Hệ thống hóa, đánh giá các nghiên cứu về dân tộc và công tác dân tộc từ năm 1986 đến nay
Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
HỆ THỐNG HÓA, ĐÁNH GIÁ CÁC NGHIÊN CỨU VỀ DÂN TỘC
VÀ CÔNG TÁC DÂN TỘC TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY*
Trần Trung(1)
ệ thống hoá, đánh giá các nghiên cứu về dân tộc và công tác dân tộc là một trong những nội
Hdung nghiên cứu quan trọng, nhằm cung cấp luận cứ khoa học định hướng cho nhiệm vụ
nghiên cứu lý luận và thực tiễn thực hiện công tác dân tộc, chính sách dân tộc trong các giai đoạn
cách mạng. Bài viết khái quát những kết quả nghiên cứu của Đề tài khoa học cấp quốc gia “Hệ thống
hoá, đánh giá các nghiên cứu về dân tộc và công tác dân tộc ở Việt Nam từ 1986 đến nay”, mã số
CTDT.02.16/16-20, với các nội dung cụ thể là tổng hợp các kết quả nghiên cứu về dân tộc và công tác
dân tộc ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay, đánh giá những kết quả của các công trình nghiên cứu đã có,
từ đó phát hiện khoảng trống trong nghiên cứu để đề xuất những vấn đề cơ bản, cấp bách về dân tộc và
công tác dân tộc cần được quan tâm nghiên cứu, triển khai trong giai đoạn tới, đồng thời đề xuất định
hướng và các giải pháp thực hiện công tác dân tộc giai đoạn 2018- 2025 và tầm nhìn đến năm 2030.
Từ khoá: Hệ thống hoá, đánh giá; Các nghiên cứu về dân tộc; Công tác dân tộc; Khoảng trống
trong nghiên cứu; Các giải pháp thực hiện công tác dân tộc.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
nhau và đạt được những kết quả quan trọng trong
nghiên cứu. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã
đạt được, các công trình nghiên cứu cũng không
tránh khỏi những tồn tại, hạn chế cả về nội dung,
phương pháp và mức độ tác động đến hoạt động
quản lý nhà nước về công tác dân tộc và đꢀi sống
đồng bào DTTS.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn
quan tâm, lãnh, chỉ đạo thực hiện công tác dân tộc, đề
ra nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã
hội vùng dân tộc và miền núi. Hoạt động quản lý nhà
nước về công tác dân tộc có nhiều chuyển biến tích
cực, mô hình và hệ thống quản lý nhà nước về công
tác dân tộc cũng từng bước được hoàn thiện, nội
dung và phương thức công tác dân tộc có nhiều đổi
mới; công tác tuyên truyền vận động quần chúng, nội
dung và phương pháp dân vận ở vùng dân tộc thiểu
số cũng có nhiều khởi sắc; chất lượng, hiệu quả hoạt
động của hệ thống chính trị, hệ thống chính trị cơ sở
và việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở vùng dân
tộc thiểu số từng bước được nâng cao; công tác hợp
tác quốc tế về công tác dân tộc ngày càng được quan
tâm. Nhꢀ đó, vùng dân tộc thiểu số và đꢀi sống của
đồng bào các dân tộc thiểu số có nhiều chuyển biến
tích cực. Hệ thống kết cấu hạ tầng được cải thiện; cơ
cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng
hóa; tꢁ lệ hộ nghꢂo giảm dần, dịch vꢃ giáo dꢃc, y tế
được mở rộng, an ninh - quốc phꢄng vùng biên được
đảm bảo...
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã
có các chủ trương, chính sách rất đúng đắn và kịp
thꢀi nghiên cứu về vấn đề dân tộc làm cơ sở cho
hoạch định và thực hiện các chính sách đối với các
dân tộc thiểu số và công tác dân tộc. Đặc biệt, thành
tựu về công tác dân tộc và phát triển dân tộc thiểu
số ở nước ra trong 30 năm đổi mới đất nước đã được
ghi nhận với nhiều nỗ lực lớn của hệ thống chính trị,
các cấp, các ngành và đồng bào các dân tộc thiểu
số. Tuy nhiên, đối với những vấn đề dân tộc và việc
triển khai thực hiện các chính sách dân tộc cũng
đang cꢄn nhiều vấn đề đặt ra, nhất là xác định trọng
tâm của chính sách và công tác dân tộc đối với các
dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập; các
vấn đề về tộc ngưꢀi và công tác dân tộc đang đặt
ra nhiều thách thức mới rất cần những nghiên cứu
mang tính hệ thống, đánh giá, tổng kết về lý luận và
thực tiễn. Đặc biệt, nhu cầu này càng trở nên có ý
nghĩa khi đặt trong bối cảnh Chỉ thị số 28/CT-TTg
Tuy nhiên, việc thực hiện công tác dân tộc cꢄn
nhiều bất cập. Những tồn tại, hạn chế trong công tác
dân tộc từ Trung ương đến địa phương đã và đang
ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình tổ chức thực hiện ngày 10 tháng 09 năm 2014 của Thủ tướng Chính
công tác dân tộc và đꢀi sống của đồng bào các dân phủ về nâng cao năng lực hiệu lực, hiệu quả quản lý
tộc thiểu số.
nhà nước về công tác dân tộc.
Cùng với quá trình thực hiện công tác dân
Để góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
và thực tiễn về công tác dân tộc, đáp ứng yêu cầu
nhiệm vꢃ trong tình hình mới, cần phải thực hiện
một nghiên cứu mang tính hệ thống, đánh giá cả lý
luận và thực tiễn các nghiên cứu về dân tộc và công
tộc, nhiều nhà quản lý, nhà khoa học đã quan tâm
nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và thực
tiễn về dân tộc và công tác dân tộc. Các công trình
nghiên cứu đã tiếp cận dưới nhiều góc độ khác
Ngày nhận bài: 14/8/2018; Ngày phản biện: 20/8/2018; Ngày duyệt đăng: 25/8/2018
(1) Học viện Dân tộc; e-mail: [email protected]
1
Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
2.1.1. Hệ thống hoá, đánh giá các nghiên cứu
về kinh tế và môi trường tộc người
tác dân tộc ở Việt Nam từ 1986 đến nay.
2. HỆ THỐNG HÓA, ĐÁNH GIÁ CÁC
NGHIÊN CỨU VỀ DÂN TỘC VÀ CÔNG TÁC
DÂN TỘC TỪ 1986 ĐẾN NAY
Từ hệ thống hóa hơn 2.000 tài liệu nghiên cứu về
tộc ngưꢀi, kết quả hệ thống hóa, tập hợp các nghiên
cứu về kinh tế, môi trưꢀng tộc ngưꢀi từ năm 1986
đến nay có 57 công trình. Trong đó có: 22 nghiên
cứu sinh kế tộc ngưꢀi, 6 nghiên cứu tri thức tộc
ngưꢀi, 15 nghiên cứu về đất đai, lao động, việc làm,
chuyển đổi nghề nghiệp, 3 nghiên cứu về chuyển
đổi cơ cấu kinh tế, phát triển hạ tầng cơ sở và 11
nghiên cứu về đói nghꢂo, thu nhập và mức sống:
a. Các nghiên cứu sinh kế tộc người đã làm sáng
tỏ bức tranh sinh kế của 53 tộc người thiểu số, đặc
biệt, tập trung làm rõ hai nội dung then chốt là đặc
điểm các hoạt động sinh kế truyền thống và thực
trạng biến đổi từ sau đổi mới. Trong đó, sinh kế
truyền thống, các hoạt động sinh kế sản xuất, trồng
trọt luôn giữ vai trꢃ là hoạt động chủ đạo, các hoạt
động cꢃn lại chỉ có vai trꢃ phꢁ trợ, bổ trợ.
Các nghiên cứu về dân tộc và công tác dân tộc
từ năm 1986 đến nay rất đa dạng về loại hình và
rất nhiều về số lượng. Trong nghiên cứu này, chúng
tôi chủ yếu tập trung hệ thống hóa, đánh giá các
nghiên cứu về dân tộc và công tác dân tộc, từ năm
1986 đến nay dựa vào ba loại hình tài liệu: 1. Các
công trình sách chuyên khảo; 2. Các báo cáo kết
quả nghiên cứu của các đề tài, dự án, đề án, chương
trình nghiên cứu cấp nhà nước, cấp bộ; 3. Các luận
án tiến sĩ nghiên cứu về công tác dân tộc từ 1986
đến nay. Các bài tạp chí khoa học là những nghiên
cứu đáng chú ý, nhưng phần nhiều lại là các bài
công bố các nghiên cứu về dân tộc và công tác dân
tộc từ các đề tài, dự án cấp Bộ, cấp Nhà nước, hơn
nữa số lượng quá nhiều, nên chúng tôi chỉ lựa chọn
những bài viết tiêu biểu.
b. Các nghiên cứu về đất đai, lao động và việc
làm, nghề nghiệp. Đây là vấn đề/khía cạnh mới
của kinh tế tộc ngưꢀi, nhất là vấn đề đất đai, xuất
hiện trong đổi mới nhưng bức xúc, nổi cộm, thu hút
giới nghiên cứu nên số lượng nghiên cứu thu thập
được nhiều hơn nghiên cứu tri thức địa phương.
Theo thống kê có 15/57 nghiên cứu, chiếm trên
25% tổng số nghiên cứu. Các nghiên cứu đã làm
sáng tỏ những mâu thuẫn mới nảy sinh nhưng ngày
càng nóng bỏng trong quản lý và sử dꢁng đất rừng
ở vùng dân tộc và miền núi dưới tác động của kinh
tế thị trưꢀng và đổi mới. Điểm cốt lõi để giải quyết
vấn đề đất đai ở vùng dân tộc, miền núi là chính
sách dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc trong
việc khẳng định quyền của ngưꢀi dân trên mảnh
đất họ đang sinh sống, thực hiện dân cày có ruộng,
nông dân có đất sản xuất1.
c. Các nghiên cứu về chuyển đổi cơ cấu kinh tế
và phát triển hạ tầng cơ sở. Có 3/57 nghiên cứu,
chiếm 5 % tổng số nghiên cứu. Do kết quả của thực
hiện chính sách dân tộc nói riêng và do phát triển
kinh tế xã hội nói chung, kết cấu hạ tầng công cộng
ở các dân tộc thiểu số từng bước được xây dựng,
đến thꢀi điểm nghiên cứu đã đạt thành tựu to lớn
hơn tất cả các thꢀi kỳ trước cộng lại, thể hiện ở kết
quả định tính là phần lớn các xã, các thôn làng đều
có cơ sở vật chất hạ tầng kiên cố hoặc bán kiên cố
như điện, đưꢀng giao thông, trạm y tế, trưꢀng học,
chợ, nhà văn hóa, sân thể thao, nhiều nơi đã có công
trình thủy lợi kiên cố. Tuy nhiên, hạ tầng cơ sở cꢃn
thấp kém so với ngưꢀi Kinh và so với cả nước ở các
thôn làng vùng sâu, vùng xa.
Đồng thꢀi, tiến hành hệ thống hóa, đánh giá các
nghiên cứu về dân tộc và công tác dân tộc, theo các
nội dung: (i) Hệ thống các công trình nghiên cứu
theo các vấn đề từ 1986 đến nay; (ii) Đánh giá mức
độ thành công/đóng góp của công trình cả về mặt
lý luận và cơ sở khoa học nhằm áp dꢁng trong thực
tiễn phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá, đꢀi sống
chính trị,… của tộc ngưꢀi và vùng dân tộc thiểu
số; (iii) Xác định những khoảng trống/vấn đề đặt ra
trong nghiên cứu về tộc ngưꢀi và công tác dân tộc
trên các lĩnh vực; (iv) Chắt lọc những đề xuất, đóng
góp từ các công trình nghiên cứu đã có, xây dựng
luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách
dân tộc giai đoạn 2017- 2020 và tầm nhìn 2030.
Kết quả thu thập các nghiên cứu về dân tộc:
Kinh tế, môi trưꢀng tộc ngưꢀi có 57 công trình; văn
hóa dân tộc thiểu số có 677 công trình; văn hóa tộc
ngưꢀi (từng tộc ngưꢀi) có 1.374 công trình; xã hội
tộc ngưꢀi có 275 công trình; tôn giáo, tín ngưỡng
tộc ngưꢀi có 133 công trình.
Kết quả thu thập các nghiên cứu về công tác dân
tộc: Quản lý nhà nước về công tác dân tộc có 170
công trình; công tác dân vận ở vùng dân tộc thiểu
số có 51 công trình; xây dựng hệ thống chính trị cơ
sở vùng dân tộc thiểu số có 50 công trình; hợp tác
quốc tế về công tác dân tộc có 34 công trình. Qua số
liệu trên, thể hiện rõ các nghiên cứu về mô hình và
hệ thống quản lý nhà nước về công tác dân tộc tuy
chưa thật nhiều như các nghiên cứu về xã hội tộc
ngưꢀi, nhưng nổi trội hơn hẳn so với các nghiên cứu
về lĩnh vực hợp tác quốc tế, nâng cao chất lượng hệ
thống chính trị cơ sở vùng dân tộc thiểu số và công
tác tuyên truyền vận động về công tác dân tộc vùng
dân tộc thiểu số.
d. Các nghiên cứu về nghèo, thu nhập, mức
sống, có 11/57 nghiên cứu trực tiếp về đói nghꢂo,
thu nhập, mức sống, chiếm 20% tổng số nghiên cứu.
Thu nhập, mức sống, do kết quả phát triển kinh tế
của các dân tộc thiểu số từ sau năm 1986 ngày càng
2.1. Hệ thống hoá, đánh giá các nghiên cứu về
dân tộc và công tác dân tộc từ năm 1986 đến nay
theo từng lĩnh vực cụ thể
1. Vũ Đình Lợi, Bùi Minh Đạo, Vũ Thị Hồng, 2000, Bùi Minh Đạo 2003
2
Số 23 - Tháng 9 năm 2018
Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
được nâng lên, thể hiện ở nguồn thu đa dạng, phong chương trình điều tra, đánh giá những giá trị văn
phú hơn và cao hơn so với trước năm 1986, đặc biệt hóa tộc ngưꢁi ở vùng dân tộc thiểu số và việc bảo
chú ý là nguồn thu từ nông sản hàng hóa mới xuất tồn, phát huy các giá trị ấy, trong đó lưu ý xây dựng
hiện như cây ăn quả ở một số dân tộc, một số vùng các trung tâm văn hóa từ cấp vùng đến cấp làng
miền núi phía Bắc và cây công nghiệp ở một số dân bản, bằng cách lồng ghép với việc xây dựng nhà
tộc, một số vùng Tây Nguyên2.
Các nghiên cứu đã đề xuất giải pháp, kiến nghị
giảm nghꢀo gồm: Xây dựng con ngưꢁi mới có đủ
khả năng thực hiện xoá đói giảm nghꢀo hiệu quả;
văn hóa, khu thể thao. Chú trọng phát triển văn hóa
mang yếu tố hiện đại với việc bảo tồn những giá trị
cốt lõi của văn hóa tộc ngưꢁi4.
2.1.3. Hệ thống hoá, đánh giá các nghiên cứu
nâng cao năng lực xoá đói giảm nghꢀo cho cán bộ về xã hội tộc người
và ngưꢁi dân địa phương; chú trọng phát huy nguồn
lực con ngưꢁi trong xoá đói giảm nghꢀo; tạo điều
kiện để các dân tộc học hỏi lẫn nhau trong quá trình
xoá đói giảm nghꢀo.
Trong hệ thống hóa các nghiên cứu về xã hội
tộc ngưꢁi có hơn 300 công trình nghiên cứu, trong
đó các nghiên cứu về vấn đề của tộc ngưꢁi như
giáo dꢂc, kinh tế, sức khỏe, di dân… nhiều hơn hẳn
đ. Các nghiên cứu về môi trường tộc người. so với các nghiên cứu về thiết chế xã hội truyền
Ngày càng có nhiều nhà dân tộc học quan tâm thống của tộc ngưꢁi. Trong đó, 63 công trình nghiên
nghiên cứu đến vấn đề môi trưꢁng. Những vấn đề cứu chuyên sâu về lĩnh vực thiết chế xã hội truyền
được quan tâm bao gồm quản lý, sử dꢂng tài nguyên thống, có 2 công trình về làng bản, 11 công trình
thiên nhiên, hưởng dꢂng đất và tri thức địa phương nghiên cứu về dꢃng họ, 5 công trình nghiên cứu về
trong việc bảo tồn đa dạng sinh học. Nhìn chung gia đình và 30 công trình nghiên cứu chung về dꢃng
các nghiên cứu vẫn ở cấp cộng đồng tộc ngưꢁi và họ, gia đình; 15 công trình nghiên cứu chung về
phương pháp mô tả dân tộc học vẫn là công cꢂ chủ thiết chế xã hội truyền thống nói chung.
yếu. Điểm chung của các nghiên cứu này là được
đặt trong bối cảnh ngày càng có nhiều thách thức từ
phía môi trưꢁng cho việc phát triển bền vững và do
đó, địa bàn nghiên cứu được mở rộng từ vùng miền
núi xuống cả đồng bằng, khu vực đô thị.
Tăng cưꢁng khối đại đoàn kết trong một quốc
gia đa tộc ngưꢁi, củng cố tính thống nhất của quốc
gia dân tộc luôn luôn là vấn đề chiến lược, cơ bản,
lâu dài; cũng là vấn đề có tính cấp bách và nguyên
tắc trong chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước
2.1.2. Hệ thống hoá, đánh giá các nghiên cứu Việt Nam.
về văn hóa tộc người
Các công trình nghiên cứu về văn hóa tộc ngưꢁi về tôn giáo, tín ngưỡng tộc người
2.1.4. Hệ thống hoá, đánh giá các nghiên cứu
khá phong phú. Theo số liệu thống kê sơ bộ ở một
số thư viện của các viện nghiên cứu, sơ bộ các công
trình nghiên cứu về văn hóa, có thể phân loại thành
8 loại hình công trình chủ yếu như sau: Nhà ở (38
công trình); trang phꢂc (42 công trình); tang ma
(44); nghi lễ, phong tꢂc tập quán (246); lễ hội (62);
ẩm thực (65); nghệ thuật (224).
Một số công trình đã tập trung giới thiệu, phân
tích những vấn đề lý luận trong nghiên cứu văn hóa.
Một số công trình đã đi sâu đề cập đến cơ sở lý
luận trong nghiên cứu về văn hóa, vai trꢃ của văn
hóa trong phát triển, khẳng định, bản sắc văn hóa
thưꢁng là bất biến trong quá trình phát triển của
lịch sử. Nhưng cái bất biến ấy lại có những thay đổi
trong các môi trưꢁng sống, tiếp xúc văn hóa hay do
tác động của các yếu tố bên ngoài. Do vậy, bảo vệ
văn hóa nhằm mꢂc đích phát triển đất nước luôn đặt
ra những nhiệm vꢂ cấp bách của nhà nước3.
Hệ thống hoá các nghiên cứu về vấn đề tín
ngưỡng, tôn giáo tộc ngưꢁi ở Việt Nam từ 1986 đến
nay có 133 công trình, gồm 2 lĩnh vực:
- Các nghiên cứu cơ bản về tôn giáo, tín ngưỡng
nói chung ở Việt Nam, trong đó đề cập đến tình hình
tôn giáo, tín ngưỡng ở vùng DTTS (dạng đề cập
khái quát) của các nhà khoa học, các học giả Việt
Nam như: Đặng Nghiêm Vạn, Ngô Đức Thịnh, Trần
Quốc Vượng, Nguyễn Khắc Viện, Trần Ngọc Thêm,
Nguyễn Văn Nam, Khổng Diễn, Lê Hữu Nghĩa, Đỗ
Quang Hưng, Nguyễn Đức Cử, Nguyễn Đăng Duy,
Nguyễn Hồng Dương, Nguyễn Quốc Tuấn, Nguyễn
Xuân Hùng… Đây là những tác phẩm, những công
trình nghiên cứu cơ bản về tôn giáo, tín ngưỡng nói
chung, tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam nói riêng -
với những vấn đề về lý thuyết, lý luận, những vấn
đề về thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở
nước ta từ khi tôn giáo xuất hiện (hàng ngàn năm
Vẫn cꢃn tới hơn 20 dân tộc chưa có công trình trước với đạo Phật, hàng trăm năm trước với đạo
nghiên cứu riêng biệt nào về văn hóa vật chất như Thiên chúa và các đạo khác và mấy chꢂc năm thꢁi
ẩm thực, trang phꢂc và nhà ở.
kỳ Đổi mới đến nay với các đạo mới, đạo lý khác).
Các nghiên cứu đã đề xuất giải pháp: Cần phát
- Các công trình nghiên cứu về thực trạng tôn
triển mạnh mẽ giáo dꢂc ở vùng dân tộc thiểu số, giáo, tín ngưỡng vùng dân tộc thiểu số: Đây là phần
chú trọng giáo dꢂc ý thức quốc gia dân tộc và bảo nghiên cứu cꢂ thể về tình hình tôn giáo, tín ngưỡng
vệ văn hóa truyền thống của tộc ngưꢁi. Xây dựng ở vùng có đông đảo các dân tộc thiểu số sinh sống
4.
2. Bùi Minh Đạo, 2000 và 2003
3. Phan Ngọc, 2006
Rơ Chăm Oanh, 2002; Hoàng Lương, 2002; Khổng Diễn, 2002, 2008;
Vương Xuân Tình, 2009, 2012; Phạm Quang Hoan, 2014.
Số 23 - Tháng 9 năm 2018
3
Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
của nước ta trong khoảng trên 30 năm kể từ khi Đổi vào quá trình khảo sát, nghiên cứu thực tiễn, các
mới đến nay – của các nhà nghiên cứu, các nhà khoa nghiên cứu đã phân tích thực trạng chất lượng và
học. Dưới các góc độ khác nhau: Tâm lý học, tôn
giáo học, dân tộc học, văn hóa học… các nhà nghiên
cứu đã có hàng trăm công trình, bài viết lớn nhỏ bàn
luận, nghiên cứu, phân tích về thực trạng đꢀi sống
tín ngưỡng, tôn giáo của đồng báo các dân tộc thiểu
số trên khắp nước ta, đặc biệt là các vùng Đông
Bắc, Tây Bắc, Trung Tây Nguyên và Tây Nam Bộ.
hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị Việt Nam
nói chung và hệ thống chính trị cơ sở nói riêng. Các
công trình nghiên cứu về quan điểm và nguyên tắc
đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta đã tập trung
phân tích và đánh giá mối tương quan giữa cải cách
kinh tế với đổi mới chính trị Việt Nam. Xây dựng
được hệ thống các quan điểm và nguyên tắc đổi mới
chính trị ở nước ta. Hệ thống hóa những vấn đề lý
luận chung về hệ thống chính trị ở cơ sở, hệ thống
chính trị cơ sở ở khu vực biên giới và vai trꢂ của hệ
thống chính trị cơ sở với việc giữ vững chủ quyền
biên giới lãnh thổ.
Các nghiên cứu cũng đã đề xuất và kiến nghị
đối với Đảng, Nhà nước, với các cấp chính quyền
ở địa phương và trực tiếp là đối với những cơ quan,
những cán bộ làm công tác tôn giáo, tín ngưỡng về
việc: Làm sao có thể thực hiện được tốt hơn, hiệu
quả hơn công tác tôn giáo, tín ngưỡng ở từng địa
phương cũng như trong cả nước; làm sao có thể vẫn
tạo mọi điều kiện cho nhân dân các dân tộc được
tự do tín ngưỡng, nhưng vẫn giữ gìn được bản sắc
văn hóa tộc ngưꢀi, không làm mất đi những phong
tꢁc tập quán mang đậm chất nhân văn, chất dân tộc
của mình? Đây là một vấn đề, một bài toán khó,
tuy đã có nhiều lꢀi giải, có nhiều phương án được
đề xuất từ phía các nhà nghiên cứu, các nhà khoa
học, nhưng vẫn cꢂn phải bàn tiếp, nghiên cứu tiếp
để có thể có được những giải pháp khoa học nhất,
phù hợp nhất và hiệu quả nhất, nhằm góp phần giải
quyết các vấn đề cơ bản và cấp bách về tôn giáo tín
ngưỡng tộc ngưꢀi ở nước ta thꢀi kỳ hiện đại hóa và
hội nhập quốc tế hôm nay.
2.1.5. Hệ thống hoá, đánh giá các nghiên cứu
về mô hình và quản lý nhà nước trong công tác
dân tộc
Trong các công trình được hệ thống hóa đã
nghiên cứu về công tác dân tộc, có 170 công trình
nghiên cứu về mô hình, chức năng, nhiệm vꢁ công
tác dân tộc từ năm 1986 đến nay.
Các công trình đã nghiên cứu làm rõ các vấn
đề lý luận và thực tiễn về nội dung và phương thức
công tác dân tộc, đi sâu vào nghiên cứu một số nội
dung, phương thức chủ yếu như: Xây dựng, hoạch
định chủ trương, chính sách dân tộc; tổ chức thực
hiện các chương trình, dự án đầu tư phát triển kinh
tế xã hội vùng dân tộc thiểu số, xây dựng cơ sở hạ
tầng, xóa đói giảm nghꢃo, bảo tồn và phát huy bản
sắc văn hóa tộc ngưꢀi, giữ vững ổn định chính trị,
tăng cưꢀng quốc phꢂng, an ninh, bảo vệ môi trưꢀng
chính sách dân tộc; nghiên cứu xác định tộc danh,
tộc ngưꢀi; nghiên cứu và tổ chức thực hiện có hiệu
quả một số chính sách đặc thù đối với một số tộc
ngưꢀi, nhất là với các dân tộc rất ít ngưꢀi…
2.1.7. Hệ thống hoá, đánh giá các nghiên cứu
về tuyên truyền, vận động công tác dân tộc
Các công trình đã đề cập và luận chứng nhiều
vấn đề mới, có bước phát triển quan trọng cả về
lý luận và thực tiễn về công tác dân vận của Đảng
trong thꢀi kỳ mới: Bổ sung và phát triển một số vấn
đề lý luận về công tác tuyên truyền và đổi mới công
tác tuyên truyền của Đảng trong điều kiện hội nhập
quốc tế ở Việt Nam từ góc độ chính trị học. Làm rõ
những yêu cầu của hội nhập quốc tế đối với công
tác tuyên truyền của Đảng ở Việt Nam: Đề xuất một
số quan điểm và giải pháp nhằm đổi mới công tác
tuyên truyền của Đảng đáp ứng yêu cầu hội nhập
quốc tế ở Việt Nam hiện nay và những năm tới.
2.1.8. Hệ thống hóa, đánh giá các nghiên cứu
về hợp tác quốc tế trong công tác dân tộc
Các công trình nghiên cứu đánh giá toàn diện về
công tác hợp tác quốc tế với các nước láng giềng
trong đó có hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công tác
dân tộc. Các nghiên cứu đã làm rõ đưꢀng lối, chính
sách quan hệ hợp tác với các nước láng giềng, đánh
giá những thành tựu và những tồn tại trong công tác
này, làm rõ nguyên nhân và đề xuất các giải pháp
tăng cưꢀng hợp tác với các quốc gia. Đặc biệt, các
công trình đã nghiên cứu làm rõ cơ sở khoa học
để tăng cưꢀng hợp tác giữa các quốc gia trong giải
quyết vấn đề dân tộc, công tác dân tộc như phát
triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phꢂng
các vùng dân tộc thiểu số sát biên giới các nước,
tăng cưꢀng trao đổi kinh nghiệm giữa các nước để
triển khai hiệu quả công tác dân tộc.
Các công trình đã nghiên cứu mối quan hệ hợp
tác trên mọi lĩnh vực của đꢀi sống xã hội trong đó
có đề cập đến hợp tác giải quyết vấn đề về công tác
dân tộc và tăng cưꢀng quan hệ giữa các dân tộc, các
điều kiện hợp tác quốc tế giữa các quốc gia trong
khu vực.
2.1.6. Hệ thống hoá, đánh giá các nghiên cứu
về hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc thiểu số
Các công trình nghiên cứu tập trung vào phân
tích cấu trúc, đặc điểm, vị trí, vai trꢂ và các nhân tố
tác động của hệ thống chính trị, hệ thống chính trị
Việt Nam, đặc biệt là hệ thống chính trị cơ sở Việt
Nam. Thông qua việc sử dꢁng các luận cứ khoa học
2.2. Khoảng trống trong nghiên cứu về dân
tộc và công tác dân tộc từ 1986 đến nay
2.2.1. Khoảng trống trong nghiên cứu về dân
tộc từ 1986 đến nay
Các công trình nghiên cứu về tộc ngưꢀi từ 1986
4
Số 23 - Tháng 9 năm 2018
Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
đến nay khá đa dạng, tập trung chủ yếu ở các cơ tôn giáo của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu
quan nghiên cứu và đào tạo ở Trung ương. Nhiều số, từ tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống sang các
công trình đã được công bố dưới dạng sách chuyên tôn giáo, như Công giáo, Phật giáo, nhất là đạo Tin
khảo và các bài tạp chí trên các tạp chí chuyên lành. Tình trạng này chủ yếu diễn ra ở các tỉnh miền
ngành, nhưng nhiều công trình nghiên cứu của tập núi phía Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Nam
thể các nhà khoa học thông qua đề tài cấp Bộ, cấp Trung Bộ, nơi đꢀi sống kinh tế, xã hội cꢃn nhiều
Nhà nước để giải quyết vấn đề lớn về tộc ngưꢀi khó khăn. Sự biến đổi thiết chế văn hóa, xã hội
đang đặt ra lại vẫn ở dạng báo cáo kết quả nghiên truyền thống trong mối quan hệ với vấn đề tôn giáo,
cứu và chưa được công bố. Các lĩnh vực nghiên cứu tín ngưỡng của đồng bào dân tộc thiểu số vẫn chưa
được đề cập rất đa dạng dưới nhiều góc độ như đặc được nghiên cứu đầy đủ.
trưng văn hóa, xã hội và những vấn đề đang đặt ra
trong phát triển bền vững. Hầu hết các công trình
nghiên cứu đã đưa ra được những đánh giá thực
trạng và đề xuất các kiến nghị, giải pháp trong quá
trình hoạch định chính sách về phát triển vùng dân
tộc và miền núi nhưng mới mang tính mô tả, ít có
nghiên cứu phân tích và có kiến nghị cꢁ thể để đi
vào thực tiễn cho vùng dân tộc thiểu số.
Các nghiên cứu cơ bản về tộc ngưꢀi từ 1986
đến nay đã cung cấp một số lượng đồ sộ với những
phạm vi khá bao quát về các tộc ngưꢀi thiểu số ở
Việt Nam. Tuy nhiên, các nghiên cứu về tộc ngưꢀi
chưa gắn với các định hướng chính sách, đặc biệt là
những định hướng chính sách cꢁ thể cho từng dân
tộc, từng vùng và định hướng chiến lược quốc gia
về phát triển dân tộc thiểu số vẫn cꢃn thiếu vắng.
Các nghiên cứu về lĩnh vực kinh tế tộc ngưꢀi tập Một số vấn đề cơ bản về tộc ngưꢀi vẫn chưa có
trung chủ yếu về các hoạt động kinh tế hộ gia đình, những nghiên cứu mang tầm lý luận cơ bản làm căn
xóa đói giảm nghꢂo, quản lý và sử dꢁng đất đai, di cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách dân tộc
cư và tái định cư, sinh kế. Các nghiên cứu này hầu như xác định thành phần dân tộc và danh mꢁc thành
như đã đánh giá một cách khách quan những vấn đề phần các dân tộc thiểu số ở Việt Nam; xây dựng
đang đặt ra trong xóa đói giảm nghꢂo, sinh kế bền mối quan hệ đoàn kết và phát triển giữa các dân tộc
vững hay những yếu tố tác động đến phát triển kinh trong bối cảnh hiện nay.
tế hộ gia đình ở các tộc ngưꢀi thiểu số. Tuy nhiên,
những bài học hay kinh nghiệm thực tế rút ra từ các
mô hình phát triển kinh tế chưa nhiều và chưa tập
trung đưa ra được các giải pháp phát triển bền vững
về kinh tế ở các tộc ngưꢀi.
2.2.2. Khoảng trống trong nghiên cứu về công
tác dân tộc từ 1986 đến nay
Các nghiên cứu về mô hình quản lý nhà nước
đối với công tác dân tộc đều thống nhất khẳng định
là cần phải có những nghiên cứu về chức năng,
nhiệm vꢁ, quyền hạn của quản lý nhà nước về công
tác dân tộc trong điều kiện mới. Công tác dân tộc
cùng chính sách dân tộc được triển khai nhưng lõi
nghꢂo vẫn là vùng dân tộc thiểu số và sự chênh lệch
giàu nghꢂo của tộc ngưꢀi cꢃn cách xa nhau. Tꢄ lệ
ngưꢀi cán bộ dân tộc thiểu số trong các cơ quan, bộ
ngành cꢃn ít. Nghiên cứu về tiếp cận nhân học trong
công tác dân tộc chưa được coi trọng để triển khai
bồi dưỡng đến đội ngũ cán bộ công tác tại vùng dân
tộc thiểu số.
Các công trình chưa nghiên cứu toàn diện cơ
sở khoa học cho việc đề xuất hệ thống giải pháp,
chính sách tổng thể để xây dựng mô hình, hệ thống
quản lý nhà nước về công tác dân tộc, giải quyết
các vấn đề dân tộc nảy sinh trong quá trình hội nhập
quốc tế. Các công trình khoa học chủ yếu nghiên
cứu giải quyết các vấn đề cꢁ thể, đơn lẻ nên hệ
thống giải pháp được đề xuất cũng chỉ nhằm giải
quyết những vấn đề trước mắt, cꢁ thể, ở từng vùng,
từng địa phương, từng dân tộc, nhóm dân tộc. Thực
tế cho thấy, việc thực hiện các chính sách và giải
pháp mang tính tình huống, tức thꢀi thiếu hệ thống,
không đồng bộ sẽ không mang lại hiệu quả cao ở
Các nghiên cứu về lĩnh vực văn hóa tộc ngưꢀi
khá đa dạng, đề cập đến nhiều thành tố trong văn
hóa của các tộc ngưꢀi thiểu số từ văn hóa vật chất,
văn hóa tinh thần đến các di sản văn hóa gắn với
phát triển bền vững. Hầu hết các nghiên cứu về văn
hóa đã mô tả khá chi tiết các giá trị và bản sắc văn
hóa của các tộc ngưꢀi và là nguồn tư liệu rất có giá
trị, là cơ sở khoa học trong việc bảo tồn văn hóa cho
các tộc ngưꢀi thiểu số. Tuy nhiên, dưới góc độ lý
luận văn hóa tộc ngưꢀi gắn với phát triển bền vững
thì cꢃn thiếu vắng, đặc biệt là những nghiên cứu về
xu hướng biến đổi văn hóa, định hướng quản lý văn
hóa trong bối cảnh hội nhập và phát triển hiện nay.
Các nghiên cứu về lĩnh vực xã hội tộc ngưꢀi từ
đổi mới đến nay tập trung nhiều ở một số vấn đề
nổi cộm như xác định thành phần tộc ngưꢀi; quan
hệ tộc ngưꢀi, hệ thống chính trị vùng dân tộc thiểu
số, quản lý xã hội tộc ngưꢀi và những vấn đề xã hội
khác như di cư, giáo dꢁc, y tế, chăm sóc sức khỏe.
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu dưới góc độ dân tộc
học dưꢀng như cꢃn ít quan tâm đến các vấn đề phát
triển như y tế, giáo dꢁc, quản lý xã hội trong bối
cảnh kinh tế thị trưꢀng và hội nhập…
Các nghiên cứu về lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đặc
tộc ngưꢀi từ 1986 đến nay tập trung phân tích các biệt, hầu hết các công trình được thực hiện trong
hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng theo cộng đồng và thꢀi gian ngắn, việc đánh giá thực trạng và đề xuất
một số dân tộc cꢁ thể. Tuy nhiên cꢃn những khoảng giải pháp thực hiện chưa có quá trình thử nghiệm,
trống trong nghiên cứu như sự chuyển đổi đức tin chưa có sự đầu tư xây dựng và nhân rộng mô hình
Số 23 - Tháng 9 năm 2018
5
Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
nên khó đánh giá, kiểm nghiệm kết quả nghiên cứu. phẩm, hàng hóa và hoạt động doanh nghiệp, việc
làm của ngưꢂi dân trong bối cảnh cuộc cách mạng
công nghiệp 4.0...
Các nghiên cứu về công tác dân vận vùng dân
tộc thiểu số đã đề cập đến cách tiếp cận và phương
thức truyền tải thông tin đến từng nhóm dân tộc
thiểu số, tuy nhiên chưa đưa ra tiêu chí đánh giá
cũng như đề xuất cách tuyên truyền – truyền thông
có hiệu quả cùng sự tác động của cuộc cách mạng
khoa học công nghệ (4.0) đến quá trình xây dựng
lực lượng nꢀng cốt làm công tác dân vận tại các
vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay.
Thiếu những nghiên cứu dự báo được những đặc
điểm, tình hình trong nước và quốc tế cũng như
những thuận lợi, khó khăn của tình hình mới ở trong
và ngoài nước tác động tới công tác dân vận ở vùng
đồng bào dân tộc thiểu số.
Nghiên cứu về hợp tác quốc tế lĩnh vực công
tác dân tộc: Đến nay chưa có công trình nghiên cứu
toàn diện, hệ thống, sâu sắc về công tác hợp tác
quốc tế trong công tác dân tộc. Cꢀn nhiều nội dung
trong lĩnh vực hợp tác quốc tế về công tác dân tộc
chưa được nghiên cứu làm rõ. Nghiên cứu về quan
hệ dân tộc, quan hệ hợp tác giữa các cộng đồng dân
tộc - tôn giáo đã được đề cập nhưng chưa được đi
sâu; cꢀn ít nghiên cứu quan tâm đến mối quan hệ
giữa chính sách hợp tác quốc tế với các quan hệ
dân tộc, quan hệ hợp tác trên lĩnh vực công tác dân
tộc; đặc biệt, chưa có các công trình khoa học đi sâu
nghiên cứu các hình thức, nội dung hợp tác quốc tế
có tính đặc thù trên lĩnh vực công tác dân tộc.
- Nguy cơ mất an ninh trật tự, bạo loạn lật đổ
ở những vùng dân tộc khó kiểm soát do nhận thức
về mối quan hệ mật thiết giữa vấn đề dân tộc, mối
quan hệ dân tộc với vấn đề an ninh chính trị và trật
tự xã hội của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu
số, chính quyền cơ sở ở một số địa phương chưa
đúng đắn: Nếu không có nhận thức và quan điểm
đúng đắn về tính đặc thù, nhạy cảm, phức tạp của
vấn đề dân tộc thiểu số, chính sách dân tộc trên thế
giới, khu vực Đông Nam Á và trong mối quan hệ
dân tộc – tộc ngưꢂi trong quá trình vận động của
cách mạng, thꢂi kỳ phát triển đất nước ta thì nguy
cơ mất an ninh trật tự, bạo loạn lật đổ ở những vùng
dân tộc sẽ xảy ra khó kiểm soát.
- Khoảng cách giàu nghꢃo ngày càng bị đẩy ra
xa hơn giữa các dân tộc - tộc ngưꢂi, trong nội bộ
tộc ngưꢂi và giữa các vùng: Sự phân hóa mức sống
đang diễn ra rất mạnh mẽ giữa các tộc ngưꢂi, giữa
các nhóm dân cư, giữa các vùng tộc ngưꢂi. Có một
nghịch lý là: Nhà nước càng đầu tư mạnh mẽ vào
phát triển cho vùng dân tộc thiểu số, dù phúc lợi cho
các dân tộc đã được cải thiện, nhưng chênh lệch mức
sống và chất lượng sống giữa các dân tộc tiếp tꢄc xa
cách thêm, đặc biệt là giữa nhóm các dân tộc thiểu
số so với nhóm đa số. Một bộ phận số hộ không nhỏ
trong nhiều vùng nông thôn dân tộc thiểu số không
3. MỘT SỐ GỢI Ý NGHIÊN CỨU VỀ DÂN có (hoặc thiếu) đất sản xuất đi liền với không có
TỘC VÀ CÔNG TÁC DÂN TỘC TRONG GIAI
ĐOẠN 2020-2025, TẦM NHÌN 2030
3.1. Bối cảnh vấn đề dân tộc và công tác dân
tộc của Việt Nam trong tình hình mới
(hoặc thiếu) việc làm ổn định rất dễ bị bần cùng hoá.
Trọng điểm là Tây Nguyên, Tây Bắc và một số tỉnh
Tây Nam bộ, Tây duyên hải miền Trung.
- Môi trưꢂng sống với tư cách là không gian sinh
tồn của các tộc ngưꢂi đang bị đe dọa nghiêm trọng.
Tình trạng cạn kiệt rừng đầu nguồn đã gây nên các
thiên tai như: Lũ quét, lũ ống, sạt lở đất... làm cho
một bộ phận dân cư không có điều kiện canh tác và
sinh sống. Nhiều nơi thiếu nước sạch cho ăn uống
và sinh hoạt. Điều đó tạo lực đẩy di dân đến vùng
khác, tạo nên các khoảng trống dân cư trên tuyến
biên giới, đe dọa đến bảo vệ an ninh chủ quyền biên
giới. Tình trạng mở rộng hệ thống thủy điện đe dọa
đến môi trưꢂng sống lâu đꢂi của đồng bào các dân
tộc, họ buộc phải tái định cư, cấu trúc lại đꢂi sống
trên vùng đất mới với các môi trưꢂng và điều kiện
sản xuất, sinh sống hoàn toàn khác với quê hương,
bản quán, không dễ gì thích nghi đươc̣ trong ngày
một, ngày hai...
ꢁ thức rõ vấn đề dân tộc trong sự nghiệp đổi
mới và phát triển đất nước, trong gần ba thập niên
qua, đặc biệt từ khi có Nghị quyết 22 của Bộ Chính
trị (1989), công tác dân tộc đã được coi trọng và đổi
mới, đầu tư cho phát triển các dân tộc được tăng
cưꢂng. Nhꢂ đó, vùng dân tộc thiểu số và đꢂi sống
các dân tộc có nhiều chuyển biến, nhất là cải thiện
hệ thống kết cấu hạ tầng (điện, đưꢂng, trưꢂng, trạm,
viễn thông, điện thắp sáng...). Tuy nhiên, do các rào
cản của điều kiện tự nhiên, di tồn lịch sử tộc ngưꢂi,
cũng như thiếu khả năng đột phá của lý luận quản trị
và phát triển dân tộc - tộc ngưꢂi trong thꢂi kỳ mới,
cho nên trong quá trình đổi mới đã và đang xuất
hiện những mâu thuẫn, tình huống và nghịch lý cần
được nhận diện và tìm giải pháp can thiệp:
- Bản sắc văn hóa của nhiều dân tộc đang đứng
trước nguy cơ mai một; tôn giáo, tín ngưỡng truyền
thống của các dân tộc đang đứng trước các thách
thức mới khi đối diện với các tôn giáo ngoại sinh.
Văn hoá của không ít dân tộc thiểu số sẽ bị đồng
hoá bởi văn hoá dân tộc khác hoặc pha tạp mất bản
sắc, thậm chí có nơi bị tôn giáo hoá phong tꢄc tập
- Bối cảnh quốc tế và khu vực đang diễn ra nhiều
chuyển biến phức tạp. Cuộc chiến thương mại Mỹ -
Trung năm 2018 sẽ dẫn đến những ảnh hưởng kinh
tế toàn cầu sâu sắc, đặc biệt là Việt Nam, quốc gia
láng giềng của Trung Quốc và trong chiến lược biển
của các quốc gia; khu vực thương mại tự doASEAN
hình thành với các hàng rào thuế quan được gỡ bỏ
tạo nên sự cạnh tranh gay gắt trong thương mại sản quán tốt đẹp của dân tộc đó. Mâu thuẫn, dẫn đến
6
Số 23 - Tháng 9 năm 2018
Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
xung đột nội bộ cộng đồng về tập quán, tín ngưỡng đổi khí hậu; (ix) Vấn đề đức tin ở các dân tộc trong
trong một số dân tộc thiểu số ngày càng gia tăng.
điều kiện công nghiệp hóa, đô thị hóa, toàn cầu hóa;
(x) Các mối quan hệ lớn trong phát triển tộc ngưꢃi:
Tộc danh và nhóm địa phương, công bằng xã hội và
bình đẳng tộc ngưꢃi, quyền và nghĩa vꢀ, ý thức tộc
ngưꢃi và ý thức quốc gia - dân tộc, quản trị hành
chính - lãnh thổ và tự quản truyền thống, vốn tài
chính và phi tài chính cho phát triển tộc ngưꢃi...
- Hiệu lực quản lý của chính quyền ở một số
vùng đối với đồng bào dân tộc thiểu số chưa cao;
tình hình di cư tự phát vẫn tiếp tꢀc gia tăng; di cư
xuyên biên giới diễn biến phức tạp. Hệ thống chính
trị và đội ngũ cán bộ ở cơ sở vùng dân tộc thiểu
số cꢁn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu lãnh
đạo, tổ chức cho nhân dân phát triển sản xuất, xoá
đói, giảm nghꢂo; đảm bảo an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội… trên địa bàn. Tình hình đồng bào
dân tộc di cư tự phát vẫn diễn biến phức tạp; làm
khó khăn thêm cho các địa phương nơi đi và nơi
đến nhập cư. Trong khi đó, chính quyền cơ sở chưa
kiểm soát hết và các biện pháp cải thiện tình hình an
sinh xã hội cho đồng bào di cư vẫn chưa hoàn toàn
phù hợp và có hiệu lực cao. Trong đó, di cư xuyên
biên giới cũng rất phức tạp, gồm cả di cư lao động,
di cư hôn nhân và di cư truyền giáo.
Những vấn đề cơ bản, cấp bách về công tác dân
tộc cần nghiên cứu làm rõ gồm: (i) Cơ sở khoa học
và nội dung, giải pháp tăng cưꢃng, củng cố sự lãnh
đạo của Đảng đối với mô hình, hệ thống quản lý nhà
nước về công tác dân tộc trong điều kiện mới. (ii)
Đổi mới nội dung, phương thức công tác dân tộc phù
hợp với điều kiện hội nhập quốc tế và cách mạng
khoa học công nghệ hiện đại. (iii) Đề xuất mô hình,
nội dung, hình thức, phương pháp cꢀ thể, có tính đặc
thù trong xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân
tộc, cán bộ ngưꢃi dân tộc thiểu số. (iv) Đổi mới cơ
chế hoạt động, tăng cưꢃng kiểm soát quyền lực và
phân cấp, phân quyền quản lý; (v) Đổi mới hệ thống
chính trị cấp cơ sở vùng dân tộc thiểu số gắn với yêu
cầu dân chủ hóa đꢃi sống xã hội nông thôn, vùng
núi, vùng cao. (vi) Xác định đúng đắn và kịp thꢃi
định hướng đổi mới về nội dung và phương thức
tuyên truyền về hội nhập quốc tế, đổi mới nội dung,
phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ
chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân
đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
3.2. Đề xuất một số hướng nghiên cứu về dân
tộc và công tác dân tộc trong giai đoạn 2020-2025,
tầm nhìn 2030
Bước vào thꢃi kỳ đổi mới, vấn đề dân tộc và
công tác dân tộc không chỉ ở khía cạnh bảo vệ độc
lập, thống nhất, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, mà
cꢁn là phát triển quốc gia - dân tộc và quản trị phát
triển quốc gia - dân tộc. Các nguy cơ đe dọa đến
độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ trong điều
kiện mới không chỉ phát sinh từ cách thách thức
an ninh truyền thống, mà cả thách thức an ninh phi
truyền thống có thể dẫn tới xung đột tộc ngưꢃi và
chủ nghĩa ly khai. Về vấn đề phát triển tộc ngưꢃi
trong điều kiện kinh tế thị trưꢃng, hội nhập quốc tế,
xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
thì lý luận về đoàn kết, bình đẳng, giúp nhau cùng
phát triển giữa các tộc ngưꢃi sẽ khác nhiều so với
thꢃi kỳ kinh tế kế hoạch hóa và nước ta cꢁn ở trong
tình trạng biệt lập.
Từ những phát hiện khoảng trống trong nghiên
cứu về dân tộc và công tác từ 1986 đến nay và bối
cảnh mới đến năm 2030 đặt ra cho công tác dân
tộc, một số vấn đề cơ bản, cấp bách cần nghiên cứu
về dân tộc sau đây cần phải được làm sáng rõ: (i)
Phát triển tộc ngưꢃi trong sự phát triển quốc gia -
dân tộc trong điều kiện kinh tế thị trưꢃng; (ii) Vấn
đề tộc ngưꢃi trong đảm bảo an ninh quốc gia (độc
lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ); (iii) Vấn đề phát
triển tộc ngưꢃi với tổ chức lãnh thổ và phát triển
vùng; (iv) Quan hệ tộc ngưꢃi ở nước ta trong điều
kiện các tộc ngưꢃi cư trú đan cài, phân tầng xã hội
sâu sắc; (v) Vấn đề bình đẳng, đoàn kết, giúp nhau
cùng phát triển giữa các tộc ngưꢃi trong điều kiện
mới; (vi) Vấn đề dân tộc - tộc ngưꢃi trong điều kiện
một đảng cầm quyền, nhà nước pháp quyền, xã hội
4. KẾT LUẬN
Các nghiên cứu về dân tộc và công tác dân tộc
từ 1986 đến nay đã đóng góp luận cứ quan trọng về
các quan điểm, nguyên tắc của Đảng trong công tác
dân tộc, chiến lược công tác dân tộc, tham mưu với
BCH Trung ương khoá IX ban hành Nghị quyết số
24-NQ/TW về công tác dân tộc, Nghị định số 05/
NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc; Chỉ thị
số 28/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về nâng
cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công
tác dân tộc; Chỉ thị số 1971/CT-TTg của Thủ tướng
Chính phủ về tăng cưꢃng công tác dân tộc trong
thꢃi kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tổ
chức thực hiện Chương trình mꢀc tiêu quốc gia về
giảm nghꢂo bền vững và xây dựng nông thôn mới;
thể chế, cꢀ thể hóa các mꢀc tiêu của chiến lược và
chương trình hành động thực hiện Chiến lược công
tác dân tộc đến năm 2020; một số chỉ thị, chính sách
lớn khác của Đảng, Nhà nước đối với các dân tộc,
như Mông, Khmer, Hoa, Chăm và các dự án liên
quan tới những dân tộc rất ít ngưꢃi,... để đề xuất các
chính sách phù hợp với bối cảnh, bảo đảm các dân
tộc bình đẳng, đoàn kết trong đại gia đình các dân
tộc Việt Nam. Góp phần rà soát các văn bản quy
phạm pháp luật do các Bộ, ngành, Hội đồng nhân
công dân, định hướng xã hội chủ nghĩa; (vii) Vấn đề dân, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
dân tộc - tộc ngưꢃi trong toàn cầu hóa và hội nhập Trung ương ban hành có liên quan đến công tác dân
quốc tế; (viii) Vấn đề dân tộc - tộc ngưꢃi trong điều tộc; rà soát việc thực hiện chính sách dân tộc ở các
kiện phꢁng ngừa, ứng phó và thích nghi với biến bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và
Số 23 - Tháng 9 năm 2018
7
Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
Tài liệu tham khảo
ở các địa phương, để kiến nghị cơ quan có thẩm
quyền ban hành sửa đổi, bổ sung hoàn thiện chính
sách pháp luật cho phù hợp với tình hình thực tế và
yêu cầu, nhiệm vꢀ công tác dân tộc của Đảng và
Nhà nước. Kết quả nghiên cứu về dân tộc và công
tác dân tộc là cơ sở xây dựng đề án phát triển kinh
tế - xã hội, xóa đói, giảm nghꢁo đối với ba khu vực
(Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ), chính sách hỗ
trợ vùng đặc biệt khó khăn; tổ chức quản lý chỉ đạo
thực hiện có hiệu quả các chương trình phát triển
kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc và miền núi.
Bối cảnh đến năm 2030 đặt ra các nghiên cứu
nhằm cꢀ thể hóa các quy định trong Hiến pháp năm
2013 có liên quan đến vấn đề dân tộc, quan hệ dân
tộc để bổ sung, chỉnh sửa, hoàn thiện các luật; tổng
kết Nghị định số 05/2011/NĐ- CP của Chỉnh phủ về
công tác dân tộc làm căn cứ pháp lý trình Luật Hỗ
trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi để
điều chỉnh các vấn đề liên quan đến dân tộc, quan
hệ dân tộc,... Đẩy mạnh phát triển giáo dꢀc, đào tạo,
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vùng dân tộc
và miền núi; xây dựng đội ngũ cán bộ ngưꢂi dân
tộc thiểu số, thực hiện tốt đề án phát triển đội ngũ
cán bộ, công chức, viên chức ngưꢂi dân tộc thiểu
số trong thꢂi kỳ mới (Quyết định số 402/QĐ-TTg,
ngày 14-3-2016 của Thủ tướng Chính phủ); tập
trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong hệ
thống cơ quan làm công tác dân tộc. Nâng cao chất
lượng hệ thống chính trị, tăng cưꢂng khối đại đoàn
kết các dân tộc, bảo đảm ổn định chính trị, quốc
phꢃng, an ninh trật tự vùng dân tộc và miền núi.
[1] Cơ sở dữ liệu đề tài “Hệ thống hóa, đánh giá
các nghiên cứu về dân tộc và công tác dân tộc từ
năm 1986 đến nay”, Hà Nội, 2018;
[2] Kꢄ yếu hội thảo “Hệ thống, đánh giá các
nghiên cứu lý luận về tộc ngưꢂi” thuộc đề tài ‘Hệ
thống hóa, đánh giá các nghiên cứu về dân tộc và
công tác dân tộc từ năm 1986 đến nay”, Hà Nội, 2016;
[3] Kꢄ yếu hội thảo “Hệ thống, đánh giá các
nghiên cứu lý luận về công tác dân tộc” thuộc đề
tài “Hệ thống hóa, đánh giá các nghiên cứu về dân
tộc và công tác dân tộc từ năm 1986 đến nay”, Hà
Nội, 2016;
[4] Kꢄ yếu hội thảo “Hệ thống, đánh giá các
nghiên cứu về dân tộc và công tác dân tộc ở vùng
Trung Bộ và Tây Nguyên” thuộc đề tài “Hệ thống
hóa, đánh giá các nghiên cứu về dân tộc và công tác
dân tộc từ năm 1986 đến nay”, Huế, 2017;
[5] Kꢄ yếu hội thảo “Tổng kết, đánh giá các
nghiên cứu về dân tộc và công tác dân tộc ở vùng
Nam Bộ từ năm 1986 đến nay” thuộc đề tài “Hệ
thống hóa, đánh giá các nghiên cứu về dân tộc và
công tác dân tộc từ năm 1986 đến nay”, thành phố
Hồ Chí Minh, 2017;
[6] Kꢄ yếu hội thảo“Tổng kết, đánh giá các
nghiên cứu về dân tộc và công tác dân tộc từ 1986
đến nay” thuộc đề tài “Hệ thống hóa, đánh giá các
nghiên cứu về dân tộc và công tác dân tộc từ năm
1986 đến nay”, Hà Nội, 2018;
[7] Thuyết minh Chương trình khoa học và công
nghệ cấp quốc gia giai đoạn 2016 – 2020 ”Một số
vấn đề cơ bản và cấp bách về dân tộc thiểu số và
chính sách dân tộc ở Việt Nam đến năm 2030”, mã
số CTDT/16-20, Hà Nội, 2015.
(*) Bài viết là kết quả nghiên cứu của đề tài
khoa học cấp quốc gia: “Hệ thống hóa, đánh giá
các nghiên cứu về dân tộc và công tác dân tộc từ
năm 1986 đến nay”. Mã số: CTDT 02.16/16-20.
SYSTEMATIZATION, EVALUATION OF
RESEARCHS ON ETHNIC AND ETHNIC MINORITY AFFAIRS FROM 1986 TO TODAY
Tran Trung
Abstract: Systematization and evaluation of researchs on ethnicity and ethnic minority affairs are
one of the important research contents to provide scientific arguments orientating for theoretical research
task and practical implementation of ethnic minority affairs, ethnic policies in the revolutionary periods.
This article summarizes the research results of a national-level scientific Theme “Systematization and
evaluation of researchs on ethnic and ethnic minority affairs in Vietnam from 1986 up to now”, code
CTDT.02.16/16-20, with the specific contents are the synthesis of research results on ethnic and ethnic
minority affairs in Vietnam from 1986 up to now, evaluating the results of the existing researches, thereby
detecting gaps in the research to propose the basic urgent issues about ethnic and ethnic minority affairs
should be interested in research, development in the coming period, at the same time, we will propose
orientations and implementation solutions of ethnic minority affairs for the period 2018-2025 and vision
to 2030.
Keywords: Systematization, evaluation; Researchs on ethnicity; Ethnic minority affairs; Research
gaps; Implementation solutions of ethnic minority affairs.
8
Số 23 - Tháng 9 năm 2018
Bạn đang xem tài liệu "Hệ thống hóa, đánh giá các nghiên cứu về dân tộc và công tác dân tộc từ năm 1986 đến nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
he_thong_hoa_danh_gia_cac_nghien_cuu_ve_dan_toc_va_cong_tac.pdf

