Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất thải công nghiệp đến cường độ bê tông Geopolymer
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CHẤT THẢI CÔNG NGHIỆP
ĐẾN CƯỜNG ĐỘ BÊ TÔNG GEOPOLYMER
STUDY THE EFFECT OF SOME INDUSTRIAL WASTES ON
GEOPOLYMER CONCRETE STRENGTH
NGUYỄN TRỌNG NAM1, PHAN ĐỨC HÙNG2
1Học viên cao học, Khoa Xây dựng, Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM
2Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM
Tóm tắt: Nghiên cứu này sử dụng nguồn nguyên vật liệu là chất thải từ các ngành công nghiệp
khác nhau như: tro bay, bùn đỏ, xỉ thép và RFCC dầu khí để sản suất bê tông Geopolymer. Sản
phẩm tạo ra vừa có thể tận dụng tốt nguồn chất thải từ các ngành công nghiệp góp phần hạn chế ô
nhiễm môi trường do các chất thải công nghiệp và khí thải từ quá trình sản xuất xi măng gây ra.
Qua đó tìm ra ảnh hưởng của các chất thải nói trên đến cường độ bê tông Geopolymer. Sau khi so
sánh các kết quả thu được với mẫu đối chứng sử dụng 100% tro bay, nghiên cứu cho thấy khi tăng
tỷ lệ bùn đỏ và xỉ thép thì cường độ bê tông Geopolymer có chiều hướng giảm, đặc biệt giảm rõ
rệt khi có yếu tố bùn đỏ. Bên cạnh đó, cường độ bê tông Geopolymer sẽ tăng đáng kể khi sử dụng
phế thải RFCC dầu khí.
Từ khóa: Geopolymer, Bê tông Geopolymer, Tro bay, Bùn đỏ, Xỉ thép, RFCC dầu khí.
Abstract: This research utilizes materials that are waste from various industries such as fly ash,
red mud, steel slag and RFCC to produce Geopolymer concrete. The product can make good use
of waste from industries that contribute to limiting environmental pollution caused by industrial
wastes and emissions from cement production. Thereby, the effect of the above wastes on the
compressive strength of Geopolymer concrete was investigated. After comparing the results with
the control sample using 100% fly ash, the study showed that when increasing the rate of red mud
and steel slag, the strength of Geopolymer concrete tends to decrease, especially markedly
decreases when have red mud. In addition, the strength of Geopolymer concrete will increase
significantly when using RFCC.
Key words: Geopolymer, Geopolymer concrete, Fly ash, Red mud, Steel slag, RFCC.
1. GIỚI THIỆU CHUNG
Đồng hành với đóng góp về mặt kinh tế thì
chất thải rắn, nước thải, khí thải…từ các ngành
công nghiệp cũng chính là nguyên nhân dẫn
đến tình trạng ô nhiễm môi trường như hiện
nay. Một số nhóm ngành có mức độ gây ô
nhiễm lớn như công nghiệp chế biến lương
thực, thực phẩm, khai thác khoáng sản, công
nghiệp hàn đóng vỏ tàu, khai thác, vận chuyển,
chế biến dầu khí... đặc biệt là các nhà máy nhiệt
điện sử dụng than và ngành công nghiệp sản
xuất xi măng Portland.
việc sử dụng OPC trong ngành xây dựng.
Geopolymer là vật liệu thay thế OPC, được
tổng hợp bằng cách kết hợp các nguyên liệu
nguồn giàu aluminosilicate với các dung dịch
kiềm mạnh và silicat hòa tan.
Khái niệm “Geopolymer” được đưa ra vào
những năm 1970 bởi nhà khoa học Pháp giáo
sư Joseph Davidovits. Đây là một loại vật liệu
rắn được tổng hợp nhờ phản ứng hóa học giữa
aluminosilicate dạng bột với dung dịch alkali.
Vật liệualuminosilicate được sử dụng là những
nguyên liệu có chứa các oxit của silic, nhôm
[1]. Bê tông Geopolymer được biết đến như
một loại vật liệu xanh, thân thiện với môi
trường, trong tương lai có thể được dùng để
thay thế bê tông sử dụng xi măng Portland
thông thường (OPC).
Các vấn đề nói trên đã thúc đẩy nhiều
nghiên cứu khác nhau nhằm giảm lượng khí
CO2 và tái sử dụng nguồn chất thải từ các
ngành công nghiệp. Từ việc sử dụng các CTR
công nghiệp làm vật liệu thay thế OPC để phát
triển một chất kết dính mới nhằm làm giảm
1
So với bê tông sử dụng xi măng Portland
thông thường thì bê tông Geopolymer không
những góp phần làm giảm phát thải khí nhà
kính mà còn có thể tận dụng một số chất thải
công nghiệp để sản xuất loại bê tông này. Điều
đó đã thúc đẩy nhiều nghiên cứu khác nhau góp
phần đưa bê tông Geopolymer vào ứng dụng
thực tiễn và trở thành vật liệu được sử dụng
rộng rãi.
SO3
MKN
0.25
9.63
2.2. Bùn đỏ
Bùn đỏ sử dụng trong nghiên cứu được lấy
từ nhà máy của Cty TNHH MTV Nhôm Lâm
Đồng tại thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo Lâm,
tỉnh Lâm Đồng. Sau khi sấy khô, bùn đỏ sẽ
được tán nhuyễn và sàng qua mắt sàng 0.3mm
như (Hình 1).
Bài báo này là sự tiếp nối của các công
trình nghiên cứu trước nhằm tìm hiểu rõ hơn
các nguyên vật liệu có thể dùng để chế tạo bê
tông Geopolymer, đặc biệt là các chất thải công
nghiệp. Trọng tâm của nghiên cứu xoay quanh
việc so sánh ảnh hưởng của các chất thải công
nghiệp khác nhau như: tro bay, bùn đỏ dạng
khô, xỉ thép và xúc tác thải dầu khí (RFCC) đến
cường độ của bê tông Geopolymer.
Nội dung của luận văn này tiến hành
nghiên cứu thực nghiệm các mẫu bê tông
Geopolymer sử dụng các chất thải công nghiệp
khác nhau thay thế cho 20% khối lượng tro
bay. Kết quả thực nghiệm được tính toán trên
cơ sở TCVN 3118: 1993 [2] sẽ so sánh với kết
quả của tổ mẫu đối chứng có thành phần là
100% tro bay, nhằm tìm ra ảnh hưởng của mỗi
loại chất thải công nghiêp đến cường độ bê
tông Geopolymer.
Hình 1: Bùn đỏ sử dụng trong thí nghiệm
Thành phần hóa học của bùn đỏ được trình
bày trong bảng 2.
Bảng 2. Thành phần hóa học của bùn đỏ
Oxit
SiO2
Al2O3
Fe2O3
CaO
TiO2
SO3
MnO
K2O
MKN
Hàm lượng (%)
8.47
Bên cạnh đó, các tính chất ảnh hưởng đến
cường độ như: thời gian dưỡng hộ, nồng độ
Mol NaOH, tỷ lệ TTL/NaOH cũng được xét
đến để thấy rõ hơn tính chất của bê tông
Geopolymer khi sử dụng các loại chất thải
công nghiệp khác nhau.
27.67
36.28
0.06
5.39
0.22
0.05
0.02
20.33
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC
NGHIỆM
2.1. Tro bay
Tro bay sử dụng trong nghiên cứu được lấy
từ nguồn nhà máy nhiệt điện Formosa, là tro
bay loại F có hàm lượng CaO ít hơn 6% theo
tiêu chuẩn ASTM C618 [3]. Thành phần hóa
học của tro bay được trình bày trong bảng 1.
Bảng 1. Thành phần hóa học của tro bay
2.3. Xỉ thép
Xỉ thép sử dụng trong nghiên cứu này được
lấy từ các nhà máy luyện thép trong khu công
nghiệp Phú Mỹ 1, Huyện Tân Thành, Tỉnh Bà
Rịa - Vũng Tàu. Thành phần hóa học của xỉ
thép được thể hiện trong bảng 3.
Oxit
Hàm lượng (%)
SiO2
51.7
31.9
3.48
1.21
1.02
0.81
Bảng 3. Thành phần hóa học của xỉ thép
Al2O3
Fe2O3
CaO
K2O và Na2O
MgO
Oxit
SiO2
Al2O3
Fe2O3
Hàm lượng (%)
23.11
12.52
22.55
2
Thực nghiệm trên các mẫu bê tông
Geopolymer sử dụng các chất thải công
nghiệp khác nhau thay thế dần cho 20% khối
lượng tro bay trong cấp phối đối chứng. Các
nhóm cấp phối chính bao gồm: nhóm cấp phối
A (100% tro bay), nhóm cấp phối B (20% bùn
đỏ), nhóm cấp phối C (20% xỉ thép), nhóm
cấp phối D (20% RFCC), nhóm cấp phối E
(20% bùn đỏ, 20% xỉ thép), nhóm cấp phối F
(20% xỉ thép, 20% RFCC).
CaO
K2O
Na2O
MgO
SO3
26.99
2.37
2.56
3.77
0.30
5.83
MKN
2.4. RFCC dầu khí
Phế thải xúc tác được dùng từ nguồn nhà
máy lọc dầu Dung Quất, có thành phần hạt
trung bình từ 60-88 μm [4]. Thành phần hóa
của RFCC được trình bày trong bảng 4.
Đồng thời thay đổi tỷ lệ sodium silicat -
sodium hydroxit lần lượt là 1-2 và 1-3, kết
hợp thay đổi nồng độ sodium hydroxide 14
Mol, 16 Mol và thay đổi thời gian dưỡng hộ
nhiệt (dưỡng hộ ở 90oC) 8 giờ và 12 giờ.
Bảng 4. Thành phần hóa học của RFCC
Oxit
Hàm lượng (%)
SiO2
55
39
Thành phần cấp phối nhóm mẫu đối
chứng A1-A4 được trình bày trong bảng 5.
Cường độ chịu nén của vật liệu được xác định
theo TCVN 3118: 1993 [2]
Al2O3
Fe2O3
0.38
0.5
0.21
-
CaO
Bảng 5: Cấp phối bê tông Geopolymer
cho nhóm tổ mẫu đối chứng A1-A4 (1m³).
K2O và Na2O
MgO
SO3
<1
-
Tổ mẫu
A1
A2
A3
A4
MKN
Đá (kg)
1079 1079 1079 1079
2.5. Đá dăm
Cát (kg)
593
418
593
418
593
418
593
418
Tro bay (kg)
NaOH 14M
(kg)
Đá dăm được khai thác từ mỏ đá Tân
Đồng Hiệp, xã Tân Đông Hiệp, huyện Dĩ An,
Bình Dương. Cỡ hạt đá lớn nhất Dmax = 20
mm, khối lượng riêng 2700 kg/cm3, khối
lượng thể tích 1510kg/cm3.
86.67 86.67 65.00 65.00
173.3 173.3 195.0 195.0
TTL (kg)
Tỷ lệ
TTL/NaOH
Thời gian
dưỡng hộ (giờ)
2
8
2
3
8
3
2.6. Cát
Cát sử dụng cho bê tông Geopolymer đáp
ứng theo TCVN 7572 [5]. Cát có khối lượng
riêng là 2610kg/m3, khối lượng thể tích là
1450kg/m3.
12
12
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH
GIÁ
2.7. Dung dịch hoạt hóa
Dung dịch hoạt hóa là sự kết hợp giữa
sodium silicate và sodium hydroxide. Sodium
silicate có tổng hàm lượng Na2O và SiO2 dao
động từ 36 đến 38 %, tỷ trọng 1.42 ± 0.01
g/ml. Dung dịch sodium hydroxide được tạo
thành từ thành phần rắn có độ tinh khiết trên
90%, khối lượng riêng 2.130 g/cm3 được hòa
tan với nước để tạo nồng độ 14Mol và 16Mol.
3.1. Ảnh hưởng của thời gian dưỡng hộ
nhiệt đến cường độ chịu nén của bê tông
Geopolymer sử dụng chất thải công
nghiệp.
Ảnh hưởng của thời gian dưỡng hộ nhiệt
đến cường độ chịu nén của bê tông
Geopolymer sử dụng các chất thải công
nghiệp được khảo sát bằng sự thay đổi thời
gian dưỡng hộ giữa 8 giờ và 12 giờ (ở cùng
nhiệt độ 90oC). Kết quả thực nghiệm điển
hình được trình bày trong (Hình 2).
2.8. Nước
Nước được sử dụng trong thí nghiệm là
nước thủy cục và xác định theo TCVN 4560:
2012 [6].
2.9. Phương pháp thực nghiệm
3
Khi tăng nồng độ NaOH, cường độ chịu
nén của các mẫu bê tông Geopolymer sử dụng
hỗn hợp chất thải công nghiệp cũng gia tăng
theo. Tuy nhiên khả năng phát triển cường độ
của các mẫu khác nhau, do cường độ chịu nén
của bê tông Geopolymer còn phụ thuộc vào
các yếu tố như thời gian dưỡng hộ, tỷ lệ
TTL/NaOH và đặc tính thành phần của bê
tông.
35
30
25
20
15
10
5
3.3. Ảnh hưởng của tỷ lệ TTL/NaOH đến
cường độ chịu nén của bê tông
Geopolymer sử dụng phụ phẩm công
nghiệp.
Khảo sát sự thay đổi cường độ chịu nén
của các mẫu bê tông sử dụng hỗn hợp phụ
phẩm công nghiệp bằng cách thay đổi tỷ lệ
TTL/NaOH lần lượt là 2 và 3. Kết quả thực
nghiệm được trình bày trong (Hình 4).
0
A1
A2
B1
B2
C1
C2
D1
D2
E1
E2
F1
F2
8 giờ
20.57 15.26 19.02 27.63 17.72 24.30
24.10 17.97 20.43 30.77 21.29 26.60
12 giờ
Hình 2: Ảnh hưởng của thời gian dưỡng hộ
đến cường độ bê tông Geopolymer.
Cường độ bê tông Geopolymer sử dụng
chất thải công nghiệp tăng khi tăng thời gian
dưỡng hộ nhiệt. Vì khi tăng thời gian dưỡng
hộ nhiệt thì các phản ứng trùng ngưng trong
quá trình Geopolymer hóa xảy ra triệt để hơn.
Bên cạnh đó, lượng hơi nước trong bê tông
thoát ra nhiều hơn, làm cho mẫu đặc chắc và
đạt cường độ chịu nén cao [7][8]. Tính chất
này cũng giống với tính chất của bê tông
Geopolymer sử dụng 100% tro bay.
35
30
25
20
15
10
5
3.2. Ảnh hưởng của nồng độ mol dung dịch
NaOH đến cường độ chịu nén của bê
tông Geopolymer sử dụng chất thải
công nghiệp.
Sự thay đổi cường độ chịu nén khi thay
đổi nồng độ mol NaOH được thể hiện trong
(Hình 3):
0
A1
A3
B1
B3
C1
C3
D1
D3
E1
E3
F1
F3
TTL/NaOH=2
TTL/NaOH=3
20.57 15.26 19.02 27.63 17.72 24.30
23.77 17.09 19.96 30.09 19.13 26.20
Hình 4: Ảnh hưởng của tỷ lệ TTL/NaOH đến
cường độ bê tông Geopolymer.
35
30
25
20
15
10
5
Khi thay đổi tỷ lệ TTL/NaOH cường độ
chịu nén của bê tông Geopolymer cũng thay
đổi và đồng biến. Cấp phối có tỷ lệ
TTL/NaOH càng cao thì cường độ chịu nén
càng cao.
Tuy nhiên có sự chênh lệch đáng kể về
việc phát triển cường độ giữa cấp phối có
thành phần chất thải CN khác nhau. Ở cấp
phối D (tro bay 80% và RFCC 20%) khả năng
gia tăng cường độ ổn định dao động từ 7%
đến 9% khi nồng độ NaOH là 14M và từ 9-
13% khi nồng độ NaOH 16M. Cấp phối E lại
có sự phát triển cường độ nhảy vọt (60% tro
bay, 20% bùn đỏ và 20% xỉ thép) dao đồng từ
8% đến 15% khi nồng độ NaOH là 14M và từ
9-35% khi nồng độ NaOH 16M.
0
A1
A5
B1
B5
C1
C5
D1
D5
E1
E5
F1
F5
14M
16M
20.57 15.26 19.02 27.63 17.72 24.30
22.91 16.35 19.37 29.50 18.68 25.80
Hình 3: Ảnh hưởng của nồng độ mol dd
NaOH đến cường độ bê tông Geopolymer.
4
40
30
20
10
0
3.4. Ảnh hưởng của tỷ lệ thành phần phụ
phầm công nghiệp đến cường độ chịu
nén của bê tông Geopolymer trong cùng
thời gian dưỡng hộ nhiệt, cùng nồng độ
NaOH và cùng tỷ lệ TTL/NaOH.
Đây là mục tiêu nghiên cứu chính của bài
báo. Ảnh hưởng của chất thải công nghiệp
đến cường độ bê tông Geopolymer được khảo
sát bằng cách thay đổi tỷ lệ thành phần hỗn
hợp các chất thải công nghiệp.
A3
B3
C3
D3
E3
F3
Tro bay
RFCC
Bùn đỏ
Xỉ thép
Hình 7: Cường độ chịu nén của bê tông
Geopolymer khi dưỡng hộ nhiệt 8 giờ, sử
dụng NaOH 14M và tỷ lệ TTL/NaOH = 3
(MPa).
Kết quả thực nghiệm được trinh bày trong
(Hình 5,6,7,8,9,10,11,12).
30
25
20
15
10
5
40
30
20
10
0
0
A1
B1
C1
D1
E1
F1
Tro bay
RFCC
Bùn đỏ
Xỉ thép
A4
B4
C4
D4
E4
F4
Hình 5: Cường độ chịu nén của bê tông
Geopolymer khi dưỡng hộ nhiệt 8 giờ, sử
dụng NaOH 14M và tỷ lệ TTL/NaOH = 2
(MPa).
Tro bay
RFCC
Bùn đỏ
Xỉ thép
Hình 8: Cường độ chịu nén của bê tông
Geopolymer khi dưỡng hộ nhiệt 12 giờ, sử
dụng NaOH 14M và tỷ lệ TTL/NaOH = 3
(MPa).
40
30
20
10
0
Có thể nhận thấy rằng ở cấp phối D4 và F4
có thành phần là RFCC thì cường độ chịu nén
của các mẫu đều cao hơn so với cấp phối đối
chứng A4 từ 11% đến 26%.
A2
B2
C2
D2
E2
F2
Tro bay
RFCC
Bùn đỏ
Xỉ thép
30
25
20
15
10
5
Hình 6: Cường độ chịu nén của bê tông
Geopolymer khi dưỡng hộ nhiệt 12 giờ, sử
dụng NaOH 14M và tỷ lệ TTL/NaOH = 2
(MPa).
0
Các cấp phối khi có thành phần bùn đỏ thì
cường độ chịu nén đều thấp hơn cấp phối đối
chứng A từ 12% đến 25% và ở các cấp phối có
thành phần là xỉ thép thì cường độ thấp hơn cấp
phối A từ 12% đến 15%.
A5
B5
C5
D5
E5
F5
Tro bay
RFCC
Bùn đỏ
Xỉ thép
Hình 9: Cường độ chịu nén của bê tông
Geopolymer khi dưỡng hộ nhiệt 8 giờ, sử
dụng NaOH 16M và tỷ lệ TTL/NaOH = 2
(MPa).
5
Từ các kết quả trên có thể nhận thấy các
cấp phối D (20% RFCC) luôn có cường độ lớn
nhất và cao hơn cấp phối đối chứng từ 18% đến
34%, tiếp đến là cấp phối F (20% xỉ thép và
20% RFCC) từ 3% đến 18%.
40
30
20
10
0
40
30
20
10
0
A8
B8
C8
D8
E8
F8
Tro bay
RFCC
Bùn đỏ
Xỉ thép
Hình 12: Cường độ chịu nén của bê tông
Geopolymer khi dưỡng hộ nhiệt 12 giờ, sử
dụng NaOH 16M và tỷ lệ TTL/NaOH = 3
(MPa).
A6
B6
C6
D6
E6
F6
Tro bay
RFCC
Bùn đỏ
Xỉ thép
Trong cùng điều kiện dưỡng hộ nhiệt, cùng
nồng độ NaOH, cùng tỷ lệ TTL/NaOH các cấp
phối có chứa RFCC đều có cường độ cao hơn
cấp phối đối chứng A. Cấp phối luôn có cường
độ cao hơn cấp phối A từ 18% đến 34%. Cấp
phối cũng có cường độ cao hơn cấp phối A
(100% tro bay) từ 3% đến 18%. Vì hàm lượng
SiO2 (55%) và Al2O3 (39%) chứa trong RFCC
cao hơn tro bay (SiO2 là 51.7% và Al2O3 là
31.9%) nên RFCC sẽ cung cấp một hàm lượng
đáng kể Silic và Al trong quá trình bẻ gãy các
liên kết cộng hóa trị Si-O-Si và Al-O-Si khi
nồng độ pH trong dung dịch kiềm tăng cao.
Những nguyên tố này sẽ chuyển sang hệ keo,
xảy ra sự tích tụ các sản phẩm bị phá hủy cũng
như các phản ứng nội tại của chúng. Từ đó tạo
ra một cấu trúc ổn định thấp và cuối cùng là
quá trình tạo nên cấu trúc đông đặc và hình
thành cường độ tốt hơn [9].
Hình 10: Cường độ chịu nén của bê tông
Geopolymer khi dưỡng hộ nhiệt 12 giờ, sử
dụng NaOH 16M và tỷ lệ TTL/NaOH = 2
(MPa).
40
30
20
10
0
A7
B7
C7
D7
E7
F7
Tro bay
RFCC
Bùn đỏ
Xỉ thép
Hình 11: Cường độ chịu nén của bê tông
Geopolymer khi dưỡng hộ nhiệt 8 giờ, sử
dụng NaOH 16M và tỷ lệ TTL/NaOH = 3
(MPa).
4. KẾT LUẬN
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất thải
công nghiệp đến cường độ bê tông
Geopolymer đạt được các kết quả như sau:
Cấp phối E luôn có cường độ thấp hơn cấp
phối đối chứng A từ 5% đến 20%, cấp phối B
thấp hơn cấp phối A từ 23% đến 29%, cấp phối
C thấp hơn cấp phối A từ 8% đến 19%. Có thể
lý giải điều này như sau: bùn đỏ và xỉ thép sử
dụng trong thí nghiệm tuy đã được sàng qua
mắt sàng 0.3 mm nhưng kích thước hạt vẫn lớn
hơn tro bay (1µm đến 20µm). Chính vì vậy khả
năng phản ứng của bùn đỏ và xỉ thép trong quá
trình kiềm hoạt hóa vật liệu alumino-silicate
thấp hơn so với tro bay.
- Khi tăng tỷ lệ bùn đỏ trong thành phần thì
cường độ bê tông Geopolymer giảm rõ rệt
so với bê tông Geopolymer sử dụng 100%
tro bay.
- Bê tông Geopolymer có chứa thành phần
xỉ thép cường độ cũng giảm so với bê tông
Geopolymer sử dụng 100% tro bay, tuy
nhiên mức độ giảm vẫn ít hơn so với sử
dụng bùn đỏ.
- Bê tông Geopolymer sử dụng các phụ
phẩm công nghiệp đạt cường độ chịu nén
tối ưu khi tăng hàm lượng RFCC trong
cấp phối.
6
Ngoài ra tính chất cường độ chịu nén của
bê tông Geopolymer sử dụng hỗn hợp các chất
thải công nghiệp không thay đổi so với bê tông
Geopolymer sử dụng 100% tro bay. Khi tăng
thời gian dưỡng hộ nhiệt, tăng nồng độ mol
NaOH và tăng tỷ lệ TTL/NaOH thì cường độ
chịu nén của bê tông cũng tăng.
trình cracking dầu khí đến tính chất của vật liệu
không nung sử dụng đá mi bụi, Tạp chí xây
dựng Việt Nam, số 3, 2018.
[5] TCVN 7572:2006. Cốt liệu cho bê tông
và vữa. NXB xây dựng Hà Nội, 2006.
[6] TCVN 4560:2012. Nước trộn bê tông
và vữa – yêu cầu kỹ thuật. NXB xây dựng Hà
Nội, 2012.
5. TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] J.Davidovits. Process for the
fabrication of sintered panels and panels
resulting from the application of this process.
Institut Géopolymère, 2015.
[7] L.Krishnan, S.Karthikeyan, S.Nathiya,
K.Suganya. Geopolymer concrete an eco-
friendly construction material, 2014.
[2] TCVN 3118: 1993. Bê tông nặng –
phương pháp xác định cường độ nén. NXB xây
dựng Hà Nội, 1993
[8] B.Vijaya Rangan. Geopolymer
concrete for environment protection, 2014.
[9] J.Davidovits. Geopolymers – Inorganic
polymeric new materials. Journal of Thermal
Analysis and Calorimetry, 1991.
[3] ASTM C618-94a. Fly Ash and Raw or
Calcined Natural Pozzolan Use as AMineral
Admixture in Portland Cement Concrete.
ASTM International (ASTM), 1994.
[4] Lê Anh Tuấn, Nguyễn Ninh Thụy.
Nghiên cứu ảnh hưởng xúc tác thải của quá
Tác giả chịu trách nhiệm bài viết:
Họ tên: Nguyễn Trọng Nam
Đơn vị:
Xác nhận của giảng viên hướng dẫn
Điện thoại: 0935.439.969
Email: [email protected]
7
BÀI BÁO KHOA HỌC
THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ
Bài báo khoa học của học viên
có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn
Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ
Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ bởi Luật xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.
Nghiêm cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý
của tác giả và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh.
ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN!
Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2018-2019 của Thư viện Trường Đại học
Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất thải công nghiệp đến cường độ bê tông Geopolymer", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nghien_cuu_anh_huong_cua_mot_so_chat_thai_cong_nghiep_den_cu.pdf

