Một số nhận định về đặc trưng của dòng thấm qua đập đất dựa trên phương pháp thủy hóa và đồng vị bền
BÀI BÁO KHOA HỌC
MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH VỀ ĐẶC TRƯNG CỦA DÒNG THẤM QUA ĐẬP ĐẤT
DỰA TRÊN PHƯƠNG PHÁP THỦY HÓA VÀ ĐỒNG VỊ BỀN
Huỳnh Thị Thu Hương1, Lê Văn Sơn1, Lê Thanh Tài1, Phan Thị Luân1
Tóm tắt: Đập là công trình được xây dựng để ngăn nước cho hồ chứa thủy điện/thủy lợi. Nước từ
hồ thấm qua thân/nền đập sẽ mang theo thông tin về dòng thấm. Việc hiểu rõ đặc trưng của dòng
thấm thông qua các chỉ tiêu vật lý, hóa học giúp đưa ra hình dung cơ bản nhất về chế độ thấm, từ
đó giúp kiểm soát dòng thấm hiệu quả. Báo cáo này trình bày một số kết quả ứng dụng phương
pháp thủy hóa và đồng vị bền nghiên cứu đặc trưng của dòng thấm qua đập đất đồng chất. Các
mẫu nước hồ, nước thấm thân/nền đập, và hai vị trí thấm tập trung tại hạ lưu đập đã được phân
tích các chỉ tiêu độ dẫn, pH, TDS, thành phần ion và đồng vị bền. Kết quả cho thấy nước từ hồ thấm
qua thân đập bị chi phối bởi quá trình hòa tan khoáng và trao đổi ion. Nước nền đập được bổ cập
từ nước hồ và nước ngầm địa phương giàu CO2. Bên cạnh đó, nước thấm qua nền đóng góp đáng
kể vào nguồn gốc của các điểm thấm tập trung hạ lưu đập.
Từ khoá: Đồng vị bền, thủy hóa, dòng thấm, đập đất.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ*
Kumar, 2013). Bên cạnh đó, thành phần hóa học
Thuật ngữ “đồng vị” chỉ các nguyên tử của nước được điều chỉnh theo suốt quá trình di
cùng một nguyên tố có số neutron khác nhau, chuyển của nước bởi sự làm giàu do bay hơi, sự
được đưa ra đầu tiên bởi Soddy (1913) (Gat, pha loãng do mưa và sự tương tác giữa nước và
1981). Sự kết hợp giữa các đồng vị bền đất đá như hòa tan khoáng, trao đổi cation, oxi
Hydrogen (Protium 1H, Deuterium 2H) và hóa – khử. Vì vậy, phân tích các thành phần hóa
Oxygen (16O, 17O, 18O) tạo thành các phân tử học nước, cho phép củng cố các thông tin về sự
nước bền. Thành phần đồng vị bền Deuterium pha trộn các nguồn nước và các quá trình hóa
và Oxygen-18 trong nước bị chi phối mạnh mẽ học diễn ra trong lưu vực, thường được xem như
bởi sự phân tách đồng vị xảy ra đan xen giữa hai phương pháp tích hợp với xác định thành phần
quá trình hóa hơi và ngưng tụ, trong đó, phân tử đồng vị bền Deuterium và Oxygen-18.
nước chứa đồng vị nhẹ dễ bốc hơi hơn trong khi
Báo cáo này trình bày một số kết quả nghiên
phân tử chứa đồng vị nặng dễ ngưng tụ hơn. Với cứu đặc trưng của dòng thấm qua đập đất đồng
18
từng lưu vực xác định, tỷ số D/H và O/16O sẽ chất dựa trên phân tích các chỉ tiêu độ dẫn (EC),
thay đổi dựa trên điều kiện địa chất, nguồn gốc pH, TDS, thành phần hóa học (Na+, K+, Ca2+,
2-
-
-
3-
nước, khí hậu cũng như các quá trình địa Mg2+, Cl-, SO4 , HCO3 , NO3 , PO4 ), đồng vị
phương khác. Lợi dụng tích chất đó, Deuterium bền (δD, δ18O) trong các mẫu nước thấm qua
và Oxygen-18 được dùng như chỉ dấu tự nhiên thân đập (thu được từ các piezometer thân),
cung cấp thông tin về đặc điểm địa chất thủy nước thấm qua nền đập (thu được từ các
văn của tầng nước ngầm, mối liên kết giữa nước piezometer nền và từ các giếng giảm áp), nước
ngầm, nước mặt và khí quyển (Mook, 2001), hồ và hai vị trí thấm tập trung tại hạ lưu đập.
đánh giá ô nhiễm nước ngầm (Gomaah, 2016),
và nghiên cứu nguồn gốc nước thấm qua các
công trình thủy điện, thủy lợi (Lynn, 2005;
2. GIỚI THIỆU VỀ ĐỐI TƯỢNG
NGHIÊN CỨU
Đập nghiên cứu thuộc loại đập đất đồng
chất với chiều dài 1460 m và cao 38 m. Hệ số
thấm đất đắp vào khoảng 10-7 cm/s. Nền đập
1 Trung tâm Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong công nghiệp
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 65 (6/2019)
109
được tạo thành theo thứ tự từ trên xuống gồm nền (ĐD). Ngoài ra, một hệ thống giếng giảm
lớp đất á sét dày 4 m, lớp cuội - sỏi - cát dày 7 áp (W) gồm 26 giếng chính và 14 giếng phụ
m, lớp đá granite phong hóa nứt nẻ dày từ 2 được đặt ở chân đập nhằm giảm áp lực dòng
đến 14 m và lớp đá granite nguyên vẹn rắn thấm qua nền đập. Nhiệt độ trung bình của
chắc, với hệ số thấm thay đổi từ 10-7 đến 10-2 khu vực khoảng từ 200C đến 220C. Độ ẩm
cm/s. Đập được chia thành 6 mặt cắt, mỗi mặt tương đối cao, trung bình 80%. Theo thống
cắt được bố trí các thiết bị piezometer quan kê, lượng mưa trung bình trong năm khoảng
trắc nước thấm qua thân (ĐDA) và thấm qua 1327 mm.
Hình 1. Bản đồ mặt bằng đập gồm vị trí piezometer (ĐDA, ĐD) ứng với từng mặt cắt (MC),
vị trí 26 giếng giảm áp (W) và vị trí thấm tập trung (RNT, RCC)
Đối tượng phân tích là nước thấm qua thân
Nồng độ của các ion chính (Na+, K+, Ca2+,
đập (thu được từ các piezometer thân), nước Mg2+, Cl-, SO4 , NO3 , PO4 ) được phân tích
thấm qua nền đập (thu được từ các piezometer bằng kỹ thuật sắc ký ion tại phòng Thí nghiệm
nền và từ các giếng giảm áp), nước hồ và hai vị Hóa lý (VILAS-609) của Trung tâm Ứng dụng
trí thấm tập trung tại hạ lưu đập. Trong đó, kỹ thuật hạt nhân trong công nghiệp với độ
điểm thấm nước trong (RNT) xuất hiện từ chụm lặp lại tương ứng cho anion và cation là
nhiều năm qua, lưu lượng ổn định 2 L/s kể cả 3 - 6% và 3 - 4%. Nồng độ của HCO3- được đo
khi cao trình mực nước hồ thấp nhất 1023 m. bằng kỹ thuật chuẩn độ với độ chụm lặp lại
Điểm thấm còn lại (RCC) được phát hiện gần 1%. Độ dẫn và pH được đo trên thiết bị chuyên
đây khi mực nước hồ đạt cao trình cực đại dụng của Phòng thí nghiệm với độ chụm lặp lại
1040 - 1042 m lưu lượng trung bình 0,1 L/s, dưới 0.5%.
2-
-
3-
dòng chảy tải theo cát mịn.
3. CÔNG CỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Thành phần đồng vị bền Deuterium và
Oxygen-18 trong các mẫu nước được đo tại
phòng Thí nghiệm Đánh dấu của Trung tâm
Tổng cộng có 321 mẫu nước gồm nước hồ, Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong công nghiệp
nước ngầm, nước mưa, nước thấm qua đập được sử dụng thiết bị IWA-35EP (Los Gatos
thu thập trong khoảng thời gian từ tháng 10 năm Research - LGR). Độ lặp lại của phương pháp
2016 đến tháng 3 năm 2019 để phân tích thành đo là 0.9% cho δD và 0.8% cho δ18O.
phần đồng vị bền và thành phần hóa học nước
trong nghiên cứu này. Mẫu nước được lấy đầy
và lưu trữ trong chai polyethylene 300 ml đã
4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1. Kết quả thành phần hóa học
Thống kê tóm tắt các thông số hóa lý trung
đậy nắp kín tại hiện trường để tránh bốc hơi. bình đo được của các mẫu nước được thể hiện
Mẫu sau khi thu thập được bảo quản ở nhiệt độ trong bảng 1. Phân bố pH của các mẫu nước thể
phòng trong bóng tối và hầu hết các mẫu được hiện điều kiện hơi axit đến hơi kiềm. TDS trong
phân tích trong khoảng 2 tuần sau khi thu thập.
khoảng dưới 250 mg/L với tất cả các mẫu. Phân
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 65 (6/2019)
110
bố độ dẫn (EC) của các mẫu theo thứ tự: nước trí thấm tập trung. Độ dẫn của nước thấm RNT
hồ < nước thấm qua thân/nền đập < nước tại vị lớn hơn của nước thấm RCC khoảng 1.5 lần.
Bảng 1. Thống kê tóm tắt các thông số hóa lý trung bình đo được của các mẫu nước
Mẫu
nước
EC
TDS
Nồng độ (mg/L)
pH
-
3-
2-
-
Na+ K+ Mg2+ Ca2+
Cl-
NO3
PO4
SO4
HCO3
(uS/cm) (mg/L)
RNT 6.6 223.4 156.4 5.25 2.83 4.47 20.54 1.39 0.20
RCC 6.7 145.8 102.0 5.32 2.21 3.12 12.15 1.25 < 0.2
2.76
< 0.4
< 0.4
< 0.4
< 0.4
1.09
0.34 124.85
< 0.2 79.25
GK 6.7 84.5
NM 7.4 36.3
NH 7.2 32.3
59.1 4.89 2.10 1.74 13.93 2.89 1.36
25.4 0.39 0.38 0.43 5.40 0.61 1.29
22.6 2.30 1.34 0.68 2.19 1.62 2.91
2.29
2.57
1.91
0.96
0.97
55.49
16.10
8.81
89.90
73.39
DD 6.6 162.5 113.7 4.61 2.83 2.53 15.17 1.32 1.48
DDA 6.3 139.0 97.3 8.66 2.71 2.86 6.45 2.65 0.31
0.97
W
7.1 194.1 135.9 5.98 2.49 4.49 18.67 1.23 1.28
0.53
0.82 106.97
Các mẫu nước thấm qua thân đập cho thấy sự và nước giếng giảm áp thuộc loại nước Ca-
phân bố thành phần ion chính: Na+ > Ca2+ > Mg2+ HCO3, thường ứng với nước ngầm tại/gần khu
-
> K+ và HCO3 > Cl- > SO42-. Nước thấm qua nền vực bổ cấp, liên quan đến cả phong hóa khoáng
đập và nước từ hai vị thấm tập trung đặc trưng bởi carbonate và/hoặc phong hóa khoáng silicate
sự phân bố các ion chính: Ca2+ > Na+ > Mg2+ > K+ không đồng dư (hình 2) (Hussin, 2016). Nồng
-
-
và HCO3 > Cl- > SO42-. NO3 và PO43- trong độ (Na+ + K+) tăng dần và nồng độ (Ca2+
+
khoảng dưới 3 mg/L với tất cả các mẫu nước.
Mg2+) giảm dần từ nước thấm qua nền, nước hồ
Phân loại của các mẫu nước được thể hiện đến nước thấm qua thân. Tại mặt cắt MC3 và
qua giản đồ Piper (1944), trong đó thành phần mặt cắt MC4 (hình 1), piezometer thân ĐD2A
cation và anion chính được biểu diễn dưới dạng thể hiện thành phần ion như nước thấm qua nền
% đương lượng. Giản đồ Piper chỉ ra nước thấm và piezometer nền ĐD5 thể hiện thành phần ion
qua thân đập (trừ piezometer thân ĐD2A) thuộc như nước thấm qua thân, ngụ ý có thể có sự liên
phân loại nước Na-HCO3, thường đặc trưng cho kết thủy lực của thân đập và nền đập trong khu
quá trình tương tác nước-đá và/hoặc phong hóa vực. Bên cạnh đó, điểm thấm nước trong và
khoáng không đồng dư. Nước thấm qua nền đập thấm có cát thuộc phân loại nước giống với
gồm piezometer nền (trừ piezometer nền ĐD5) nước thấm qua nền.
Hình 2. Giản đồ Piper của các mẫu nước
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 65 (6/2019)
111
Hình 3. Đồ thị TDS (mg/L) vs Na+/(Na++Ca2+)
Đồ thị TDS (mg/L) vs Na+/(Na++Ca2+) được Na+ có thể được sinh ra từ phong hóa khoáng
đề xuất bởi Gibbs (1970) (Hussin, 2016) cung silicate. Tỷ số nồng độ (mmol/L) (Ca2+
+
-
cấp thông tin về các quá trình chi phối thành Mg2+)/HCO3 < 0,5 được thể hiện như hình 4b,
phần hóa học nước trong khu vực nghiên cứu. cho thấy quá trình trao đổi ion giữa Ca và/hoặc
Liên hệ giữa TDS và Na+/(Na++Ca2+) cho thấy Mg trong nước với Na và/hoặc K trong đất đá có
tương tác nước-đá là quá trình chính ảnh hưởng thể là nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm ion Ca2+
-
đến thành phần hóa học của các mẫu nước (hình và Mg2+ so với ion HCO3 (Hussin, 2016). Tỷ số
-
3). Tỷ số Na+/(Na++Ca2+) của hai điểm thấm tập Na+/Cl- và (Ca2+ + Mg2+)/HCO3 của hai điểm
trung khá tương đồng với nước thấm qua nền.
thấm tập trung nằm trong khoảng nước thấm qua
Hình 4a minh họa tỷ số ion Na+/Cl- của các nền. Nước thấm qua thân cho thấy sự suy giảm
mẫu. Na+/Cl- > 1 với tất cả các mẫu, cho thấy ion Ca2+ và Mg2+ nhiều nhất trong các mẫu.
-
Hình 4. Biểu đồ Na+/Cl-, (Ca2++Mg2+)/HCO3 của các mẫu nước.
trong lưu vực như hóa hơi, ngưng tụ, tương tác
4.2. Kết quả thành phần đồng vị bền
Đồ thị tương quan δD – δ18O của các mẫu nước - đá và sự hòa trộn của các nguồn nước
được thể hiện trong hình 5 cùng với Đường khác nhau. Phương trình GMWL biểu diễn tương
nước mưa (RL) và Đường nước khí tượng toàn quan đồng vị bền của nước mưa trung bình trên
cầu - GMWL. Đồ thị là công cụ hữu ích cho toàn cầu và được đưa ra bởi Craig (1961): δD =
phép hiểu rõ các quá trình thủy văn liên quan 8δ18O + 10 (‰). Mối quan hệ giữa δD và δ18O
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 65 (6/2019)
112
của RL được biểu diễn theo phương trình: δD = trong khoảng 10% cho thấy nước mưa đã trải qua
7.66δ18O + 10.82 (‰). Độ dốc của RL nhỏ hơn quá trình bay hơi trong điều kiện độ ẩm dưới
độ dốc của GMWL (7.66 < 8) và hệ số chặn 85% trước khi bổ cập vào lưu vực (István, 2005).
Hình 5. Tương quan δD – δ18O của các mẫu nước trong khu vực nghiên cứu.
Nước piezometer thân và nền và nước hồ thấm tập trung nằm về bên trái GMWL với δ18O
nằm dọc theo RL và GMWL cho thấy nguồn suy giảm trong khi δD thay đổi không đáng kể
18
gốc chủ yếu từ nước khí tượng (hình 5) ít chịu (hình 5), có thể là kết quả của sự cân bằng O
ảnh hưởng bay hơi, do sự thay thế liên tục nước giữa CO2 hòa tan và nước ở nhiệt độ thấp,
hồ bởi dòng chảy vào (nước ngầm/nước mưa địa thường quan sát được trong các tầng nước ngầm
phương) và dòng chảy ra (Lesleigh, 2016).
giàu CO2 với thời gian tương tác nước - đá -
Nước giếng giảm áp và nước từ hai điểm CO2 dài (Pauline, 2014).
Hình 6. Tương quan Deuterium dư thừa (D-excess) và δ18O của các mẫu nước
Tương quan Deuterium dư thừa và δ18O của nguồn gốc hơi nước. Khi δ18O tăng Deuterium
các mẫu nước được thể hiện như hình 6. dư thừa giảm dần ngụ ý sự pha loãng với nước
Deuterium dư thừa được định nghĩa bằng d = mưa ảnh hưởng không nhỏ đến thành phần nước
δD - 8δ18O cung cấp thông tin về nguồn gốc hơi trong khu vực (Obed, 2016).
nước (Gat, 1983). Hầu hết các mẫu có giá trị
Deuterium dư thừa trên 10, cho thấy nguồn gốc HCO3 của các mẫu nước được biểu diễn như
hơi nước có liên quan đến sự đóng góp của hơi hình 7. Độ dẫn và nồng độ HCO3 tăng dần
Đồ thị tương quan giữa δ18O và độ dẫn,
-
-
nước tái tuần hoàn trên bề mặt lục địa. theo thứ tự Nước hồ (NH) > Nước thấm qua
Deuterium dư thừa tại hai vị trí thấm tập trung thân (ĐĐA)> Thấm có cát (RCC) > Thấm
khá tương đồng nhau và gần với nước thu tại nước trong (RNT) > Nước giếng giảm áp
giếng giảm áp cho thấy các mẫu có thể có chung (W) mà không có sự thay đổi nhiều về δ18O,
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 65 (6/2019)
113
cho thấy quá quá trình khoáng hóa tăng dần gần với nước thấm qua thân đập, trong khi
từ nước hồ đến nước thu tại các giếng giảm độ khoáng hóa của RNT gần với nước thấm
áp (Obed, 2016). Độ khoáng hóa của RCC qua nền.
-
Hình 7. Đồ thị độ dẫn (EC) vs δ18O và đồ thị δ18O vs HCO3 của các mẫu nước
4.3. Nhận xét về chế độ thấm của đập
Đặc trưng về thành phần ion và đồng vị bền
của các mẫu nước cung cấp thông tin cơ bản
nhất về chế độ thấm của đập. Nước hồ được
bổ cập từ nước mưa trong điều kiện độ ẩm
dưới 85%, ít chịu ảnh hưởng bởi bay hơi do sự
thay thế liên tục nước hồ bởi dòng chảy vào
(nước ngầm/nước mưa địa phương) và dòng
chảy ra. Dựa trên chênh áp thủy lực, nước hồ
thấm qua thân đập, hòa tan các thành phần
khoáng. Bên cạnh đó, quá trình trao đổi ion là
nguyên nhân chính dẫn dẫn sự suy giảm nồng
độ (Ca2+ + Mg2+) so với (Na+ + K+) trong
nước thấm qua thân đập. Nước nền đập
(piezometer nền và giếng giảm áp) được bổ
cập từ nước hồ, nước ngầm địa phương với
quá trình hòa tan khoáng chiếm ưu thế. Kết
quả phân tích đồng vị bền cho thấy nước thấm
qua nền tại các giếng giảm áp đặc trưng cho
nước ngầm giàu CO2 với thời gian tương tác
nước – đá – CO2 dài. Độ khoáng hóa tăng dần
từ nước hồ - nước thấm qua thân – nước thấm
qua nền. Mặt khác, tại mặt cắt MC3 và mặt cắt
MC4, piezometer thân ĐD2A thể hiện thành
phần ion như nước thấm qua nền và
piezometer nền ĐD5 thể hiện thành phần ion
như nước thấm qua thân, ngụ ý có thể có sự
liên thông thủy lực giữa thân đập và nền đập
như minh họa ở hình 8.
Hình 8. Minh họa cơ chế thấm qua đập tại
mặt cắt thứ 3 tính từ cửa xả
Kết quả phân tích ion và đồng vị bền kết hợp
với quan trắc thủy lực cho thấy nguồn gốc của
điểm thấm nước trong có thể từ nước thấm qua
nền chịu ảnh hưởng bởi nước ngầm địa phương.
Bên cạnh đó, tỷ số ion, phân loại nước, thành
phần đồng vị của điểm thấm cát rất tương đồng
với nước thấm qua nền, tuy nhiên, độ khoáng
hóa lại gần với nước thấm qua thân đập, ngụ ý
nguồn gốc nước có thể từ sự hòa trộn của nước
thấm qua thân và nền.
5. KẾT LUẬN
Thành phần đồng vị bền Deuterium và
Oxygen-18 cùng với các chỉ tiêu vật lý, hóa
học được ứng dụng để xác định đặc trưng của
nước thấm qua đập đất ĐN, từ đó đưa ra thông
tin cơ bản nhất về chế độ thấm của đập. Đối
tượng phân tích gồm các mẫu nước hồ, nước
thấm qua thân/nền đập và hai vị trí thấm tập
trung tại hạ lưu đập. Kết quả cho thấy nước hồ
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 65 (6/2019)
114
có nguồn gốc khí tượng, ít chịu ảnh hưởng bởi kết hợp với quan trắc thủy lực cho thấy
bay hơi. Nước từ hồ thấm qua thân đập bị chi nguồn gốc của điểm thấm nước trong có thể
phối bởi quá trình hòa tan khoáng và trao đổi từ nước thấm qua nền chịu ảnh hưởng bởi
ion. Nước nền đập được bổ cập từ nước hồ và nước ngầm địa phương và điểm thấm có cát
nước ngầm địa phương giàu CO2. Độ khoáng có thể xuất phát từ sự hòa trộn của nước
hóa tăng dần từ nước hồ - nước thấm qua thân thấm qua thân và nền.
– nước thấm qua nền. Mặt khác, tại mặt cắt
MC3 và mặt cắt MC4, piezometer thân ĐD2A
Lời cảm ơn
Công trình được thực hiện tại Phòng thí
thể hiện thành phần ion như nước thấm qua nghiệm đánh dấu của Trung tâm Ứng dụng kỹ
nền và piezometer nền ĐD5 thể hiện thành thuật hạt nhân trong công nghiệp với kinh phí
phần ion như nước thấm qua thân, ngụ ý có do Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam cấp
thể có sự liên thông thủy lực giữa thân đập và thông qua đề tài mã số CS/18/06-01. Các tác
nền đập. Kêt quả phân tích ion và đồng vị bền giả xin trân trọng cảm ơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
J.R. Gat, R.E. Gonfiantini (1981), “Stable Isotope Hydrology: Deuterium and Oxygen-18 in the
Water Cycle”, IAEA Technical Report Series #210.
W.G. Mook (2001), “Environmental isotopes in the hydrological cycle, principles and
applications”, International Atomic Energy Agency (IAEA) and United Nations Educational,
Scientifc and Cultural Organization (UNESCO).
M. Gomaah, T. Meixner, E.A. Korany, H. Garamoon, M.A. Gomaa (2016), “Identifying the sources
and geochemical evolution of groundwater using stable isotopes and hydrogeochemistry in the
Quaternary aquifer in the area between Ismailia and el Kassara canals, Northeastern Egypt”,
Arab J Geosci, 9(6), pp. 437.
J.T. Lynn, M.C. Dianna, A.P. Jaime (2005), “Physical and Hydrochemical Evidence of Lake
Leakage near Jim Woodruff Lock and Dam and of Ground-Water Inflow to Lake Seminole, and
an Assessment of Karst Features in and near the Lake, Southwestern Georgia and Northwestern
Florida”, Scientific Investigations Report 2005–5084 (USGS).
C. P. Kumar (2013), “Hydrological Studies Using Isotopes”, International Journal of Innovative
Research & Development, 2(13), pp.8-15.
N. H. Hussin, I. Yusoff (2016), “Multivariate statistical analysis for identifying water quality and
hydrogeochemical evolution of shallow groundwater in Quaternary deposits in the Lower
Kelantan River Basin, Malaysian Peninsula”, Springer, 75(14), pp.1081.
F. István, (2005), “Processes behind the isotopic water line: water cycle and climate”, Studia
universitatis bases-bolyai, Physica.
A. Lesleigh, B. Max, A.B. John, A.S. Byron, P.F. Bruce, A.B. Mark, (2016), “Lake oxygen isotopes as
recorders of North American Rocky Mountain hydroclimate: Holocene patterns and variability at
multi-decadal to millennial time scales”, Global and Planetary Change, 137, pp.131–148.
H. Pauline, L. Julie, N. Philippe, L. Vincent, (2014), “CO2 intrusion in freshwater aquifers: Review
of geochemical tracers and monitoring tools, classical uses and innovative approaches”,
Applied Geochemistry, 46, pp.95 – 108.
J.R. Gat, (1983), “Palaeoclimates and Palaeowaters: A Collection of Environmental Isotope
Studies: Proceedings of an Advisory Group Meeting on the Variations of the Isotopic
Composition of Precipitation and of Groundwater During the Quaternary as a Consequence of
Climatic Changes”, IAEA.
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 65 (6/2019)
115
F.F. Obed, M.Y. Sandow, P.C. Larry, B.Y. Gerald, (2016), “Evaluating groundwater recharge
processes using stable isotope signatures-the Nabogo catchment of the White Volta, Ghana”,
Arab J Geosci, 9(4), pp.1 - 15.
Abstract:
ASSESSMENT OF THE CHARACTERISTICS OF SEEPAGE WATER THROUGH
EARTH DAM BASED ON HYDROCHEMICAL AND STABLE ISOTOPE METHOD
The dam is a construction built to prevent water for hydropower/irrigation reservoirs. Water from
the reservoir seeps through the dam body/foundation will give information about seepage flow.
Understanding the characteristics of seepage flow through physical, chemical indicators helps to
give the most basic visualization of the permeability regime, thereby helping to control the seepage
effectively. The report presents some results of the application of hydrochemical and stable isotope
method to study the characteristics of seepage water through the homogeneous earth dam. Samples
of reservoir water, dam body water, dam foundation water, and two concentrated seepage points in
the downstream of the dam were analyzed for conductivity, pH, TDS, ionic components, stable
isotopes. The results showed that water from the lake seeps through the dam body is dominated by
the dissolution and ion exchange process. The dam foundation water is recharged by reservoir
water and local CO2 - rich groundwater. In addition, the results show that the dam foundation
water significantly contributes to the origin of the downstream concentrated seepage points.
Keywords: Stable isotope, hydrochemistry, seepage flow, earth dam.
Ngày nhận bài:
15/5/2019
Ngày chấp nhận đăng: 31/5/2019
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 65 (6/2019)
116
Bạn đang xem tài liệu "Một số nhận định về đặc trưng của dòng thấm qua đập đất dựa trên phương pháp thủy hóa và đồng vị bền", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mot_so_nhan_dinh_ve_dac_trung_cua_dong_tham_qua_dap_dat_dua.pdf

