Phát hiện trạng thái bất thường của máy biến áp trạm 110kv Hòn Đất
PHÁT HIỆN TRẠNG THÁI BẤT THƢỜNG CỦA
MÁY BIẾN ÁP TRẠM 110KV HÒN ĐẤT
DETECT THE ABNORMAL STATE OF
THE 110KV HON DAT TRANSFORMER
Nguyễn Mạnh Hùng1a, Trần Văn Đoàn2b
1Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
2Học Viên Cao Học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
TÓM TẮT
Bài báo sử dụng phương pháp học không giám sát để phát hiện trạng thái làm việc bất
thường của máy biến áp trạm biến áp 110kV Hòn Đất. Bài báo này đánh giá tỷ lệ tương đối giữa
các đại lượng vật lý để xác định hệ thống có hoạt động ở trạng thái bất thường hay không. Bên
cạnh đó, cơ sở để xác định một trạng thái là bất thường là dữ liệu từ lịch sử vận hành của hệ
thống. Điều này cho phép hệ thống có thể hoạt động một cách linh hoạt phù hợp với từng loại tải
khác nhau. Kết quả thí nghiệm chỉ ra được một số trạng thái làm việc bất thường của máy biến
áp, các trường hợp này thường xuất hiện khi ngắt tải để bảo trì, một số thời điểm làm việc ở mức
tải cao, tải thấp và trong một số trường hợp là do hệ thống thu thập dữ liệu hoạt động không ổn
định.
Từ khóa: Trạm biến áp 110kV Hòn Đất; phát hiện trạng thái làm việc bất thường; trạng thái bất
thường.
ABSTRACT
The paper uses unattended learning method to detect abnormal working status of Hon Dat
110kV transformer. This paper evaluates the relative proportions of physical quantities to
determine if the system is operating at an abnormal state. In addition, the basis for determining an
abnormal state is the data from the operating history of the system. This allows the system to
operate in a flexible manner to suit different load types. Experimental results show some abnormal
working conditions of the transformer, which usually occurs when the load is broken for
maintenance, some work at high load, low load and in one The number of instances is due to the
fact that the data collection system is unstable.
Keywords: Hon Dat 110kV transformer station; Detect abnormal working status; Abnormal state.
trong vận hành để đánh giá trạng thái làm
việc đó là bình thường hay bất thường.
1. GIỚI THIỆU
Trong vận hành máy biến áp việc phát
hiện các trạng thái làm việc bất thường sẽ
giúp cho bộ phận quản lý vận hành có định
hướng và biện pháp điều chỉnh phù hợp
chánh gây sự cố cho máy biến áp nếu để tình
trạng này kéo dài.
2. PHƢƠNG PHÁP ĐỀ NGHỊ
2.1 Phƣơng pháp đề nghị
Để đào tạo một hệ thống có thể giám
sát và phát hiện những sự kiện bất thường
trong hệ thống điện thì chúng ta cần một bộ
dữ liệu chuẩn để đào tạo hệ thống. Các dữ
liệu này có thể được thu thập bởi hệ thống
giám sát có sẵn của các trạm điện. Các mẫu
thu được khi hệ thống vừa cài đặt có thể
được xem là các mẫu bình thường để huấn
luyện. Sau khi huấn luyện, các tín hiệu đo
lường được tại thời điểm cụ thể sẽ được sử
Khác với những nghiên cứu trước
[1]-[2]-[3]-[4], việc phát hiện cảnh báo
thường dựa trên một đại lượng vật lý và một
giá trị ngưỡng đặt trước vốn dựa vào kinh
nghiệm của kỹ sư thiết kế. Bài báo này dựa
vào mối tương quan giữa các đại lượng đo và
dựa vào tần số xuất hiện của các trạng thái
1
dùng để đánh giá.
2.1.1. Quá trình đào tạo bộ phân loại
thường.
Quá trình kiểm tra bộ phân loại bao
gồm các bước:
Bước 1 : thu thập mẫu cần phân loại,
các mẫu được đọc từ phần cứng là mạch đo
lường, các tín hiệu đó được tính toán và kiểm
tra tính hợp lệ trước khi đưa vào phân loại.
Để đào tạo hệ thống, chúng ta cần có
bộ dữ liệu chuẩn và các thuật toán thích hợp
với dữ liệu mà chúng ta có cũng như mẫu
cần phân loại.
Quá trình đào tạo trải qua các bước:
Bước 2 : tiền xử lý, để hệ thống có thể
phân loại chính xác nhất mẫu cần kiểm tra
thì dữ liệu đó cần được đưa qua bộ tiền xử lý.
Tuy nhiên, cách tiền xử lý này phải giống với
cách mà ta đã tiền xử lý bộ dữ liệu chuẩn
trước đó. Điều này là cần thiết để đảm bảo
rằng có sự tương đồng và nhất quán giữa các
bộ dữ liệu mà chúng ta cần đào tạo và phân
loại.
Bước 1 : đọc dữ liệu chuẩn mà ta đã
thu thập trước đó, nối dữ liệu lại thành một
ma trận để thuận tiện cho quá trình đào tạo
sau này.
Bước 2 : tiền xử lý dữ liệu, để quá trình
đào tạo diễn ra thuận lợi cũng như cho ra kết
quả tốt nhất thì dữ liệu được kiểm tra và loại
bỏ những bất thường, sai xót để có được một
bộ dữ liệu đồng nhất và tối ưu. Để làm việc
đó, dữ liệu cần được đưa qua thật toán chuẩn
hóa và giảm chiều dữ liệu phù hợp để có
được bộ dữ liệu tốt nhất. Các thuật toán được
sử dụng là PCA và MaxAbsScaler, với hai
thuật toán này có thể chuẩn hóa và giảm
chiều dữ liệu mà không làm mất thông tin
quang trọng, vẫn giữ lại được những thông
tin cần thiết của các mẫu bỏ đi hay thay đổi.
Các cách mà các thuật toán này thực thi trên
bộ dữ liệu chuẩn được lưu lại để xử dụng
trong chuẩn hóa và giảm chiều cho mẫu kiểm
tra sau này nhằm đảm bảo tính tương đồng
giữa dữ liệu chuẩn và dữ liệu cần phân loại.
Bước 3 : phân loại dữ liệu, mẫu đã
được tiền xử lý được đưa qua bộ phận loại đã
đào tại trước đó nhằm nhận dạng xem mẫu
đó có gì bất thường so với các dữ liệu chuẩn
nhằm đưa ra dự đoán chính xác nhất.
Bước 4 : kết luận mẫu phân loại, mẫu
đã được phân loại sẽ được kết luận là bất
thường hay bình thường và lưu lại thành một
biến nhằm phục vụ cho quá trình điều khiển
và giám sát sau này.
2.2. XỬ LÝ DỮ LIỆU
2.2.1. Import file excel vào Matlab và
chuyển đổi dữ liệu thích hợp:
Bước 3 : Huấn luyện dữ liệu, dữ liệu
sau khi được tiền xử lý được đưa qua thuật
toán machine learning (LocalOutlierFactor)
nhằm đào tạo dữ liệu đưa ra được kết quả so
sánh, nhận dạng sau này.
Dữ liệu đưa vào dưới dạng file excel,
do đó, muốn tiến hành thao tác trên dữ liệu
bằng chương trình Matlab ta phải tìm cách
chuyển thành dữ liệu mà Matlab có thể đọc
được. Quá trình này được thực hiện tương
đối đơn giản bằng công cụ Matlab.
Bước 4 : Lưu mô hình sau khi huấn
luyện, kết quả sau khi đào tạo được lưu lại
nhằm thuận tiện cho quá trình phân loại sau
này.
Mô tả dữ liệu trong file excel có dạng:
Bước 5 : Cập nhật dữ liệu và chạy lại
thuật toán đào tạo dữ liệu sau một ngày hay
một thời gian nào đó nhằm cập nhật thói
quen của con người.
2.1.2. Quá trình vận hành bộ nhận
dạng
Để kiểm tra bộ nhận dạng cần có bộ
dữ liệu hoặc các mẫu bình thường cũng như
bất thường để kiểm tra hệ thống. Để có được
dữ liệu đó cần lựa chọn các thiết bị giả lập
bình thường (đã chọn trong quá trình thu
thập dữ liệu chuẩn) và các thiết bị bất
2
Trên đây ta có một ma trận dữ liệu
MxN, trong bài ta sử dụng K ma trận dữ liệu
như trên.
Ta có thể hình dung quá trình Import
file excel trên được thực hiện như sau:
Hình 2. 1: Các thành phần cơ bản
của một tập dữ liệu
Việc thực hiện các thao tác tiếp theo chỉ sử
dụng các phần tử có định dạng số, xảy ra lỗi
với các phần tử định dạng khác kiểu dữ liệu
trên. Do đó, ta cần loại bỏ những phần tử dữ
liệu không phù hợp (điển hình là NaN).
Chi tiết quá trình:
Truy xuất đến thư mục chứa dữ
Dữ liệu mới :
liệu:
Sau khi các bước trên hoàn thành, ta sẽ
có dữ liệu mới phù hợp cho các thao tác tiếp
theo thực hiện.
Dùng lệnh cd(< đường dẫn địa chỉ đến
thư mục chứa dữ liệu >) sẽ trỏ đến vị trí thư
mục chứa dữ liệu ta cần import.
Import dữ liệu, tạo ma trận MxNxK
chứa thông tin dữ liệu:
Phần tử nhỏ nhất trên Matlab là ma trận,
2.2.2. Giảm chiều dữ liệu:
Với dữ liệu cần phân tích ban đầu phụ
thuộc nhiều biến, vấn đề là các biến này
thường có tương quan với nhau sẽ bất lợi cho
việc áp dụng các biến này để xây dựng các
mô hình tính toán học và với số biến giải
thích lớn chúng ta sẽ rất khó để có cái nhìn
trực quan về dữ liệu. Vì thế, mục đích của
quá trình giảm chiều dữ liệu là giảm số biến,
chỉ sử dụng các biến chủ chốt, chứa tương
đối đầy đủ thông tin của dữ liệu.
nên muốn thao tác trên Matlab thì ta đưa dữ
liệu về dạng ma trận. Dữ liệu ở đây có cột là
các thông số (N thông số), hàng là thời gian
(M giờ trong một ngày), K là số ngày trong
toàn bộ dữ liệu( số lớp dữ liệu). Thực hiện
việc này, ta dùng lệnh dir để liệt kê các tập tin
và thư mục trong thư mục hiện hành, kết hợp
với các lệnh cơ bản khác để tạo thành ma trận
như trên.
Việc làm trên được thực hiện dựa vào
phương pháp phân tích thành phần chính –
Principle Component Analysis (PCA).
Phương pháp PCA sẽ “chiếu” (biểu diễn) dữ
liệu đa chiều lên một không gian có cơ sở
trực giao, tức nếu ta xem mỗi cơ sở trong
không gian mới là một biến thì hình ảnh của
dữ liệu gốc trong không gian mới này sẽ
được biểu diễn thông qua các biến độc lập
(tuyến tính). Vấn đề: nếu chuyển dữ liệu ban
đầu sang không gian mới thì những thông tin
đáng quan tâm của dữ liệu ban đầu liệu có bị
mất? Để giải quyết vấn đề này phương pháp
PCA sẽ tìm không gian mới với tiêu chí cố
gắng phản ánh được càng nhiều thông tin
Chuyển ma trận MxNxK thành ma
trận (MxK)xN:
Mục đích của việc làm này là chuyển
đổi thành ma trận có MxN hàng và K cột
nhằm để tiện thao tác.
Đồng bộ hóa dữ liệu:
Trong dữ liệu, độ chênh lệch của các dữ
liệu khác thông số là rất lớn, nên khi thao tác
dễ dẫn đến những sai lệch và lỗi không đáng
có. Do đó, để giảiquyết tình trạng này, cần
đưa dữ liệu trong ma trận vừa chuyển đổi về
dạng xấp xỉ nhau( VD: đưa về tỉ lệ phần
trăm).
Loại bỏ các dữ liệu có định dạng
NaN (Not a number):
3
gốc càng tốt, và thước đo cho khái niệm
“thông tin” ở đây là phương sai. Một điểm
hay nữa là: do các biến trong không gian mới
độc lâp, nên ta có thể tính toán được tỷ lệ
giải thích phương sai của từng biến mới đối
với dữ liệu, điều này cho phép ta cân nhắc
việc chỉ dùng số ít các biến để giải thích dữ
liệu.
2.3
Ở trọng tâm bài này, nhìn sơ dữ liệu ta
sẽ thấy các thông số có mối liên hệ với
nhau.Nếu để tất cả các thông số để thực hiện
tính toán, thao tác, sẽ phức tạp hơn nhiều so
với việc ta chỉ sử dụng những thông số trọng
tâm. Dựa vào các lý thuyết cơ bản trong
mạch điện, ta thấy rằng, chỉ cần sử dụng 3
thông số điện áp (U), cường độ dòng điện (I),
hệ số công suất (cosφ) là đã tương đối đầy
đủ để biểu diễn thông tin của dữ liệu (Ví dụ:
Công suất tiêu thụ P=UI cosφ, Công suất
phản kháng Q=UIsinφ,…). Nhưng đó chỉ là
cái nhìn chủ quan, vì thế để chính xác hơn, ta
sử dụng thuật toán PCA để kiểm tra và tìm ra
các thông số cần thiết.
Ta biết rằng khi thực hiện các phân tích
nhiều biến mà trong đó các biến có độ tương
quan cao sẽ kém chính xác. Để giải quyết
vấn đề này, ta thực hiện việc chiếu dữ liệu từ
miền gốc lên vùng dữ liệu mới.
Trong Matlab có hỗ trợ việc thực hiện
việc trên một cách đầy đủ, thuật toán PCA
được tích hợp sẵn trong chương trình thành
một hàm có tên là pca. Ở phần này, ta sử
dụng một dạng của hàm có cú pháp:
[coeff,score,latent,tsquared]
= pca(___),coeff là ma trận với các cột là các
vecto riêng, latent là vecto chứa các trị riêng,
và score là ảnh của dữ liệu trong cơ sở mới.
Cách lựa chọn số chiều dữ liệu:
[coeff,score,latent,tsquared] = pca(___)
(1)
Hình 2. 2: Chiếu dữ liệu từ miền gốc lên
miền mới
Sau khi thực hiện dòng lệnh (1) trong
Matlab, ta có được giá trị các thông số coeff,
score, latent, tsquared. Ở đây, để lựa chọn số
chiều dữ liệu, ta chỉ quan tâm đến latent.
Số lượng giá trị latent bằng với số
lượng thông số của dữ liệu, nếu dữ liệu có n
thông số (U sơ cấp, U thứ cấp, I sơ cấp, I thứ
cấp, Công suất P,…) thì ta cũng có được n
latent tương ứng.
Cách tính toán lựa chọn số chiều dựa
vào công thức:
Hình 2. 3: Giảm chiều dữ liệu bằng cách
bỏ đi thành phần có độ biến động thấp
A = cumsum(latent)/sum(latent)
Cumsum (Cumulative sum) là tổng
tích lũy của các thành phần trong tập lớn,
sum là tổng của toàn bộ thành phần trong
tập.A là ma trận chứa kết quả của phép tính
trên, là ma trận nx1 (n là số lượng giá trị
latent).
Ta thấy rằng dữ liệu trên trục mới đã
giảm
sự
tương
quan
đáng
kể
(biến Y1 và Y2 gần như không tương quan),
và sự thay đổi của dữ liệu phụ thuộc phần
lớn vào biến Y1, ta có thể chỉ dung một
biến Y1 để biểu diễn dữ liệu, điều này giúp ta
giảm số chiều dữ liệu mà không làm giảm
quá nhiều “phương sai” của dữ liệu như hình
Ví dụ: trong ma trận latent có n giá trị,
sau khi tính toán ta sẽ có được ma trận A có
n giá trị.
Latent gồm các giá trị a1, a2, a3,…,an
4
Sum(latent) = a1+ a2+ a3+ … +an
A1 = (a1) / sum(latent)
và đánh giá những trạng thái nào là trạng
thái hay xuất hiện, trạng trái nào là trạng
thái ít có khả năng xuất hiện.
A2 = (a1 + a2) / sum(latent)
A3 = (a1 + a2 + a3) / sum(latent)
….
An = (a1 + a2 + a3 + … +an )/
sum(latent)
…
An ]T
Ta được A = [A1 A2
Các giá trị Ai(i = 1…n) là các giá trị
dương, tối đa bằng 1. Nó giống như giá trị
phần trăm của thành phần trong tổng thể, ở
đây nó có nghĩa là lượng thông tin chứa được
trong các thông số (số chiều). Sau tính toán,
ta thấy có nhiều giá trị Ai mang giá trị là 1, ta
không cần chứa tuyệt đối 100% thông tin,
mà chỉ cần chứa một lượng thông tin đáng
tin cậy là được ( khoảng từ 95% đến 99%).
Như vậy, thường sau tính toán, ta chỉ thấy có
vài giá trị Ai nằm trong khoảng đó, dựa vào
số lượng Ai này mà ta lựa chọn được số
chiều tương ứng. Giả sử sau khi tính toán, ta
tìm được 3 giá trị Ai nằm trong vùng điều
kiện từ 95% đến 99%, thì số chiều ta chọn sẽ
là 3.
Hình 3. 2: Thể hiện một ví dụ khi ta sử
dụng một thông số bình thƣờng để
đánh giá hệ thống.
Để đánh giá một trạng thái dữ liệu
bình thường của hệ thống ta nhập các
thông số như hình trên, khi đó điểm đỏ
trên hình là giá trị của mẫu đem vào thử
nghiệm sau khi thực hiện giảm chiều dữ
liệu bằng thuật toán PCA. Trên hình 3.2
hệ thống đã nhận ra được hệ thống đang
làm việc ở trạng thái bình thường.
3. KẾT QUẢ
Hình 3.1: Giao diện chƣơng trình load dữ
liệu.
Hình 3.1 môt tả giao diện của chương
trình. Trạng thái của trạm biến áp được
lưu trữ trong một file excel. Sau khi nhấn
load dữ liệu, dữ liệu sẽ được tải vào
chương trình. Sau đó chương trình sẽ học
Hình 3.3: Đánh giá hệ thống với dữ liệu
bất thƣờng
5
Hình 3.6. Trạng thái làm việc bất thƣờng
của MBA trạm 110kV Hòn Đất ở chế độ
dòng phía sơ cấp có giá trị còn phía thứ cấp
bằng không
Để đánh giá một trạng thái dữ liệu
bất thường của hệ thống ta nhập các thông
số như hình trên, khi đó điểm đỏ trên
hình là giá trị của mẫu đem vào thử
nghiệm sau khi thực hiện giảm chiều dữ
liệu bằng thuật toán PCA. Trên hình 3.3
hệ thống đã nhận ra được hệ thống đang
làm việc ở trạng thái bất thường.
Hình 3.7. Trạng thái làm việc bất thƣờng
của MBA trạm 110kV Hòn Đất ở chế độ
tải thấp
Hình 3.4. Trạng thái làm việc bất thƣờng
của MBA trạm 110kV Hòn Đất ở chế độ
tải cao
Từ kết quả trên, các dữ liệu bất thường
được phát hiện có thể phân thành ba loại,
loại thứ nhất là khi các đường dây không
hoạt động, khi đó giá trị dòng và áp đều bằng
0. Đây là những lúc đường dây cắt tải để sữa
chữa, vì vậy tần số xuất hiện của các mẫu
này rất ít. Trạng thái này tuy không có hại
cho hệ thống nhưng vì tần số xuất hiện thấp
nên đã được nhận dạng là trạng thái bất
thường.
Trạng thái thứ hai là trạng thái tải cao.
Dựa vào kết quả các thông số bình thường
được trình bày trong bảng 3.1 cho máy biến
áp T2, ta thấy đa số các trạng thái bình
thường đề có mức tải trong khoảng 50A phía
sơ cấp, là 200A phía thứ cấp. Mặc dù vậy, có
một số ít mẫu ghi nhận độ lớn dòng tải cao
tới hơn 100A ở bảng thông số trạng thái bất
thường. Điều này là vì các trạng thái đỉnh tải
rất ít khi xảy ra, vì vậy các trạng thái này
cũng bị nhận dạng là trạng thái bất thường.
Điều này là hợp lý khi nhìn vào tần số xuất
hiện của các mẫu thu thập được. Nhưng các
trạng thái này vẫn chưa gây nguy hiểm đến
hệ thống vì thông số định mức của máy
200A cho sơ cấp và 1004A cho phía thứ cấp.
Điều này cũng thể hiện rõ sự khác biệt giữa
Hình 3.5. Trạng thái làm việc bất thƣờng
của MBA trạm 110kV Hòn Đất ở chế độ
không tải
6
công suất vận hành thực của máy biến áp và
công suất thiết kế.
thứ cấp dòng điện bằng không. Đôi khi P-Q
không đo được mặc dù cảm biến dòng điện
báo giá trị về. Điều này cho thấy trạm cần
kiểm tra lại hệ thống đo ghi dữ liệu.
Trạng thái thứ ba là trạng thái được tín
hiệu trong hai pha hoặc một pha. Điều này
vô lý trong điều kiện vận hành bình thường
vì khi vận hành bình thường luôn phải tồn tại
cả ba pha hoặc khi sữa chữa thì sẽ cắt cả ba
pha. Hơn thế nữa, điện áp và dòng điện đạt
được khá nhỏ (12A). Điều này chứng tỏ có
sai sót trong quá trình vận hành thiết bị hoặc
cảm biến đo về không chính xác. Do đó đề
xuất kiến nghị nên phân tích lại quy trình vận
hạnh của hệ thống để tìm hiểu nguyên nhân
sự cố này.
Việc phát hiện cảnh báo này chưa tính
đến yếu tố thời điểm hoạt động của hệ thống,
vì mỗi thời điểm khác nhau hệ thống sẽ có
trạng thái vận hành khác nhau. Trạng thái
này bị ảnh hưởng bởi nhu cầu phụ tải; vì vậy
việc cần xét tới thời điểm mà tín hiệu quan
sát được.
Phương pháp chuẩn hóa và PCA thích
hơp để nghiên cứu với dữ liệu trạm biến áp
nhưng chưa được kiểm chứng đối với các đối
tượng khác như phát tuyến hoặc nhà máy
điện, vì vậy đề tài cần mở rộng ra cho các
đối tượng khác.
4. KẾT LUẬN
Trong bài báo này, chúng tôi phát hiện
những dấu hiệu bất thường của MBA trạm
110kV Hòn Đất. Khác với các đề tài trước,
việc phát cảnh báo không phải chỉ dựa vào
một đại lượng đo duy nhất và dựa vào nhiều
đại lượng đo cùng lúc. Để làm điều này,
chúng tôi tiền xử lý bằng cách chuẩn hóa dữ
liệu, sau đó sử dụng PCA để giúp loại bỏ các
tín hiệu đo có sự tương quan cao. Bộ phân
loại một lớp máy hỗ trợ cho phép phát hiện
các mẫu bất thường trong dữ liệu của trạm
biến áp Hòn Đất trong năm 2016.
bài báo đã xây dựng một chương trình
cho phép lựa chọn dữ liệu trong quá khứ và
kiểm tra với dữ liệu mới đo được. Dựa vào
chương trình này, một số mẫu bất thường
phát hiện được. Đó là hệ thống đo dòng điện
đôi khi chưa đáp ứng được tác động thực thế,
phía sở cấp thì dòng điện có giá trị còn phía
7
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] PGS.TS Nguyễn Hoàng Việt, Đánh giá độ tin cậy trong hệ thống điện,Nhà xuất bản
ĐHQG TP. HCM, 2002.
[2] PGS.TS Phan Văn Khôi, Cơ sở đánh giá độ tin cậy, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Hà Nội 2001.
[3] PGS.TS Trần Bách, Lưới điện và hệ thống điện,Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Hà
Nội 2004.
[4] PGS.TS Trần Quang Khánh, Vận hành hệ thống điện,Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ
thuậtHà Nội 2009.
[6] Roy Billinton, Ronald N. Allan, Reliability Evaluation of Power System, Second
Edition. Concepts and techniquesJun 30, 1992.
[7] Jose F. Prada, The Value of Reliability in Power Systems – Pricing Operating
Reserves.Massachusetts Institute of TechnologyJune 1999.
[8] Mohammad T. Ameli, Saeid Moslehpour, Mahdavikhah Golnazsadat, Determining the
Spinning Reserve In Power Systems By Corrected Recursive PJM Method.Proceedings
of The 2008.
[9] Guido BASSOTTI, Fernando OLSINA, Francisco GARCES, VaR-based operating
reserve assessment in composite power systems.Simposio, XI SEPOPE, 2009.
[10] J.Zhong, Operating Reserve Value at Risk.2006 Ieee Power Engineering Society
General Meeting, Pes, 2006
[11] Arnold. Svm anomaly detection code. IDS Lab, Columbia University,2002.
[12] Scholkopf, J. Platt, J. Shawe–Taylor, A. Smola and R. Williamson. Estimating the
support of a high–dimensional distribution. Neural Computation, 13(7):1443-1472,
2001.
[13] Manohar Swamynathan, Mastering Machine Learning with Python in Six Steps,
Apress, 2017
Thông tin liên hệ tác giả chính (ngƣời chịu trách nhiệm bài viết):
Họ tên: Trần Văn Đoàn
Đơn vị: Học viên Cao học Trƣờng Đại Học Sƣ Phạm Kỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0919913606
Email: trandoan1182@gmail.com
XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƢỚNG DẪN
8
BÀI BÁO KHOA HỌC
THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ
Bài báo khoa học của học viên
có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn
Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ
Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ bởi Luật xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.
Nghiêm cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý
của tác giả và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh.
ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN!
Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2018-2019 của Thư viện Trường Đại học
Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.
Bạn đang xem tài liệu "Phát hiện trạng thái bất thường của máy biến áp trạm 110kv Hòn Đất", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
phat_hien_trang_thai_bat_thuong_cua_may_bien_ap_tram_110kv_h.pdf

