  
loại văn c và  
c
ỏ
r
ộ
ộ
ủ
ở
họ  
m
ộ
ầ
ủ
ộ
ố
ể
đánh giá đúng vai trò của thơ chơi trong cuộc s  
Ngay trong kho tàng ca dao dân ca Vi  
i là hiếm, ví như bài: Cô kia c t c  
chài nó tr quan hai/ Thưa  
ca này trước h  
ố
ệ
ấy loại “thơ chơi” không  
ph  
ả
ꢀ
ỏ
ộ
ề
n
ả
r
ằ
ẽ
r
ấ
ời  
ế
ỉ
ắ
l
ẻ
ề
ả
u
ự
ồ
ộ
ạ
ắ
ị
“
H
/
ờ
ộ
ủ
ấ
ộ
ồ
ự
h
b
ắ
ệ
ộ
ệ
ộ
ứ
ả
ữ
-
ả
ꢁà Chúa thơ Nôm  
nh d t c i, Cảnh đánh đu ngày Tết, cảnh tát nước ban đêm…  
t suốt đâm ngang thích  
n th a (V nh  
-
“thơ chơi”  
của bà tài hoa vô cùng, những  
ả
ậ
t
ꢂ
ử
ộ
ꢂ
ử
ế
ẫ
ừ
ị
ạ
ế
ự
t
ế
ề
ặ
ố
ả
ụ
lợ  
ị
ả
m
ộ
ộ
Vớ  
ố
ế
ỉ
ị
ợ
ới  
ấ
ờ
ị
.
ễ
ứ
-
ủ
ố
ự
kh  
ổ
ề
ố
ố
ế
ự
ề
ả
củ  
6
T
Ạ
P CHÍ KHOA H  
Ọ
C
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - S  
Ố
42.2018  
s
ống theo “tài” và “tình” tức là theo cá nhân. Ông muốn làm “cây thông đứng gi  
mà reo” theo cách của mình. Nguy  
n Công Tr c lộ chí khí, tài năng của mình m  
u khí c ng c i, ngang tàng: Vòng trời đất d  
gi vay/ Chí làm trai Nam B ông Tây/ Cho tho  
a Nguy n Công Tr trong b  
ảnh văn học, văn hóa rộng hơn, ta sẽ thấy thái độ đề cao thú chơi  
a ông có m  
c k , ph c lễ” khô cứng và h  
ng sân Trình luôn đề cao, ca ngợi người quân tử, đề cao đạo đức cao  
thượng thì thơ Nguy n Công Tr không nh ng giống đạo thánh hi n mà còn xem cu  
đời như một cuộc chơi, đằng sau ngôn ng  
mang hình thức nhà nho kia, ông đã gửi g  
vào nh ng ý th c cá nhân mang quan ni m nhân sinh tích cực: “Chơi cho lịch s i là  
hay/ chơi cho đài các, cho người biết tay” (C m kì thi t u). Tập thơ “Hành l  
” để  
“Chơi”. Chữ “Chơi” cần ph i hi u là cuộc chơi, vui chơi, mang đầy màu s c h i hè, ch  
không hi u theo lối chơi dung tục, trác táng. Rõ ràng hiểu “chơi” theo cách tích cực để  
thoát kh i l giáo ràng bu c m t cách chán ngắt, nhưng không phải là sa đọa, hư hỏng.  
Thơ ông thể hi  
n ngay cách s ng của ông đại di n tiêu bi u c a xu hướng thơ chơi, đòi  
i m t s làm ch ản thân cao độ, hun đức ý chí t nh táo. Ngay trong cái tỉnh táo đã có  
chất chơi, ngay trong cái tỉnh táo đã có cái say mê, thậm chí ngông cuồng nhưng lại là s  
thanh th n, nhẹ nhàng, cười cợt đối v i cuộc chơi.  
Cao Bá Quát cũng là một “tay chơi”, có cái nhìn phóng khoáng với văn chương và  
ngay chính cuộc đời trước ràng bu c c a l giáo phong kiến gò bó. Điều đó tạo nên m  
“Thần Quát” thoát ly hoàn toàn bởi “kinh bang tế thế”, thay vào đó là cái mới m  
, cái  
độc đáo trong văn chương. Ngay từ th i của ông, ông đã “xu t ngoại”, ở Jakarta ông  
nh n rõ v giá trị “gi i trí  
ủa văn chương. Một con người giỏi Hán văn đến độ “Văn  
như Siêu Quát”, nhưng n g p những bài thơ Nôm diễn đạt câu ch thánh hi n cao  
ngạo, nhưng ý tứ thì lãng tử, bông lơn, đời thường hơn bất c khi nào: “Nằm kh nh  
ngâm thơ cho vợ ng / Ng i rù uống rượu với con chơi”(May rủi). Gần chúng ta hơn nữ  
là Tú Xương - một nhà thơ trào phúng n i tiếng, nhưng thú ăn chơi thì rõ nét hơn bất c  
Ông t trào mình là “thổ đĩ lại chơi lường” t uy - mua. Đến Tản Đà chúng ta bắt g  
ữ
a tr  
ờ
i
ễ
ẩ
ứ
b
ộ
ỏ
ộ
t
cách không che d  
ngang d c/ N tang b  
y vùng trong b  
ấ
u, ông nói v  
ớ
i kh  
ả
ứ
ọc ngang  
ọ
ợ
ồ
ng vay gi  
ả
ꢀ
c
ễ
Đ
ả
i
s
c
ứ
c v  
ẫ
ố
n bể (Chí nam nhi). Đặt sáng tác c  
ủ
ứ
ố
c
ủ
ộ
t ý  
nghĩa tích cực, vượt lên cái vòng kim cô “kh  
như đạo c  
a Kh  
ắ
ỉ
ụ
ẹp hòi. Nếu  
ử
ổ
ễ
ứ
ữ
ề
ộc  
ắ
m
ữ
ữ
ứ
ệ
ự
mớ  
ạ
c
ầ
ử
ả
ể
ắ
ộ
ứ
ể
ỏ
ễ
ộ
ộ
ệ
ố
ệ
ể
ủ
h
ỏ
ộ
ự
ủ
b
ỉ
ự
ả
ớ
ộ
ủ
ễ
ột  
ẻ
ờ
ấ
ậ
ề
ả
”
c
v
ẫ
ặ
ữ
ề
ứ
ể
ủ
ồ
a
ổ
ứ.  
ự
r
ấ
ặ
p
rõ sự “hiện đại” trong cuộc chơi bởi ngay trong bài “Chơi xuân kẻo hết xuân đi”, ông vộ  
i
vã, giục giã: “Chơi đi thôi/ Chơi mau đi thôi/ Cho tr  
quấn ngược/ K o cái già x ng x c nó thì theo sau”. Rõ ràng trong bài thơ chúng ta nhậ  
c giã táo b o của thi sĩ với c thi li u l n c u t t m i: S  
, phải chơi, được th hi n ngay  
ời thơ tự do. Ông đã trút khỏi thơ cái áo trang  
o của người quân t . B n thân Tản Đà đã từng vi  
“có văn  
ột cái “tôi” tài hoa, có bản lĩnh, có nhân cách trong sáng,  
cái “ngông”, cái ngạo nghễ, phi thường và chất chơi trước th  
i cu c. Xét v  
phương diện tư duy sáng tạo ngh thu t, thì vấn đề khẳng định cái “tôi”, cái bản ngã cá  
nhân, con người đến lúc t  
ý th c v mình, v thân phận mình, đó là bước m i n  
không nói đó là đột phá trong thơ ca cổ điển Vi  
ố
ng th  
ủ
ng/ Cho chiêng long/ Cho c  
ờ
ẻ
ồ
ộ
n
th  
th  
ấ
ụ
y s  
ự
gi  
ụ
ạ
ả
ệ
ẫ
ấ
ứ
r
ấ
ớ
ống là phải hưởng  
ể
ệ
ở
l
nghiêm, cái mặc định đạo m  
có ích, có văn chơi” c l  
th hi  
ạ
m
ử
ả
ế
t
b
ộ
ộ
ể
ệ
n
ờ
ộ
ề
ệ
ậ
ự
ứ
ề
ề
ớ
ế
u
ệ
t Nam. Loại thơ chơi của m  
ột số nhà thơ  
7
T
Ạ
P CHÍ KHOA H  
Ọ
C
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - S  
Ố
42.2018  
như đã nói ở trên th  
ồn nhiên. Thơ ca cổ điển truy  
tích, sách v kinh vi n, thế nhưng  
trong tâm hồn nhà thơ. Đóng góp có ý nghĩa của mảng thơ chơi đối v  
động, phát tri n của thơ ca Việt Nam chính là chỗ: bước đầu khẳng định v  
“tôi” hình tượng trung tâm của thơ trữ tình. V  
i Tản Đà, nhiều nhà nghiên cứu đều có  
tiếng nói chung, đồng thu n khẳng định: Tản Đà là nhà thơ lớn đầu th ỉ XX đã gióng  
lên khúc nh c dạo đầu báo hi u sự đổi mới tư duy thơ Việt Nam, đến lượt các nhà thơ  
i sau này là những người th nghiệm thành công. Đó là một bước phát tri n m i c  
tư duy hình tượng. Thơ từ ch  
làm theo khuôn m u cố định, tuân th nghiêm ng t theo  
lu t l ủa Đường thi (vần, đối, niêm, luật…) đến ch phóng túng, tự nhiên, đáp ứng yêu  
u c a vi c th hi n tình c m chân th t của nhà thơ. Những cái gì là sáo r ng, khuôn  
u, khô cứng và nhàm chán đều d n d n b lo i bỏ và được thay b ng l i diễn đạt t  
nhiên, bình d . T nhà nho, ra thành th trở thành người tiểu tư sản nghèo, tr thành nhà  
văn, viết văn để ki m sống. Hơn ai hết Tản Đà đã ý thức được mình là người có tài và  
mu n thi th  
ới đời b  
xưa nay vốn v n nghèo/ ꢀán văn buôn chữ ki  
vă  
/ Thân th xem thua chú hát chèo”(Lo văn ế).  
2.2. Thơ chơi và chơi thơ  
Chưa bao giờ loại thơ vui, thơ giải trí hay còn gọi là thơ chơi lại “lên ngôi” như bây  
giờ, phong phú và đa dạng c th lo i và hình th c.  
Thơ chơi thơ vui là loại thơ mang tính ch  
t dân gian, tính trào l  
Loại thơ vui, thơ chơi mà chúng tôi muốn nói t ở đây là những bài thơ mang tính trào lộng,  
ự trào, bông đùa, gi  
u nhại như kiểu “mô phỏng” những bài thơ nổi tiếng để “ chơi”, để  
bông đùa: u bi t r ng em s p l y ch ng/ Anh v t v t nh ch lông/ Tiết canh làm đượ  
vài ba đĩa/ Mượn rượu cho nguôi vết thương lòng/  
u bi t rằng em đã lấy ch ng/ D i gì mà  
nghĩ “thế là xong”/ Email cứ vi t, phone c ọi/ Cꢂng có ngày em… li dị ch ng [4; tr.590].  
ạo, thơ chơi như vậy là ch  
Loại thơ n t xúc tác làm cho cu c vui thêm ph n rôm r , thi v  
Tuy nhiên, thơ chơi cũng có nhiều d ng, nhi u lo i, nhi u cấp độ khác nhau: Kiểu chơi  
mang tính dân gian truy n mi ng theo m t mô-tip như dạng: “Anh đi…”, ho hoan  
hô…”; kiểu thơ chơi có tên tác giả như: Bút Tre, Phùng Quán, Hữu Ước sau này.  
Chơi thơ  
i là m t hoạt động nh m cho vui ch không nh m m t mục đích nào cả  
Chơi thơ được hi u là m t hoạt động tự do, vui chơi, tiêu khiển. Chơi được định nghĩa như  
là sự đối l p v i th c t i, v i cái nghiêm trọng, nghiêm túc. “Sự chơi” m thời đưa con  
người ta bước ra kh i quỹ đạo c a cuộc đời thường nh t v i nh ng gi i h n không - th  
u của nó, để thâm nh p vào m t th gi i khác v trong mà  
trị tương đối (có không gian - th i gian riêng, có  
ự chu du, thưởng ngo  
n, bi u l tâm  
i cảm xúc, tưởng tượng, m ra không gian, th i gian, quên  
ự
c ch  
ấ
t
đã vượt xa thơ ca cổ điển truy  
n th ng là loại thơ “phi ngã”, thật uyên bác, nhiều điể  
i không có s chân thành hồn nhiên như nó vốn có  
i quá trình v  
trí c a cái  
ề ố ự  
n th ng ở phương diện t do,  
h
ề
ố
ạ
n
ở
ệ
l
ự
ớ
ậ
n
ể
ở
ị
ủ
-
ớ
ậ
ế
k
ạ
ệ
m
ớ
ể
ể
ớ
ủa  
ỗ
ẫ
ủ
ặ
ậ
ệ
ủ
c
ỗ
c
ầ
ệ
ể
ệ
ả
ậ
ỗ
m
ẫ
ầ
ầ
ị
ạ
ằ
ố
ự
ị
ừ
ị
ở
ế
ố
ố
v
ẫ
ế
ằ
ng chính cái tài c  
ủ
a mình, mu  
ố
n làm nên s  
ự
nghi  
ệ
p lớn: “Nhà t  
ớ
ế
m ti n tiêu/ Quanh năm luống nh  
ề
ữ
ng lo  
n
ế
ả
về  
ể
ạ
ứ
-
ấ
ộ
ng, tính khôi hài.  
ới  
t
ễ
Nế  
ế
ằ
ꢁ
ấ
ồ
ề
bꢁ  
ị
ổ
sạ  
c
N
ế
ế
ồ
ạ
ế
ứ
g
ồ
h
ấ
ộ
ầ
ả
ị
.
ạ
ề
ạ
ề
ề
ệ
ộ
ặ
c
“
l
ạ
ộ
ộ
ạ
ằ
ứ
ằ
ộ
.
ể
ậ
ớ
ự
ỏ
ớ
t
ạ
ủ
ậ
ớ
ữ
ớ
ạ
ời  
gian, nh  
cũng vừ  
nh  
thái t  
ữ
a
ậ
ng quy lu  
ngoài th  
t l  
do, t  
ậ
t, t  
ấ
t y  
ế
ậ
ộ
ế
ớ
ừ
a
ở
ở
ự
c t  
ại, mang tính t  
ự
ờ
ữ
ng lu  
ự
ệ
riêng). Chữ “chơi” ở đây bao hàm cả  
do s ng v i th gi  
s
ạ
ể
ộ
ự
ố
ớ
ế
ớ
ở
ờ
8
T
Ạ
P CHÍ KHOA H  
Ọ
C
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - S  
Ố
42.2018  
đi thực tại, được s  
hàm “thơ chơi”, nhiều tác ph  
mà ch nh m gi i tỏa tâm lí, chơi bời bay bổng, đối v  
giống như các thú vui khác như: chơi tem, chơi cây cảnh, chơi hoa lan… Chơi gì phụ  
ố
ng trong th  
ế
gi  
ớ
i bay b  
ổ
ng. Khái niệm “chơi thơ” mang nội dung bao  
vi t ra không nhằm lưu tên mình trong sử sách,  
i h ch là ni m say mê, chơi chữ  
ẩ
m khi tác gi  
ả
ế
ỉ
ằ
ả
ớ
ọ
ỉ
ề
thu  
lo i có s  
Giữa “thơ chơi” và “chơi thơ” có mối quan hệ bao hàm nhau, “chơi thơ” là từ ng  
ộ
c s  
ở
ự
thích riêng c  
ủ
a mỗi người, trong đó chúng tôi quan niệm, “chơi thơ” là ti  
ể
u th  
ể
ạ
pha tr n gi  
ộ
ữ
a ch t trào phúng và ch t tr tình.  
ấ
ấ
ữ
ữ
nghĩa rộng, bao hàm t  
ừ
ấ ứ  
ngữ nghĩa hẹp “thơ chơi”, trong nội hàm y ch a ngữ nghĩa, ngữ  
pháp và tư duy thơ.  
2.3. Sự kết hợp giữa yếu tố trữ tình và yếu tố trào lộng  
Thơ (t  
i
ế
ạ
ng Pháp: Poesie) - hình thức sáng tác văn học ph  
ng, nh ng xúc c m m nh m ng ngôn ng hàm súc, giàu hình  
ng viết: “Thơ là một hình thái ngh thuật cao quý, tinh vi. Người làm  
m mãnh li t th hi n s ồng cháy trong lòng. Nhưng thơ là tác phẩ  
t cách nhu n nhuy n và có ngh thu t. Tình c m và lý trí ấy được di  
ng hoạt động đẹp đẽ qua nh ng lời thơ trong sáng vang lên nhạc điꢃu khác  
thường” [2; tr.310]. Thơ thiên về bi u hi n cảm xúc, hàm súc, cô đọng, ngôn ng  
điệu là đặc trưng cơ bản của thơ, phân biệt v ự như truyện, ký, ti  
i các th lo i t  
thuy t, kịch… Trào lộng, cười c t, tiếng cười: “ t trong những cơ chế tâm lý ch u t  
nên ti ng cười là m i k t h p gi n c ng v i s giá, giáng c  
chơi có điểm g p g , giao thoa v loại văn học; Thơ chơi vừa là thơ trữ, l  
vượt kh  
ả
n
ả
nh cu  
ộ
c s  
ố
ng, th  
ể
ệ
hi n  
nh  
ữ
ng tâm tr  
ữ
ả
ạ
ẽ
b
ằ
ữ
ảnh và có  
nhịp điệu: Sóng H  
thơ phải có tình c  
và lí trí k t h p m  
đạt b  
ng nh  
ồ
ả
ộ
ꢃ
ꢃ
ể
ꢃ
ễ
ự
n
m
ễn  
ế
ợ
ầ
ꢃ
ậ
ả
ằ
ữ
ữ
ể
ệ
ữ
có nh  
ị
ể
ạ
p
u
o
ớ
M
ẫ
ể
ạ
ự
s
ế
ợ
ữ
ớ
ộ
ủ
y
ế
ế
ố
ế
ợ
a s  
ự
mâu thu  
t s th  
ộ
ớ
ự
h
ạ
ấ
p
”
[3]. Thơ  
i v  
t là  
ặ
ỡ
i mộ  
ố
ể
ạ
ừa  
ỏ
i phạm vi thơ trữ tình thông thường, theo tôi - cái khác biệt cơ bản trước h  
m về đối tượng ph n ánh c a tác ph ”. Thơ trữ tình thu n túy coi th gi i n  
m xúc, tâm tr ng, ti ng nói của trái tim là đối tượng ph n ánh ch u. Còn tác gi  
u nhằm vào đối tượng và khái quát lên m  
i thiêng. S khác bi t th hai, ó là quan ni m về đối tượng thưởng thức. Thơ  
trữ tình đến với người đọc b i những “rung động”, “đồng cảm”, “đồng điệu” nhằm đượ  
giãi bày, chia s i gắm tâm tư, tình cảm, cảm xúc thì đối tượng của thơ chơi phức t  
hơn, trước h  
cái nhìn s c s  
u là nh ng kẻ “bất đồng”: về quan ni  
đạo đức, l  
i s  
Thơ chơi  
trước những điều x  
Nguy n Công Trứ đến Tản Đà dưới góc nhìn tư duy nghệ thuật, đặc bi  
a Nguy n Công Tr , Cao Bá Quát, Tú Xương, Tản Đà… Chúng tôi quan niệm: thơ chơi  
bao hàm nhi u cung b c khác nhau c a sự chơi, làm thơ chơi nhằm ph n kháng, phúng  
thích chính tr xã hội cho đến mục đích gi i trí, giải thoát năng lượng ho c ch ng t  
do v tinh th n, t ự chơi “đậm chất chơi” đến c  
ế
“quan ni  
ꢃ
ả
ủ
ẩm  
ầ
ế
ớ
ội  
tâm, c  
ả
ạ
ế
ả
ủ
y
ế
ả
thơ chơi - ch  
gi i trí, gi  
ủ
yế  
ột vấn đề mang ý nghĩa chơi vui,  
ả
ả
ự
ệ
ứ
đ
ệ
ở
c
ẻ
g
ử
ạ
p
ế
t viết cho người “đồng minh” để cùng nhìn nhận, đánh giá, tán thưởng vào  
ắ
ả
o, thông minh, hóm h  
ỉ
nh; m  
ặ
t khác vi  
ế
t cho tiếng cười v  
ớ
i
đối tượng chủ  
yế  
ữ
ệm s  
ống, quan niệm thẩm mĩ, chí hướng, tư cách  
ố
ố
ng, thói quen sinh hoạt đời thường…  
u xét trong m t ph m vi h p, chứa đựng thái độ, quan điểm ph  
u xa, trêu gh o, tếu táo cho vui. Căn cứ trên th c tế thơ chơi từ  
t trong các sáng tác  
n
ế
ộ
ạ
ẹ
ản kháng  
ấ
ẹ
ự
ễ
ệ
c
ủ
ễ
ứ
ề
ậ
ủ
ả
ị
ả
ặ
ứ
ỏ
s
ự
t
ự
ề
ầ
ừ
s
ả
những thú chơi hơn đời, hơn người,  
9
T
Ạ
P CHÍ KHOA H  
Ọ
C
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - S  
Ố
42.2018  
ngông nghênh, ng  
ng như trên, có thể đưa ra các tiêu chí nhận diện cơ bản về thơ chơi trên 3 phương diện:  
Th nh t, thơ chơi có ý nghĩa vui chơi, gi i trí, giải thoát con người kh i tr ng thái trang  
nghiêm, quan phương thông thường. Th  
hai, tiếng cười được b c l qua các k thu t gây  
cười khác nhau, mà trong đó nổi b t là k n biến đổi m t cách sáng t o, b  
tương quan tỉ  
ng i quan h gi a các ch y t hi n thực đời s ng, nói cách  
khác là k thuật “đắp m c bật cười khoái trá  
i v n phát hiện được đối tượng “giấu” đằng sau cái “mặt nạ” méo mó, kỳ quặc tưởng  
như không thể nhận ra nhưng ở  
chơi, các kỹ thuật chơi thơ luôn gắn li  
chữ, phóng đại (ngoa d ), nói m a, vật hóa…  
ạ ễ ệ ệ ỗ ữ  
o ngh hi n di n trên m i câu ch . Với định nghĩa, tính chất “thơ chơi”  
r
ộ
ứ
ấ
ả
ỏ
ạ
ứ
ộ
ộ
ỹ
ậ
ậ
ệ
ỹ
thu  
ậ
t nhào n  
ặ
ấ
ộ
ạ
ất  
ờ
m
ố
ệ
-
l
ữ
ấ
t li u l  
ệ
ừ
ệ
ố
ỹ
ặt nạ” cho đối tượng khiến người thưởng thứ  
b
ở
ẫ
m
ức độ nhẹ nhàng hơn trào phúng. Th  
ứ
ệ
ba, đối với thơ  
thuật như: chơi  
ề
n v i các th pháp ngôn ng ngh  
ớ
ủ
ữ
ụ
ỉ
3. K  
Nhìn từ góc độ lý lu  
“cái bi” trong tác phẩm văn học là m  
n cho tác ph m, tạo ra đỉnh cao các trạng thái: cái cũ, cái mới l  
nhau mà nâng đỡ nhau cùng l n m nh, cái bi n sâu làm thi v , m  
chơi trong sự thưởng th  
c c a công chúng. Từ góc độ tư duy nghệ thu  
hi u, nghiên cứu thơ chơi như một ti u th loại. Thơ chơi ở đây không chỉ là s  
thu n, mua vui mà tính chất “chơi” thể hi  
ở góc độ đứng cao hơn đời, cao hơn người để  
ắm được quy lu t bi n thiên c a cu c s ng, vận hành “cỗ máy nhân sinh” hướng đế  
chân - thi n - mĩ.  
Ế Ậ  
T LU N  
ậ
n và m  
ĩ
h
ố
ọ
c có th  
ể
ệ
th  
ấ
y r  
ằ
ng: m  
t nhân qu  
n l  
nh mẽ hơn cái hài, cái  
t, chúng tôi tìm  
giải trí đơn  
ố
i quan h  
ệ
ạ
giữa “cái hài” và  
o nên giá tr nhân  
ẫ
n, không tiêu di t l n  
i quan h  
có tính ch  
ấ
ả
t
ị
b
ả
ẩ
ẫ
ộ
ệ
ớ
ạ
ẩ
ị
ạ
ứ
ủ
ậ
ể
ể
ể
ự
ầ
ệ
n
n
ậ
ế
ủ
ộ
ố
n
ệ
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] I U.Bôrép (1978), Những phạm trꢄ mĩ học cơ bản (Hoàng Xuân Nhị dịch),  
Trường Đại học Tổng Hợp xuất bản.  
[2] Đỗ Đức Hiểu (Chủ biên) (2004), Từ điển văn học, Nxb. Thế giới, Hà Nội.  
[3] Trần Thị Hoa Lê (2007), Thơ trào phúng Viꢃt Nam nửa sau thế kỉ XIX - Nửa  
đầu thế kỉ XX ( Diꢃn mạo và đặc điểm), Luận án Tiến sĩ Trường Đại học Sư  
phạm Hà Nội, Hà Nội.  
[4] Nguyễn Bá Thành (2011), Tư duy thơ Viꢃt Nam hiꢃn đại, Nxb. Đại học Quốc gia  
Hà Nội, Hà Nội.  
[5] Trần Ngọc Vương (2008), Loại hình học tác giả văn học nhà nho tài tử và văn  
học Viꢃt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.  
[6] Trần Ngọc Vương (1999), Văn học Viꢃt Nam dòng riêng giữa nguồn chung, Nxb.  
Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.  
[7] Trần Ngọc Vương (2015), Văn học Viꢃt Nam thế kỉ X đến thế kỉ XIX (những vấn  
đề lý luận và lịch sử), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.  
10  
T
Ạ
P CHÍ KHOA H  
Ọ
C
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - S  
Ố
42.2018  
“PLAY POEMS” - FROM NGUYEN CONG TRU  
TO TAN DA - A POETIC SUBGENRE  
Le Thi Dung  
ABSTRACT  
“Play poetry” is an interesting phenomenon in the flow of Vietnamese literature not  
only today but precursors from traditional literature. It was especially developed from the  
literary period of the late eighteenth century to the end of the nineteenth century, till early  
twentieth century by several authors. This period originated from an arrogant Nguyen  
Cong Tru, a genius Cao Ba Quat, a talented and amorous Tan Da. They not only limited  
themselves within satires, ironies, epigram but they were also "sophisticated poetic  
players" who brought about a distinctive tone, a literary “subgenre”  
Keywords: Play poetry, reading, Nguyen Cong Tru’s play poetry, Tan Da’s play  
poetry.  
.
11  
pdf 7 trang Mãnh Khiết 13/01/2024 9240 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thơ chơi - Từ Nguyễn Công Trứ đến tản đà dưới góc nhìn tư duy thơ như là một tiểu thể loại", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftho_choi_tu_nguyen_cong_tru_den_tan_da_duoi_goc_nhin_tu_duy.pdf