Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất thải công nghiệp đến cường độ bê tông Geopolymer

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CHẤT THẢI CÔNG NGHIỆP  
ĐẾN CƯỜNG ĐỘ BÊ TÔNG GEOPOLYMER  
STUDY THE EFFECT OF SOME INDUSTRIAL WASTES ON  
GEOPOLYMER CONCRETE STRENGTH  
NGUYỄN TRỌNG NAM1, PHAN ĐỨC HÙNG2  
1Học viên cao học, Khoa Xây dựng, Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM  
2Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM  
Tóm tắt: Nghiên cứu này sử dụng nguồn nguyên vật liệu là chất thải từ các ngành công nghiệp  
khác nhau như: tro bay, bùn đỏ, xỉ thép và RFCC dầu khí để sản suất bê tông Geopolymer. Sản  
phẩm tạo ra vừa có thể tận dụng tốt nguồn chất thải từ các ngành công nghiệp góp phần hạn chế ô  
nhiễm môi trường do các chất thải công nghiệp và khí thải từ quá trình sản xuất xi măng gây ra.  
Qua đó tìm ra ảnh hưởng của các chất thải nói trên đến cường độ bê tông Geopolymer. Sau khi so  
sánh các kết quả thu được với mẫu đối chứng sử dụng 100% tro bay, nghiên cứu cho thấy khi tăng  
tỷ lệ bùn đỏ và xỉ thép thì cường độ bê tông Geopolymer có chiều hướng giảm, đặc biệt giảm rõ  
rệt khi có yếu tố bùn đỏ. Bên cạnh đó, cường độ bê tông Geopolymer sẽ tăng đáng kể khi sử dụng  
phế thải RFCC dầu khí.  
Từ khóa: Geopolymer, Bê tông Geopolymer, Tro bay, Bùn đỏ, Xỉ thép, RFCC dầu khí.  
Abstract: This research utilizes materials that are waste from various industries such as fly ash,  
red mud, steel slag and RFCC to produce Geopolymer concrete. The product can make good use  
of waste from industries that contribute to limiting environmental pollution caused by industrial  
wastes and emissions from cement production. Thereby, the effect of the above wastes on the  
compressive strength of Geopolymer concrete was investigated. After comparing the results with  
the control sample using 100% fly ash, the study showed that when increasing the rate of red mud  
and steel slag, the strength of Geopolymer concrete tends to decrease, especially markedly  
decreases when have red mud. In addition, the strength of Geopolymer concrete will increase  
significantly when using RFCC.  
Key words: Geopolymer, Geopolymer concrete, Fly ash, Red mud, Steel slag, RFCC.  
1. GIỚI THIỆU CHUNG  
Đồng hành với đóng góp về mặt kinh tế thì  
chất thải rắn, nước thải, khí thải…từ các ngành  
công nghiệp cũng chính là nguyên nhân dẫn  
đến tình trạng ô nhiễm môi trường như hiện  
nay. Một số nhóm ngành có mức độ gây ô  
nhiễm lớn như công nghiệp chế biến lương  
thực, thực phẩm, khai thác khoáng sản, công  
nghiệp hàn đóng vỏ tàu, khai thác, vận chuyển,  
chế biến dầu khí... đặc biệt là các nhà máy nhiệt  
điện sử dụng than và ngành công nghiệp sản  
xuất xi măng Portland.  
việc sử dụng OPC trong ngành xây dựng.  
Geopolymer là vật liệu thay thế OPC, được  
tổng hợp bằng cách kết hợp các nguyên liệu  
nguồn giàu aluminosilicate với các dung dịch  
kiềm mạnh và silicat hòa tan.  
Khái niệm “Geopolymer” được đưa ra vào  
những năm 1970 bởi nhà khoa học Pháp giáo  
sư Joseph Davidovits. Đây là một loại vật liệu  
rắn được tổng hợp nhờ phản ứng hóa học giữa  
aluminosilicate dạng bột với dung dịch alkali.  
Vật liệualuminosilicate được sử dụng là những  
nguyên liệu có chứa các oxit của silic, nhôm  
[1]. Bê tông Geopolymer được biết đến như  
một loại vật liệu xanh, thân thiện với môi  
trường, trong tương lai có thể được dùng để  
thay thế bê tông sử dụng xi măng Portland  
thông thường (OPC).  
Các vấn đề nói trên đã thúc đẩy nhiều  
nghiên cứu khác nhau nhằm giảm lượng khí  
CO2 và tái sử dụng nguồn chất thải từ các  
ngành công nghiệp. Từ việc sử dụng các CTR  
công nghiệp làm vật liệu thay thế OPC để phát  
triển một chất kết dính mới nhằm làm giảm  
1
So với bê tông sử dụng xi măng Portland  
thông thường thì bê tông Geopolymer không  
những góp phần làm giảm phát thải khí nhà  
kính mà còn có thể tận dụng một số chất thải  
công nghiệp để sản xuất loại bê tông này. Điều  
đó đã thúc đẩy nhiều nghiên cứu khác nhau góp  
phần đưa bê tông Geopolymer vào ứng dụng  
thực tiễn và trở thành vật liệu được sử dụng  
rộng rãi.  
SO3  
MKN  
0.25  
9.63  
2.2. Bùn đỏ  
Bùn đỏ sử dụng trong nghiên cứu được lấy  
từ nhà máy của Cty TNHH MTV Nhôm Lâm  
Đồng tại thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo Lâm,  
tỉnh Lâm Đồng. Sau khi sấy khô, bùn đỏ sẽ  
được tán nhuyễn và sàng qua mắt sàng 0.3mm  
như (Hình 1).  
Bài báo này là sự tiếp nối của các công  
trình nghiên cứu trước nhằm tìm hiểu rõ hơn  
các nguyên vật liệu có thể dùng để chế tạo bê  
tông Geopolymer, đặc biệt là các chất thải công  
nghiệp. Trọng tâm của nghiên cứu xoay quanh  
việc so sánh ảnh hưởng của các chất thải công  
nghiệp khác nhau như: tro bay, bùn đỏ dạng  
khô, xỉ thép và xúc tác thải dầu khí (RFCC) đến  
cường độ của bê tông Geopolymer.  
Nội dung của luận văn này tiến hành  
nghiên cứu thực nghiệm các mẫu bê tông  
Geopolymer sử dụng các chất thải công nghiệp  
khác nhau thay thế cho 20% khối lượng tro  
bay. Kết quả thực nghiệm được tính toán trên  
cơ sở TCVN 3118: 1993 [2] sẽ so sánh với kết  
quả của tổ mẫu đối chứng có thành phần là  
100% tro bay, nhằm tìm ra ảnh hưởng của mỗi  
loại chất thải công nghiêp đến cường độ bê  
tông Geopolymer.  
Hình 1: Bùn đỏ sử dụng trong thí nghiệm  
Thành phần hóa học của bùn đỏ được trình  
bày trong bảng 2.  
Bảng 2. Thành phần hóa học của bùn đỏ  
Oxit  
SiO2  
Al2O3  
Fe2O3  
CaO  
TiO2  
SO3  
MnO  
K2O  
MKN  
Hàm lượng (%)  
8.47  
Bên cạnh đó, các tính chất ảnh hưởng đến  
cường độ như: thời gian dưỡng hộ, nồng độ  
Mol NaOH, tỷ lệ TTL/NaOH cũng được xét  
đến để thấy rõ hơn tính chất của bê tông  
Geopolymer khi sử dụng các loại chất thải  
công nghiệp khác nhau.  
27.67  
36.28  
0.06  
5.39  
0.22  
0.05  
0.02  
20.33  
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC  
NGHIỆM  
2.1. Tro bay  
Tro bay sử dụng trong nghiên cứu được lấy  
từ nguồn nhà máy nhiệt điện Formosa, là tro  
bay loại F có hàm lượng CaO ít hơn 6% theo  
tiêu chuẩn ASTM C618 [3]. Thành phần hóa  
học của tro bay được trình bày trong bảng 1.  
Bảng 1. Thành phần hóa học của tro bay  
2.3. Xỉ thép  
Xỉ thép sử dụng trong nghiên cứu này được  
lấy từ các nhà máy luyện thép trong khu công  
nghiệp Phú Mỹ 1, Huyện Tân Thành, Tỉnh Bà  
Rịa - Vũng Tàu. Thành phần hóa học của xỉ  
thép được thể hiện trong bảng 3.  
Oxit  
Hàm lượng (%)  
SiO2  
51.7  
31.9  
3.48  
1.21  
1.02  
0.81  
Bảng 3. Thành phần hóa học của xỉ thép  
Al2O3  
Fe2O3  
CaO  
K2O và Na2O  
MgO  
Oxit  
SiO2  
Al2O3  
Fe2O3  
Hàm lượng (%)  
23.11  
12.52  
22.55  
2
Thực nghiệm trên các mẫu bê tông  
Geopolymer sử dụng các chất thải công  
nghiệp khác nhau thay thế dần cho 20% khối  
lượng tro bay trong cấp phối đối chứng. Các  
nhóm cấp phối chính bao gồm: nhóm cấp phối  
A (100% tro bay), nhóm cấp phối B (20% bùn  
đỏ), nhóm cấp phối C (20% xỉ thép), nhóm  
cấp phối D (20% RFCC), nhóm cấp phối E  
(20% bùn đỏ, 20% xỉ thép), nhóm cấp phối F  
(20% xỉ thép, 20% RFCC).  
CaO  
K2O  
Na2O  
MgO  
SO3  
26.99  
2.37  
2.56  
3.77  
0.30  
5.83  
MKN  
2.4. RFCC dầu khí  
Phế thải xúc tác được dùng từ nguồn nhà  
máy lọc dầu Dung Quất, có thành phần hạt  
trung bình từ 60-88 μm [4]. Thành phần hóa  
của RFCC được trình bày trong bảng 4.  
Đồng thời thay đổi tỷ lệ sodium silicat -  
sodium hydroxit lần lượt là 1-2 và 1-3, kết  
hợp thay đổi nồng độ sodium hydroxide 14  
Mol, 16 Mol và thay đổi thời gian dưỡng hộ  
nhiệt (dưỡng hộ ở 90oC) 8 giờ và 12 giờ.  
Bảng 4. Thành phần hóa học của RFCC  
Oxit  
Hàm lượng (%)  
SiO2  
55  
39  
Thành phần cấp phối nhóm mẫu đối  
chứng A1-A4 được trình bày trong bảng 5.  
Cường độ chịu nén của vật liệu được xác định  
theo TCVN 3118: 1993 [2]  
Al2O3  
Fe2O3  
0.38  
0.5  
0.21  
-
CaO  
Bảng 5: Cấp phối bê tông Geopolymer  
cho nhóm tổ mẫu đối chứng A1-A4 (1m³).  
K2O và Na2O  
MgO  
SO3  
<1  
-
Tổ mẫu  
A1  
A2  
A3  
A4  
MKN  
Đá (kg)  
1079 1079 1079 1079  
2.5. Đá dăm  
Cát (kg)  
593  
418  
593  
418  
593  
418  
593  
418  
Tro bay (kg)  
NaOH 14M  
(kg)  
Đá dăm được khai thác từ mỏ đá Tân  
Đồng Hiệp, xã Tân Đông Hiệp, huyện Dĩ An,  
Bình Dương. Cỡ hạt đá lớn nhất Dmax = 20  
mm, khối lượng riêng 2700 kg/cm3, khối  
lượng thể tích 1510kg/cm3.  
86.67 86.67 65.00 65.00  
173.3 173.3 195.0 195.0  
TTL (kg)  
Tỷ lệ  
TTL/NaOH  
Thời gian  
dưỡng hộ (giờ)  
2
8
2
3
8
3
2.6. Cát  
Cát sử dụng cho bê tông Geopolymer đáp  
ứng theo TCVN 7572 [5]. Cát có khối lượng  
riêng là 2610kg/m3, khối lượng thể tích là  
1450kg/m3.  
12  
12  
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH  
GIÁ  
2.7. Dung dịch hoạt hóa  
Dung dịch hoạt hóa là sự kết hợp giữa  
sodium silicate và sodium hydroxide. Sodium  
silicate có tổng hàm lượng Na2O và SiO2 dao  
động từ 36 đến 38 %, tỷ trọng 1.42 ± 0.01  
g/ml. Dung dịch sodium hydroxide được tạo  
thành từ thành phần rắn có độ tinh khiết trên  
90%, khối lượng riêng 2.130 g/cm3 được hòa  
tan với nước để tạo nồng độ 14Mol và 16Mol.  
3.1. Ảnh hưởng của thời gian dưỡng hộ  
nhiệt đến cường độ chịu nén của bê tông  
Geopolymer sử dụng chất thải công  
nghiệp.  
Ảnh hưởng của thời gian dưỡng hộ nhiệt  
đến cường độ chịu nén của bê tông  
Geopolymer sử dụng các chất thải công  
nghiệp được khảo sát bằng sự thay đổi thời  
gian dưỡng hộ giữa 8 giờ và 12 giờ (ở cùng  
nhiệt độ 90oC). Kết quả thực nghiệm điển  
hình được trình bày trong (Hình 2).  
2.8. Nước  
Nước được sử dụng trong thí nghiệm là  
nước thủy cục và xác định theo TCVN 4560:  
2012 [6].  
2.9. Phương pháp thực nghiệm  
3
Khi tăng nồng độ NaOH, cường độ chịu  
nén của các mẫu bê tông Geopolymer sử dụng  
hỗn hợp chất thải công nghiệp cũng gia tăng  
theo. Tuy nhiên khả năng phát triển cường độ  
của các mẫu khác nhau, do cường độ chịu nén  
của bê tông Geopolymer còn phụ thuộc vào  
các yếu tố như thời gian dưỡng hộ, tỷ lệ  
TTL/NaOH và đặc tính thành phần của bê  
tông.  
35  
30  
25  
20  
15  
10  
5
3.3. Ảnh hưởng của tỷ lệ TTL/NaOH đến  
cường độ chịu nén của bê tông  
Geopolymer sử dụng phụ phẩm công  
nghiệp.  
Khảo sát sự thay đổi cường độ chịu nén  
của các mẫu bê tông sử dụng hỗn hợp phụ  
phẩm công nghiệp bằng cách thay đổi tỷ lệ  
TTL/NaOH lần lượt là 2 và 3. Kết quả thực  
nghiệm được trình bày trong (Hình 4).  
0
A1  
A2  
B1  
B2  
C1  
C2  
D1  
D2  
E1  
E2  
F1  
F2  
8 giờ  
20.57 15.26 19.02 27.63 17.72 24.30  
24.10 17.97 20.43 30.77 21.29 26.60  
12 giờ  
Hình 2: Ảnh hưởng của thời gian dưỡng hộ  
đến cường độ bê tông Geopolymer.  
Cường độ bê tông Geopolymer sử dụng  
chất thải công nghiệp tăng khi tăng thời gian  
dưỡng hộ nhiệt. Vì khi tăng thời gian dưỡng  
hộ nhiệt thì các phản ứng trùng ngưng trong  
quá trình Geopolymer hóa xảy ra triệt để hơn.  
Bên cạnh đó, lượng hơi nước trong bê tông  
thoát ra nhiều hơn, làm cho mẫu đặc chắc và  
đạt cường độ chịu nén cao [7][8]. Tính chất  
này cũng giống với tính chất của bê tông  
Geopolymer sử dụng 100% tro bay.  
35  
30  
25  
20  
15  
10  
5
3.2. Ảnh hưởng của nồng độ mol dung dịch  
NaOH đến cường độ chịu nén của bê  
tông Geopolymer sử dụng chất thải  
công nghiệp.  
Sự thay đổi cường độ chịu nén khi thay  
đổi nồng độ mol NaOH được thể hiện trong  
(Hình 3):  
0
A1  
A3  
B1  
B3  
C1  
C3  
D1  
D3  
E1  
E3  
F1  
F3  
TTL/NaOH=2  
TTL/NaOH=3  
20.57 15.26 19.02 27.63 17.72 24.30  
23.77 17.09 19.96 30.09 19.13 26.20  
Hình 4: Ảnh hưởng của tỷ lệ TTL/NaOH đến  
cường độ bê tông Geopolymer.  
35  
30  
25  
20  
15  
10  
5
Khi thay đổi tỷ lệ TTL/NaOH cường độ  
chịu nén của bê tông Geopolymer cũng thay  
đổi và đồng biến. Cấp phối có tỷ lệ  
TTL/NaOH càng cao thì cường độ chịu nén  
càng cao.  
Tuy nhiên có sự chênh lệch đáng kể về  
việc phát triển cường độ giữa cấp phối có  
thành phần chất thải CN khác nhau. Ở cấp  
phối D (tro bay 80% và RFCC 20%) khả năng  
gia tăng cường độ ổn định dao động từ 7%  
đến 9% khi nồng độ NaOH là 14M và từ 9-  
13% khi nồng độ NaOH 16M. Cấp phối E lại  
có sự phát triển cường độ nhảy vọt (60% tro  
bay, 20% bùn đỏ và 20% xỉ thép) dao đồng từ  
8% đến 15% khi nồng độ NaOH là 14M và từ  
9-35% khi nồng độ NaOH 16M.  
0
A1  
A5  
B1  
B5  
C1  
C5  
D1  
D5  
E1  
E5  
F1  
F5  
14M  
16M  
20.57 15.26 19.02 27.63 17.72 24.30  
22.91 16.35 19.37 29.50 18.68 25.80  
Hình 3: Ảnh hưởng của nồng độ mol dd  
NaOH đến cường độ bê tông Geopolymer.  
4
40  
30  
20  
10  
0
3.4. Ảnh hưởng của tỷ lệ thành phần phụ  
phầm công nghiệp đến cường độ chịu  
nén của bê tông Geopolymer trong cùng  
thời gian dưỡng hộ nhiệt, cùng nồng độ  
NaOH và cùng tỷ lệ TTL/NaOH.  
Đây là mục tiêu nghiên cứu chính của bài  
báo. Ảnh hưởng của chất thải công nghiệp  
đến cường độ bê tông Geopolymer được khảo  
sát bằng cách thay đổi tỷ lệ thành phần hỗn  
hợp các chất thải công nghiệp.  
A3  
B3  
C3  
D3  
E3  
F3  
Tro bay  
RFCC  
Bùn đỏ  
Xỉ thép  
Hình 7: Cường độ chịu nén của bê tông  
Geopolymer khi dưỡng hộ nhiệt 8 giờ, sử  
dụng NaOH 14M và tỷ lệ TTL/NaOH = 3  
(MPa).  
Kết quả thực nghiệm được trinh bày trong  
(Hình 5,6,7,8,9,10,11,12).  
30  
25  
20  
15  
10  
5
40  
30  
20  
10  
0
0
A1  
B1  
C1  
D1  
E1  
F1  
Tro bay  
RFCC  
Bùn đỏ  
Xỉ thép  
A4  
B4  
C4  
D4  
E4  
F4  
Hình 5: Cường độ chịu nén của bê tông  
Geopolymer khi dưỡng hộ nhiệt 8 giờ, sử  
dụng NaOH 14M và tỷ lệ TTL/NaOH = 2  
(MPa).  
Tro bay  
RFCC  
Bùn đỏ  
Xỉ thép  
Hình 8: Cường độ chịu nén của bê tông  
Geopolymer khi dưỡng hộ nhiệt 12 giờ, sử  
dụng NaOH 14M và tỷ lệ TTL/NaOH = 3  
(MPa).  
40  
30  
20  
10  
0
Có thể nhận thấy rằng ở cấp phối D4 và F4  
có thành phần là RFCC thì cường độ chịu nén  
của các mẫu đều cao hơn so với cấp phối đối  
chứng A4 từ 11% đến 26%.  
A2  
B2  
C2  
D2  
E2  
F2  
Tro bay  
RFCC  
Bùn đỏ  
Xỉ thép  
30  
25  
20  
15  
10  
5
Hình 6: Cường độ chịu nén của bê tông  
Geopolymer khi dưỡng hộ nhiệt 12 giờ, sử  
dụng NaOH 14M và tỷ lệ TTL/NaOH = 2  
(MPa).  
0
Các cấp phối khi có thành phần bùn đỏ thì  
cường độ chịu nén đều thấp hơn cấp phối đối  
chứng A từ 12% đến 25% và ở các cấp phối có  
thành phần là xỉ thép thì cường độ thấp hơn cấp  
phối A từ 12% đến 15%.  
A5  
B5  
C5  
D5  
E5  
F5  
Tro bay  
RFCC  
Bùn đỏ  
Xỉ thép  
Hình 9: Cường độ chịu nén của bê tông  
Geopolymer khi dưỡng hộ nhiệt 8 giờ, sử  
dụng NaOH 16M và tỷ lệ TTL/NaOH = 2  
(MPa).  
5
Từ các kết quả trên có thể nhận thấy các  
cấp phối D (20% RFCC) luôn có cường độ lớn  
nhất và cao hơn cấp phối đối chứng từ 18% đến  
34%, tiếp đến là cấp phối F (20% xỉ thép và  
20% RFCC) từ 3% đến 18%.  
40  
30  
20  
10  
0
40  
30  
20  
10  
0
A8  
B8  
C8  
D8  
E8  
F8  
Tro bay  
RFCC  
Bùn đỏ  
Xỉ thép  
Hình 12: Cường độ chịu nén của bê tông  
Geopolymer khi dưỡng hộ nhiệt 12 giờ, sử  
dụng NaOH 16M và tỷ lệ TTL/NaOH = 3  
(MPa).  
A6  
B6  
C6  
D6  
E6  
F6  
Tro bay  
RFCC  
Bùn đỏ  
Xỉ thép  
Trong cùng điều kiện dưỡng hộ nhiệt, cùng  
nồng độ NaOH, cùng tỷ lệ TTL/NaOH các cấp  
phối có chứa RFCC đều có cường độ cao hơn  
cấp phối đối chứng A. Cấp phối luôn có cường  
độ cao hơn cấp phối A từ 18% đến 34%. Cấp  
phối cũng có cường độ cao hơn cấp phối A  
(100% tro bay) từ 3% đến 18%. Vì hàm lượng  
SiO2 (55%) và Al2O3 (39%) chứa trong RFCC  
cao hơn tro bay (SiO2 là 51.7% và Al2O3 là  
31.9%) nên RFCC sẽ cung cấp một hàm lượng  
đáng kể Silic và Al trong quá trình bẻ gãy các  
liên kết cộng hóa trị Si-O-Si và Al-O-Si khi  
nồng độ pH trong dung dịch kiềm tăng cao.  
Những nguyên tố này sẽ chuyển sang hệ keo,  
xảy ra sự tích tụ các sản phẩm bị phá hủy cũng  
như các phản ứng nội tại của chúng. Từ đó tạo  
ra một cấu trúc ổn định thấp và cuối cùng là  
quá trình tạo nên cấu trúc đông đặc và hình  
thành cường độ tốt hơn [9].  
Hình 10: Cường độ chịu nén của bê tông  
Geopolymer khi dưỡng hộ nhiệt 12 giờ, sử  
dụng NaOH 16M và tỷ lệ TTL/NaOH = 2  
(MPa).  
40  
30  
20  
10  
0
A7  
B7  
C7  
D7  
E7  
F7  
Tro bay  
RFCC  
Bùn đỏ  
Xỉ thép  
Hình 11: Cường độ chịu nén của bê tông  
Geopolymer khi dưỡng hộ nhiệt 8 giờ, sử  
dụng NaOH 16M và tỷ lệ TTL/NaOH = 3  
(MPa).  
4. KẾT LUẬN  
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất thải  
công nghiệp đến cường độ bê tông  
Geopolymer đạt được các kết quả như sau:  
Cấp phối E luôn có cường độ thấp hơn cấp  
phối đối chứng A từ 5% đến 20%, cấp phối B  
thấp hơn cấp phối A từ 23% đến 29%, cấp phối  
C thấp hơn cấp phối A từ 8% đến 19%. Có thể  
lý giải điều này như sau: bùn đỏ và xỉ thép sử  
dụng trong thí nghiệm tuy đã được sàng qua  
mắt sàng 0.3 mm nhưng kích thước hạt vẫn lớn  
hơn tro bay (1µm đến 20µm). Chính vì vậy khả  
năng phản ứng của bùn đỏ và xỉ thép trong quá  
trình kiềm hoạt hóa vật liệu alumino-silicate  
thấp hơn so với tro bay.  
- Khi tăng tỷ lệ bùn đỏ trong thành phần thì  
cường độ bê tông Geopolymer giảm rõ rệt  
so với bê tông Geopolymer sử dụng 100%  
tro bay.  
- Bê tông Geopolymer có chứa thành phần  
xỉ thép cường độ cũng giảm so với bê tông  
Geopolymer sử dụng 100% tro bay, tuy  
nhiên mức độ giảm vẫn ít hơn so với sử  
dụng bùn đỏ.  
- Bê tông Geopolymer sử dụng các phụ  
phẩm công nghiệp đạt cường độ chịu nén  
tối ưu khi tăng hàm lượng RFCC trong  
cấp phối.  
6
Ngoài ra tính chất cường độ chịu nén của  
bê tông Geopolymer sử dụng hỗn hợp các chất  
thải công nghiệp không thay đổi so với bê tông  
Geopolymer sử dụng 100% tro bay. Khi tăng  
thời gian dưỡng hộ nhiệt, tăng nồng độ mol  
NaOH và tăng tỷ lệ TTL/NaOH thì cường độ  
chịu nén của bê tông cũng tăng.  
trình cracking dầu khí đến tính chất của vật liệu  
không nung sử dụng đá mi bụi, Tạp chí xây  
dựng Việt Nam, số 3, 2018.  
[5] TCVN 7572:2006. Cốt liệu cho bê tông  
và vữa. NXB xây dựng Hà Nội, 2006.  
[6] TCVN 4560:2012. Nước trộn bê tông  
và vữa – yêu cầu kỹ thuật. NXB xây dựng Hà  
Nội, 2012.  
5. TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] J.Davidovits. Process for the  
fabrication of sintered panels and panels  
resulting from the application of this process.  
Institut Géopolymère, 2015.  
[7] L.Krishnan, S.Karthikeyan, S.Nathiya,  
K.Suganya. Geopolymer concrete an eco-  
friendly construction material, 2014.  
[2] TCVN 3118: 1993. Bê tông nặng –  
phương pháp xác định cường độ nén. NXB xây  
dựng Hà Nội, 1993  
[8] B.Vijaya Rangan. Geopolymer  
concrete for environment protection, 2014.  
[9] J.Davidovits. Geopolymers – Inorganic  
polymeric new materials. Journal of Thermal  
Analysis and Calorimetry, 1991.  
[3] ASTM C618-94a. Fly Ash and Raw or  
Calcined Natural Pozzolan Use as AMineral  
Admixture in Portland Cement Concrete.  
ASTM International (ASTM), 1994.  
[4] Lê Anh Tuấn, Nguyễn Ninh Thụy.  
Nghiên cứu ảnh hưởng xúc tác thải của quá  
Tác giả chịu trách nhiệm bài viết:  
Họ tên: Nguyễn Trọng Nam  
Đơn vị:  
Xác nhận của giảng viên hướng dẫn  
Điện thoại: 0935.439.969  
7
BÀI BÁO KHOA HỌC  
THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ  
Bài báo khoa học của học viên  
có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn  
Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ  
Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ bởi Luật xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.  
Nghiêm cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý  
của tác giả và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh.  
ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN!  
Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2018-2019 của Thư viện Trường Đại học  
Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.  
pdf 8 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 16040 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất thải công nghiệp đến cường độ bê tông Geopolymer", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_anh_huong_cua_mot_so_chat_thai_cong_nghiep_den_cu.pdf