Các yếu tố sóng hợp trong ca dao xứ Quảng

CÁC YẾU TỐ SÓNG HỢP TRONG CA DAO XỨ QUẢNG  
Phan Thúy Hạnh Trang1  
Tóm tắt: Yếu tố sóng hợp (hay còn gọi là biến thể kết hợp) là dạng biến thể mà  
ở đó các tín hiệu ngôn ngữ trong cùng một lời ca dao kết hợp với nhau dựa trên những  
quan hệ từ vựng (từ đơn, từ phức, cụm từ chính phụ, cụm chủ - vị) và quan hệ ngữ  
nghĩa tương đồng hay tương phản để biểu đạt một nội dung ý nghĩa chung. Những kết  
hợp này về vị trí có thể là cùng dòng hay cách dòng; về số lượng tín hiệu có thể là  
sóng đôi, sóng ba hay nhiều hơn; về quan hệ ngữ nghĩa có thể là tương đồng hay tương  
phản . Cái được biểu đạt của tín hiệu biểu trưng sóng hợp không phải là phép cộng  
đơn giản của những tín hiệu mà ở khả năng tạo ra sự liên hệ mới dựa trên cơ sở sóng  
hợp. Giá trị của sự kết hợp là tạo sự phong phú cho cách hiểu và tăng sức gợi hình,  
gợi cảm cho hình tượng ca dao Xứ Quảng.  
Từ khóa: Yếu tố sóng hợp, yếu tố thẩm mĩ sóng đôi, yếu tố thẩm mĩ sóng ba,  
quan hệ từ vựng, quan hệ ngữ nghĩa.  
1.  
Mở đầu  
Văn học dân gian Quảng Nam hình thành từ những ngày đầu tiên các bậc tiền  
nhân đặt chân lên vùng đất mới trong hành trình ra đi mở cõi về phương Nam. Do đó,  
văn học dân gian Quảng Nam là sự kế thừa mạch nguồn văn hóa Việt và đã thâu nhận  
nhiều yếu tố mới tạo nên sự đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung và hình  
thành những nét đặc trưng của văn học dân tộc. Ca dao là một bộ phận quan trọng  
trong văn học dân gian Quảng Nam, thể hiện đầy đủ và sinh động tâm tư, tình cảm của  
người bình dân xưa, qua một phong cách nghệ thuật phong phú và độc đáo. Ngoài cách  
sử dụng các phương tiện đặc sắc là các biện pháp tu từ, ca dao xứ Quảng còn được thể  
hiện ở các hình thức sóng đôi và sóng ba.  
Cách tổ chức tín hiệu ngôn ngữ là theo quan hệ hình tuyến. Tuy nhiên, về mặt  
hình thức, chúng lại có những cách tổ chức như những biện pháp tu từ. Các yếu tố này  
nếu đứng riêng lẻ thì giá trị biểu trưng của nó sẽ bị bó hẹp so với khi được kết hợp. Vì  
thế, chính sự kết hợp này - tức là kiểu sóng hợp đã tạo nên nét nghệ thuật cao trong ca  
dao Xứ Quảng.  
2.  
Nội dung  
2.1. Kết quả thống kê, phân loại các yếu tố thẩm mĩ sóng đôi và sóng ba  
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát và thống kê các yếu tố sóng hợp dựa trên cơ sở  
1 . ThS. Khoa Tiểu học-Mầm non, trường Đại học Quảng Nam  
PHAN THÚy HẠNH TRANG  
chính sau: Thống kê các yếu tố sóng hợp sóng đôi, sóng ba là những dạng phổ biến  
nhất ở tất cả các vị trí và theo tất cả các quan hệ ngữ nghĩa.  
Sau đây, là kết quả khảo sát cụ thể của chúng tôi về các tín hiệu biểu trưng sóng  
hợp trong ca dao Quảng Nam:  
Qua khảo sát ghi nhận được 39 đơn vị yếu tố sóng hợp với 43 lần xuất hiện.  
Trong đó, kết hợp sóng đôi có 31 đơn vị và 35 lần xuất hiện, kết hợp sóng ba có 8 đơn  
vị và 8 lần xuất hiện. Có thể thấy rằng, tín hiệu biểu trưng sóng hợp trong ca dao Xứ  
Quảng có số lần xuất hiện đa số là 1. Kết quả đó được thể hiện qua hai bảng sau:  
Bảng 2.1. Các kiểu dạng có yếu tố thẩm mĩ  
Các kiểu dạng có yếu tố  
thẩm mĩ  
Số lượng  
(đơn vị)  
Tỉ lệ  
( % )  
Dạng không có kết hợp sóng  
đôi, sóng ba  
582  
93 , 7  
Dạng có kết hợp sóng đôi,  
39  
6 , 3  
100  
sóng ba  
Tổng  
621  
*
Nhận xét:  
Qua bảng 2.1 có thể nhận thấy tổng số câu ca dao có yếu tố thẩm mĩ là 621.  
Trong đó có 582 câu thuộc dạng không có kết hợp sóng đôi, sóng ba; chiếm tỉ lệ 93,7%  
và có 39 câu có dạng kết hợp sóng đôi, sóng ba, chiếm tỉ lệ 6,3%. Có thể những câu  
sóng hợp chỉ ra đời khi nhân vật trữ tình gặp thử thách, hoàn cảnh ngặt nghèo, nguy  
hiểm hoặc hạnh phúc bất ngờ, niềm vui dun dủi... vì thế đó là những câu khó ứng tác,  
ứng khẩu, những câu có số lượng ít ỏi trong ca dao Xứ Quảng.  
Bảng 2.2. Yếu tố thẩm mĩ dạng sóng đôi và sóng ba  
Số lượng  
Xuất hiện  
Dạng kết  
hợp  
Tỉ lệ slxh/  
đv (lần)  
Số lượng  
Tỉ lệ  
Số lượng  
Tỉ lệ  
(đơn vị)  
(%)  
(đơn vị)  
( % )  
Sóng đôi  
Sóng ba  
Tổng  
31  
79,5  
20,5  
100  
35  
81,4  
18,6  
100  
1 , 13  
1 , 0  
8
8
39  
43  
2 , 13  
2
PHAN THÚy HẠNH TRANG  
*
Nhận xét:  
Qua bảng 2.2 có thể nhận thấy, các dạng sóng đôi giữ vị trí chủ chốt với 31 đơn  
vị chiếm 79,5% và 35 lần xuất hiện chiếm 81,4 %; số lượng các kết hợp sóng ba rất ít,  
chỉ với 8 đơn vị, chiếm 20,5 % và 8 lần xuất hiện, chiếm 18,6 %.  
Bên cạnh đó, cần phải kể đến một số yếu tố sóng hợp có giá trị trong ca dao  
Quảng Nam như: ngọc - vàng, sớm - trưa, lược - gương, trầu - cau, liễu - mai, trăng -  
sao… Các yếu tố này nếu đứng riêng lẻ thì giá trị biểu trưng của nó sẽ bị bó hẹp so với  
khi được kết hợp. Khi đi sâu vào phân tích ở phần sau, chúng ta sẽ thấy rõ điều đó.  
2.2 Các yếu tố thẩm mĩ sóng đôi  
2.2.1 . Yếu tố sóng hợp là từ (từ đơn, từ phức )  
Yếu tố sóng đôi có thể được cấu tạo bằng những từ đơn:  
Hỡi người được ngọc chớ cười  
Cầm vàng cho biết vàng mười vàng năm  
“Cười” không phải là cười mà là mừng. “Vàng”, “ngọc” chỉ những cái quý giá,  
có giá trị. Câu trên thể hiện kinh nghiệm sống, được cái đáng quý cũng đừng vội mừng,  
mà phải biết cái mình đang có là cái gì. “Ngọc”, “vàng” là sóng đôi tương ứng, không  
phải sóng đôi đối lập, đều là cái quý giá nhưng phải biết giá trị thực của chúng. Vàng  
mười là vàng ròng, hay vàng năm là vàng pha, chớ có nhầm lẫn.  
Từ sóng đôi “vàng”, “ngọc” đi cùng khẳng định giá trị đích thực của con người  
được biểu hiện qua hình ảnh ẩn dụ: “vàng”, “ngọc” là cái quý nhất về vật chất được  
con người quý trọng, cũng như phẩm chất bên trong của con người và quý giá như  
vàng, ngọc vậy.  
Trong các câu ca dao có yếu tố sóng hợp phần lớn đều có hình ảnh miêu tả đi  
kèm:  
Nhớ ai thơ thẩn đầu cầu  
Lược sưa biếng chải, gương lầu biếng soi  
Người con gái luôn luôn trân trọng vẻ đẹp hình thức của mình. Bởi vẻ đẹp đó là  
niềm tự tin, tự hào để bước vào cuộc sống. “Lược”, “gương” là những vật rất gần gũi  
với người con gái. Ở đây không chỉ dừng lại ở việc nói chuyện soi gương và chải đầu  
của nhân vật trữ tình, mà muốn nói đến chính cái nỗi nhớ cụ thể của tình yêu lứa đôi  
đó, đã làm cho cô gái quên đi sự chăm sóc, tô điểm bản thân. Tác giả dân gian đã mượn  
hình ảnh sóng đôi “lược - gương” để thay thế cho sự trang điểm, trau chuốt, hoàn thiện  
mình.  
3
PHAN THÚy HẠNH TRANG  
Ở một câu ca dao khác:  
Trầu vàng góp bến sông Bung  
Chờ cau Đại Mỹ đặng cùng về xuôi  
“Trầu”, “cau” là hình ảnh ẩn dụ thể hiện duyên tình của đôi trai gái. Hình ảnh  
“trầu”, “cau” trong văn học dân gian thường kết hợp sóng đôi. Đó là ước mơ  
gắn bó, hòa hợp thể hiện tình yêu đẹp và lãng mạn của người bình dân Xứ  
Quảng. “Trầu - cau” trở thành biểu tượng mới, là hình ảnh ẩn dụ cho tình yêu  
đôi lứa.  
Hoặc:  
Bạn đừng thở ngắn than dài  
Tình ta bỏ liễu lìa mai sao đành  
Ở đây, tác giả dân gian không dừng lại ở chuyện miêu tả cây mai, cây liễu. “Liễu”  
ẩn dụ cho người con gái, phụ nữ là liễu yếu đào tơ; “mai” ẩn dụ cho chàng trai, cây  
mai là cây vươn thẳng đầy khí tiết cứng rắn. Hai hình ảnh “liễu” - “mai” sóng đôi với  
nhau tạo thành biểu tượng rất đẹp.  
Có lúc trong hai dòng thơ đều có yếu tố sóng hợp:  
Trăng mờ còn tỏ hơn sao  
Bậc kia có lở còn cao hơn bờ  
Hai dòng của câu ca dao trên là so sánh logic. “Trăng” sóng đôi với “sao”, “bậc”  
với “bờ” sóng đôi với nhau. Không chỉ nhằm nói về trăng, sao, bậc, bờ mà qua đó thể  
hiện cách sống, xác định giá trị của đối tượng, một giá trị thực dù bị sứt mẻ vẫn còn  
giá trị. Đó là cách nhận diện những giá trị thực ở đời.  
Mọi sự so sánh đều khập khiễng, bởi có những giá trị không có tiêu chí để đo  
lường. Sự xuất hiện của các cặp từ sóng đôi góp phần tăng sức gợi hình, gợi cảm của  
hình tượng ca dao.  
Hay là:  
Tham vàng phụ nghĩa ai ơi  
Vàng thời đã hết, nghĩa tôi vẫn còn  
Trong câu ca dao trên “vàng” và “nghĩa” là hai hình ảnh sóng đôi với nhau.  
“Vàng” không chỉ là vàng bạc mà còn là sự giàu sang, phú quý. “Nghĩa” không phải  
đơn thuần chỉ là tình nghĩa chung chung mà là những điều tốt đẹp đã có với nhau, là  
lối sống cao đẹp, thuộc về tinh thần nên không bao giờ mất. Vật chất có thể biến thiên  
nhưng tinh thần đã trở thành giá trị trường tồn mãi mãi.  
4
PHAN THÚy HẠNH TRANG  
Cũng có khi kết hợp cả yếu tố sóng hợp là từ đơn và cụm từ trong cùng một bài  
ca dao:  
Thương chi thương dại thương ngây  
Thương cá dưới biển, thương mây trên trời  
“Khôn” và “dại” là cặp từ trái nghĩa thường đi sóng đôi để thể hiện việc đánh giá  
tầm hiểu biết và ứng xử của người đời. “Dại”, “ngây” ở đây sóng đôi với nhau, lại là  
cặp từ đồng nghĩa không phải chỉ dừng ở mức độ đánh giá khách quan hành động dại  
dột bình thường mà còn là lời người yêu tự nhủ với mình hoặc nói với đối tượng rằng  
mình đang thương dại, thương ngây, thương một cách vu vơ, không thấu được với  
người mình yêu! Cụm từ “Cá dưới biển” và “mây trên trời” sóng đôi với nhau, là những  
cụm từ xác định cái vốn tồn tại cố định hiển nhiên bao đời nay: cá thì phải ở dưới biển  
và mây thì phải ở trên trời. Nhưng tác giả dân gian không chỉ dừng ở mức độ phản ánh  
thế giới khách quan đó, mà muốn nói rằng tình yêu mà mình dành cho người yêu là vô  
hạn, là nhiều vô kể. Việc kết hợp giữa từ đơn và cụm từ giúp sự miêu tả càng hài hòa,  
sinh động hơn.  
Ở một bài ca dao khác, nghệ thuật sóng đôi lại được thể hiện khá đặc sắc:  
Vợ chồng đi sớm về khuya  
Trong này năm cụm, ngoài kia bảy hòn  
Câu ca dao trên “sớm” - “khuya” là hai yếu tố sóng hợp với nhau, “trong này” -  
“ngoài kia” sóng đôi với nhau, “năm cụm” sóng đôi với “bảy hòn”. Các từ kết hợp  
“sớm”, “khuya” về mặt ngữ âm biểu hiện sự cân đối hài hòa; về mặt ý nghĩa thể hiện  
sự gắn bó, sẻ chia, đồng cam cộng khổ của những cặp vợ chồng sống êm ấm, sum vầy.  
Câu sau nói về quan hệ “trong này” và “ngoài kia”, cũng gắn bó như là vợ chồng đi  
sớm về khuya vậy.  
Tương tự với hình thức kết hợp sóng đôi giữa từ và cụm từ với một ý nghĩa khác:  
Đói cơm hơn kẻ no rau  
Khó mà quân tử hơn giàu tiểu nhân  
“Đói” và “no” là hai từ trái nghĩa, “cơm” và “rau” là hai món ăn no chắc bụng  
và no không chắc bụng. Cơm là thức ăn chính của người Việt từ khi trồng được lúa  
nước. Rau nói chung là thức ăn xen kẽ vào để giúp no bụng. Thực tế thì ăn cơm sẽ no  
được lâu hơn ăn rau. Từ thực tế cuộc sống đó, tác giả dân gian đã so sánh để đề cao  
vai trò của lương thực chính, đồng thời để dẫn dắt đến một vấn đề quan trọng hơn  
nhằm nhấn mạnh sự cần thiết về đạo đức, phẩm chất, nhân cách của con người qua hai  
từ “quân tử” và “tiểu nhân”. Và khi đề cao vẻ đẹp nội dung bên trong của con người  
thì nó đã trở thành tín hiệu thẩm mĩ.  
5
PHAN THÚy HẠNH TRANG  
Có khi trong cả bài ca dao đều có yếu tố sóng hợp:  
Cha mẹ giàu thì con thong thả  
Cha mẹ nghèo con vất vả gian nan  
Sớm mai lên núi đốt than  
Chiều về xuống biển đào hang bắt còng  
“Giàu” và “nghèo” sóng đôi với nhau, là hai từ trái nghĩa chỉ cuộc sống vật chất  
sung túc hay bần hàn. Đó là tiền đề để dẫn đến hành động tiếp theo ở hai cặp từ đơn  
vừa trái nghĩa vừa sóng đôi là “sớm”, “chiều” và hai cụm từ trái nghĩa “lên núi”,  
“xuống biển”. “Sớm”, “chiều” trong câu ca dao là trạng ngữ chỉ thời gian. Không dừng  
ở mức độ biểu đạt thời gian chung chung, mà “lên núi” và “xuống biển” là nơi xa xôi  
và hiểm trở. Nơi mà người bình dân ngày xưa rất ngại đến. Sự kết hợp sóng đôi của  
các cặp từ và cụm từ càng có giá trị biểu đạt cao cái vất vả, khó khăn, gian khổ của  
cuộc sống nghèo nàn với muôn ngàn công việc dãi dầu.  
2.2.2 . Yếu tố sóng hợp là cụm từ tự do (cụm chủ - vị, cụm từ chính phụ )  
Tình nghĩa vợ chồng trong ca dao Xứ Quảng cũng được thể hiện qua các hình  
ảnh biểu trưng “gừng” và “muối” quen thuộc:  
Hạt muối mặn ba năm còn mặn  
Củ gừng cay chín tháng còn cay  
“Hạt muối” và “Củ gừng” là gia vị, là vị thuốc của người bình dân thời xưa. Ở  
đây, nghệ nhân dân gian không chỉ nói về hạt muối mặn và lát gừng cay mà muốn  
khẳng định tình nghĩa vợ chồng sẽ mãi mãi bền vững, trường tồn trước thời gian.  
Đó còn là nỗi lo lắng của cha, mẹ:  
Ra đi cha mẹ sợ lo  
Phần sông nước lớn phần đò không đưa  
Cụm từ “sông nước lớn” và “đò không đưa” không chỉ nói đến chuyện sông nước  
lớn và không có đò đưa qua sông. Hai cụm từ trên biểu hiện những gian khổ, nguy  
hiểm ngoài đời mà tuổi trẻ sẽ không lường hết được. Đó là nỗi lo lắng rất thiết thực  
của đấng sinh thành đối với con cái thì khi đó “sông nước lớn” và “đò không đưa” trở  
thành một cặp tín hiệu thẩm mĩ sóng đôi.  
Có khi là lời an ủi, động viên với những lời thuyết phục của người Quảng:  
Bạn ơi, chớ sợ đừng lo  
Bên ni sông có bạn, bên tê đò có ta  
6
PHAN THÚy HẠNH TRANG  
Trong cuộc sống, luôn có rất nhiều cung bậc tình cảm và đồng thời cũng có rất  
nhiều sóng gió khi phải đối diện với khó khăn, trắc trở. Câu ca dao trên không chỉ dừng  
lại ở mức độ là lời động viên , là việc an ủi bên ni và bên kia mà cụm từ sóng đôi “bên  
ni sông”, “bên tê đò” còn là lời nhắn nhủ, là tình cảm keo sơn gắn bó, là sự đồng cam  
cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi trong tình yêu, trong tình bạn thiết tha….  
Và cũng có thể là lời so sánh rất mộc mạc mà sâu sắc:  
Vàng năm đâu xứng vàng mười  
Mồ côi đâu xứng với người có cha  
Những gì quý giá thường được biểu đạt qua giá trị là vàng. Để so sánh, người  
bình dân đã diễn đạt bằng 2 cụm từ “vàng năm”, “vàng mười”. Nếu ở đây chỉ dừng lại  
mức độ hiểu người vàng năm, kẻ vàng mười thì chỉ dừng lại ở mức độ là ngôn ngữ.  
Nó trở thành hình ảnh có giá trị nghệ thuật cao khi điều biểu đạt đó được thể hiện bằng  
một ý nghĩa sâu, rộng hơn về mức độ của em hoặc anh thua kém hơn về hoàn cảnh gia  
đình, về vật chất, về hình thức, về môn đăng hộ đối.  
Có khi là những băn khoăn của lứa đôi đầy trăn trở:  
Mối duyên mối nợ về đâu  
Trai thương bát ngát, gái sầu bơ ngơ  
Trong tình yêu đôi lứa người bình dân thường đề cập đến vấn đề duyên nợ.  
Gặp nhau để rồi yêu thương nhau là duyên, được chung sống với nhau để bù đắp cho  
nhau là nợ. Câu ca dao trên ngoài việc nhắc đến duyên nợ thông thường, tác giả dân  
gian sử dụng cặp từ sóng đôi “mối duyên, mối nợ” để thể hiện sự băn khoăn, lo lắng,  
ưu tư về kết quả, về độ vững bền, về ngày mai của duyên tình ấy.  
Đôi khi còn thể hiện cái nhìn rất biện chứng, chân thực:  
Làm lơ cho thế gian tin  
Bề mô con chim cũ cũng nhìn lồng xưa  
“Chim cũ” và “lồng xưa” là hai hình ảnh thân thuộc thường đi kèm để chỉ vật  
chứa và vật bị chứa. Ở đây chim cũ và lồng xưa là tín hiệu thẩm mĩ chỉ người con gái  
và người con trai đã tìm về với nhau.  
Đây là những kết hợp của các tín hiệu biểu trưng có yếu tố miêu tả đi kèm. Đồng  
thời, là sự kết hợp gắn liền với các yếu tố miêu tả - cụ thể hóa. Như vậy, sự biểu đạt  
ngôn ngữ - các tín hiệu biểu trưng sóng hợp là từ có thể được biến hóa thành cụm từ  
bằng cách đưa vào các yếu tố ngôn ngữ có tính miêu tả thì giá trị biểu trưng của chúng  
mới được bộc lộ, được cụ thể hóa, góp phần mang lại giá trị thẩm mĩ cho tác phẩm văn  
học dân gian.  
7
PHAN THÚy HẠNH TRANG  
Có khi còn đề cập đến những không gian đầy khó khăn, gian khổ:  
Lên non mới biết non cao  
Xuống biển cầm sào mới biết cạn sâu  
Trong cuộc sống nghèo khổ, người bình dân xưa luôn phải đối mặt với nhiều khó  
khăn, vất vả để mưu sinh. Cụm từ sóng đôi “lên non, xuống biển” không chỉ nói đến  
việc làm của người xưa là phải trèo non, lội suối, băng đèo… trong cuộc sinh tồn, mà  
ở đây nó nhằm thể hiện những không gian đầy thử thách mà người bình dân đã nếm  
trải và phải vượt qua trong cuộc sống của mình.  
2.3 . Các yếu tố thẩm mĩ sóng ba  
Trong ca dao Xứ Quảng, các yếu tố thẩm mĩ sóng ba xuất hiện với tần suất không  
nhiều nhưng lại mang những giá trị độc đáo. Ở đó cũng thể hiện sự sắp xếp từ ngữ,  
hình ảnh có giá trị nghệ thuật cao được gửi gắm qua những hình ảnh gần gũi, quen  
thuộc.  
Yếu tố sóng ba được cấu tạo là một từ đơn thể hiện cuộc sống êm ả, bình lặng  
của người bình dân xưa:  
Chiều chiều nghe trống Trà Sơn  
Nghe chuông Trà Kiệu, nghe đờn Miếu Bông  
Không chỉ dừng lại ở việc miêu tả buổi chiều ngồi nghe những âm thanh quen  
thuộc “trống, chuông, đờn” từ những địa danh được nhiều người biết đến; mà sự xuất  
hiện của các từ sóng ba “trống”, “chuông”, “đờn” và các cụm từ chỉ ba địa danh cụ thể  
“Trà Sơn”, “Trà Kiệu”, “Miếu Bông” nhằm thể hiện cuộc sống đều đặn, thường nhật,  
thanh bình của người dân Xứ Quảng.  
Ở một bài ca dao khác có hình ảnh sóng ba:  
Lo cho biển cạn thành gò  
Sông kia lấp lại, con đò không đưa  
Nỗi lo về sự đổi thay được thể hiện đậm nét qua hình thức kết hợp sóng ba. Biển  
cho dù năm tháng có trôi qua với biết bao đổi thay dâu bể của cuộc đời, nó vẫn mãi  
tồn tại. Sông có khi bên lở, bên bồi, nhưng không bao giờ cạn hết nước. Cũng như trên  
những dòng sông bao giờ cũng có những con đò. Đó là tất cả những gì thuộc về thiên  
nhiên sẽ vĩnh viễn tồn tại khách quan ngoài ý thức của con người. Ba chất liệu ngôn  
ngữ được thể hiện qua ba cụm từ: “biển cạn thành gò”, “sông kia lấp lại”, “con đò thôi  
đưa” nhằm khẳng định điều lo lắng đó sẽ không bao giờ có nhưng khi yêu nhau người  
ta hay lo lắng - một nỗi lo rất đáng cảm thông về sự lo sợ một tình yêu mất mát, đổi  
thay.  
8
PHAN THÚy HẠNH TRANG  
Yếu tố sóng ba có khi lại là một cụm từ và cùng xuất hiện trong một dòng thơ:  
Cây đa, bến cũ, đò xưa  
Bộ hành có nghĩa nắng mưa vẫn chờ  
Các hình ảnh sóng ba: “Cây đa”, “bến cũ”, “đò xưa” là những nơi người bình  
dân thường nghỉ ngơi, trò chuyện sau thời gian lao động vất vả. Ở đây, tác giả dân gian  
không chỉ dừng lại ở việc miêu tả những địa điểm cụ thể mà còn đề cập đến không  
gian hẹn hò, gặp gỡ của trai gái yêu nhau. Nơi đó đã để lại biết bao nhiêu kỉ niệm ngọt  
ngào của tình yêu nồng thắm. Nơi đó còn thể hiện sự chờ đợi thủy chung (dù trải qua  
bao mùa mưa nắng) của người ở lại đối với người ra đi, người đi qua nếu người ấy có  
tình nghĩa.  
Có khi yếu tố sóng ba là một cụm từ nhưng lại xuất hiện ở hai dòng thơ để thể  
hiện tình yêu gắn bó, thủy chung:  
Thương nhau bụi cỏ cùng ngồi  
Đám tranh cùng lội, vườn chồi cùng băng  
Trong tình yêu đôi lứa khi thật sự yêu thương nhau người bình dân xưa sẽ sống  
hết mình cho tình yêu ấy. Yếu tố kết hợp sóng ba xuất hiện có tác dụng nhấn mạnh,  
khẳng định mạnh mẽ về một tình yêu thủy chung. Cho dù gặp khó khăn, trở ngại, họ  
vẫn cùng vượt qua, để được đến bên nhau. Dù gai góc như bụi cỏ, đám tranh, vườn  
chồi cũng không chia rẽ được tình yêu sâu nặng của lứa đôi.  
Hoặc ở một bài ca dao khác:  
Thương em vì cá trích ve  
Vì rau muống luộc, vì mè trộn măng  
“Cá trích” là loại cá sống gần bờ, dễ đánh bắt. Cá trích ve là loại cá trích nhỏ,  
dân dã. Tương tự như thế, rau muống luộc, mè trộn măng cũng là những món ăn dân  
dã của người lao động lúc nào cũng có sẵn và dễ tìm. Tuy nhiên, trong trường hợp này,  
những hình ảnh trên không phải chỉ nói về các sản vật đó, mà nó nhằm miêu tả tính  
cách chân thật, mộc mạc, giản dị của người con gái. Như vậy, “thương em” chính là  
thương cái giản dị, mộc mạc, chịu thương chịu khó của chính em vậy!  
Nhưng có lúc lại là lời lo lắng về một sự thay đổi:  
Đố ai biết lúa mấy cây  
Biết sông mấy khúc, biết mây mấy tầng  
Gió xoay mấy buổi mấy vần  
Sông trôi đã lở mấy lần đò qua.  
9
PHAN THÚy HẠNH TRANG  
Cuộc sống có những điều xảy ra mà ta không thể lường hết được. Điều đó ngoài  
dự đoán chủ quan của con người, rằng con người không thể đếm được lúa, sông, mây…  
Đó là kinh nghiệm sống, là lời nhắc nhở của người bình dân xưa về một cách sống  
khôn khéo ở đời.  
Đặc biệt, yếu tố sóng ba còn xuất hiện dưới hình thức là một cụm chủ - vị nằm  
cả ở hai câu thơ, biểu hiện cảm xúc mạnh về lời trách móc, giận hờn:  
Ai làm cho bóng trăng rơi  
Cho mây lơ lửng, cho trời lọ lem  
Bóng trăng thường cố định trên trời. Mây thường trôi nhẹ nhàng và bầu trời có  
lúc tối, có lúc sáng. Ở đây, nghệ nhân dân gian không chỉ đề cập đến hình ảnh bóng  
trăng không còn sáng, mây không trôi và bầu trời tối, mà các hình ảnh sóng ba “bóng  
trăng rơi”, “mây lơ lửng”, “trời lọ lem” còn là lời than vãn, trách móc những người đã  
đem đến những phiền toái, lo lắng, khổ đau và nghiệt ngã cho cuộc sống của mình.  
Ở một bài ca dao khác yếu tố sóng ba cũng có kết cấu tương tự:  
Quạt này để nắng che đầu  
Để nực em quạt, đi đâu em cầm  
Trong tình yêu lứa đôi nỗi khát khao về một điểm tựa trong đời luôn là đề tài  
muôn thuở. Hình ảnh chiếc quạt là hình ảnh ẩn dụ để nói về tình cảm bền đượm của  
em đối với người mình yêu. Đó là vật kỉ niệm mà em luôn nâng niu, trân trọng, dù đi  
đâu, lúc nào cũng giữ bên mình không một phút rời xa. Chính cách kết hợp sóng ba đã  
thể hiện một cách đầy đủ điều mà tác giả dân gian gởi gắm về sự trân trọng kỉ vật trong  
tình yêu lứa đôi.  
3 . Kết luận  
Trong ca dao Xứ Quảng, cấu trúc sóng đôi, sóng ba hết sức quen thuộc không  
phải vì chúng lặp lại nhiều lần mà vì đó là những hình ảnh của hồn quê Việt. Từ lâu,  
nó đã gắn bó mật thiết với cuộc sống của con người. Các yếu tố sóng hợp được tác giả  
bình dân sử dụng một cách linh hoạt và tài tình, tất cả được chuyển tải bằng các yếu tố  
ngôn ngữ chứa đựng cái biểu hiện và cái được biểu hiện. Khi kết hợp các hình thức  
sóng đôi, sóng ba, nghệ sĩ dân gian đã giúp cho cách thể hiện thêm sâu sắc, giàu sức  
biểu cảm và gợi hình để tạo nên những giá trị thẩm mĩ cao. Những giá trị thẩm mĩ ấy  
thể hiện lối tư duy, cách cảm, cách nghĩ của tác giả bình dân Xứ Quảng. Đó là lối tư  
duy, lối nói vừa trực tiếp vừa cụ thể, lại vừa mộc mạc thẳng thắn mà cũng hết sức tế  
nhị, khéo léo.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
10  
PHAN THÚy HẠNH TRANG  
[1]Nguyễn Văn Bổn (1983), Văn nghệ dân gian Quảng Nam - Đà Nẵng, (tập 1),  
Sở Văn hóa - Thông tin Quảng Nam - Đà Nẵng xuất bản.  
[2]Nguyễn Văn Bổn (2001), Văn học dân gian Quảng Nam, Sở Văn hóa - Thông  
tin Quảng Nam xuất bản.  
[3]Đỗ Hữu Châu (1996), Từ vựng - Ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia  
Hà Nội, Hà Nội.  
[4]Đinh Trọng Lạc (2001), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, NXB  
Giáo dục, Hà Nội.  
[5]Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (2002), Phong cách học tiếng Việt, NXB  
Giáo dục, Hà Nội.  
Title: PARALLEL FACTORS IN QUANG REGION’S FOLKS  
PHAN THUY HANH TRANG  
Quang Nam University  
Abstract: A parallel factor (so-called a combinatorial variant) is a variant in  
which the linguistic signals in the same folk are combined together based on lexical  
relations (single words, complex words, main and subordinate phrase, subject  
complement phrase) and semantic relations, namely similarity and oppositeness in  
order to express a common meaning. The position of these combinations may be on  
the same line or on double-line; the number of words or phrases in parallel signals  
includes two ones, three ones and more; and the semantic relationship may be similar  
or opposite. The representation of the parallel symbolic signals is not only a simple  
summation of signals but also the ability to create a new relationship based on parallel  
signals. The value of the combination is on the generation of the meaning diversity and  
the enlargement of the Quang Region folks’ figurativeness and expressiveness.  
Keywords: parallel factor, parallel aesthetic signal, lexical relations, semantic  
relations.  
11  
pdf 11 trang Mãnh Khiết 15/01/2024 15840 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các yếu tố sóng hợp trong ca dao xứ Quảng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_yeu_to_song_hop_trong_ca_dao_xu_quang.pdf