Nghiên cứu nguyên nhân hư hỏng nhằm cải thiện chất lượng các công trình trường học trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

NGHIÊN CỨU NGUYÊN NHÂN HƯ HỎNG NHẰM CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG CÁC  
CÔNG TRÌNH TRƯỜNG HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG  
RESEARCH ON CAUSES OF CORRUPTION TO IMPROVING THE QUALITY OF  
SCHOOL BUILDING PROJECTS IN KIEN GIANG PROVINCE  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu này khảo sát có chọn lọc các nguyên nhân chính chiếm tỷ trọng lớn gây ảnh  
hưởng chất lượng của công trình xây dựng, cụ thể trong luận văn này là công trình trường học  
các cấp trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.  
Đánh giá nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng công trình trên cơ sở khảo sát công trình  
thực tế. Biểu hiện thiếu sót chất lượng và sự cố chất lượng thể hiện thông qua biến dạng, chuyển  
vị và vết nứt trên cấu kiện công trình. Khảo sát những biểu hiện này, kết hợp điều tra thực địa,  
sẽ giúp ta đánh giá nguyên nhân dẫn đến hư hỏng. Có nguyên nhân cơ bản và nguyên nhân thứ  
cấp. Dựa vào phân tích tổng quan từ các nghiên cứu trước đây chọn lọc 22 yếu tố và được chia  
thành 05 nhóm có liên quan đến: Do khảo sát; Do thiết kế; Do thi công; Do sử dụng; Do môi  
trường và các yếu tố khác. Một hư hỏng có thể do một hay nhiều nguyên nhân tác động.  
Có 125 bảng câu hỏi được gửi đi khảo sát và thu về 122 bảng câu hỏi hợp lệ để đưa vào  
phân tích. Kết quả các phân tích thống kê cho thấy tất cả các yếu tố sử dụng trong thang đo đều  
đạt độ tin cậy và đã tìm ra được các yếu tố có tác động mạnh đến sự hư hỏng công trình trường  
học. Bên cạnh đó, nghiên cứu đã xây dựng nhóm các nhân tố có khả năng đại diện cho các yếu  
tố ban đầu để giải thích cho vấn đề nguyên nhân của sự hư hỏng công trình trường học trên địa  
bàn tỉnh trong giai đoạn hiện nay.  
Từ khóa: Sự hư hỏng công trình; Hiệu quả dự án đầu tư xây dựng; Công trình trường học.  
ABSTRACT  
This research selectively collects the major causes of the effecting quality of construction  
works, specifically in this thesis is school buildings at all grade in Kien Giang province.  
Evaluating the causes affecting the quality of the works on the basis of actual construction  
surveys. Expression of quality defects and quality problems by deformation, displacement and  
cracks in the structure. Surveying these symptoms, combining direct surveys, will help us find out  
the cause of the damage. There are underlying causes and secondary causes.  
Based on the literature from previous studies, 22 factors which caused the late payment was  
selected and categorized into 5 groups, i.e., by surveying, designing, constructing, using and due  
to the environment and other factors. A failure can be caused by one or more causes. There were  
totally 125 questionnaires was made and sent to the expected respondents. As a result, 122  
responses were collected from survey as the input data for prospective analyses. The results of  
the statistical analysis show that all the factors were reliable. It was also found that the factors  
have a strong effect on the corruption of school building construction. In addition, this study has  
built the principal components representing all the initial factors of corrupt school building  
construction on Kien giang province in current stage.  
Keyword: Corruption of school building; Effection of construction investment projects;  
School building.  
- Tìm hiểu và xác định tần suất xảy  
những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến chất  
lượng công trình xây dựng trường học trên  
địa bàn tỉnh Kiên Giang trong thời điểm hiện  
nay.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Những năm gần đây, công tác đầu tư xây  
dựng cơ bản được triển khai ngày một nhiều,  
số lượng các công trình ở mọi quy mô ngày  
một tăng, trong đó vốn đầu tư từ ngân sách  
Nhà nước đầu tư vào các công trình trường  
học trên địa bàn tỉnh Kiên Giang chiếm tỷ  
trọng khá lớn. Hàng năm có nhiều dự án đầu  
tư xây dựng công trình trường học được triển  
khai. Tình hình chất lượng công trình ngày  
càng đạt chất lượng từ khá trở lên. Trình độ  
quản lý các chủ đầu tư cũng như trình độ  
chuyên môn của các nhà thầu trong thiết kế  
và thi công được nâng lên một bước đáng kể.  
Hầu hết các công trình, hạng mục công trình  
trường học được đưa vào sử dụng trong thời  
gian qua đều đáp ứng được yêu cầu về chất  
lượng, quy mô, công suất, công năng sử dụng  
theo thiết kế, đảm bảo an toàn chịu lực, an  
toàn trong vận hành và đã phát huy được  
hiệu quả. Tuy nhiên, bên cạnh những bước  
phát triển trên, trong hoạt động xây dựng vẫn  
còn vấn đề về chất lượng đáng để chúng ta  
quan tâm. Theo số liệu thống kê năm 2016  
[1], tỉnh Kiên Giang có số lượng trường mẫu  
giáo 136 trường, số trường tiểu học 296  
trường, số trường Trung học cơ sở 122  
trường, số trường Trung học phổ thông là 23  
trường.  
- Đề xuất hướng khắc phục nguyên nhân  
thường xảy ra nhất, giúp hạn chế hư hỏng có  
thể xảy ra trong công tác đầu tư xây dựng  
công trình trường học, từ đó nâng cao hiệu  
quả đầu tư dự án  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1 Thu thập dữ liệu  
Hình 1.Quy trình thu thập dữ liệu  
Dựa vào qui trình thu thập dữ liệu và ý  
kiến đóng góp của 10 chuyên gia (chuyên gia  
là những người cóvai trò lãnh đạo và tối thiểu  
15 năm kinh nghiệm), có tổng cộng 22 yếu tố  
ảnh hưởng đến sự hư hỏng công trình trường  
học được đề xuất trong nghiên cứu này (xem  
Bảng 1), được chia ra làm 05 nhóm có liên  
quan.  
Sau một vài sự cố công trình trường học  
xảy ra trong thời gian qua đã khiến dư luận  
đặt ra nhiều câu hỏi: nguyên nhân nào dẫn  
đến các sự cố, ai là người quản lý và chịu  
trách nhiệm về chất lượng công trình xây  
dựng, khi có sai phạm thì xử lý như thế  
nào...? Chất lượng công trình xây dựng  
trường học đã trở thành vấn đề được quan  
tâm bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát  
triển, đời sống và an toàn sinh mạng con  
người, đặc biệt ảnh hưởng đến những chủ  
nhân tương lai của đất nước. Để đem lại sự  
hiệu quả cao hơn trong công tác quản lý chất  
lượng các dự án trường học nói riêng, đồng  
thời nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát  
triển của tỉnh Kiên Giang trong tương lai.  
Với những lý do trên, mục tiêu của nghiên  
cứu này:  
Bảng 1. Các nhân tố ảnh hưởng sự hư hỏng  
công trình trường học  
NHÂN TỐ GÂY HƯ HỎNG  
CÔNG TRÌNH TRƯỜNG  
HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH  
STT  
KIÊN GIANG  
Nhóm yếu tố liên quan đến quá  
trình khảo sát  
I
Khoảng cách giữa các hố khoan  
quá lớn.  
1
- Phân tích thực trạng các dự án đầu tư  
xây dựng trường học trên tỉnh Kiên Giang.  
2
3
Độ sâu các hố khoan không đủ.  
- Phân tích và xác định các nguyên nhân  
chính ảnh hưởng đến sự hư hỏng các công  
trình trường học trên địa bàn tỉnh trong giai  
đoạn hiện nay.  
Báo cáo kết quả khảo sát và thí  
nghiệm thiếu chính xác.  
Thiếu kinh nghiệm trong việc do  
lường các yếu tố ngập lụt, chấn  
động.  
Thiên tai: lũ lụt, bão giông, động  
đất, sóng thần.  
1
2
3
4
Thời tiết, khí hậu khắc nghiệt.  
Vùng khảo sát có sự đột biến về  
mặt cắt địa chất quá lớn (thấu  
kính bùn, túi nước xen kẹp...)  
Xâm thực ăn mòn của nước mặn  
đến kết cấu.  
5
II  
1
Ảnh hưởng thi công công trình  
lân cận  
Nhóm yếu tố liên quan đến quá  
trình thiết kế  
4
Sử dụng thang đo Likert 5 khoảng đo  
nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng  
nguyên nhân  
Do đánh giá sai về số liệu đầu  
vào (quy mô, công năng sử  
dụng)  
Bảng 2.Bảng thang đo đánh giá 5 mức độ  
2
3
Sơ đồ tính toán chưa phù hợp  
Mức độ Mức độ ảnh hưởng  
Chưa tính đúng độ lún của nền  
móng công trình  
1,0-1,8  
1,8-2,6  
2,6-3,4  
3,4-4,2  
4,2-5  
Không ảnh hưởng  
Ít ảnh hưởng  
Ảnh hưởng vừa  
Ảnh hưởng nhiều  
Ảnh hưởng rất nhiều  
Hạn chế kiến thức về quy chuẩn,  
tiêu chuẩn áp dụng sử dụng.  
4
5
Do lỗi chương trình phần mềm  
sử dụng.  
2.2 Kiểm định độ tin cậy của thang đo hệ  
số Cronbach’s Alpha  
Nghiên cứu này áp dụng theo Trọng và  
Ngọc [2] thang đo được đánh giá chấp nhận  
và tốt đòi hỏi thỏa mãn đồng thời 02 điều  
kiện sau:  
Nhóm yếu tố liên quan đến quá  
trình thi công  
III  
1
Năng lực tài chính nhà thầu còn  
hạn chế  
- Hệ số Cronbach’s Alpha của tổng  
thể>0.7.  
Do kinh nghiệm thi công hạn  
chế.  
2
- Hệ số tương quan biến tổng (Corrected  
Item-Total Correlation) >0.3.  
Bố trí nhân lực, sử dụng lao  
động không phù hợp  
3
2.3 Thống kê mô tả  
Mục đích của thống kê mô tả là xác định  
trung bình và xếp hạng các nhân tố ảnh  
hưởng và xác định nhân tố nào ảnh hưởng  
đến đến sự hư hỏng công trình trường học  
nhiều nhất. Thường dùng các thông số thống  
kê như giá trị trung bình, độ lệch chuẩn.  
Sai sót chủng loại, cường độ vật  
liệu đầu vào.  
4
Biện pháp thi công chưa tính  
toán ổn định hố đào, mái dốc..  
5
Nhóm yếu tố liên quan đến  
đơn vị sử dụng  
2.4 Phân tích One – Way Analysis of  
IV  
1
Variance (ANOVA)  
Phân tích ANOVA được sử dụng để xác  
định có hay không có sự khác biệt đáng kể  
giữa trị trung bình của hai hoặc nhiều hơn  
nhóm độc lập và chiều hướng liên hợp giữa  
chúng. Các giả thuyết kiểm định như sau:  
Tự ý thay đổi công năng, chức  
năng sử dụng.  
Ít quan tâm đến vấn đề bảo trì,  
bảo dưỡng.  
2
- H0: Không có sự khác biệt về trị trung  
bình của các giá trị khảo sát giữa các nhóm  
đối tượng.  
Thiếu ý thức sử dụng và bảo  
quản hạng mục công trình  
3
V
Nhóm yếu tố khác  
- HA: Có sự khác biệt về trị trung bình  
của các giá trị khảo sát giữa các nhóm đối  
tượng.  
- Và điều kiện để phân tích nhân tố khám  
phá là phải thoả mãn các yêu cầu sau:  
+ Hệ số tải nhân tố > 0,5  
- Bác bỏ giả thuyết: khi Sig > 0,05: Chấp  
nhận H0 và ngược lại.  
+ 0,5 ≤ KMO ≤ 1  
+ Kiểm định Barlett có mức ý nghĩa  
thống kê (Sig. < 0,05)  
Đồng thời nếu có sự khác biệt về trị  
trung bình của các giá trị khảo sát giữa các  
nhóm đối tượng (bác bỏ Ho) thì tiến hành  
kiểm định hậu nghiệm Tukey’HSD để xem  
xét có hay không việc loại bỏ nhóm đối  
tượng nào trong toàn bộ mẫu sau khi phân  
tích Anova.  
+ Phần trăm phương sai toàn bộ  
(Percentage variance) > 50%  
Trong đó:  
- Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin): là  
chỉ số được dùng để xem xét sự thích hợp  
của phân tích nhân tố. Trị số KMO lớn (0,5 ≤  
KMO ≤ 1) là điều kiện đủ để phân tích nhân  
tố là thích hợp theo Trọng và Ngọc [2].  
2.5 Phân tích nhân tố khám phá EFA  
Phương pháp phân tích nhân tố khám  
phá EFA để nhóm các nhân tố chính có mức  
độ xảy ra và ảnh hưởng lớn đến chậm thanh  
toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản.  
- Kiểm định Barlett: là một đại lượng  
thống kê dùng để xem xét giả thuyết các biến  
không có tương quan trong tổng thể. Nếu  
kiểm định này có ý nghĩa thống kê (sig. <  
0,05) thì các biến có tương quan với nhau  
trong tổng thể  
Tiêu chí để đảm bảo mức ý nghĩa thiết  
thực của phương pháp phân tích nhân tố  
EFA:  
+ Factor loading > 0,3 được xem là đạt  
mức tối thiểu  
- Phần trăm phương sai (Percentage of  
variance): Thể hiện phần trăm biến thiên của  
các biến quan sát. Nghĩa là xem biến thiên là  
100% thì giá trị này cho biết phân tích nhân  
tố giải thích được bao nhiêu %.  
+ Factor loading > 0,4 được xem là quan  
trọng  
+ Factor loading > 0,5 được xem là có ý  
nghĩa thực tiễn  
Hình 2. Sơ đồ qui trình nghiên cứu  
nhân viên trực tiếp chiếm 69,67 % số lượng  
mẫu với 85 người, ở lĩnh vực khác chiếm  
4,92 % số lượng mẫu với 6 người tham gia  
trả lời (xem Hình 4)  
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
3.1 Kết quả thu thập dữ liệu  
Tổng cộng có 125bảng câu hỏi được gửi  
đến cho 04 nhóm: Chủ đầu tư; Tư vấn; Nhà  
thầu thi công; Lĩnh vực khác. Kết quả thu  
được theo Bảng 3.  
Tần  
suất  
122  
Phần  
trăm  
97,6%  
Trả lời đạt yêu cầu  
Trả lời không đạt  
yêu cầu  
Không trả lời  
2
1,6 %  
0,8%  
1
Tổng cộng  
125  
Bảng 3.Kết quả trả lời bảng câu hỏi  
. Với 22 biến cần phải thực hiện khảo sát  
tối thiểu từ 88 mẫu đến 110 mẫu. Như vậy,  
khi thu về được 122 mẫu đạt yêu cầu, thì đủ  
cơ sở để tiến hành phân tích các bước tiếp  
theo.  
3.2 Đặc điểm của đối tượng khảo sát  
a) Thời gian của người trả lời tham gia  
công tác trong ngành xây dựng  
Hình 4.Biểu đồ vai trò của người trả lời  
trong công ty hoặc dự án  
c) Lĩnh vực hoạt động của người trả lời  
trong công ty hoặc dự án  
Hình 5.Biểu đồ lĩnh vực hoạt động của  
người trả lời trong công ty hoặc dự án  
Từ Hình 5, cho thấy: đơn vị Chủ đầu tư  
chiếm 28,7 % số lượng mẫu với 35 người,  
đơn vị tư vấn chiếm 31,97 % số lượng mẫu  
với 39 người, đơn vị nhà thầu thi công chiếm  
31,15 % số lượng mẫu với 38 người, lĩnh vực  
khác chiếm 8,19 % số lượng mẫu với 10  
người.  
3.3 Kiểm định độ tin cậy của thang đo  
Kết quả cho thấy (xem Bảng 4) Thang  
đo cho các yếu tố có hệ số Cronbach’s Alpha  
= 0,877 > 0,7. Kết quả này hoàn toàn thỏa  
mãn yêu cầu về độ tin cậy của thang đo.  
Hình 3. Biểu đồ thời gian của người trả lời  
tham gia công tác trong ngành xây dựng  
Qua kết quả phân tích thống kê cho thấy  
tỷ lệ người tham gia trả lời có thời gian tham  
gia công tác trên 09 năm chiếm đa số (chiếm  
50,82%). Điều này cũng cho thấy rằng, số  
lượng người tham gia trả lời bảng câu hỏi sẽ  
được tương đối chính xác.  
b) Vai trò của người trả lời trong công ty  
hoặc dự án  
Theo kết quả phân tích, nghiên cứu cho  
thấy vị trí hay chức danh của những người  
tham gia làm việc trong công ty hay dự án trả  
lời bảng câu hỏi: lãnh đạo chiếm 10,66% số  
lượng mẫu với 13 người, Trưởng hoặc phó  
phòng ban chiếm 11,48 % số lượng mẫu với  
14 người, người quản lý dự án chiếm 9,02%  
số lượng mẫu với 11 người, cán bộ kỹ thuật,  
Reliability Statistics  
Cronbach's  
N of Items  
Alpha  
0.877  
22  
Bảng 4. Hệ số Cronbach’s Alpha tổng  
thể cho các nhóm yếu tố  
3.4 Trị trung bình và xếp hạng các yếu tố  
Descriptive Statistics  
Minimum Maximum  
N
Mean  
Std.  
Deviation  
122  
122  
122  
122  
122  
122  
122  
122  
122  
122  
122  
122  
122  
122  
122  
122  
122  
122  
122  
122  
122  
AH14  
AH13  
AH4  
1.00  
2.00  
2.00  
1.00  
1.00  
1.00  
1.00  
1.00  
1.00  
1.00  
1.00  
1.00  
1.00  
2.00  
2.00  
1.00  
1.00  
1.00  
1.00  
1.00  
5.00  
5.00  
5.00  
5.00  
5.00  
5.00  
5.00  
5.00  
5.00  
5.00  
5.00  
5.00  
5.00  
5.00  
5.00  
5.00  
5.00  
5.00  
5.00  
5.00  
4.0000  
3.7656  
3.7656  
3.7031  
3.6797  
3.6563  
3.5625  
3.5469  
3.5469  
3.5391  
3.5234  
3.5234  
3.4844  
3.2812  
3.2656  
3.2578  
3.1406  
3.1250  
3.0938  
2.5781  
1.05741  
.99988  
1.00772  
.95867  
AH8  
AH16  
AH6  
1.13591  
1.12549  
1.04806  
1.03376  
1.07849  
1.20956  
1.18365  
.99578  
AH2  
AH7  
AH5  
AH15  
AH12  
AH11  
AH17  
AH3  
1.02707  
.80292  
AH22  
AH18  
AH10  
AH21  
AH9  
.80827  
1.02907  
1.16196  
1.11539  
.90873  
AH20  
.86588  
Valid N  
(listwise)  
Bảng 5. Bảng tính trị trung bình theo mức độ ảnh hưởng  
Qua kết quả phân tích có thể nhận xét  
rằng có sự đồng thuận cao trong cách xếp  
hạng các yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến sự  
hư hỏng công trình trường học trên địa bàn  
tỉnh. Cả 5 nhóm trả lời đều đồng thuận khá  
cao nguyên nhân ảnh hưởng mạnh nhất đến  
sự hư hỏng công trình trường học trên địa  
bàn tỉnh là “Sai sót chủng loại, cường độ vật  
liệu đầu vào” với điểm trung bình tổng thể  
cho các yếu tố cao nhất là 4,000.  
Bên cạnh đó, cả 5 nhóm trả lời cũng khá  
đồng thuận trong việc xếp hạng các yếu tố có  
liên quan bên ngoài ảnh hưởng đến sự hư  
hỏng công trình trường học, với điểm trung  
bình tương đối cao từ 3,6797 cho đến 3,7656  
là:  
ngày càng nhiều, kỹ thuật thi công tiên tiến,  
thiết bị thi công lạc hậu không còn nữa thay  
vào đó là các máy móc tối tân hiện đại, thi  
công nhanh, tiết kiệm sức lao động, đồng  
thời khắc phục được các yếu tố do ảnh hưởng  
thời tiết xảy ra, từ đó sẽ góp phần hạn chế sự  
hư hỏng công trình trường học trên địa bàn.  
- AH13: Bố trí nhân lực, sử dụng lao  
động không phù hợp.  
- AH4: Thiếu kinh nghiệm trong việc do  
lường các yếu tố ngập lụt, chấn động..  
- AH8: Chưa tính đúng độ lún của nền  
móng công trình  
3.5  
Kết quả kiểm định sự khác biệt về  
trị trung bình giữa các nhóm bằng phương  
pháp Hậu nghiệm Turkey  
- AH16: Tự ý thay đổi công năng, chức  
năng sử dụng.  
Qua phân tích ở Bảng 6, cho thấy sau khi  
thực hiện bước kiểm định hậu nghiệm Tukey  
các nhóm AH2, AH5, AH16 có Sig ANOVA  
< 0,05 thì các nguyên nhân này có Sig  
Tukey,s > 0,05. Điều này chứng tỏ rằng hầu  
hết không có sự khác biệt về trị trung bình  
giữa các nhóm trong cách đánh giá của các  
nguyên nhân. Kết quả chấp nhận được..  
Nhìn chung, các yếu tố ảnh hưởng đến  
sự hư hỏng công trình trường học trên địa  
bàn tỉnh qua các giai đoạn khác nhau thì sẽ  
khác nhau, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến  
điều kiện thời tiết và nhận thức của con  
người. Nhưng ngày nay trình độ khoa học kỹ  
thuật phát triển, máy móc hiện đại thay thế  
con người rất nhiều, số lượng kỹ sư ra trường  
Sig.  
Sig.  
Sig.  
Sig.  
Sig.TUKEY  
HSD (Thời  
TUKEY  
ANOVA Sig.TUKEY ANOVA  
NGUYÊN ANOVA  
HSD  
(Lĩnh vực  
hoạt  
(Vị trí  
chức  
danh)  
HSD (Vị trí (Lĩnh vực  
NHÂN  
(Thời gian gian tham  
tham gia)  
chức danh)  
hoạt  
động)  
gia)  
động)  
F
Sig.  
F
Sig.  
F
Sig.  
AH2  
2,025  
0,114  
0,666  
0,937  
0,238  
2,851  
3,507  
0,916  
2,838  
1,999  
0,828  
0,37  
AH5  
0,525  
0,138  
0,099  
0,510  
0,08  
AH16  
0,110  
Ghi chú: Các giá trị tô đậm có mức ý nghĩa Sig Tukey’s > 0,05.  
Bảng 6. Kết quả kiểm định hậu nghiệm Tukey’s HSD cho từng yếu tố  
quan hệ tuyến tính của các nhân tố với các  
biến nguyên thủy (biến quan sát).  
Quy trình được thực hiện đảm bảo các  
điều kiện sau: - Giá trị sai số chung của tất cả  
các yếu tố phải lớn hơn hoặc bằng 0,5.  
3.6 Phân tích nhân tố khám phá EFA  
Phân tích nhân tố khám phá EFA dùng  
để rút gọn một tập K biến quan sát thành một  
tập F (F < K) các nhân tố có ý nghĩa quan  
trọng hơn. Cơ sở rút gọn này dựa vào mối  
- KMO: Chỉ số thống kê mức độ tương  
quan giữa các biến có nguyên nhân từ các  
nhân tố cốt lõi. Theo Trọng và Ngọc [2], hệ  
số KMO từ 0,5 đến 1 là tương quan đủ lớn để  
áp dụng các kỹ thuật phân tích nhân tố, tương  
đương với 0,5 ≤ KMO ≤ 1  
- Bartlett’s Test of Sphericity: kiểm định  
giả thuyết ma trận tương quan giữa các biến.  
Kiểm định Bartlett’s Test of Sphericity phải  
có ý nghĩa thống kê (Sig < 0,05)  
- Phần trăm phương sai toàn bộ > 50%.  
KMO and Bartlett's Test  
Hệ số đo lường sự phù hợp lấy mẫu (Kaiser-Meyer-Olkin)  
Approx. Chi-Square 1334.050  
0.734  
Kiểm định tương quan tổng thể  
(Bartlett's Test of Sphericity)  
df  
210  
Sig.  
0.000  
Bảng 7. Bảng kết quả kiểm định KMO và Bartlett's Test  
KMO and Bartlett's Test  
Hệ số đo lường sự phù hợp lấy mẫu (Kaiser-Meyer-  
0,717  
Olkin)  
Approx. Chi-Square  
1193.235  
171  
Kiểm định tương quan tổng thể  
df  
(Bartlett's Test of Sphericity  
Sig.  
0,000  
Bảng 8. Bảng kết quả kiểm định KMO và Bartlett's Test lần 2  
Total Variance Explained  
Co  
mp  
one  
nt  
Initial Eigenvalues  
Extraction Sums of  
Squared Loadings  
Rotation Sums of  
Squared Loadings  
Total  
% of  
Cumula Total  
% of  
Cumul Total  
% of  
Cumula  
Variance tive %  
Variance ative %  
Variance tive %  
5,598  
2,353  
1,635  
1,461  
29,465 29,465  
12,384 41,849  
8,605 50,454  
7,688 58,142  
5,598  
2,353  
1,635  
1,461  
29,465 29,465 3,308  
12,384 41,849 3,101  
8,605 50,454 1,970  
7,688 58,142 1,954  
17,412 17,412  
16,320 33,732  
10,366 44,098  
10,283 54,381  
1
2
3
4
1,301  
1,110  
,931  
,823  
,782  
,677  
,507  
,410  
,347  
,265  
,255  
,169  
,163  
,116  
,098  
6,849 64,991  
5,840 70,831  
4,901 75,732  
4,332 80,064  
4,114 84,178  
3,565 87,743  
2,667 90,410  
2,156 92,566  
1,826 94,392  
1,397 95,789  
1,340 97,128  
,888 98,017  
,856 98,872  
,612 99,485  
,515 100,000  
1,301  
1,110  
6,849 64,991 1,691  
5,840 70,831 1,435  
8,899 63,279  
7,551  
5
70,830  
6
7
8
9
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
17  
18  
19  
Extraction Method: Principal Component Analysis.  
Bảng 9. Kết quả tổng phương sai giải thích  
Kết quả phân tích ở Bảng 9 từ 22 yếu tố  
ban đầu qua 02 lần xoay nhân tố rút gọn  
xuống còn 6 nhân tố chính. 06 thành phần  
này có thể giải thích được đến 70,830 % sự  
biến thiên, trong đó thành phần số 01 và số  
02 chiếm tỷ lệ giải thích lớn nhất tương ứng  
là 17.412%, 16.320%.  
Biểu đồ Scree Plot (xem Hình 6) cũng  
cho thấy từ thành phần chính thứ 2 trở đi thì  
các giá trị Eigenvalues gần như ít có thay  
đổi rõ rệt và không có đột biến. Theo thông  
lệ yêu cầu phương sai phải đạt từ 50% trở  
lên. Nghiên cứu cho thấy 05 nhân tố này giải  
thích được 70,831 % độ biến động của số  
liệu.  
Hình 6. Biểu đồ Scree Plot các yếu tố mức  
độ ảnh hưởng  
Kết quả cuối cùng của quá trình phân  
tích nhân tố chính đã tìm ra 06 nhóm nhân tố  
chính.  
Nhân tố 1 = 0,791 x AH18 + 0,769 X AH7  
+0,678 x AH8 + 0,674 x AH21 + 0,611 x  
AH2  
Nhân tố 5 = 0,827 x AH11 + 0,773 x AH3  
Có tất cả 02 yếu tố giải thích cho nhân tố thứ  
năm bao gồm:  
Có tất cả 05 yếu tố chính giải thích cho thành  
phần thứ nhất bao gồm:  
- AH11: Năng lực tài chính nhà thầu còn hạn  
chế  
- AH18: Thiếu ý thức sử dụng và bảo quản  
hạng mục công trình.  
- AH3: Báo cáo kết quả khảo sát và thí  
nghiệm thiếu chính xác.  
- AH7: Sơ đồ tính toán chưa phù hợp  
Nhân tố 6 = 0,784 x AH1 + 0,637 x AH4  
- AH8: Chưa tính đúng độ lún của nền móng  
công trình.  
Có tất cả 02 yếu tố giải thích cho nhân tố thứ  
sáu bao gồm:  
- AH21: Xâm thực ăn mòn của nước mặn đến  
kết cấu.  
- AH1: Khoảng cách giữa các hố khoan quá  
lớn  
- AH2: Độ sâu các hố khoan không đủ.  
- AH4: Thiếu kinh nghiệm trong việc do  
lường các yếu tố ngập lụt, chấn động.  
Nhân tố 2 = 0,896 x AH17 + 0,895 x AH16  
+ 0,788 x AH6 + 0,634 x AH12 + 0,536 x  
AH13  
4. Kết luận:  
Cả 5 nhóm đối tượng được khảo sát trả lời  
đều đồng thuận khá cao nguyên nhân ảnh  
hưởng mạnh nhất đến sự hư hỏng công trình  
trường học trên địa bàn tỉnh là “Sai sót chủng  
loại, cường độ vật liệu đầu vào”. Tiếp theo  
sau là các yếu tố thuộc về khâu khảo sát, thiết  
kế và đơn vị chủ quản sử dụng:  
Có tất cả 05 yếu tố giải thích cho nhân tố  
chính thứ hai bao gồm:  
- AH17: Ít quan tâm đến vấn đề bảo trì, bảo  
dưỡng.  
- AH16: Tự ý thay đổi công năng, chức năng  
sử dụng.  
- Bố trí nhân lực, sử dụng lao động không  
phù hợp;  
- AH6: Do đánh giá sai về số liệu đầu vào  
(quy mô, công năng sử dụng).  
- Thiếu kinh nghiệm trong việc do lường các  
yếu tố ngập lụt, chấn động;  
- AH12: Do kinh nghiệm thi công hạn chế  
- AH13: Bố trí nhân lực, sử dụng lao động  
không phù hợp  
- Chưa tính đúng độ lún của nền móng công  
trình;  
Nhân tố 3 = 0,90 x AH19 + 0,854 x AH20  
- Tự ý thay đổi công năng, chức năng sử  
dụng.  
Có tất cả 02 yếu tố giải thích cho nhân tố thứ  
ba bao gồm:  
5. Đề xuất: đề xuất hướng khắc phục nguyên  
nhân thường xảy ra nhất, giúp hạn chế hư  
hỏng có thể xảy ra trong công tác đầu tư xây  
dựng công trình trường học, từ đó nâng cao  
hiệu quả đầu tư dự án  
- AH19: Thiên tai: lũ lụt, bão giông, động  
đất, sóng thần.  
- AH20: Thời tiết, khí hậu khắc nghiệt.  
Nhân tố 4 = 0,838 x AH5 + 0,794 x AH15+  
Ràng buộc và có những chế tài hợp lý  
đối với đơn vị thi công: trong quá trình tiến  
hành lựa chọn nhà thầu, cơ quan tổ chức đấu  
thầu sẽ bắt buộc nhà thầu cam kết về chủng  
loại vật tư dự thầu phải được sử dụng xuyên  
suốt trong thời gian thi công. Tình hình  
chung hiện nay ở địa bàn tỉnh Kiên Giang,  
các đơn vị thi công khi tham gia đấu thầu chỉ  
có chứng từ bảo lãnh của nhà cung cấp vật  
liệu khá sơ sài và chung chung, không nêu rõ  
chủng loại cụ thể và trữ lượng trong khả năng  
cung cấp để bảo đảm nguồn cung ứng vật tư  
cho suốt quá trình thi công công trình. Do đó  
0,531 x AH14  
Có tất cả 03 yếu tố giải thích cho nhân tố thứ  
tư bao gồm:  
- AH5: Vùng khảo sát có sự đột biến về mặt  
cắt địa chất quá lớn (thấu kính bùn, túi nước  
xen kẹp...).  
- AH15: Biện pháp thi công chưa tính toán  
ổn định hố đào, mái dốc.  
- AH1: Sai sót chủng loại, cường độ vật liệu  
đầu  
dẫn đến tình trạng chủng loại, cường độ vật  
tư sẽ được đề xuất thay thế sau khi trúng  
thầu, từ đó chủng loại vật liệu đầu vào sẽ  
không còn đảm bảo tuân thủ tuyệt đối theo  
thiết kế ban đầu.  
Nguyên nhân ảnh hưởng thứ năm: “Tự ý  
thay đổi công năng, chức năng sử dụng”  
cũng có sức ảnh hưởng không nhỏ. Cần  
tuyên truyền, phổ biến nâng cao hiểu biết cho  
đơn vị sử dụng, quy định cụ thể các trường  
hợp cần thiết thay đổi phải báo cho cơ quan  
quản lý dự án biết. Tăng cường kiểm tra định  
kỳ nhằm giúp công trình được duy tu, bảo  
dưỡng kịp thời, hạn chế những hư hỏng có  
thể xảy ra, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng  
của công trình.  
Tăng cường phát huy vai trò của đơn vị  
giám sát thi công, cũng như quyền giám sát  
tác giả của đơn vị thiết kế: thực trạng đơn vị  
giám sát thường đảm nhiệm cùng lúc nhiều  
công trình, cán bộ tham gia giám sát công  
trình không thường xuyên có mặt tại công  
trường, chỉ có mặt lúc thi công các cấu kiện  
chính hoặc nghiệm thu khi có yêu cầu của  
chủ đầu tư và nhà thầu thi công. Cũng không  
thiếu trường hợp, đơn vị tư vấn giám sát bắt  
tay với nhà thầu thi công, “làm ngơ” để nhà  
thầu thi công sử dụng những vật tư không  
đúng chủng loại, cường độ. Bên cạnh đó,  
khâu giám sát quyền tác giả của tư vấn thiết  
kế cũng chưa được quan tâm đúng mực, mặc  
dù dự toán công trình đã có tính đến hệ số  
giám sát tác giả Quyết định 79/QĐ-BXD [3]  
nhưng hầu hết việc giám sát quyền tác giả  
thường được thực hiện qua loa, lấy lệ, chỉ  
tham gia trong những trường hợp xử lý kỹ  
thuật tại hiện trường.  
TÀI LIỆU KHAM KHẢO  
[1] Tổng cục thống kê Việt Nam. Số liệu  
thống kê tình hình kinh tế, xã hội  
22. Truy cập 28/10/2017.  
[2] Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng  
Ngọc. Phân Tích Dữ Liệu Nghiên Cứu Với  
SPSS. Nhà Xuất Bản Hồng Đức, 2008.  
[3] Bộ Xây dựng. Quyết định 79/QĐ-BXD,  
2017.  
[4] Robert A. Peterson, 1994. A Meta-  
Analysis of Cronbach’s Coefficient Alpha:  
Journal of Consumer Research; Sep; 21, 2;  
ABI/INFORM Global pg. 381.  
Đối với nguyên nhân: “Bố trí nhân lực,  
sử dụng lao động không phù hợp” cũng có  
thể hạn chế trong quá trình tổ chức đấu thầu  
bằng cách cần chú ý hơn về nhân lực lao  
động của đơn vị tham gia dự thầu, cần yêu  
cầu chứng minh về trách nhiệm bảo hiểm xã  
hội và các chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ  
đối với các cá nhân chủ chốt; chứng chỉ đào  
tào nghề, chứng chỉ an toàn lao động đối với  
các đối tượng lao động phổ thông. Làm  
nghiêm túc trong công tác này sẽ giúp hạn  
chế được những nhà thầu không đảm bảo  
nhân sự, sử dụng lao động không phù hợp,  
thiếu chuyên nghiệp.  
[5] Nunnally, J. (1978), Psychometric  
Theory, New York, McGraw-Hill.  
Tác giả chịu trách nhiệm bài viết:  
Họ tên: Diệp Thanh Phong  
Đơn vị: Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật  
TP.HCM  
Điện thoại: 0948166061  
Xác nhận của Giảng viên hướng dẫn:  
Hai nguyên nhân thuộc về giai đoạn thiết  
kế: “Thiếu kinh nghiệm trong việc do lường  
các yếu tố ngập lụt, chấn động & Chưa tính  
đúng độ lún của nền móng công trình” sẽ  
được khắc phục bằng việc chú ý nâng cao vai  
trò của đơn vị thẩm tra, cơ quan thẩm định,  
bên cạnh đó cần ưu tiên lựa chọn những nhà  
thầu tư vấn thiết kế uy tín, có kinh nghiệm.  
Điều này góp phần thúc đẩy các đơn vị thiết  
kế cũng không ngừng trang bị thêm kiến  
thức, kinh nghiệm đế phát huy tốt vai trò  
kiến tạo của mình.  
BÀI BÁO KHOA HỌC  
THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ  
Bài báo khoa học của học viên  
có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn  
Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ  
Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ bởi Luật xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.  
Nghiêm cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý  
của tác giả và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh.  
ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN!  
Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2018-2019 của Thư viện Trường Đại học  
Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.  
pdf 12 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 20940 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu nguyên nhân hư hỏng nhằm cải thiện chất lượng các công trình trường học trên địa bàn tỉnh Kiên Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_nguyen_nhan_hu_hong_nham_cai_thien_chat_luong_cac.pdf